1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của các tổ chức nước ngoài tại việt nam

103 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam .... Xuất phát từ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ - BỘ NỘI VỤ -/ -

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYẾN CHIẾN THẮNG

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ

KỸ THUẬT SỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC

NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ -/ -

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYẾN CHIẾN THẮNG

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ

KỸ THUẬT SỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC

NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Chuyên ngành: QUẢN LÝ CÔNG

Mã ssố: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ VÂN HÀ

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Vân Hà Các số liệu, những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Chiến Thắng

Trang 4

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Vân Hà đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến khoa học trong thời gian tôi thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Ban Quản lý đào tạo Sau Đại học, cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, các cấp Lãnh đạo cơ quan Tổng cục Thuế đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

và quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả gia đình, bạn bè

và đồng nghiệp luôn là nguồn động viên quý báu cho tôi hoàn thành luận văn

Trân trọng!

Học viên

Nguyễn Chiến Thắng

Trang 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 91.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 221.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 291.4 Kinh nghiệm một số nước trong quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 34Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ KỸ THUẬT SỐ CUNG CẤP CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 36

2.1 Khái quát chung về hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của

tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 36

Trang 6

2.2 Pháp luật về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 38 2.3 Thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài

vào Việt Nam 44

2.4 Đánh giá về tổ chức thực hiện pháp luật quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 56

2.5 Một số vấn đề đặt ra đối với công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 63

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ KỸ THUẬT SỐ CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 68

3.1 Quan điểm tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 68

3.2 Giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 72

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt CNTT Công nghệ thông tin

DV KTS Dịch vụ kỹ thuật số GTGT Giá trị gia tăng

Trang 8

Danh mục các bảng Bảng 2.1 Kết quả kê khai thuế nhà thầu đối với dịch vụ quảng cáo số… 50 Bảng 2.2: Tỷ lệ người dùng và tốc độ internet ở Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2018…….………64

Trang 9

Danh mục các hình vẽ Hình 1.1: Phân loại đối tượng kinh doanh trong thương mại điện tử……… …… 9 Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức cơ quan Tổng cục Thuế……….….45 Hình 2.3: Hệ thống ứng dụng CNTT ngành thuế…… ……….55

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Để hướng tới xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, việc tổ chức thực hiện pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Một mặt, Nhà nước

có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội một cách hiệu lực, hiệu quả Mặt khác, bản thân Nhà nước cũng phải tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội

Tại Việt Nam, Dịch vụ kỹ thuật số thường biết đến như: các phần mềm, trò chơi được cung cấp trên các chợ điện tử của APP store, CH Play,…; xem trực tuyến trên các ứng dụng Netflix, Apple TV, HBO, iQIYI TV…được cài đặt trong các thiết bị điện tử thông minh như Smart TV, Smart phone, Tablet Nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, người tiêu dùng Việt dùng có thể tìm kiếm được nhiều loại hình giải trí để thỏa mãn cho các nhu cầu cá nhân của mình Trong thời gian các loại hình cung cấp DV KTS được biết đến với hiện tượng “Doanh thu ở Việt Nam vài ngàn tỷ, Facebook, Google vẫn không đóng thuế”[21] Điều này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách quốc gia và gây mất bình đẳng trong hoạt động kinh doanh với các doanh nghiệp sản xuất

và cung cấp nội dung số trong nước

Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua đang tập trung vào mô hình cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho các DN vào Việt Nam nên công tác tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho cá nhân tại Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ nên dẫn dến hiện

Trang 11

2

tượng nêu trên Sở dĩ có tình hình trên, trước hết là do tính pháp lý của các quy định pháp luật hiện hành về thuế GTGT và quản lý thuế tại Việt Nam chưa có tính đồng bộ về đối tượng quản lý, việc phối hợp giữa các cơ quan quan lý nhà nước trong quản lý đối với DV KTS xuyên biên giới vào Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong phương thức và cách thức tổ chức thực hiện; công tác tuyên truyền còn gặp nhiều bất cập do tổ chức nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam; các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam không hỗ trợ được nhiều trong việc thu thuế và trao đổi thông tin giữa hai nước; Chính vì vậy, việc tổ chức thực hiện pháp luật đối với hoạt động này

đã và đang gặp rất nhiều khó khăn với nhiều lý do cả khách quan và chủ quan

Xuất phát từ thực tế đó, là công chức hiện đang công tác tại Ban Cải cách và Hiện đại hóa thuộc Tổng cục Thuế và được giao phụ trách công việc chuyên môn về nghiên cứu các nghiệp vụ quản lý thuế mới, trong đó có thương mại điện tử, tôi nhận thấy: vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật về quản

lý thuế GTGT đối với hoạt động này vẫn còn những hạn chế, bất cấp nên tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam” cho Luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Bên cạnh giáo trình cơ bản về thương mại điện tử mang tính lý thuyết chung [15], một số nghiên cứu sau có liên quan:

- Đề tài nghiên cứu khoa học có: “Quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử” (2016), đề tài cấp Bộ do Nguyễn Quang Tiến làm chủ nhiệm; “Quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử – Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam” (2012), đề tài cấp Tổng cục Thuế do Nguyễn Chí Dũng làm chủ nhiệm; “Quản lý hoạt động sản xuất, kinh

Trang 12

3

doanh và khai thác Game: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, (2017), đề tài cấp Tổng cục Thuế do Nguyễn Hoàng làm chủ nhiệm; “Thực trạng quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế giai đoạn 2016-2020” (2017) , đề tài cấp Tổng cục Thuế do Nguyễn Xuân Tú làm chủ nhiệm đề tài

Qua nghiên cứu các tài liệu trên, có thể thấy những nội dung trọng tâm,

cơ bản được nhiều tác giả quan tâm và đã giải quyết như: tác giả Nguyễn Chí Dũng (2012) đã đi sâu phân tích một số vấn đề phát sinh trong thực thi chính sách thuế đối với hoạt động thương mại điện tử gồm: xác định loại thu nhập trong các giao dịch thương mại điện tử liên quan đến sản phẩm số, việc xác định địa điểm kinh doanh trong môi trường toàn cầu để thực hiện quyền đánh thuế của mỗi quốc gia,… [6] Nghiên cứu của Tác giả Nguyễn Xuân Tú (2017), Nguyễn Hoàng (2017) đã có những đóng góp những phân tích về mô hình kinh doanh trò chơi trực tuyến nuôi web “đen”, trốn thuế của các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp cho người dùng Việt Nam [11], [16] Theo Nguyễn Quang Tiến (2017) đã chỉ ra những nguyên nhân tác động đến hiệu quả chính sách thuế và quản lý thuế đối với thương mại điện tử [13]

- Bài báo khoa học: “Thuế GTGT với xuất, nhập khẩu dịch vụ: Xu hướng quốc tế và quá trình phát triển ở Việt Nam” (2012) của tác giả Phan Đức Huy; “Quản lý thuế thương mại điện tử tại một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam” (2018) của Lê Quang Thuận, Trần Thị Hà

Bên cạnh đó, tác giả Phan Đức Huy (2012) đưa ra nhận định đối với dịch vụ do nước ngoài cung cấp cho cá nhân tiêu dùng ở Việt Nam, tuy rằng phải chịu thuế GTGT theo Luật, song trên thực tế rất khó khả thi, do chưa có

cơ chế ràng buộc người tiêu dùng phải báo với cơ quan thuế giống như DN phải khai báo, nộp thay thuế GTGT, trong khi việc thanh toán được thực hiện

Trang 13

4

qua mạng interner, nhất là đối với các sản phẩm âm nhạc, phim ảnh, sách điện

tử, phần mềm máy tính… [20] Từ thực tiễn của Việt Nam, các tác giả Lê Quang Thuận, Trần Thị Hà (2018) đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như: cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về thương mại điện tử và sửa đổi Luật Quản lý thuế hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến quản lý thuế điện tử; hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan thuế (nhất là đối với thương mại điện tử); áp dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động quản lý thuế thương mại điện tử; Cơ quan thuế tăng cường phối hợp với các

bộ ngành liên quan trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử [22]

Có thể thấy, ở những công công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã nghiên cứu một cách tổng thể chung về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử trên thế giới và ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu về công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam – một loại dịch vụ cụ thể trong thương mại điện tử Do đó, đề tài “Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam” không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Đề xuất những giải pháp để tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ

Trang 14

5

i) Nghiên cứu, làm rõ lý luận công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

ii) Đánh giá thực tiễn công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

iii) Đề xuất những giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: luận văn nghiên cứu công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho cá nhân tại Việt Nam (luận văn không đề cập đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho các khách hàng là doanh nghiệp và tổ chức tại Việt Nam)

- Về không gian: luận văn nghiên cứu công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam tại Tổng cục Thuế

- Về thời gian: luận văn nghiên cứu công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho các cá nhân tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 – 2019,

Trang 15

6

đây là giai đoạn tương ứng với các chính sách về thuế GTGT đang còn hiệu lực

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng;

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: luận văn thu thập các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp như các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế trả lời cho các vướng mắc thực tiễn trong thời gian qua; các bài báo khoa học, các bài báo thời sự trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề này Các tài liệu này được xử

lý thông tin để:

+ Tìm kiếm các căn cứ khoa học và số liệu minh chứng làm cơ sở cho việc hình thành các luận điểm, luận cứ, luận chứng cả về mặt lý thuyết và thực tiễn

+ Đưa ra kết luận

- Phương pháp phân tích: được sử dụng để phân tích các số liệu liên quan đến công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam để thấy những bất cập, vướng mắc trong công tác này

- Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các quy định trong

hệ thống pháp luật của Việt Nam với các quy định của một số quốc gia khác

về pháp luật thuế GTGT và quản lý thuế đối với DV KTS cung cấp xuyên biên giới và các vấn đề khác liên quan, từ đó xem xét thực trạng của Việt Nam và nêu đề xuất riêng

Trang 16

7

- Phương pháp chuyên gia đựợc sử dụng để phỏng vấn một số chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý, viên chức ngành thuế, để hỏi ý kiến, nhận xét và hỗ trợ cho luận văn trong quá trình thu thập tài liệu, nghiên cứu, xử lý thông tin, viết báo cáo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận, luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp

DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam – một vấn đề còn mới và chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam

- Về ý nghĩa thực tiễn: Những nhận định mang tính khái quát về thực trạng công tác tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho các cá nhân tại Việt Nam của Tổng cục Thuế và những giải pháp mà tác giả đề xuất có giá trị tham khảo đối với thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài cho các cá nhân tại Việt Nam của Tổng cục Thuế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 Chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Trang 17

8

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Trang 18

9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ KỸ THUẬT SỐ CỦA TỔ CHỨC NƯỚC

NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Dịch vụ kỹ thuật số và hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

1.1.1.1 Dịch vụ kỹ thuật số

Thuật ngữ “Dịch vụ kỹ thuật số” xuất hiện phổ biến trong thời gian gần đây gắn liền với sự phát triển của của cách mạng công nghiệp 4.0 và đi cùng với thời đại kinh tế số Kể từ đó, trong lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ được phân chia thành 02 nhóm như được nêu trong Hình 1.1 gồm:

DV KTS và dịch vụ khác:

TMĐT

Hàng hóa

Dịch vụ

Dịch vụ KTS

Dịch vụ khác

Hình 1.1: Phân loại đối tượng kinh doanh trong thương mại điện tử

(Nguồn: tác giả) Hiện tại, chưa có khái niệm thống nhất hay tiêu chí chuẩn mực để xác định một dịch vụ trong thương mại điện tử là DV KTS Do đó, khái niệm và

Trang 19

10

phạm vi của DV KTS có sự thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia Chẳng hạn, trong Luật thuế hàng hóa, DV KTS của Mỹ có nêu [28]: “Các sản phẩm kỹ thuật số, hàng hóa hoặc DV KTS, được định nghĩa là hàng hóa, dịch vụ vô hình (phi vật lý) tồn tại ở định dạng điện tử hoặc kỹ thuật số Chúng được gửi đến khách hàng đầu cuối bằng điện tử, chẳng hạn như qua email hoặc tải xuống trực tuyến” Theo khái niệm này thì phạm vi DV KTS của Mỹ bao gồm:

(i) Dịch vụ xử lý dữ liệu trực tuyến

(ii) Tải về phần mềm

(iii) Tải sách điện tử

(iv) Tải nhạc, tệp âm thanh kỹ thuật số

(v) Tải phim hoặc video kỹ thuật số

(vi) Tải về các hàng hóa kỹ thuật số khác

Theo hướng dẫn về thuế GTGT của Liên minh Châu Âu về thu thuế

DV KTS quy định các tiêu chí tạo nên một DV KTS [25]:“Một dịch vụ - trái ngược với hàng hóa vật lý: (i) Dựa trên CNTT; (ii) Được cung cấp điện tử - thông qua internet, cáp đồng hoặc cáp quang và vệ tinh; (iii) Việc cung cấp hoàn toàn tự động – chỉ có sự can thiệp tối thiểu của con người” Theo đó,

DV KTS theo quy định của Liên minh Châu Âu được chia thành 5 loại như:

(i) Cung cấp video, âm nhạc, trò chơi, xổ số và các trò chơi may rủi khác: Tải phim hoặc chương trình xuống máy tính để bàn, máy tính xách tay

và điện thoại; Chơi trực tuyến hoặc tải xuống các trò chơi, bao gồm cả người chơi từ xa; Cung cấp âm nhạc, phim ảnh, cá cược, phát sóng; Nhạc chung, nhạc chờ và âm nhạc

Trang 20

11

(ii) Dịch vụ trang web: Dịch vụ trang Web hỗ trợ tự động; Bảo trì và hỗ trợ tự động của các trang Web; Lưu trữ các Website; Các nhà cung cấp dịch

vụ Internet; Dịch vụ lưu trữ dữ liệu và thông tin trực tuyến

(iii) Dịch vụ phần mềm:Các dịch vụ phần mềm được cung cấp qua internet thông qua các bản tải xuống trên bản phân phối dựa trên đám mây; Tải về trình điều khiển thiết bị ngoại vi như máy in, máy scan; Tải xuống phần mềm phòng chống virus, bộ lọc tường lửa cho máy tính; Tải xuống các gói phần mềm kế toán

(iv) Cung cấp chương trình đào tạo từ xa: Chương trình học từ xa qua mạng; Giáo trình bài tập của sinh viên học trực tuyến

(v) Cung cấp văn bản, hình ảnh và cơ sở dữ liệu: Tải về các thiết kế; Sách điện tử; Quảng cáo trực tuyến; Đăng ký vào các blog, tạp chí hoặc báo trực tuyến; Phí thành viên cho các câu lạc bộ trực tuyến, tạp chí hoặc các trang Web hẹn hò; Sàn giao dịch trực tuyến cho hàng hóa và dịch vụ; Tải xuống các báo cáo, phân tích tài chính hoặc dữ liệu thị trường và các hướng dẫn; Thao tác tính toán dữ liệu qua mạng Internet hoặc các mạng điện tử khác

Ở Malaysia, Luật thuế dịch vụ sửa đổi năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020) [27], DV KTS được Malaysia xác định là “là bất kỳ dịch

vụ nào được cung cấp hoặc đăng ký qua internet hoặc mạng điện tử khác và không thể có được nếu không sử dụng CNTT và việc cung cấp dịch vụ về cơ bản là tự động” Phạm vi của DV KTS bao gồm:

(i) Bản quyền phần mềm trực tuyến

(ii) Tường lửa

(iii) Ứng dụng cho điện thoại và video game

Trang 21

12

(iv) Công cụ tìm kiếm và mạng xã hội

(v) Dịch vụ điện toán đám mây và dịch vụ lưu trữ web (website hosting)

(vi) Quảng cáo trực tuyến

(vi) Viễn thông trên nền tảng internet

(vii) Dịch vụ đào tạo trực tuyến

Như vậy, hiện nay giữa các nhà lập pháp của các nước trong phạm vi xây dựng chính sách thuế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất về phạm vi của DV KTS Tuy nhiên, có thể thấy rằng khái niệm và phạm

vi các DV KTS cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng chúng đều có đặc điểm là tính vô hình, mọi hoạt động mua bán được thực hiện trên môi trường mạng

Từ các khái niệm như trên, theo tác giả, về nghĩa rộng, DV KTS được hiểu là hoạt động cung cấp các sản phẩm phi vật lý từ các nhà cung cấp đến NTD bằng phương thức điện tử trong môi trường mạng Các bước tiến hành giao dịch: đăng ký, thanh toán, giao hàng, dự trữ các sản phẩm phi vật lý đều được thực hiện hoàn toàn tự động và chỉ có sự can thiệp tối thiểu của con người

Theo nghĩa hẹp, DV KTS là hoạt động cung cấp những sản phẩm nội dung số trên môi trường mạng, được thực hiện hoàn toàn tự động – chỉ có sự tham gia tối thiểu của con người

Từ những cách hiểu như trên, trong phạm vi luận văn này, DV KTS được hiểu là dịch vụ cung cấp tự động trên môi trường mạng và không thể thiếu nếu không sử dụng CNTT, chỉ có sự can thiệp tối thiểu hoặc không có sự tham gia của con người vào quá trình cung cấp dịch vụ

Trang 22

- Tính đồng đều về chất lượng Khác biệt với các dịch vụ khác, các DV KTS thường được cung cấp cùng mức tiêu chuẩn cho người tiêu dùng Chẳng hạn, tất cả người tiêu dùng cùng xem trực tuyến 1 chương trình truyền hình hay cùng nghe 1 bản nhạc thì chất lượng bản nhạc hay bộ phim đó đều như nhau

- Tính dự trữ được Đặc điểm này xuất phát từ đặc tính tách rời giữa cung cấp và sử dụng dịch vụ Sau khi, người tiêu dùng mua các DV KTS đi kèm với các sản phẩm nội dung số như file nhạc, file phim số, hay tài liệu thì các sản phẩm nội dung này có thể được lưu trữ trong những bị điện tử như máy tính, điện thoại hay ổ USB

Xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của DVKTS nên hoạt động cung cấp DVKTS, đặc biệt là hoạt động cung cấp DVKTS của tổ chức nước ngoài

vào một quốc gia khác cũng có những điểm đặc thù đáng quan tâm

1.1.1.2 Hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

DV KTS có thể được cung cấp bởi các doanh nghiệp trong nước hoặc các tổ chức nước ngoài hay con gọi là DV KTS xuyên biên giới Trong đó,

Trang 23

14

hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam được hiểu

là “hoạt động cung ứng dịch vụ của tổ chức nước ngoài được thành lập và hiện diện tại quốc gia/vùng lãnh thổ khác cho khách hàng cư trú tại Việt Nam” Khách hàng tại Việt Nam có thể là các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh, cá nhân tiêu dùng cư trú tại Việt Nam Trong luận văn này, tác giả tìm hiểu về hoạt động cung cấp DVKTS của tổ chức nước ngoài cho cá nhân kinh doanh và cá nhân tiêu dùng tại Việt Nam

Hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam có các đặc trưng sau:

- 100% thanh toán trong các giao dịch mua DV KTS là thanh toán không dùng tiền mặt Trong giao dịch mua DV KTS xuyên biên giới, các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp để đàm phán ký kết, không phát sinh quá trình vận chuyển qua công ty logistics hay quá trình cung cấp dịch vụ từ bên thứ ba nên không thể áp dụng hình thức thanh toán tiền COD (Cash on Delivery: thu tiền khi giao hành) để ủy quyền cho bên thứ 3 thu hộ tiền khi giao hàng hay hoàn thành việc cung cấp dịch vụ

- Tính chắc chắn thu được tiền ngay sau khi hoàn thành việc cung cấp

DV KTS Trong kinh doanh thương mại điện tử, hoạt động cung cấp hàng hóa hay dịch vụ khác thường gặp không ít những khó khăn trong việc thu tiền khi hàng hóa đã chuyển quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa cho người mua; hay việc cung cấp dịch vụ khác đã hoàn thành cho người mua Nhưng đối với hoạt động cung cấp DV KTS, nguyên tắc “tiền trao – cháo múc” được

áp dụng nên chỉ khi người bán nhận được thông báo chắc chắn đã thu được tiền từ người mua thì khi đó người bán mới tiền hành cung cấp DV KTS cho người mua

- Tính không hoàn trả và không bồi hoàn Phần lớn các DV KTS sau khi mua từ người bán thì người mua không thể hoàn trả lại dịch vụ và nhận lại

Trang 24

15

tiền khi bạn cho rằng dịch vụ kỹ thuật đó số không đúng như quảng cáo giới thiệu hoặc không còn muốn sử dụng DV KTS đó hoặc trẻ con ấn linh tinh mua nhầm game Chỉ có 1 số ít nhà cung cấp dịch vụ số cho phép hoàn trả nhưng chỉ trong thời gian ngắn tính từ thời hạn thanh toán nhưng thủ tục và thời hạn giải quyết rất phức tạp (chẳng hạn như Google store chỉ cho phép hoàn trả sau 2g tính từ thời hạn thanh toán) Khi DV KTS được cung cấp bị lỗi về nội dung hay không thể hoạt động sau một thời gian sử dụng, người tiêu dùng chỉ có thể phản ánh đến nhà cung cấp hoặc nhà phát triển dịch vụ số

để chờ nhận được bản nâng cấp sửa lỗi hoặc nhận được những phản hồi về cách khắc phục do lỗi từ thiết bị của người tiêu dùng gây ra

- Người bán thường không xác định trách nhiệm phải thu các khoản thuế và phí (không phải thuế thu nhập): Thường trong các điều khoản cung cấp DV KTS trên ứng dụng (hay Chợ ứng dụng hay website cung cấp DV KTS) của Nhà cung cấp, Người tiêu dùng phải có trách nhiệm tuân thủ các Luật thuế hiện hành của Quốc gia nơi người tiêu dùng cư trú Nghĩa là trách nhiệm chịu và phải trả các khoản thuế và phí (không phải thuế thu nhập) đối với các giao dịch mua DV KTS được xác định cho Người tiêu dùng Tuy nhiên, trong các điều khoản cung cấp DV KTS nói trên không ràng buộc trách nhiệm phải thu của Nhà cung cấp

- Các tổ chức nước ngoài cung ứng DV KTS không thành lập và hiện diện tại Việt Nam Các hoạt động cung ứng DV KTS diễn ra trong môi trường mạng hay diễn ra trong môi trường phi biên giới nên các chủ thể khi tham gia vào giao dịch cung ứng DV KTS không cần phải di chuyển tới bất kỳ địa điểm nào mà vẫn có thể tiến hành giao dịch điện tử Do đó, các tổ chức nước ngoài cung ứng DV KTS không thành lập và hiện diện tại Việt Nam mà vẫn

có thể kinh doanh và phát sinh thu nhập từ các tổ chức, cá nhận tại Việt Nam

Như vậy, những đặc điểm của hoạt động cung cấp DVKTS của tổ chức

Trang 25

16

nước ngoài vào Việt Nam cho cá nhân tiêu dùng đặt ra những khó khăn đối với tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và tổ chức thực hiện pháp luật quản

lý thuế GTGT đối với hoạt động này nói riêng

1.1.2 Thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế

1.1.2.1 Thuế giá trị gia tăng

Theo quy định tại Điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 định nghĩa “thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”[17]

Giáo trình Thuế - Học viện tài chính (NXB Tài chính – Năm 2014) đẫ đưa ra một số đặc điểm cơ bản của thuế GTGT như sau:

- Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai doạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng

GTGT là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh Đại lượng này có thể được xác định bằng phương pháp cộng hoặc phương pháp khấu trừ Theo phương pháp cộng, GTGT là trị giá các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm bao gồm tiền công và lợi nhuận Theo phương pháp khấu trừ, GTGT chính là khoản chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ trừ đi tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng Tổng GTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng Do vậy, việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn tương đương với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng

- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế Thuế GTGT không phải là yếu

Trang 26

17

tố chi phí mà đơn thuần là yếu tộ cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế; sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi

- Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT là một khoản tiền được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng

- Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau Như vậy, nếu so sánh giữa

số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngược lại

- Thuế GTGT có tính lãnh thổ Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Những đặc điểm trên của thuế GTGT khiến cho hoạt động quản lý nhà nước đối với loại thuế này có những điểm đặc thù nhất định

1.1.2.2 Quản lý thuế

“Quản lý thuế có thể được hiểu là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tức là, quản lý thuế được hiểu là hoạt động tác động và điều hành họat động đóng thuế của người nộp thuế” [8, tr9]

Theo Giáo trình Quản lý thuế - Học viện tài chính (NXB Tài chính – Năm 2010), quản lý thuế bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ

Trang 27

18

quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống các cơ quan chuyên môn giúp việc cho cơ quan hành pháp (cơ quan thuế, cơ quan hải quan) thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế

- Thứ hai, đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước

- Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là huy động nguồn lực tài chính tính từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và tổ chức thi hành pháp luật thuế

- Thứ tư, quản lý thuế là một hệ thống thống nhất giữa các CQQLNN với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế và tổ chức hành thu

- Thứ năm, quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luật khách quan

Nội dung của quản lý thuế bao gồm: [18]:

- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế;

- Hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế;

- Khoanh tiền thuế nợ, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp, tiền phạt; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ

- Quản lý thông tin người nộp thuế;

- Quản lý hóa đơn, chứng từ;

- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế và thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế;

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế;

Trang 28

19

- Xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế;

- Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuê

1.1.3 Thực hiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

1.1.3.1 Thực hiện pháp luật

Thực hiện pháp luật là giai đoạn sau khi tiến hành xây dựng pháp luật

là giai đoạn quan trọng không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật Bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc điểu chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống Do vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là ban hành nhiều luật mà thực hiện pháp luật như thế nào trong thực tế

Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử

sự chung mà Nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình, nói cách khác những đòi hỏi, cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật

Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân, mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật Đối với Nhà nước thì thực hiện pháp luật là một trong những hình thực để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, quản lý và bảo vệ xã hội, còn đối với các tổ chức phi Nhà nước hoặc các cá nhân thì thực hiện pháp luật là hoạt động sử dụng các quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho họ

Trang 29

20

Thực hiện pháp luật là quá trình các thành viên trong xã hội thực hiện các hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật dưới những hình thức và tính chất thực hiện khác nhau nhưng cùng nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, tăng cường pháp chế trong đời sống trong nhà nước [7.tr318]

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật

Khái niệm về tổ chức thực hiện pháp luật chưa được định nghĩa một cách chính xác, cụ thể ngay cả đối với các từ điển chuyên ngành Luật, từ điển giải thích thuật ngữ Luật Do đó, cần hiểu khái niệm vể tổ chức thực hiện pháp luật dưới hai phương diện sau:

- Phương diện thứ nhất là pháp luật trong trạng thái” tĩnh” hay pháp luật trong các trang công báo Pháp luật theo phương diện này còn được gọi là pháp luật thực định Theo Hiến pháp năm 2013, đây là các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc Hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước; các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan nganh bộ và chính quyền địa phương các cấp Đây là pháp luật được hình thành chủ yếu do hoạt động lập pháp của Quốc Hội và hoạt động lập quy của hệ thống các quan hành pháp

- Phương diện thứ hai của pháp luật là pháp luật trong trạng thái “động” hay gọi là pháp luật trong hành động, pháp luật trong cuộc sống Pháp luật theo phương diện nay là sự tuân theo pháp luật của các chủ thể trong đời sống Nhà nước và đời sống xã hội, được hình thành bằng hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền Giống như phương diện thứ nhất, phương diện của pháp luật cũng được Hiến pháp quy định Theo đó, tổ chức thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu để

Trang 30

cơ quan hành chính nhà nước

Nội dung của tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm một chuỗi các hoạt động kế tiếp nhau, quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, hoạt động trước là tiền đề, là điều kiện tiên quyết định cho hoạt động sau Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm các hoạt động sau:

- Trước hết, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện, xây dựng chương trình và kế hoạch thực hiện văn bản quy phạm pháp luật;

- Hai là, phổ biến chương trình, kế hoạch thực hiện văn bản quy phạm pháp luật và tuyên truyền, phổ biến nội dung và tinh thần cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật đến các đối tượng trực tiếp phải thi hành Việc phổ biến tinh thân và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật bằng tài liệu được biên soạn, bằng các phương tiện thông tin đại chúng, bằng việc phổ biến trực tiếp;

- Ba là, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật đang tổ chức thực hiện để kịp thời xử lý những vi phạm và phát hiện những lỗ hổng, những quy định pháp luật không phù hợp,…;

- Bốn là, sau một thời gian thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiến hành công tác sơ kết, tổng kết việc tổ chức văn bản quy phạm pháp luật đó;

- Năm là, trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, phải theo dõi việc thực hiện pháp luật để kịp thời phát hiện những khó khăn, bất hợp lý của việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa, đổi, bổ sung;

Trang 31

22

- Sáu là, tổ chức thực hiện pháp luật tốt phải xây dựng lực lượng và cơ

sở vật chất vững mạnh để đảo bảo cho việc tổ chức thực hiện pháp luật

Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra được khái niệm về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam như sau: Tổ chức thực hiện pháp luật

về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DVKTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức,

có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam được triển khai trong thực tiễn

1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

1.2.1 Bộ máy tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam là hoạt động có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tác động tới hoạt động này nhằm đạt được mục đích thu đúng, thu đủ số thuế GTGT vào ngân sách nhà nước Do vậy, có thể nói tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này có định hướng, có chủ đích của các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) và Bộ Công Thương, Bộ Thông tin Truyền thông và các Bộ, ngành có liên quan khác

 Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ thống nhất quản lý

Trang 32

23

nhà nước về quản lý thuế: [18]

- Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế;

- Tổ chức việc thực hiện quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về thuế và quy định của pháp luật có liên quan;

- Xử lý vi phạm pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cao liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế có thẩm quyền;

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về thuế;

 Tổng cục Thuế

Tổng cục Thuế là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính, được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương (gồm Cơ quan Tổng cục Thuế và 63 Cục Thuế địa phương), là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí các khoản thu khác của ngân sách nhà nước; tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật Tổng cục Thuế có các nhiệm vụ và quyền hạn như sau [12]:

- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình cấp có thẩm quyền xem xét các

dự thảo của các văn bản quy phạm pháp luật (như luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý thuế);

- Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, quy trình nghiệp vụ;

- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật;

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý của Tổng cục Thuế

Trang 33

24

- Tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật gồm: Hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; tổ chức công tác hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, miễn thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt và các nghiệp vụ khác có liên quan;…

- Được áp dụng các biện pháp hành chính để đảm bảo thực thi pháp luật

về thuế:

- Yêu cầu người nộp thuế cung cấp sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và hồ

sơ tài liệu khác có liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế; yêu cầu tổ chức tín dụng, các tổ chức và cá nhân khác có liên quan cung cấp tài liệu và phối hợp với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế;

- Ấn định thuế, truy thu thuế; thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế để thu tiền thuế nợ, tiền phạt vi phạm hành chính thuế

- Lập hồ sơ kiến nghị khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế; thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật thuế

- Thanh tra chuyên ngành thuế; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;

xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật

- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về lĩnh vực thuế theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật

Trang 34

25

 Bộ Công Thương [18]:

- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chức năng trong việc kết nối, cung cấp thông tin liên quan để phối hợp với Bộ Tài chính trong quản lý thuế đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại điện tử, nhượng quyền thương mại và các hoạt động liên quan;

- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện quy định của pháp luật về kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ thương mại trên thị trường và lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật

 Bộ Thông tin và Truyền thông [18]

- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chức năng phối hợp với cơ quan Quản lý thuế để quản lý thuế đối với hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng;

- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan chức năng trong việc kết nối, cung cấp thông tin liên quan với cơ quan quản lý thuế đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trò chơi điện tử trên mạng

 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam [18]

- Chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức tín dụng trong việc kết nối, cung cấp thông tin với cơ quan quản lý thuế liên quan đến giao dịch qua ngân hàng của

tổ chức, cá nhân và phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật Quản lý thuế;

- Xây dựng và phát triển hệ thống thanh toán thương mại điện tử quốc gia, các tiện ích tích hợp thanh toán điện tử để sử dụng rộng rãi cho các mô hình thương mại điện tử;

- Thiết lập cơ chế quản lý, giám sát các giao dịch thanh toán hỗ trợ công tác quản lý thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới trong thương mại điện tử;

Trang 35

26

 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Quản lý thuế theo quy định của Chính phủ

1.2.2 Xây dựng và ban hành các văn bản quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam là khâu đầu tiên trong để đưa các quy định pháp luật trên các trang giấy vào thực tiễn cuộc sống Công tác này được xác định là vai trò và trách nhiệm của cơ quan chủ trì đã được Chính phủ giao là Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế như đã nêu tại mục 1.2.1 và các cơ quan thuế địa phương trong phạm vi quản lý của địa phương Công tác này nhằm triển khai thống nhất trong xử lý và chỉ đạo quyết liệt trong toàn ngành thuế về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này, đồng thời thể hiện vai trò đứng đầu và trách nhiệm của cơ quan cấp trên

là Bộ Tài chính hay Tổng cục Thuế, cũng như cơ quan thuế địa phương

1.2.3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên trong việc nâng cao kiến thức cho các chủ thể thực hiện pháp luật Do đó, công tác này luôn phải được quan tâm và đẩy mạnh thực hiện với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và đồng bộ và phù hợp với đối tượng quản lý là các tổ chức nước ngoài

Trang 36

27

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý thuế GTGT không chỉ nâng cao nghiệp vụ cho công chức làm công tác quản lý thuế GTGT đối với các hoạt động này, mà còn nâng cao ý thức tuân thủ của của tổ chức nước ngoài trong việc chấp hành tuân thủ pháp luật của Việt Nam và bảo đảm nhận thức chung của xã hội trong việc bảo vệ nguồn thu của quốc gia khi các tổ chức nước ngoài có ý định trốn tránh thuế đối với khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam

1.2.4 Thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Thanh tra, kiếm tra được xác định là công cụ để bảo đảm hiệu lực hiệu quả trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam Công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch hàng năm hoặc trong những trường hợp đột xuất theo phản ánh của báo chí, đơn thư tố cáo hoặc yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên Qua đó, công tác thanh tra, kiểm tra một mặt giúp cho chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật phát hiện

và xử lý kịp thời những những sai phạm, gian lận, trốn thuế trong quá trình thực hiện pháp luật về thuế GTGT của người nộp thuế, mặt khác phát hiện những khó khăn, bất hợp lý của việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này để kiến nghị sửa đổi hoặc

bổ sung pháp luật có liên quan

1.2.5 Hợp tác quốc tế trong quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam Hợp tác quốc tế trong quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp

DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện trên cơ sở các điều khoản trong Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các

Trang 37

28

quốc gia/vùng lãnh thổ Trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động này, cơ quan thuế Việt Nam thường tiến hành trao đổi với cơ quan thuế các quốc gia/vùng lãnh thổ trong việc xác thực sự hiện diện và thành lập tổ chức nước ngoài tại các quốc gia/vùng lãnh thổ, xác minh các khoản thu nhập phát sinh của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và phối hợp hỗ trợ thu thuế đối với các khoản nợ thuế của tổ chức nước ngoài đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam

1.2.6 Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Bảo đảm cơ sở hạ tầng CNTT phục vụ quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam đáp ứng theo các yêu cầu phát triển của Chính phủ điện tử trong thời đại cách mamgj công nghiệp 4.0 Hoạt động này nhằm hỗ trợ, giúp cho người nộp thuế, đặc biệt là các tổ chức nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam được tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 để tăng khả năng tự nguyện tuân thủ của các tổ chức nước ngoài khi phát sinh thu nhập tại Việt Nam Bên cạnh

đó, xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT bên trong nội bộ cơ quan thuế để nâng cao năng lực quản lý đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam trong việc truy lần, rà soát các giao dịch cung cấp DV KTS của

tổ chức nước ngoài bởi hoạt động này chủ yếu diễn ra trong môi trường mạng, cũng như đáp ứng về khả năng kết nối, trao đổi thông tin giữa các bộ ngành trong công tác phối hợp về quản lý thuế đối với hoạt động này

Trang 38

29

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản

lý thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của

tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

1.3.1 Pháp luật về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam

Mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố tác động rất lớn đến quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này Bởi các quy định pháp luật

về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này là cơ sở pháp lý, là tiền đề giúp cho Tổng cục Thuế và các công chức thuế tuân thủ trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này Khi pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này chưa được hoàn thiện không chỉ khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật mà còn ảnh hưởng đến lòng tin của người nộp thuế vào pháp luật về thuế của Nhà nước Mặc khác, pháp luật mang tính phổ biến nên trong một số trường hợp có sự thay đổi không kịp thời cùng với sự phát triển của các loại hình kinh doanh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra phát triển mạnh mẽ Chẳng hạn như: pháp luật về thuế GTGT chỉ quy định về tiêu dùng ở Việt Nam nghĩa là mọi hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng chịu thuế GTGT nhưng trong môi trường không gian mạng không

có ranh giới phân biệt giữa các quốc gia nên cần phải có những quy định như thế nào về tiêu dùng tại Việt Nam trong môi trường không gian mạng

Muốn vậy, để tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này thì trong hoạt động xây dựng pháp luật về quản

lý thuế GTGT đối với hoạt động này cần xác định mục tiêu nhất định như:

Mở rộng cơ sở thuế; bảo đảm số thu ngân sách nhà nước và tạo thuận lợi

Trang 39

30

trong thủ tục hành chính về thuế đối với người nộp thuế Do đó, hệ thống pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này phải thật sự minh bạch, đơn giản, dễ hiểu để người nộp thuế là các tổ chức nước ngoài có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu được các quy định pháp luật và tự giác chấp hành nghĩa vụ về thuế GTGT đối với hoạt động này Tức là, từng quy định trong pháp luật về thuế GTGT đối với hoạt động này phải rõ ràng, không mơ hồ, không làm cho người nộp thuế là các tổ chức nước ngoài muốn hiểu thế nào cũng được Mỗi quy định phải được diễn đạt sao cho chỉ có thể được hiểu theo một cách mà thôi Các quy định về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này chỉ nên chứa đựng trong văn bản quy phạm pháp luật về thuế, tránh tình trạng muốn thực hiện một quy định trong pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này phải tham chiếu quá nhiều văn bản pháp luật khác nhau và các văn bản quản lý hành chính khác Đồng thời, pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này cần quy định đầy đủ về các điều kiện để bảo đảm tổ chức thực thi trên thực tế và tôn trọng quyền con người

Vì vậy, mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt được những mục đích xã hội mà vì chúng mà Nhà nước phải ban hành pháp luật Bên cạnh đó, quy định pháp luật về quản

lý thuế GTGT có chất lượng cao cho phép các chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật xem xét, đánh giá, xác định những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật, cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế hiện hành nhằm bảo đảm sự công bằng trong kinh doanh, bảo đảm số thu ngân sách nhà nước và tạo thuận lợi trong thủ tục hành chính

về thuế đối với người nộp thuế là các tổ chức nước ngoài có hoạt động cung cấp DV KTS vào Việt Nam

Trang 40

mà còn bao hàm cả khả năng kết hợp hài hòa các yếu tố đó trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhằm đặt được hiệu quả cao nhất

Nếu như chủ thể có thẩm quyền có năng lực tổ chức thực hiện pháp luật thì PL về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này được tuyên tuyền, phổ biến rộng rãi tới người nộp thuế để nâng cao ý thức trách nhiệm tự khai, tự nộp về thuế khi phát sinh nghĩa vụ Đồng thời, nếu chủ thể có thẩm quyền có năng lực theo dõi và đánh giá tốt tình hình tổ chức thực hiện pháp luật thì sẽ cho ra được những thông số có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng luật điều chỉnh kịp thời các vấn đề phát sinh trong thực tiễn

Ngược lại nếu như năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này của chủ thể quản lý nhà nước kém thì pháp luật

về quản lý thuế GTGT đối với lĩnh vực này chỉ ở trên trang giấy, là lời nói suông; nguy cơ các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với hoạt động này sẽ diễn ra thường xuyên hơn hoặc sẽ không được xử lý, không kịp thời phòng ngừa và ngăn chặn Hoặc năng lực của chủ thế quản lý nhà nước kém cũng có thể dẫn đến việc đánh giá không kịp thời các văn bản pháp luật về quản lý thuế GTGT đối với lĩnh vực này dẫn đến việc các văn bản đó trở nên lỗi thời, không hợp lý hoặc chồng chéo, mâu thuẫn không được phản ánh với các cơ quan có thẩm quyền để được sửa đổi kịp thời làm giảm hiệu lực, hiệu quả của pháp luật, thậm chí còn làm biến dạng pháp luật trong quá trình tổ chức thực hiện

Ngày đăng: 08/04/2021, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w