chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công, từ đó phát triển nguồn thu; từng bước giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên; tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ MIÊN
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
SỞ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ MIÊN
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
SỞ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ DIỆU OANH
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công, đề tài “Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội” là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh – Học Viện Hành chính Quốc gia Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Tên và nội dung luận văn không trùng lặp với bất kỳ một công trình nào đã được công bố trước đây./
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả Luận văn
Lê Thị Miên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội”, là kết quả của sự cố gắng,
nỗ lực nghiên cứu của bản thân tôi, sự tận tình chỉ bảo của người hướng dẫn,
sự giúp đỡ, tạo điều kiện từ phía cơ quan công tác
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Diệu Qanh – Học viện Hành chính Quốc gia người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi từ những bước đầu xây dựng đề cương nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, động viên, chia sẻ, tạo những điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về thời gian, thông tin, tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn của tôi không tránh được những thiếu xót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung quý báu của các thầy, cô và độc giả
Trân trọng cảm ơn./
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 91.1 Pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 91.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự
1.3 Các điều kiện bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRỰC THUỘC SỞ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO THÀNH PHỐ HÀ NỘI 342.1 Khái quát chung về Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội và các đơn vị
2.2 Thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội giai đoạn từ
2.3 Đánh giá chung về tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội 65TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC
Trang 6ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP SỞ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO THÀNH
PHỐ HÀ NỘI 76
3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội 76 3.2 Giải pháp chung bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 80 3.3 Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội 80 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 106
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Lộ trình nâng mức tự chủ giai đoạn 2015-2020 44Bảng 2.2 Tổng hợp thu tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc 46
Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội từ năm 2015 đến tháng 6/2020 46
Bảng 2.3 Tổng hợp chi tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn
hóa và Thể thao thành phố Hà Nội từ năm 2015 đến tháng 6/2020 53
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, đòi hỏi cần phải tiếp tục tái cấu trúc chi ngân sách nhà nước hướng đến phát triển kinh tế nhanh, toàn diện và bền vững Để đáp ứng yêu cầu đổi mới nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập để thực hiện mục tiêu tăng nguồn thu và giảm chi từ nguồn ngân sách nhà nước Việc thực hiện tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không chỉ khơi dậy tính năng động trong nền kinh tế mà còn phát huy tính năng động, sáng tạo trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội
Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội Trung ương 6 Khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24/01/2018 thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó nêu rõ mục tiêu đến năm 2025-2030: Hoàn thiện đầy
đủ và đồng bộ hệ thống pháp luật để thể chế hoá các chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức và hoạt động đơn vị sự nghiệp công lập; Hoàn thiện pháp luật về cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các ngành, lĩnh vực trên cơ sở mức độ tự chủ về tài chính, tăng cường phân cấp và tăng tính chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công lập
Trong những năm qua, các cấp, các ngành đã nỗ lực thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và đạt được những kết quả tích cực như: Các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tài chính, đã chủ động sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ; đồng thời, chủ động sử dụng tài sản, nguồn nhân lực để phát triển và nâng cao
Trang 9chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công, từ đó phát triển nguồn thu; từng bước giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên; tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ, phát huy tính dân chủ, chủ động, sáng tạo của viên chức, người lao động,…
Việc tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đã đạt được kết quả bước đầu song vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và còn không ít khó khăn như: triển khai lộ trình tự chủ tài chính còn chậm; chi tiêu ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập còn lớn, có đơn vị hoạt động kém hiệu quả,
tư tưởng chậm đổi mới của cán bộ, viên chức chưa theo kịp các quy luật của cơ chế thị trường; hệ thống pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính chưa được hoàn thiện, tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập chưa cao, chất lượng dịch
vụ công chưa đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng với khu vực tư; nhiều đơn giá định mức kỹ thuật chưa được ban hành …
Từ thực tiễn đó, sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu em đã chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị
sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình Thông qua việc nghiên cứu này, em mong muốn nhận được sự quan tâm, ủng hộ từ phía Học viện Hành chính Quốc gia nhằm hoàn thiện lý thuyết và tìm giải pháp giải quyết, góp phần thực hiện nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu phát triển hoạt động sự nghiệp công nói chung và của ngành Văn hóa và Thể thao nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Nguyễn Xuân Viện, Cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng nghề
kỹ thuật công nghệ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, luận văn Thạc sỹ
Tài chính – Ngân hàng, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2015
Trang 10- Nguyễn Thị Mỹ Linh, Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ tại Tổng cục tiêu chuẩn và đo lường chất lượng,
luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia năm 2015
- Nguyễn Thị Thu Dung, Cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học và công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016
- Vi Thị Thu Phương, Quản lý tài chính tại Tạp chí thuế - Tổng cục thuế,
luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016
- Vũ Thị Lê Quy, Quản lý nhà nước về tài chính đối với các dự án viện trợ không hoàn laị trực thuộc Bộ Y tế, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện
Hành chính Quốc gia, năm 2017
- Lê Thúy Quỳnh, Quản lý tài chính tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2017
- Đặng Thu Hà, Quản lý tài chính tại Viện Khoa học Lao động và Xã hội,
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2018
- Vương Thu Hoài, Cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính
Quốc gia, năm 2018
- Trần Thị Thanh Hằng, Cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm đào tạo nghiệp vụ tiêu chuẩn đo lường chất lượng – Bộ Khoa học và Công nghệ, luận
văn Thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2019
- Hoàng Thanh Phương, Quản lý tài chính tại Cục Thống kê thành phố
Hà Nội, luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm
2019
- ThS Nguyễn Thị Nguyệt (Khoa Kế toán – Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp), bài viết Cơ chế tự chủ tài chính của những đơn vị sự nghiệp
Trang 11công lập, tạp chí Công thương, năm 2019 Trong bài viết này, tác giả nêu rõ vai trò, mục tiêu và đánh giá khá chi tiết về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp sau 04 năm thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-
CP ngày 14/02/2015 của Chính Phủ và từ đó đề xuất một số giải pháp thực hiện trong thời gian hiện nay
- PGS.TS Nguyễn Trường Giang, bài viết Đổi mới cơ chế tài chính đơn
vị sự nghiệp công theo tinh thần Nghị quyết Trung Ương 6 khóa XII, Tạp chí tài chính tháng 02/2018 Trong bài viết này, tác giả phân tích những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện nâng cao quyền tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và giải pháp đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nước
- ThS Nguyễn Nguyễn Xuân Trường, “Các giải pháp đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”, Tạp chí Tài chính tháng 04/2018 Tác giả phân tích thực trạng đổi mới hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập và giải pháp đẩy mạnh đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính
- ThS Phạm Xuân Thủy, Vũ Anh, Nguyễn Thị Mai Liên, Nguyễn Thị
Quỳnh Phương (2018), bài viết“Đổi mới tổ chức hoạt động các đơn vị sự
nghiệp công lập của Bộ Tài chính trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Tài chính
kỳ 2, tháng 9/2018
Qua nghiên cứu cho thấy nhiều luận văn đã nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng chủ yếu đề cập đến hoạt động thu chi tài chính, chưa đề cập đến tổng thể các nội dung của cơ chế tự chủ tài trong đơn vị sự nghiệp công lập Một số bài viết trên báo, tạp chí đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra một số giải pháp để thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở một số đơn vị sự nghiệp công lập nhưng các giải pháp chưa đầy đủ, đồng bộ để bảo đảm việc tổ chức pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 12Như vậy, chưa có tác giả nào nghiên cứu đề tài luận văn “Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội.” Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên tập trung vào nghiên cứu việc tổ chức pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa và thể thao Luận văn này phù hợp với chuyên ngành Quản lý công và không có sự trùng lặp về phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu với các luận văn khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu cơ sở lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm khái niệm, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu
- Nêu thực trạng về tổ chức thực hiện pháp luật cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội, đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật
về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị
sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính tại 16 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: giai đoạn từ 2015 đến tháng 6/2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu những tài liệu lý luận, văn bản, sách báo và các công trình
đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm mục đích tổng quan nghiên cứu vấn
đề và xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp nghiên cứu và thu thập tài liệu, phương pháp thống kê, quản lý số liệu; phương pháp tổng hợp, phân tích và đánh giá; phương pháp so sánh; phương pháp chuyên gia Cụ thể như sau:
Đối với chương 1, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu tài liệu lý luận, sách báo, sau đó thu thập thông tin, phân tích thông tin, tổng hợp
để trình bày cơ sở lý luận về thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Đối với chương 2, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thu thập, thống
kê, quan sát để nắm bắt thực trạng, phân tích dữ liệu và thông tin thu thập được, tổng hợp và so sánh, trình bày dữ liệu, thông tin và đánh giá về thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
Trang 14Đối với chương 3, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp, logic
và tìm hiểu ý kiến của các chuyên gia để đưa ra kết luận, kiến nghị về tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Dựa trên lý luận và nghiên cứu thực tế tại các đơn vị sự nghiệp công của
Sở Văn hóa và Thể thao, luận văn có ý nghĩa:
Một là, luận văn đã hệ thống hóa, bổ sung những vấn đề về cơ chế quản
lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, góp phần thực hiện việc điều chỉnh, bổ sung các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập
Hai là, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp
luật về cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập về lĩnh vực văn hóa, thể thao và thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội Đồng thời, luận văn đã nêu rõ những hạn chế, tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố
Hà Nội
Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tin cậy đối với các cán bộ, công chức, viên chức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 15- Chương 2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố
Hà Nội
- Chương 3 Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội
Trang 161.1.1 Khái niệm
Theo quy định tại khoản 1, điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản
Như vậy, cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công được hiểu là các quy định về quyền tự chủ, các đơn vị này tự chịu trách nhiệm đối với những nhiệm
vụ mang tính chất thuộc phạm vi cũng như quyền hạn của các đơn vị sự nghiệp công về tổ chức bộ máy và nguồn tài chính của đơn vị Quyền tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước là việc các cơ quan nhà nước tự đứng ra trực tiếp sử dụng đối với nguồn kinh phí được cơ quan nhà nước cấp, có đầy đủ các thành phần về mặt tài khoản cũng như con dấu riêng đã được cơ quan nhà nước có
Trang 17thẩm quyền quyết định giao về kinh phí hoạt động cũng như số lượng biên chế của đơn vị, cơ quan đó
Pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong việc áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng tới việc giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập để hoàn thành nhiêm vụ được giao và phát huy mọi khả năng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
1.1.2 Nội dung pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
+ Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư
Trang 18+ Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên
+ Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên
+ Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên Ngoài ra còn căn cứ theo vị trí pháp lý của đơn vị sự nghiệp công lập để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập [10]
Phấn đấu đạt các mục tiêu của Trung Ương đề ra: đến năm 2021, phấn đấu có 10% đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 – 2015; đến năm 2025 và 2030, phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ tài chính, tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 – 2020; đến năm 2030, giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 – 2025 [2]
Hai là, quy định về nguồn tài chính và sử dụng nguồn tài chính tại các đơn
vị sự nghiệp công lập
Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: nguồn thu
từ ngân sách nhà nước, nguồn thu phí, lệ phí, nguồn thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp công và các nguồn thu khác [10] Cụ thể như sau:
- Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu
tư và đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên: Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ
Trang 19chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật
- Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công; Nguồn thu phí theo pháp luật
về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công; Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp
có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan
có thẩm quyền giao; Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật
- Đối với đơn vị sự nghiệp công do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc
và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Nguồn thu khác (nếu có); Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực
Trang 20hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật
Các nội dung chi trong đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 02 loại: Chi thường xuyên và chi nhiệm vụ không thường xuyên Chi thường xuyên gồm: chi tiền lương, chi hoạt động chuyên môn, quản lý, chi cho việc thực hiện thu phí, lệ phí, kể cả trích khấu hao tài sản cố định theo quy định Chi nhiệm vụ không thường xuyên gồm: chi từ nguồn thu phí, lệ phí được để lại chi (chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí), chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; chi đầu tư phát triển; chi mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chi thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; chi từ nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định; các khoản chi khác theo quy định
Ba là, quy định về tự chủ trong giao dịch tài chính
Đơn vị sự nghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ
sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước Lãi tiền gửi là nguồn thu của đơn vị và được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào quỹ khác theo quy định của pháp luật, không được bổ sung vào Quỹ
bổ sung thu nhập; Các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước, các khoản thu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, các khoản thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí, đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh [10]
Trang 21Đơn vị sự nghiệp công có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Riêng các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo quy định Khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, đơn
vị sự nghiệp công phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả
nợ vay, lãi vay theo quy định; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả của việc vay vốn, huy động vốn [10]
Bốn là, quy định về thực hiện quản lý tài sản nhà nước và quy chế chi
tiêu nội bộ
Đơn vị sự nghiệp công có hoạt động dịch vụ thực hiện đăng ký, kê khai, nộp đủ thuế và các khoản thu ngân sách khác (nếu có) theo quy định của pháp luật Đơn vị sự nghiệp công có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
Đơn vị sự nghiệp công có trách nhiệm xây dựng và ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ, gửi cơ quan quản lý cấp trên, trường hợp Quy chế có quy định không phù hợp với quy định của Nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên có ý kiến bằng văn bản yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại cho phù hợp [10]
Năm là, quy định về việc lập, phân bổ và giao dự toán
Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên: Hàng năm căn cứ vào kết quả thực hiện về số lượng, khối lượng dịch vụ; tình hình thu, chi hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và các dịch vụ khác của năm hiện hành; yêu cầu nhiệm vụ của năm kế hoạch, đơn vị lập kế hoạch về số lượng, khối lượng dịch vụ và dự toán thu, chi báo cáo cơ quan quản lý cấp trên Đối với dịch vụ
sự nghiệp công do Nhà nước đặt hàng: Hàng năm căn cứ đơn giá, số lượng,
Trang 22khối lượng dịch vụ sự nghiệp công được đặt hàng theo hướng dẫn của Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đơn vị lập dự toán gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định
Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính
đủ chi phí): Căn cứ tình hình thực hiện năm hiện hành, nhiệm vụ của năm kế hoạch, đơn vị lập kế hoạch về số lượng, khối lượng dịch vụ sự nghiệp công và
dự toán thu, chi (bao gồm cả phần kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí) báo cáo cơ quan quản lý cấp trên theo quy định
Đối với đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp): Căn cứ tình hình thực hiện năm hiện hành, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao trong năm kế hoạch, số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chế độ chi tiêu hiện hành, đơn vị lập dự toán thu, chi gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định
Lập dự toán thu, chi phí theo pháp luật về phí, lệ phí, các nhiệm vụ không thường xuyên theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Hàng năm, căn cứ vào dự toán thu, chi do đơn vị sự nghiệp công xây dựng, cơ quan quản lý cấp trên có trách nhiệm xem xét, tổng hợp dự toán thu, chi của đơn vị gửi cơ quan tài chính và cơ quan có liên quan theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước
Việc phân bổ và giao dự toán của cơ quan quản lý cấp trên cho đơn vị sự nghiệp công thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Căn cứ lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công, cơ quan quản lý cấp trên thực hiện đặt hàng đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư
và đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; đặt hàng, giao kinh phí
Trang 23hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí) Đối với đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp): Cơ quan quản lý cấp trên thực hiện giao dự toán ổn định trong thời gian 3 năm và được điều chỉnh khi Nhà nước thay đổi nhiệm vụ, cơ chế chính sách theo quy định [10]
Sáu là, quy định về cơ chế đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp
công, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và tính giá, phí dịch vụ sự nghiệp
công
Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện theo các phương thức: giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu Giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN chỉ thực hiện đối với đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên được giao kinh phí cung ứng dịch vụ sự nghiệp công Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của đơn
vị sự nghiệp công lập, dự toán thu chi được cấp có thẩm quyền giao, danh mục dịch vụ sự nghiệp công có định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công do cơ quan có thẩm quyền ban hành, thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên theo danh mục quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 32/2019/NĐ-CP của Chính phủ Việc đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công do đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện, căn cứ theo lộ trình tính giá đủ chi phí hoặc chưa tính đủ chi phí theo cơ chế
tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực Về đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước: Căn cứ chức năng và ngành nghề đăng ký kinh doanh phù hợp với dịch vụ sự nghiệp công
Trang 24tham gia đấu thầu; căn cứ quy định của pháp luật chuyên ngành đối với nhà thầu cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực thuộc diện Nhà nước cấp phép hoạt động
và các điều kiện tham gia đấu thầu khác theo quy định của pháp luật liên quan (nếu có) [13]
Định mức kinh tế - kỹ thuật được hiểu là mức hao phí cần thiết về lao động
về nguyên, nhiên vật liệu, máy móc thiết bị, dụng cụ và phương tiện để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc nhất định), trong một điều kiện cụ thể của các hoạt động trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản
lý nhà nước Các hoạt động sự nghiệp công của các đơn vị sự nghiệp công lập rất đa dạng và phong phú về loại hình Định mức kinh tế kỹ thuật là căn cứ để tính giá dịch vụ sự nghiệp công, là cơ sở để triển khai phân bổ ngân sách nhà nước theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ công Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng
và ban hành định mức kinh tế kỹ thuật nêu trên, khi xây dựng định mức kinh tế
kỹ thuật phải đảm bảo các nguyên tắc như tuân thủ quy trình, đảm bảo tính ổn định, các bước thực hiện cần bảo đảm sự phù hợp, không khác biệt, đảm bảo
sự tập trung thống nhất trong quản lý nhà nước của Bộ chuyên ngành về công tác xây dựng định mức; khuyến khích, phát huy quyền chủ động, của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng định mức của các ngành và việc lập, phân bổ, quản lý kinh phí xây dựng định mức thực hiện theo quy định của pháp luật
Giá dịch vụ sự nghiệp công, gồm 02 loại giá dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước Đối với dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước: Đơn vị sự nghiệp công được xác định giá dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, được quyết định các khoản thu, mức thu bảo đảm bù đắp chi phí hợp lý, có tích lũy theo quy định của pháp luật đối với từng lĩnh vực Đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân
Trang 25sách nhà nước: Giá dịch vụ sự nghiệp công được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính đủ chi phí theo quy định, trong đó chi phí tiền lương trong giá dịch
vụ sự nghiệp công tính theo mức lương cơ sở, hệ số tiền lương ngạch, bậc, chức
vụ đối với đơn vị sự nghiệp công và định mức lao động do các Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền; Phương pháp định giá và cơ quan có thẩm quyền định giá dịch vụ sự nghiệp công thực hiện theo quy định pháp luật về giá; Trong phạm vi khung giá dịch vụ sự nghiệp công do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, đơn vị sự nghiệp công quyết định mức giá cụ thể cho từng loại dịch vụ; trường hợp cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định cụ thể giá dịch vụ sự nghiệp công, đơn vị thu theo mức giá quy định
Phí dịch vụ sự nghiệp công: Dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục thu phí thực hiện theo quy định pháp luật về phí, lệ phí Đơn vị sự nghiệp công được thu phí theo mức thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
1.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về
cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Hiện nay có một số khái niệm về thực hiện pháp luật Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [23, tr.463]
Theo Tài liệu học tập, nghiên cứu lý luận chung về nhà nước và pháp luật của khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh:
“Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những
Trang 26quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [24, tr.270]
Theo cuốn Tổ chức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam của Nhà xuất bản chính trị Quốc gia sự thật: “thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật thành những hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [16, tr 27]
Các khái niệm có thể có một số điểm khác nhau nhất định song đều có đặc điểm chung Bao gồm: Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định; Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tính chủ động, được tiến hành bằng một thao tác nhất định nhưng đó cũng có thể là một xử sự có tính thụ động, tức là không tiến hành vượt xử sự bị pháp luật cấm; Các chủ thể có trách nhiệm tiến hành sắp xếp các
bộ phận, phân công nhiệm vụ, quyền hạn cho mỗi bộ phận, phối hợp hoạt động của các bộ phận để các quy định pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các tổ chức, cá nhân nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật được thực hiện trên thực tế, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước
và xã hội
Như vậy có thể hiểu tổ chức thực hiện pháp luật là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện về con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất nhằm bảo đảm đưa pháp luật vào cuộc sống
Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập là việc lên kế hoạch, sắp xếp các hoạt động và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho các chủ thể là các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các hoạt động đó; đồng thời các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện nhằm bảo đảm các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức
Trang 27chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong việc áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng tới việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc quản lý và sử dụng nguồn tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao và phát huy mọi khả năng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập có những đặc điểm sau:
- Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập mang tính đồng bộ, tập trung, thống nhất cao: Tổ chức
bộ máy quản lý tập trung nhằm đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện thống nhất từ Chính Phủ, Bộ chuyên ngành và UBND các cấp tương ứng với phạm vi, chức năng, nhiệm vụ được phân công Có sự phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động giữa các cơ quan cùng cấp Có quy hoạch, kế hoạt thống nhất mang tính khoa học cao
- Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập là hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật:
Hoạt động đưa kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là các văn bản quy định pháp luật có hiệu lực thi hành vào cuộc sống thực tiễn và nhằm hướng hành vi của các chủ thể trên thực tế đến những mục tiêu nhất định khi văn bản được ban hành Đây là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá việc thực hiện pháp luật, vì nếu không đạt được những mục tiêu chính sách đặt ra thì các quy phạm pháp luật cũng không có giá trị thực tế Chính vì vậy, hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế là thước đo chính xác nhất đối với các văn bản quy phạm pháp luật
Các chủ thể có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật có thể được trao những khoảng không gian nhất định để thực hiện công việc nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật có tính linh hoạt, phù hợp với các tình huống trên thực tế,
Trang 28nhưng tất cả mọi quyền hạn đó đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và phải được pháp luật trao quyền
- Tổ chức thực hiện pháp luật phải tuân thủ các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định: Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật như xây dựng và hoàn thiện pháp luật, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, … phải tuân thủ theo quy trình, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
- Tổ chức thực hiện pháp luật mang tính chủ động, linh hoạt cao: Chính Phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính nói chung đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Trên cơ sở văn bản quy định chung của Chính Phủ và tùy vào chức năng, nhiệm vụ, điều kiện của từng ngành, lĩnh vực, Các Bộ chuyên ngành rà soát, ban hành xây dựng Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp trong từng lĩnh vực Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, điều hành của các cơ quan cấp trên, cơ quan cấp dưới đề xuất và chủ động đưa ra các giải pháp để tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính theo chức năng, nhiệm vụ được giao Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, Chính Phủ, Bộ chuyên ngành
và UBND các cấp phát hiện những bất cập, hạn chế của văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất xây dựng văn bản mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành hoặc bãi bỏ các quy định không còn phù hợp
Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung trên cả nước
- Các bộ chuyên ngành, các cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với các
cơ quan hữu quan trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập Trong đó bao gồm Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin truyền thông, các Bộ chuyên ngành
Trang 29- Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm việc thi hành pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thực hiện cơ chế
tự chủ tài chính Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật, các văn bản quy định, hướng dẫn của Chính Phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương
- Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
- Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên và giám sát việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
- Các cơ quan nhà nước quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện
cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập do mình quản lý
- Các đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở các quy định hiện hành và hướng dẫn của cơ quan cấp trên và các cơ quan có liên quan, các đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng các nguồn lực đảm bảo thực hiện cơ chế tự chủ tài chính
1.2.2 Vai trò tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Để quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật có vị trí thượng tôn, việc
tổ chức thực hiện pháp luật là một yếu tố rất quan trọng Đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc ban hành các văn bản quy phạm
Trang 30pháp luật nhưng không đạt được những mục tiêu đã định sẽ làm giảm tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật, và có thể dẫn tới việc làm giảm ý thức tuân thủ pháp luật của người dân, vốn là một trong những yếu tố cản trở lớn nhất đối với hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật Vì vậy, yêu cầu đặt ra việc
tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập phải bảo đảm hiệu quả, đồng bộ và minh bạch
Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập có vai trò như sau:
Một là, tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các
đơn vị sự nghiệp công lập nhằm mục đích đưa pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính vào thực tiễn Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là hướng tới trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị
sự nghiệp trong việc tổ chức hoạt động, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động
và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để nâng cao chất lượng dịch vụ công; phát huy mọi nguồn lực của đơn vị để tăng nguồn thu, cải thiện đời sống người lao động; Nâng cao tính chủ động, sáng tạo của đơn vị sự nghiệp công, hướng tới sự bình đẳng và tăng khả năng cạnh tranh của đơn vị nhà nước trong nền kinh tế thị trường Khuyến khích thực hiện chính sách xã hội hóa đối với các lĩnh vực do Nhà nước đang thực hiện; Giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, nâng cao mức tự chủ của đơn vị, hướng tới giảm dần đơn vị sự nghiệp công và chuyển dần các đơn vị sự nghiệp công sang đơn vị ngoài công lập
Hai là, nhằm nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Nếu các công chức, viên chức có năng lực, trách nhiệm không đáp ứng theo đúng yêu cầu thì việc tổ chức thực hiện pháp luật rõ ràng bị ảnh hưởng
Trang 31Ba là, thông qua việc tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ góp phần phát hiện ra những tồn tại, hạn chế để từ đó tiếp tục hoàn thiện pháp luật hiện hành để bảo đảm thực hiện các mục tiêu đã đề ra
1.2.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.3.1 Ban hành các văn bản pháp luật, hướng dẫn, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Các văn bản pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước tổ chức thực hiện dưới nhiều hình thức và phương pháp khác nhau nhau nhằm đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp luật và pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là kim chỉ nam cho mọi hành động của các đơn vị, tổ chức, cá nhân
Đối với Trung Ương: Bộ ban hành các Nghị quyết để đưa ra quan điểm chủ trương, định hướng phát triển, Chính Phủ ban hành Nghị quyết và Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định để triển khai các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu đề ra và kiểm tra hoạt động của các Bộ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đối với các Bộ ngành: trên cơ sở quy định của Chính phủ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành văn bản chi tiết đối với từng ngành, lĩnh vực và hướng dẫn Nghị định của Chính Phủ để các địa phương tổ chức triển khai thực hiện
Trang 32Đối với UBND các cấp: trên cơ sở các mục tiêu đã đề ra và căn cứ vào hướng dẫn của Trung Ương và các Bộ ngành, UBND thành phố ban hành kế hoạch triển khai thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính Cơ quan chuyên môn về tài chính thuộc UBND các cấp thực hiện hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính và tham mưu UBND các cấp về việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính như xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, giá dịch vụ sự nghiệp công, danh mục dịch vụ sự nghiệp công,…
1.2.3.2 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị khi thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên, ở mỗi cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ này có những yêu cầu, đối tượng và nội dung khác nhau
Một là, ban hành kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn để các
ngành, các địa phương quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung của các quy định pháp luật Đồng thời có văn bản hướng dẫn các ngành, địa phương tổ chức thực hiện các quy định pháp luật nhằm đảm bảo các ngành, lĩnh vực thống nhất về nhận thức và trong hành động
Hai là, thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên địa bàn
thành phố tới đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân nên đã từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm về mục tiêu, quan điểm, ý nghĩa và yêu cầu của công tác tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Qua đó, nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức và hành động của từng cấp, từng đơn vị và mỗi cán bộ, công chức, viên chức,
Trang 33người lao động Đồng thời, tạo sự đồng thuận của nhân dân đối với chủ trương quan trọng này
Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội khác trong phạm
vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các cán bộ công chức, viên chức, người lao động cùng các đơn vị có liên quan thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Tổ chức hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc vận động các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ tài chính
Bốn là, triển khai đồng bộ và phong phú các loại hình thông tin, tuyên
truyền của hệ thống cơ quan thông tin, tuyên truyền, chú trọng đổi mới nội dung, duy trì, phát huy loại hình tuyên truyền có hiệu quả Các cơ quan thông tin đại chúng có trách niệm thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính và nêu gương các điển hình tiên tiến thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính
Như vậy, việc hướng dẫn và tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thực hiện có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo việc tổ chức thực hiện pháp luật
về cơ chế tự chủ tài chính đi vào đời sống và trở thành hiện thực Qua đó, mọi
cá nhân và tổ chức hiểu và nhận thức đúng về tầm quan trọng về cơ chế tự chủ tài chính Có như vậy, mới đảm bảo các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
1.2.3.3 Thực hiện nội dung pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Để đảm bảo việc đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, cần tổ chức thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Một là, xây dựng kế hoạch và thực hiện lộ trình tự chủ tài chính đối với
các đơn vị sự nghiệp công lập
Hai là, xác định nguồn tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 34Ba là, quản lý và sử dụng nguồn tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Bốn là, thực hiện quy định về tự chủ trong giao dịch tài chính của các
đơn vị sự nghiệp công lập
Năm là, thực hiện việc quản lý tài sản nhà nước và quy chế chi tiêu nội
bộ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Sáu là, thực hiện quy định về việc lập, phân bổ và giao dự toán đối với
các đơn vị sự nghiệp công lập
Bảy là, thực hiện quy định về đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ sự
nghiệp công, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và tính giá, phí dịch vụ sự nghiệp công lập
1.2.3.4 Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội khác, nhân dân nhằm kịp thời phát hiện, góp ý kiến với các cơ quan
tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan chủ quản
Hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về việc chấp hành cơ chế tự chủ tài chính, chấp hành việc lập giao và phân bổ
dự toán, thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ và quy chế quản lý tài sản, cơ chế tính giá, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và lộ trình tự chủ Đây là một hoạt động nhằm xem xét việc chấp hành và tuân thủ các quy định của pháp luật về
cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Thực hiện đánh giá hoạt động của các cấp, các ngành, các cơ quan nhằm tìm ra những giải pháp thực hiện để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải tiến phương pháp tổ chức thực hiện pháp luật nhằm đạt hiệu quả cao nhất Thanh tra, kiểm tra còn
là phương tiện phát hiện phát hiện những hành vi trái quy định của pháp luật,
Trang 35qua đó đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật Do vậy, cần quan tâm đến việc xây dựng cơ chế kiểm tra, nhất là hoạt động kiểm tra tính hợp pháp, hợp hiến các văn bản quy định của pháp luật và tính hợp pháp của các hoạt động thực thi pháp luật Công tác thanh tra kiểm tra có thể tiến hành theo định
kỳ hàng quý, hàng năm hoặc đột xuất khi thấy có vấn đề về tổ chức thực hiện
cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc khi có khiếu nại, tố cáo
Sau khi giám sát, thanh tra, kiểm tra phải có đánh giá, kết luận ở từng đơn vị, từng cấp, từng ngành khi tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp Qua đó xử lý những trường hợp chưa nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính và khen thưởng kịp thời các đơn vị tổ chức thực hiện tốt nhằm tạo động lực cho mỗi cá nhân, tập thể trong việc tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
1.3 Các điều kiện bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
1.3.1 Pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Việc tổ chức thực hiện pháp luật yêu cầu phải đảm bảo phù hợp với các quy định của hệ thống pháp luật Do đó, đòi hỏi các văn bản quy định của pháp luật phải rõ ràng, đảm bảo tính hệ thống, nhằm tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các hoạt động, trong đó có hoạt động tài chính
Hệ thống pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính bao gồm: các văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế tài chính và các văn bản dưới luật của Chính Phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác
Cụ thể như sau:
Trang 36Các chủ trương, chính sách của Đảng như Nghị quyết của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương, Nghị quyết của Chính Phủ
Quán triệt các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước thể chế hóa thành các quy định của pháp luật Ở mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các đơn vị xây dựng và ban hành các văn bản bao gồm:
- Văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như Nghị định của Chính Phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết về việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
- Văn bản của Bộ chuyên ngành bao gồm Nghị định hướng dẫn Nghị
định khung của Chính phủ, Quyết định và Thông tư quy định chi tiết về nội dung thực hiện, tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung, quy trình và định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành làm cơ sở để các địa phương triển khai thực hiện
- Văn bản của địa phương nhằm cụ thể hóa các quy định theo hướng dẫn của Chính phủ, từng Bộ ngành để tổ chức triển khai thực hiện cho phù hợp với thực tiễn của từng địa phương
Các quy định của pháp luật phải được xây dựng và ban hành theo đúng quy trình thủ tục nhằm đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả Các hoạt động triển khai thực hiện pháp luật giúp cho chính sách pháp luật của Đảng, nhà nước đi vào thực tiễn cuộc sống Để đảm bảo việc tổ chức thực thi chính sách pháp luật
về cơ chế tự chủ tài chính có hiệu quả và đồng bộ đòi hỏi pháp luật về cơ chế
tự chủ tài chính phải đúng đường lối, chính sách của Đảng, quy định đầy đủ, đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành và có tính khả thi cao
Như vậy, pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là hệ thống các văn bản từ Trung Ương đến địa phương nhằm đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 371.3.2 Năng lực của các cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật
Cơ quan thực hiện pháp luật có vai trò tuân thủ, chấp hành và áp dụng pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính vào thực tiễn một cách đúng đắn Trước hết đó là trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, cơ quan đơn vị sự nghiệp, trong đó đặc biệt phải kể đến vai trò của các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Các cán bộ công chức được giao trách nhiệm quản lý nhà nước đối với việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và các viên chức, người lao động trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập Trách nhiệm đó thể hiện cụ thể ở những nội dung sau:
- Xây dựng và ban hành văn bản pháp luật nhà nước tạo cơ sở hàng lang pháp lý để đảm bảo thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Đồng thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc khi triển khai thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cho từng giai đoạn và từng năm
- Khi cơ chế, chính sách đã tốt, vấn đề còn lại là vận dụng, triển khai vào thực tiễn như thế nào Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ về tài chính nhằm đưa chính sách pháp luật vào cuộc sống, đảm bảo hiệu quả hoạt động về
cơ chế tự chủ tài chính và sự đồng bộ từ chủ trương cho đến hiện thực
Các cán bộ, công chức, viên chức là nguồn lực quan trọng nhất nhằm đưa chính sách pháp luật vào thực tiễn cuộc sống Các cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao theo đúng quy định của pháp luật Các cán bộ, công chức, viên chức ở mỗi vị trí khác nhau phải có đủ trình độ, năng lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Nếu các cán bộ, công chức, viên chức không có đủ năng lực thì khó có thể đảm bảo việc tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả
Trang 38Việc đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ đòi hỏi sự đổi mới của các đơn vị sự nghiệp công lập mà còn đòi hỏi sự đổi mới trong cách chỉ đạo, điều hành của các Bộ chủ quản, UBND các cấp Theo đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải có nhận thức đổi mới về
cơ chế tự chủ tài chính
1.3.3 Các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất ảnh hưởng đến việc
tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị
sự nghiệp công lập
Điều kiện về tài chính là một trong yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Các điều kiện về tài chính như kinh phí cho công tác tổ chức, thù lao, lương cho hệ thống cơ quan thực thi pháp luật, chi phí cho công tác tuyên truyền pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Chế độ đãi ngộ tốt sẽ khuyến khích viên chức người lao động hăng hái làm việc, chống lại sự tha hoá, biến chất, mua chuộc; ngược lại, chế
độ đãi ngộ không hợp lý sẽ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lơ là công việc, không hăng say phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ viên chức, người lao động Chế độ chính sách đãi ngộ giữ vai trò hết sức quan trọng, từ chế độ đề bạt, bổ nhiệm bố trí đến chế độ khen thưởng, chế độ tiền lương và kỷ luật… đây là động lực thúc đẩy đội ngũ viên chức, người lao động không ngừng vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Cơ sở vật chất của các đơn vị sự nghiệp công lập, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ đối với viên chức, người lao động của đơn vị sự nghiệp công lập có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tổ chức thực hiện pháp luật nói chung, về cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng Cơ sở vật chất để đảm bảo thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: Trụ sở làm việc, các trang thiết bị,…có những ảnh
Trang 39hưởng nhất định đến việc nâng cao mức tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Điều kiện vật chất, cụ thể là ô tô chuyên dùng, máy móc, phương tiện làm việc, đi lại; trụ sở làm việc, sân khấu biểu diễn, dụng cụ phục vụ việc tập luyện và thi đấu… được trang bị đầy đủ, hiện đại sẽ góp phần đẩy nhanh lộ trình tự chủ về tài chính Đội ngũ viên chức, người lao động đơn vị tự chủ có
đủ phương tiện làm việc thì sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp sẽ đảm bảo chất lượng hơn, họ sẽ tập trung vào chuyên môn mà không
bị chi phối bởi sự khó khăn về điều kiện, phương tiện làm việc
1.3.4 Công khai, minh bạch về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính
Theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, công khai và minh bạch
về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là việc công bố, cung cấp thông tin, giải trình về tổ chức bộ máy, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn
vị Công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước là việc làm cho mọi người dân có thể biết và hiểu cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ của đơn vị
và đảm bảo các hoạt động trong khuôn khổ phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật Như vậy, có thể hiểu công khai, minh bạch đối với việc tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập là việc công bố, cung cấp thông tin về các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và việc thực hiện pháp luật của các đơn vị về cơ chế tự chủ tài chính, Công khai, minh bạch vừa là yêu cầu vừa
là điều kiện để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả Đây cũng chính là yếu
tố rất được coi trọng trong nhà nước pháp quyền và là điều bắt buộc với tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập
Bảo đảm công khai, minh bạch trong việc tổ chức thực hiện pháp luật trước hết được thể hiện ở việc công khai các quy định về mặt nội dung, quy trình tổ chức thực hiện làm cơ sở để tăng cường sự hiểu biết của cán bộ, công
Trang 40chức, viên chức đối với việc tổ chức thực hiện pháp luật Sự hiểu biết pháp luật của những chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật là điều kiện cơ bản nhất để tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả Thực tế cho thấy, đã có nhiều trường hợp việc thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về các nội dung của quy phạm pháp luật và cách thức tổ chức thực hiện pháp luật đã tạo ra những cản trở đối với quá trình thực hiện pháp luật
Hiện nay, việc tự chủ chuyên môn đang được cố gắng tạo điều kiện tối
đa Việc tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là một xu thế trong tương lai, khi điều kiện kinh tế tốt hơn Sự tự chủ này sẽ phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế và nhận thức của các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Nhưng cũng phải làm sao để tự chủ không bị đánh đồng
là thương mại hóa lĩnh vực văn hóa thể thao Muốn như vậy, phải công khai minh bạch rõ các nguồn thu, rõ mục đích chi và quyết toán cuối năm với các khoản chi Mức thu cao đối với các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp không phải chỉ vì lợi nhuận mà còn vì chất lượng sản phẩm, dịch
vụ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về
tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, phân loại, chủ thể, vai trò, nội dung và các điều kiện bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Chương này làm cơ sở lý luận để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm thực hiện tốt pháp luật cơ chế
tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội