1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập lớn về các loại hình chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp (8 điểm) Luật thương mại

11 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 31,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 3 B. NỘI DUNG 3 I. KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP 3 II. PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT SỰ TỒN TẠI CỦA DOANH NGHIỆP 3 2.1 Nội dung chung về chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp 3 2.2 Các loại hình thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp 4 2.2.1 Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp 4 2.2.2 Chia, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp 7 2.2.3 Giải thể doanh nghiệp 8 2.2.4 Doanh nghiệp phá sản 10 C. KẾT BÀI 11 D. DANH MUC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP 3

II PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT SỰ TỒN TẠI CỦA DOANH NGHIỆP 3

2.1 Nội dung chung về chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp 3

2.2 Các loại hình thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp 4

2.2.1 Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp 4

2.2.2 Chia, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp 7

2.2.3 Giải thể doanh nghiệp 8

2.2.4 Doanh nghiệp phá sản 10

C KẾT BÀI 11

D DANH MUC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Với sự phát triển đáng kinh ngạc của công nghệ cũng như khoa học, tốc độ phát triển của toàn nhân loại đã đặt lên cho các doanh nghiệp trên toàn thế giới những áp lực không nhỏ Để có thể thích ứng nhanh với sự phát triển đó phapsluaatj đã mở rộng và tạo ra một nền kinh tế mở giúp đẩy mạnh nền kinh tế thị trường Nhưng trongvòng đời của các doanh nghiệp, khi gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một thời gian nhất định Đây là một dạng rút luitạm thời khỏi thị trường Tuy nhiên, khi không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải rút lui khỏi thị trường thông qua hình thức giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp Hoặc để có thể trống chịu qua những thiên tai đại dịch như covid 19 buộc doanh nghiệp phait ự chấm dứt sự tồn tại hoặc biến đổi sang một hình thái khác Do đó em xin phép lựa chọn

đề tài: “Pháp luật về chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp”

Theo M.Francois Peroux: “doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”

Còn theo quan điểm phát triển: “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”

Và theo luật doanh nghiệp của Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

Như vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp nhưng quy tụ chung thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng có tài sản có tư cách pháp nhân và đặt mục tiêu kinh tế làm hàng đầu

II.1 Nội dung chung về chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp

Có thể thấy rằng, sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường như hiện nay

đã giúp nền kinh tế mang tính cạnh tranh cao, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn nỗ lực để cạnh tranh và phát triển Điều này cũng dẫn đến một thực tế là việc một bộ phận doanh nghiệp không

đủ sức cạnh tranh, kinh doanh thua lỗ là điều không tránh khỏi Chủ doanh nghiệp luôn phải có những chiến lược để tái cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới Trên thực tế, việc doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như giải thể doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp hay là phá sản doanh nghiệp Và trong

Trang 3

luật Doanh nghiệp 2020 mới đây cũng như luật Phá sản 2014 đã có đưa ra 04 trường hợp như sau:

 Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

 Chia, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp

 Giải thể doanh nghiệp

 Doanh nghiệp phá sản

II.2 Các loại hình thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp

II.2.1Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Đây là hình thức “chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp” thường được sử dụng nhất với đa mục đích sử dụng các công ty thường sử dụng phương pháp này như một loại đòn bẩy để phân

bố lại tổ chức công ty cũng như tài nguyên của ông ty, mục đích cũng như thay đổi tư cách pháp

lý của công ty nếu cần thiết Một số phương pháp phổ biến:

Công ty cổ phần chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV, NTV

* Chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV khi:

 Một cổ đông nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần tương ứng của tất cả cổ đông còn lại;

 Một tổ chức hoặc cá nhân không phải là cổ đông nhận chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần của tất cả c-ổ đông của công ty;

 Công ty chỉ còn lại 01 cổ đông

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày công ty chỉ còn lại một cổ đông hoặc hoàn thành việc chuyển nhượng cổ phần thì công ty phải nhanh chóng thực hiện đăng ký chuyển đổi sang loại hình công

ty TNHH MTV đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký

* Chuyển đổi thành Công ty TNHH NTV:

 Công ty cổ phần có thể chuyển đổi thành công ty TNHH NTV theo các trường hợp sau đây:

 Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên mà không huy động thêm hoặc chuyển nhượng cổ phần cho tổ chức, cá nhân khác;

 Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đồng thời huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;

 Chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đồng thời chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần cổ phần cho tổ chức, cá nhân khác góp vốn;

 Kết hợp các trường hợp trên và các phương thức khác;

 Công ty chỉ còn lại 02 cổ đông

Công ty phải nhanh chóng thực hiện đăng ký chuyển đổi công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi

Trang 4

Công ty TNHH MTV chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty TNHH NTV 1

* Chuyển đổi thành Công ty Cổ phần khi:

 Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;

 Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một số tổ chức, cá nhân khác;

 Kết hợp các trường hợp trên và các phương thức khác

Công ty phải nhanh chóng đăng ký chuyển đổi công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi

* Chuyển đổi thành Công ty TNHH NTV:

Công ty TNHH MTV có thể chuyển đổi thành công ty TNHH NTV khi công ty thực hiện: Huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn; Bán một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khác; Tặng cho một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khác, …

Công ty phải nhanh chóng thực hiện đăng ký chuyển đổi công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi

Công ty TNHH NTV chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty TNHH MTV 2

* Chuyển đổi thành Công ty Cổ phần:

 Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác;

 Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;

 Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khác;

 Kết hợp các trường hợp trên và các phương thức khác

Công ty phải nhanh chóng đăng ký chuyển đổi công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi

* Chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV:

1 Điều 202 Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp 2020

2 Điều 202 Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp 2020

Trang 5

Công ty TNHH NTV có thể chuyển đổi thành công ty TNHH MTV khi: Một thành viên góp vốn nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp tương ứng của tất cả thành viên góp vốn còn lại; Một

tổ chức hoặc cá nhân không phải là thành viên góp vốn nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của tất cả thành viên góp vốn của công ty ;…

Công ty phải nhanh chóng thực hiện đăng ký chuyển đổi công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi

Doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi thành công ty TNHH MTV, công ty TNHH NTV, công ty

cổ phần, công ty hợp danh 3

Doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty TNHH MTV, công ty TNHH NTV, công

ty cổ phần, công ty hợp danh theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân khi đáp ứng một số điều kiện:

 Doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

 Không kinh doanh ngành, nghề bị cấm đầu tư kinh doanh;

 Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định;

 Có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hợp lệ;

 Nộp đủ lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí

 Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;

 Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó;

 Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp

tư nhân

Như vậy, doanh nghiệp tư nhân khi đáp ứng các điều kiện nêu trên có thể thực hiện thủ tục chuyển đổi công ty, linh động lựa chọn loại hình phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp bên mình; tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện cụ thể của loại hình mà doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi Việc chuyển đổi sẽ làm cho doanh nghiệp bị chuyển đổi sẽ chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý Tuy nhiên doanh nghiệp đó vẫn hoạt động nhưng lại dưới một hình thức khác Điều này đồng nghĩa với việc các khoản nợ, nghĩa vụ, cũng như quyền lợi của doanh nghiệp cũ đều được chuyển sang cho doanh nghiệp mới

3 Điều 205 Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, Luật Doanh nghiệp 2020

Trang 6

II.2.2Chia, hợp nhất, sát nhập doanh nghiệp

Tiêu chí Chia doanh nghiệp Tách doanh nghiệp Hợp nhất doanh

nghiệp

Sáp nhập doanh nghiệp

Khái

niệm

Là việc công ty trách

nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần chia thành

hai hoặc nhiều công

ty mới

Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tách thành một hoặc một số công

ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mới

Hai hay một số công ty hợp nhất thành một công

ty mới

Một hoặc một số công ty sáp nhập vào một công

ty khác

Hình

thức

Chia các cổ đông,

thành viên và tài sản

công ty để thành lập

hai hoặc nhiều công

ty mới

Chuyển một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ của công

ty hiện có để thành lập một hoặc một

số công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mới

Các doanh nghiệp mang tài sản, quyền và nghĩa vụ cũng như lợi ích hợp pháp của mình góp chung lại thành lập 1 doanh nghiệp mới

Các doanh nghiệp

bị sáp nhập mang toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của mình chuyển sang cho doanh nghiệp nhận sáp nhập

Hệ quả

pháp lý

Công ty bị chia chấm

dứt tồn tại, hình thành

nên hai hay nhiều

công ty mới

Công ty bị tách vẫn tồn tại sau khi hình thành nên công ty mới

Tạo ra một doanh nghiệp mới và chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất

Chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị sáp nhập

và giữ nguyên sự tồn tại của doanh nghiệp nhận sáp nhập

Cơ sở

pháp lý

Điều 198 Luật Doanh

nghiệp

Điều 199 Luật Doanh nghiệp

Điều 200 Luật Doanh nghiệp

Điều 201 Luật Doanh nghiệp

Khi công ty đứng trước trạng thái phá sản hoặc nan giải về tài chính thì đây chính là giải pháp hữu hựu vừa giữ được công ty cũng như có thể có vốn đầu tư tiếp tục phát triển Đồng thời quyền lợi, nghĩa vụ, quyền hạn, khoản nợ, nhân sự cũng sẽ được chia đều hoặc sát nhập vào công

ty mới

Trang 7

II.2.3Giải thể doanh nghiệp

Như vậy, giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền với điều kiện doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và không tham gia các tranh chấp khác tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài Các trường hợp có thể giải thể:

a) Giải thể theo quyết định của chủ doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định, một trong các trường hợp giải thể doanh nghiệp là giải thể theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân; của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông với công ty cổ phần

Quyết định giải thể này thể hiện sự tự nguyện của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp của mình Việc chủ doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanh có thể bắt nguồn từ những lý do khác nhau, chẳng hạn như lợi nhuận thấp, thua lỗ kéo dài, có mâu thuẫn nội bộ, không còn phù hợp với mục đích kinh doanh đề ra ban đầu và nhiều yếu tố khác Trong trường hợp này, chủ doanh nghiệp có thể đi đến quyết định giải thể doanh nghiệp để thu hồi vốn hoặc chuyển sang kinh doanh những loại hình doanh nghiệp khác với những chủ thể khác Đây là quyết định hoàn toàn mang tính tự nguyện và chủ động của chủ doanh nghiệp

b) Khi kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn

Trường hợp Điều lệ công ty có quy định về thời hạn hoạt động, khi hết thời hạn hoạt động được ghi trong Điều lệ công ty, nếu các thành viên không muốn xin gia hạn hoạt động, thì công

ty phải tiến hành giải thể Việc quy định thời hạn hoạt động của doanh nghiệp có thể do thỏa thuận của các thành viên, cổ đông sáng lập, hoặc do sự cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

c) Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp trong thời hạn 06 tháng liên tục

Có đủ số lượng thành viên tối thiểu là một trong những điều kiện để công ty tồn tại và hoạt động Pháp luật quy định số lượng thành viên tối thiểu cho mỗi loại hình công ty khác nhau Số lượng thành viên tối thiểu theo quy định đối với công ty cổ phần là ba, con số này là hai đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên Đối với công ty hợp danh, pháp luật quy định phải có ít nhất hai cá nhân là thành viên hợp danh Khi không có đủ số lượng thành viên tối thiểu để tiếp tục tồn tại, công ty phải kết nạp thêm thành viên cho đủ số lượng thành viên tối thiểu Nếu trong thời hạn 6 tháng liên tục mà công ty không tiến hành kết nạp thêm thành viên khi số lượng thành viên không đủ hoặc không chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp thì công ty phải tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp

d) Công ty bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Trang 8

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể doanh nghiệp Để thành lập doanh nghiệp, người thành lập phải chuẩn bị hồ sơ đăng

ký doanh nghiệp và nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực và hợp pháp của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Trên cơ sở hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp, ghi nhận sự ra đời, công nhận về mặt pháp lý sự xuất hiện của doanh nghiệp trên thị trường Có thể nói, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chính là tấm giấy “thông hành” để doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động của mình trên thị trường cũng như xác lập các quan

hệ pháp lý với cơ quan nhà nước Do vậy, bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng có nghĩa là Nhà nước rút lại sự công nhận tư cách chủ thể kinh doanh đối với doanh nghiệp Trong trường hợp này, doanh nghiệp không còn được công nhận về địa vị pháp lý và không còn được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh

Như vậy, sau khi hoàn tất thủ tục giải thể, doanh nghiệp sẽ hoàn toàn chấm dứt tồn tại và hoạt động; và không có một doanh nghiệp mới nào tiếp tục thừa hưởng quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó nữa Do đặc điểm này, điều kiện tiên quyết để có thể tiến hành và hoàn tất thủ tục giải thể đó là doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài

Tại Việt Nam, quy định về giải thể doanh nghiệp gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của pháp luật doanh nghiệp qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, từ năm 1990 đến nay Hiện tại, các quy định đó được điều chỉnh từ Điều 207 đến Điều 222 Luật Doanh nghiệp năm 2020 Thực tiễn gần nhiều năm thực thi Luật Doanh nghiệp cho thấy, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chọn phương thức giải thể để chấm dứt hoạt động kinh doanh Cụ thể, kê lại tài sản của mình, phiện tập hợp người thanh lý tài sản của công ty bị giải thể Theo thống kê của Tổng cục Thống kê (Bộ

Kế hoạch & Đầu tư), chỉ trong năm 2018, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 16.314 doanh nghiệp, tăng 34,7% so với năm 2017, trung bình mỗi ngày ở Việt Nam có 45 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể

Về mặt pháp lý, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau để chấm dứt

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: một là, thực hiện thủ tục giải thể - thủ tục hành chính được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh; hai là, thực hiện thủ tục phá sản mang

tính tố tụng tư pháp, yêu cầu tòa án tuyên bố chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam đều chọn phương thức chấm dứt hoạt động kinh doanh theo thủ tục giải thể để rút lui khỏi thương trường, còn thủ tục phá sản ít được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đón nhận Bằng chứng là theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong giai đoạn 10 năm thực thi Luật Phá sản năm 2004 (từ năm 2004 đến năm 2014) các tòa án trên cả nước chỉ tuyên bố phá sản có 84 doanh nghiệp Thậm chí từ ngày 01/01/2015 đến nay,

số lượng doanh nghiệp bị phá sản tại Việt Nam cũng không đáng kể so với phương thức giải thể doanh nghiệp - vốn được nhà đầu tư lựa chọn phổ biến hơn Số lượng doanh nghiệp phá sản ít

Trang 9

xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như do thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam phức tạp, nhiêu khê so với mặt bằng chung của thế giới Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), để phá sản một doanh nghiệp tại Việt Nam, nhà đầu tư phải mất gần 5 năm, tiêu tốn 14,5% chi phí tài chính trên giá trị tài sản của doanh nghiệp Trong hoàn cảnh đó, thủ tục giải thể doanh nghiệp tất yếu được các nhà đầu tư lựa chọn như giải pháp phù hợp nhất để đóng cửa doanh nghiệp

II.2.4Doanh nghiệp phá sản

Định nghĩa

Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán (là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán) và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản

Cần lưu ý là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và doanh nghiệp bị phá sản có nhiều điểm khác nhau, cụ thể là:

 Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và có thể bị Tòa án tuyên bố phá sản, tuy nhiên nó cũng có cơ hội được phục hồi; trong khi đó doanh nghiệp bị phá sản là doanh nghiệp đã bị Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản (phù hợp với các quy định của pháp luật), nó sẽ không còn cơ hội được phục hồi và phải xóa đăng ký kinh doanh sau khi đã hoàn tất thủ tục thanh toán

 Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ mới bị hạn chế một số quyền nhất định đối với tài sản và một số quyền và lợi ích khác (ví dụ: quyền định đoạt tài sản, quyền ký kết các hợp đồng…); còn doanh nghiệp bị phá sản là doanh nghiệp đã bị tước bỏ toàn bộ quyền hành trên các lĩnh vực hoạt động và tài sản bị thanh toán bắt buộc cho các chủ nợ theo pháp luật

Phân loại phá sản:

a) Trên cơ sở nguyên nhân gây ra phá sản có phá sản trung thực và phá sản gian trá:

Phá sản trung thực là hậu quả của việc mất khả năng thanh toán do những nguyên nhân khách quan hay những rủi ro bất khả kháng gây ra Phá sản trung thực cũng có thể từ những nguyên nhân chủ quan nhưng không phải do sự chủ ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác

Ví dụ như sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động; sự thiếu khả năng thích ứng với những biến động trên thương trường

Phá sản gian trá là hậu quả của những thủ đoạn gian trá, có sắp đặt trước nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Ví dụ: có hành vi gian lận trong khi ký hợp đồng, tẩu tán tài sản, cố tình báo cáo sai để qua đó tạo ra lý do phá sản không đúng sự thật

b) Trên cơ sở phát sinh quan hệ pháp lý có phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc: Cụ thể là dựa trên căn cứ ai là người làm đơn yêu cầu phá sản

Trang 10

Phá sản tự nguyện là do phía doanh nghiệp mắc nợ tự làm đơn yêu cầu phá sản khi thấy mình mất khả năng thanh toán, không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ Phá sản bắt buộc là do phía các chủ nợ làm đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp mắc nợ nhằm thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp mắc nợ

c) Dựa vào đối tượng bị giải quyết phá sản:

Gồm phá sản cá nhân và phá sản pháp nhân Tuỳ theo pháp luật ở mỗi nước mà đối tượng bị giải quyết phá sản có quy định khác nhau Ở nước ta áp dụng cho doanh nghiệp và HTX Trung Quốc: áp dụng với thành phần kinh tế quốc doanh Úc : áp dụng với cả cá nhân

Phá sản cá nhân: theo quy định này cá nhân bị phá sản phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ

Phá sản pháp nhân: đó là phá sản một tổ chức, tổ chức này phải gánh chịu hậu quả của việc phá sản việc trả nợ cho chủ nợ của pháp nhân dựa trên tài sản của pháp nhân

Việc phá sản doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản Phá sản

là một thủ tục tư pháp được thực hiện nhằm giải quyết tình trạng không thể thanh toán các khoản

nợ đến hạn của doanh nghiệp Để tiến hành thủ tục phá sản, trước hết chủ thể phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ được xem xét áp dụng biện pháp phục hồi, với điều kiện là Hội nghị chủ nợ phải đồng ý và doanh nghiệp phải xây dựng được một phương

án kinh doanh mới hiệu quả, khả thi Nếu xét thấy không thể phục hồi được doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện thủ tục thanh lý và chính thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp tại thời điểm này

Nhằm bảo vệ lợi ích chung của nền kinh tế, pháp luật đã đưa ra những quy định rất rõ ràng

về việc chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể chấm dứt tồn tại (hoặc bị buộc chấm dứt trong một số trường hợp) theo các phương thức: chuyển đổi hình thức doanh nghiệp; chia, hợp nhất, sáp nhập; giải thể, phá sản

Qua trên ta thấy, Luật doanh nghiệp 2020 hay các luật khác quy định phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế hiện nay của nước ta nhưng lại đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, bình đẳng Một đạo luật tiến bộ như vậy, mới mẻ như vậy những nắm bắt nó cũng không dễ dàng, cụ thể là các quy định về giải thể Do vậy, khi đi đến quyết định giải thể, các chủ doanh nghiệp cần nắm rõ các thủ tục pháp lý về vấn đề này Bên cạnh đó, môi trường kinh tế ngày càng nhiều biến động cũng đòi hỏi các nhà làm luật không ngừng hoàn thiện pháp luật, luật doanh nghiệp nói chung cũng như quy định về giải thể nói riêng để phù hợp với bối cảnh hội nhập của đất nước

Ngày đăng: 08/04/2021, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w