1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng ntr1 ntr2 đến sinh trưởng cây chè ở xã tân cương thành phố thái nguyên

64 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh trưởng cây chè.. Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NTR1, NTR2 đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, chất lượng và

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Trồng trọt

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Trồng trọt

Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Văn Ngọc

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp giữ vai trò quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là thời gian cho mỗi sinh viên có điều kiện hệ thống hóa, củng cố lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, vận dụng lý thuyết vào thực tế một cách sáng tạo, có hiệu quả để khi ra trường trở thành một người cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội

Được sự nhất trí của nhà trường và Khoa Nông học, tôi đã tiến hành đề

tài: “Ảnh hưởng ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh

trưởng cây chè ở xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên”

Để hoàn thành đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi luôn được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và các bạn Tôi rất biết ơn sự giúp đỡ

quý báu, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Phạm Văn Ngọc

trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa, các thầy

cô giáo trong Khoa Nông Học cùng bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài

Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn chế, luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Chá A Cú

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Cơ sở khoa học của việc bón phân hữu cơ khoáng cho chè 3

2.1.2 Vai trò các nguyên tố dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển cây chè 4

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 6

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới 6

2.2.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 12

2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Thái Nguyên 14

2.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón cho chè trên thế giới và Việt Nam 18

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón cho chè trên thế giới 18

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân hữu cơ trong nước 19

2.4 Kết luận rút ra từ phần tổng quan tài liệu 22

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

Trang 5

3.1.1 Đối tượng 27

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Nội dung nghiên cứu 27

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28

3.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 29

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

3.3.4 Phương pháp khác 31

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh trưởng cây chè 32

4.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân NTR1, NTR2 đến sinh trưởng thân cành chè 32

4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân NTR1, NTR2 đến tăng trưởng chiều dài búp 34

4.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón NTR1, NTR2 đến đợt sinh trưởng chè 34

4.2 Ảnh hưởng phân NTR1, NTR2 đến mức độ sâu bệnh hại chè Tân Cương 36

4.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NTR1, NTR2 đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trên cây chè Tân Cương 37

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết Luận 44

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính năm

2009 – 2013 8 Bảng 2.2: Năng suất chè Thế giới và một số nước trồng chè chính năm 2009 –

2013 9 Bảng 2.3: Sản lượng chè của Thế giới và một số nước trồng chè chính năm

2009 - 2013 10 Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam 12 Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Thái Nguyên năm 2012 –

2015 17 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón NTR1,NTR2 đến sinh trưởng thân

cành chè 33 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón NTR1, NTR2 đến động thái

tăng trưởng chiều dài búp 34 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón NTR1, NTR2 đến đợt sinh

trưởng của giống chè 35 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân NTR1, NTR2 đến một số sâu hại

chính trên chè Tân Cương 36 Bảng 4.5 Ảnh hưởng phân NTR1, NTR2 đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất 38

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều phân bón NTR1, NTR2 đến thành phần cơ

giới búp chè 39 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón NTR1, NTR2 đến phẩm cấp

nguyên liệu 40 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón NTR1, NTR2 đến thành phần sinh

hóa trong búp chè 41

Trang 7

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của liều lượng phân NTR1, NTR2 đến chất lượng trà

xanh 42 Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế của các lượng lượng phân NTR1, NTR2 bón cho

chè Tân Cương 43

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NTR1,NTR2 : Phân hữu cơ khoáng

K2O : Kali nguyên chất LAI : Chỉ số diện tích lá

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Vùng sản xuất chè chất lượng cao Tân Cương – Thái Nguyên là nơi có diện tích trồng chè toàn lớn nhất Tỉnh Thái Nguyên, tuy nhiên nhiều hộ dân sản xuất chè chưa làm được theo quy trình Viet GAP nên chè chưa đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm Nhiềù bà con nông dân còn sử dụng phân chuồng tươi và sử dụng nhiều phân khoáng Ngoài ra trong quá trình sản xuất, nông dân thường bón phân chưa cân đối, bón nhiều đạm( ure) làm cây mất cân đối về dinh dưỡng( gây ra thừa đạm) ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, cây chè dễ bị nhiễm các loại sâu bệnh hại dẫn đến năng suất còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao như mong muốn Đặc biệt việc bón quá nhiều đạm hoặc bón quá gần ngày thu hoạch và dư lượng nitrat tích lũy trong cây chè vượt quá mức cho phép, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng Ở nước ta hiện đã có nhiều tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của cây chè như: Phạm Minh Tâm (2001), Ngô Thị Hạnh (2010) Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào về phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 tại vùng sản xuất chè Tân Cương – Thái Nguyên

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh trưởng cây chè tại xã Tân Cương Thành Phố Thái Nguyên”

Hiện nay, vấn đề về sản xuất chè an toàn theo quy trình Viet GAP đang được

cả dư luận và xã hội quan tâm, trong đó ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng chè được coi là vấn đề quan trọng nhất Phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 là sản phẩm mới, để xây dựng quy trinh kỹ thuật sử dụng phân bón này cho cây chè nói chung và cây chè tại Tân Cương nói riêng

Trang 10

cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của cây chè

Năm 2017, Trường Đại học Nông lâm được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thương mại hóa công nghệ sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 cho các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và các tỉnh thành trong cả nước Để thương mại hóa công nghệ thì phải thương mại hóa được sản sản phẩm phân NTR1, NTR2 Muốn thượng mại hóa sản phẩm thì phải nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân NTR1, NTR2 cho cây trồng trong đó có cây chè

Phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 là 2 sản phẩm khoa học Công nghệ của trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên Phân NTR1 có hàm lượng lân tương đối cao nên dùng chuyên bón lót, còn phân NTR2 có hàm lượng N và K20 cao chuyên dùng bón thúc Phân NTR1, NTR2 đã nghiên cứu sử dụng cho nhiều loại cây trồng nhưng chưa nghiên cứu xậy dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho cây chè

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu

Xác định lượng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 phù hợp và đặt hiệu quả kinh tế cao cho cây chè tại Xã Tân Cương Thành Phố Thái Nguyên

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ khoáng NTR1,

NTR2 đến sinh trưởng cây chè và biểu hiện sâu bệnh hại trên cây chè

- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ khoáng NTR1,

NTR2 đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở khoa học của việc bón phân hữu cơ khoáng cho chè

Nghiên cứu các nhu cầu của cây trồng, từ đó tìm các biê ̣n pháp kỹ thuâ ̣t nhằm tác đ ộng nhằm đáp ứng nhu cầu đó để tạo ra nhiều nông sản có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ cơ bản của khoa học Nông nghiệp Một trong những nhu cầu cơ bản của cây trồng là các ch ất dinh dưỡng và để đáp ứng nhu cầu đó chủ yếu thông qua việc bón phân

Nhiệm vụ của việc bón phân là cung cấp cho cây phần dinh dưỡng ít nhất cũng đủ bù lượng mà cây lấy đi theo sản phẩm thu hoạch Muốn xây dựng chế độ bón phân hợp lý cần nghiên cứu đặc tính của cây đồng thời phân tích khả năng dinh dưỡng trong đất

Bón phân là biện pháp có ý nghĩa rất lớn đối với cây chè nó quyết định đến khả năng đưa nương chè từ giai đoạn kiến thiết cơ bản vào giai đoạn kinh doanh sản xuất Bón phân làm tăng nhanh lượng sinh trưởng của cây, làm cơ

sở cho việc tăng khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh (Lê Tất Khương)[1]

Cây chè chủ yếu được trồng trên đồi núi có địa hình dốc, nên đất bị xói mòn, làm trôi lớp đất màu mỡ, nước không giữ lại được, dẫn đến thiếu nước vào mùa khô Việc bón phân hóa học quá nhiều sẽ làm cho đất ngày càng xấu

đi, dễ bị xói mòn hơn, dẫn đến việc chất lượng chè sẽ không cao Hiện nay, việc bón phân hữu cơ khoáng và bổ sung lại các yếu tố trung lượng, vi lượng vào trong đất để cải tạo và phục hồi dinh dưỡng có trong đất đã được người dân nhận thức và đã áp dụng Nhưng người dân vẫn đang sử dụng phân hóa học rất nhiều, dẫn đến dinh dưỡng trong đất không đủ để cây có thể hấp thụ,

Trang 12

làm cho cây sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu không tốt (Đỗ Ngọc Quý)[3]

Mặt khác, chè là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại phải thu hái nhiều lần trong 1 năm Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tấn/ha, vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp (Đỗ Ngọc Quý)[3]

Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2 - 2,5% K2O Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất

Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ, giảm sử dụng phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn, các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả Sử dụng phân hữu cơ

và giảm lượng phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất hướng đến một nền nông nghiệp bền vững (Đỗ Ngọc Quý)[3]

Từ đó, chúng ta thấy rằng dinh dưỡng của cây chè có những đặc điểm rất khác so với những loại cây công nghiệp khác như: cao su, cà phê, tiêu,…, nhu cầu về dinh dưỡng của cây chè là rất cao

2.1.2 Vai trò các nguyên tố dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển cây chè

Xu hướng sử dụng phân bón cho chè chủ yếu vẫn là 3 nguyên tố đa lượng chính N, P, K Một số nước còn quan tâm tới 2 nguyên tố bán đa lượng

là Mg và S Dạng phân bón cho chè thường là phân phối hợp theo một số tỷ lệ

Trang 13

nhất định, phù hợp điều kiện đất đai và năng suất chè của từng vùng nhằm tăng hiệu suất sử dụng của từng loại phân bón Đồng thời bón phân cân đối phần nào có ảnh hưởng tốt phẩm chất chè

Vai trò cụ thể của một số nguyên tố dinh dưỡng đối với chè như sau:

Đạm (N): là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

Lân (P): là thành phần của phophatides, axit nucleic, protein… quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và tăng chất lượng chè (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thụ đạm kém Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất thấp và chất lượng kém (Nguyễn Thị Kiều Ngọc) [2]

Kali (K): hoạt hóa enzym liên quan đến quang hợp, tổng hợp hydratcacbon, protein, điều chỉnh pH và nước ở khí khổng Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong chè búp (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh Búp thưa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt, chất lượng giảm (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

Magiê (Mg): cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit nucleic, thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá,

Trang 14

lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè khô giảm (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

Kẽm (Zn): là thành phần của men anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây Thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng chè Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

metallo-enzymes-carbonic-Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein trong cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới

Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm) Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo

Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ, quốc gia đầu tiên trên Thế Giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì tiến tới các nước Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine, Trên Thế Giới cây chè được phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại đây Đến năm 2000, đã có hơn 100 nước trồng và xuất khẩu chè Sản lượng chè Thế Giới năm 2000 đạt hơn 2,8 triệu tấn Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước trồng

Trang 15

chè lớn nhất (chiếm hơn nửa tổng sản lượng) và cũng là hai nước tiêu thụ chè lớn nhất Thế Giới Chè được xuất khẩu trên Thế Giới dưới hai dạng chính là chè đen và chè xanh, trong đó, chè đen chiếm phần lớn lượng chè xuất khẩu (84%) Shrilanka và Kenya là hai nước xuất khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 27,88% và 20,63% thị phần xuất khẩu Các nước Liên Xô cũ là thị trường nhập khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 22%, tiếp theo là Anh (13%), Parkistan (11%) và Mỹ (8%) Không như chè đen, chè xanh được sản xuất ít hơn (chiếm 25% tổng sản lượng) và chủ yếu được tiêu thụ nội địa Trung Quốc, Nhật Bản là các nước sản xuất và tiêu thụ chính Các nước xuất khẩu chè xanh lớn nhất gồm có Trung Quốc (83,4%), Việt Nam (10,16%) và Inđônêsia (4,28%) Chè xanh được xuất khẩu nhiều nhất sang Morocco (18,7%)

Theo FAO (2016) thì tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế Giới tính đến năm 2013 được trình bày bảng 2.1, bảng 2.2 và bảng 2.3

* Về diện tích: Qua số liệu Bảng 2.1 cho thấy: Tính đến năm 2013 diện tích chè trên thế giới đạt 3.521.221 ha tăng 470.582 ha tương đương 15,42%

so với năm 2009 Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.763.500 ha, chiếm 50,08% tổng diện tích chè toàn thế giới Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 563.980 ha, chiếm 16,01% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè Việt Nam đạt 121.649ha chiếm 3,45% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á chiếm 88,90% (3.130.454ha) diện tích, đây cũng là nơi phát sinh

ra cây chè

Trang 16

Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2016)[16]

* Về năng suất: Qua số liệu Bảng 2.2 cho thấy: Tính đến năm 2013, năng suất chè trên Thế Giới đạt 14,624 tạ chè khô/ha tăng 0,572 tạ chè khô/ha tương đương 4,07% so với năm 2009 Kenya là nước có năng suất chè cao nhất đạt 21,771 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của thế giới là 48,87% Ấn Độ là nước có năng suất chè cao thứ hai đạt 21,433 tạ chè khô/ha tương ứng 46,56% năng suất chè thế giới Việt Nam tính đến năm 2013 đạt năng suất 17,616 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất bình quân của Thế Giới là 20,45%, so với năng suất bình quân Châu Á là 21,85% Trung Quốc là nước

có diện tích cao nhất về trồng chè nhưng năng suất chè của đất nước này chỉ đạt 10,998 tạ chè khô/ha, so với năng suất bình quân của Thế giới là 75,20%

Trang 17

Bảng 2.2: Năng suất chè Thế giới và một số nước trồng chè chính

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2016)[16]

* Về sản lượng: Qua số liệu Bảng 2.3 cho thấy:

Sản lượng chè toàn Thế giới năm 2013 là 5.345.523 tấn tăng 1.058.699 tấn, tương đương 24,69% so với năm 2009 Trung Quốc là nước có sản lượng chè lớn nhất Thế giới đạt 1.939.457 tấn chiếm 36,28% tổng sản lượng chè toàn Thế giới,chiếm 42,85% tổng sản lượng chè Châu Á Sản lượng chè thấp nhất là Myanma chỉ đạt 31.700 tấn chiếm 0,59% tổng sản lượng chè toàn Thế giới Việt Nam đạt sản lượng 214.300 tấn chiếm 4,00% tổng sản lượng chè toàn Thế giới

Trang 18

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2016)[16]

Trên thế giới, tiêu thụ chè luôn biến động và có xu hướng ngày càng tăng Một số nước Châu Âu, vùng Trung Đông có mức tiêu thụ chè tương đối lớn

Thị hiếu dùng chè trên thế giới hiện nay chủ yếu là chè đen (chiếm khoảng 80%) tập trung ở các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, vùng Trung Đông Sản phẩm tiêu dùng có nhiều hình thức và cách thức khác nhau, phụ thuộc vào khẩu vị và tập quán của từng dân tộc Tiêu thụ chè đen của các nước phát triển cũng đạt mức tăng hàng năm là 2,2%, đạt 719.000 tấn Đặc biệt tiêu thụ chè đen của Ấn Độ tiếp tục tăng khá mạnh, đạt 832.000 tấn, tăng trung bình 3,2% (theo FAO Stat Citation 2006) Ở Châu Á ưa chuộng mặt hàng chè xanh (chè lục) Nhờ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt

Trang 19

cũng như chế biến, hiện nay chè xanh cũng đang được tiếp nhận cao ở các thị trường tiêu thụ trên thế giới

Năm 2008 tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỷ USD chiếm trên 50% tổng kim ngạch chè trên thế giới So với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng trung bình 16,89% 5 nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 là Nga (510,6 triệu USD), Anh (364 triệu USD), Mỹ (318,5 triệu USD), Nhật Bản (182,1 triệu USD) và Đức (181,4 triệu USD)

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), năm

2009 nguồn cung chè thế giới có thể giảm nhẹ so với năm 2008 do ảnh hưởng của thời tiết xấu đã làm giảm sản lượng chè ở một số quốc gia sản xuất chè

Tại thị trường Mỹ mặc dù vẫn ở giai đoạn hậu suy thoái, nhưng nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh Người tiêu dùng

Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cafe, nước trái cây, nước ngọt mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình[14]

Tại thì trường Châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè Ngay từ những tháng đầu năm 2009, tại các thị trường này người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt Như tại Nga, (một trong những quốc gia tiêu thụ chè lớn trên thế giới) với mức trung bình hơn 1 kg chè/người/năm [14]

Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Irắc, nhu cầu tiêu dùng chè cũng tăng Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu thụ chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang sản phẩm chè uống liền

và chế biến đặc biệt trong khi ở các nước Tây Á và Châu Á vẫn ưa dùng các

Trang 20

sản phẩm chè truyền thống Điều này giúp cho các nước trồng và xuất khẩu chè trên thế giới có phương pháp chế biến chè phù hợp cho từng vùng cũng như định ra được vùng xuất khẩu chè phù hợp cho sản phẩm của mình

2.2.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách đầu

tư cho phát triển cây chè Do vậy, diện tích, năng suất và sản lượng chè không ngừng tăng lên

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam

(tạ khô/ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2016)[16]

Qua Bảng 2.4 cho thấy:

Từ năm 2007 đến 2013 diện tích, năng suất, sản lượng và xuất khẩu chè tăng nhanh Năm 2013 diện tích chè là 121.649ha, tăng 14.249ha tương ứng

13,26% so với năm 2007 Năng suất bình quân năm 2013 là 17,616 tạ khô/ha,

tăng 2,346 tạ khô/ha tương ứng 15,36% so với năm 2007 Sản lượng chè theo

đó cũng tăng mạnh đạt 214.300 tấn búp khô vào năm 2013 tăng 50.300 tấn tương ứng 30,67% so với năm 2007

Trang 21

Chè là cây công nghiệp thế mạnh của Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích

và thứ 6 về sản lượng chè trên thế giới Chè phân bố trên 35 tỉnh nhưng tập trung ở 12 tỉnh trọng điểm (chiếm 94% diện tích toàn quốc) Trong khoảng mười năm gần đây, sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam có bước tăng trưởng khá cả về diện tích, năng suất và chất lượng Trong 7 năm từ 2007 -

2013, diện tích chè Việt Nam từ 107.400 ha đã tăng lên 121.649ha, năng suất tăng từ 15,270 tạ/ha lên 17,616 tạ khô/ha cho thấy sự tiến bộ vượt bậc của ngành chè

Nâng cao chất lượng chè búp tươi và chè thương phẩm, để cải thiện chất lượng sản phẩm xuất khẩu tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng cách:

Đưa giống mới có chất lượng cao chiếm một tỉ lệ thích đáng trong cơ cấu nguyên liệu chế biến Từng bước cải tạo đất theo hướng tăng độ mùn và tơi xốp Đưa máy đốn, máy hái và các dụng cụ làm đất vào canh tác Quy hoạch vùng chè nguyên liệu như: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ và Lâm Đồng

Về giống chè lấy Viện nghiên cứu chè làm nòng cốt xúc tiến việc khu vực hoá, nhân và đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào các vườn chè Tại các đơn vị sản xuất chè, khôi phục các vườn giống chè, sử dụng các giống mới có chất lượng cao nhằm cung cấp giống cho trồng dặm, trồng mới của dân Đầu tư tưới cho các vườn chè tập trung có điều kiện về nguồn nước để nâng cao năng suất

Giải pháp về vốn Với mức vốn hạn hẹp ta phải tranh thủ sự đầu tư của nước ngoài để quay vòng sản xuất có hiệu quả nhất Về thị trường cần đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước duy trì và mở rộng các bạn hàng ở ngoài nước…Đa dạng hoá sản phẩm tổng hợp Tăng cường đầu tư tập huấn cán bộ kĩ thuật và tập huấn khuyến nông cho người trồng chè

Trang 22

Cần tổ chức và phân công lại sản xuất của ngành chè: Các địa phương

tự chịu trách nhiệm về sản xuất nông nghiệp và chế biến, nhất là chế biến nhỏ Các doanh nghiệp qui mô lớn sản xuất sản phẩm xuất khẩu Tổng công ty chè Việt Nam cùng các công ty xí nghiệp làm tốt công tác thị trường bao tiêu sản phẩm và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên dùng có chất lượng cao

Chính phủ cần ban hành những chính sách khuyến khích sản xuất chè như: Chính sách đầu tư cho vay và làm mới chè và xây dựng cải tạo các nhà máy chế biến chè

Đề nghị miễn thuế 5 năm cho các diện tích chè phục hồi và trồng mới trên đất dốc Miễn thuế 5 năm cho các sản phẩm thu từ việc tận dụng đất đai

và chế biến các sản phẩm mới

Cho phép các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài được hưởng lợi từ các chế độ như doanh nghiệp trong nước Nhà nước đầu tư đường điện đường giao thông và các cơ sở phục vụ công cộng khác

Cho phép ngành chè được thành lập quỹ bình ổn giá để ổn định giá mua chè tươi cho nhân dân và dự phòng một lượng chè xuất khẩu hợp lý nhằm giữ giá chè xuất khẩu

Hiện nay việc quản lý chất lượng chè xuất khẩu chưa có tổ chức nào chịu trách nhiệm trước nhà nước, do vậy cần thống nhất quản lý Ngành về chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu

Vậy ngành chè có thể tin tưởng rằng: “Doanh thu của ngành chè tương đương 1 tỷ USD vào những năm 2020”

2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Thái Nguyên

Thái Nguyên nằm ở cửu ngõ giao lưu kinh tế giữa các vùng Trung Du Miền Núi phía bắc và đồng bằng bắc bộ qua hệ thống đường bộ, đường sông Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số khoảng 1.127.200 người Tỉnh Thái Nguyên có tỉnh phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía tây tiếp

Trang 23

giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam giáp thủ đô Hà Nội Với vị trí là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, giáo dục của khu vực Việt Bắc nói riêng và của vùng Trung Du Miền Núi nói chung

Sản xuất chè là một trong những ngành có thế mạnh ở Trung du và Miền núi nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng Cây chè ít tranh chấp đất với cây lương thực, thích hợp trên đất dốc Trồng chè có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, rửa trôi Chè là cây trồng sử dụng có hiệu quả đất đai, khí hậu vùng đồi núi Phát triển chè sẽ thu hút được lượng lao động đáng kể, không những chỉ trong khâu sản xuất nguyên liệu mà cả khâu chế biến và tiêu thụ

Do vậy phát triển chè ngoài ý nghĩa kinh tế, còn ổn định đời sống và định cư cho người dân do sử dụng nhiều lao động tại chỗ để chăm sóc, thu hái, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ chè Ưu điểm tương đối của chè là hệ số chi phí nội nguồn thấp (DRC – Domestic Resource Cost) do nguồn lực tự nhiên dồi dào và chi phí lao động thấp Cây chè thực sự được coi là người bạn

“chung thủy” của nông dân Cây chè tỉnh Thái Nguyên đã từng là “cây xoá đói giảm nghèo” và hiện đang là “cây làm giàu” của của nhiều hộ nông dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên

Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước, cả

9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Theo phân tích của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp miền Núi Phía Bắc, chất lượng nguyên liệu chè Thái Nguyên có ưu điểm khác biệt với chất lượng nguyên liệu của các vùng chè khác Từ những đặc điểm phẩm chất trên,

Trang 24

nguyên liệu chè Thái Nguyên có nội chất đáp ứng được yêu cầu của nguyên liệu để sản xuất chè xanh chất lượng cao

Bên cạnh thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu thích hợp với sản xuất chè Người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên có kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo nên những sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, uống

“có hậu” với vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu

Những hộ làm nghề chè đã hình thành lên những làng nghề truyền thống Từ năm 2008 đến năm 2011 đã có 52 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh quyết định công nhận trên địa bàn 5 huyện, 1 thành phố Thái Nguyên Những làng nghề này từ lâu đã gắn liền với văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Năm 2010, số lao động của làng nghề khoảng 35.900 người Trong đó số lao động làm nghề 23.300, chiếm 65%; thu nhập của làng 446.466 triệu đồng Trong đó thu nhập từ ngành nghề 345.404 triệu đồng, bằng 77,4%

Sản xuất chè ở Thái Nguyên còn chủ yếu là sản xuất quy mô hộ Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Cùng với kinh nghiệm sản xuất chè truyền thống có từ rất lâu đời , người dân có kinh nghiệm trong trồng trọt và chế biến nhiều vùng chuyên canh cây chè cho sản phẩm chèn ngon được người tiêu dùng ưa chuộng như: Tân Cương, Trại Cài Thái Nguyên đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ về về cả diện tích, năng suất, chất lượng, giá trị chè nổi tiếng ở nước ta ( Sở NN & PTNT, 2006)[5]

Trang 25

Theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên thí diện tích, năng suất, chất lượng chè Thái Nguyên được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của Thái Nguyên

năm 2012 – 2015

(Nghìn ha)

Năng suất (tạ /ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Nguồn: (Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ KTXH năm 2011 ->2014) [6]

Qua bảng số liệu 2.5 cho thấy:

Năm 2011, diện tích chè toàn tỉnh có 18.140 nghìn ha, năng suất 108,73 tạ/ha, sản lượng 181,02 nghìn tấn

Năm 2012: diện tích chè toàn tỉnh có 18.520 nghìn ha, năng suất 108,80 tạ/ha, sản lượng 183,04 nghìn tấn

Đến năm 2014, diện tích chè toàn tỉnh có 20.735 nghìn ha Năng suất chè năm 2014 đạt 109,40 tạ/ha, sản lượng 193,00 nghìn tấn

Tỉnh Thái Nguyên đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng giảm giống chè Trung du tăng các giống chè nhập nội và các giống chè trong nước chọn tạo, lai tạo có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu cao để đưa vào sản xuất

Cùng với kinh nghiệm sản xuất chè truyền thống có từ lâu đời, người dân có nhiều kinh nghiệm trong trồng trọt và nhiều vùng chuyên canh cây chè

có sản phẩm chè ngon được người tiêu dùng ưa chuộng như: Tân Cương, Trại Cài… Thái Nguyên đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về diện tích,

Trang 26

năng suất, sản lượng cũng như chất lượng chè và đã trở thành một trong những vùng chè nổi tiếng của nước ta

2.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón cho chè trên thế giới

và Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón cho chè trên thế giới

Theo A.B Makhrabize (1948) nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến chất lượng chè đã cho rằng phẩm chất trong các công thức được xếp theo thứ tự là: N: P : K và sau cùng là phân bón

Kết quả nghiên cứu của Cuxunốp (1954) và T.C Nigalolisvili hàm lượng cafein trong búp chè có lợi cho sản phẩm chè

Theo tác giả Eden (1958) khi nghiên cứu về hàm lượng các nguyên tố trong búp chè cho rằng: trong búp chè non của chè có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2% K2O nên có bón phân cho chè

Theo ML Baziva (1973) khi lượng N tăng, sản lượng búp chè sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấ/ha bón 200N hiệu quả nhất

Theo nghiên cứu của Truturin (1973) thì NPK phối hợp với Zn, Bo thì phẩm chất chè, nguyên liệu sẽ tăng lên

Ngoài ra cần chú ý rằng: Hằng năm khối lượng cành đốn cũng xấp xỉ bằng khối lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraselia thì lựong đạm

Theo F Roule (1934), (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ ) cho thấy trong quy trình canh tác với cây chè, người Châu Âu thường hay vùi phân xanh ở đồi

Trang 27

chè nhằm tạo lượng phân hữu cơ

Viện lân và kali của Canada (1995) xác nhận 80 % tổng số kali cây lấy

đi nằm trong xác bã cây Nếu các xác bã thực vật này được hoàn lại cho đất

đã canh tác thì chúng sẽ cung cấp một lượng kali đáng kể cho các cây trồng

vụ sau

Ở các nước Canada và Mỹ, sản phẩm hữu cơ sau khi thu hoạch thông thường được trả lại trực tiếp hoặc qua một thời gian ủ làm cho chúng bị phân huỷ hoặc bán phân huỷ, bằng cách đó làm tăng hiệu quả sử dụng của cây trồng Lai (1997) đã cho thấy rằng lượng phụ phẩm nông nghiệp tạo ra phụ thuộc vào đặc tính của từng loại cây trồng Ước tính về phụ phẩm nông nghiệp cho thấy lúa có thể cho từ 3,5- 4,5 tấn / ha, ngô khoảng 2,7- 3,2 tấn/

ha, đậu tương 0,8- 1,0 tấn/ ha, lúa mạch 2,6- 3,3 tấn/ ha

Do vậy, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ cho các cây trồng là một giải pháp đúng đắn nhằm tận dụng nguồn hữu cơ sẵn có Tuy nhiên việc lựa chọn các loại phụ phẩm nông nghiệp cũng cần quan tâm đến hàm lượng dinh dưỡng và thời gian phân huỷ sau vùi Trong trường hợp sản xuất cây phân xanh, để sử dụng tối đa nguồn dinh dưỡng, chúng ta cần tính toán thời điểm thu hoạch hợp lý, khi khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng đạt ngưỡng tối đa

2.3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân hữu cơ trong nước

Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu nhưng mới được chú trọng với quy mô lớn và tập trung khoảng 100 năm trở lại đây Điều kiện đất đai và khí hậu nước ta rất thích hợp cho cây chè phát triển , 2/3 diện tích đất là đất đồi núi , đặc biệt ở vùng núi cao có điều kiện tự nhiên khắc nghiêt đã tạo nên những giống chè đặc sản nổi tiếng Trong quá trình canh tác thì người dân đã biết tận dụng các cành chè sau đốn để tủ gốc cho chè (ép xanh)

Từ những năm 1968 - 1975, trại thực nghiệm chè Phú Hộ tiến hành

Trang 28

thực nghiệm phân bón trên 8000 m2 chè sản xuất kinh doanh, giống chè Trung

du 8 - 15 tuổi tại Phú Hộ, Hợp tác xã Đồng Tâm (Ninh Dân - Thanh Ba - Phú Thọ) và nông trường chè Văn Lĩnh, không bón phân chuồng mà thay vào ép xanh cành lá chè đốn hàng năm vào tháng 1 cộng với 800 kg sunfat đạm và

100 kg clorua kali Kết quả làm năng suất bình quân trong 8 năm đạt 800 kg bup chè/ha Bón ép xanh bằng cành lá già và cỏ Stilo cũng làm năng suất chè tăng 13,9 - 24,2 % Độ xốp tăng 5 %, độ mịn (0 - 20 cm) tăng 0,3 % ở khu ép xanh bằng cành lá chè già Độ xốp đất tăng 8,7 % và mùn tăng 0,84 - 3,87 %

ở khu ép xanh bằng cỏ Stilo Tốt nhất là ép xanh bằng ½ cỏ Stilo + ½ cành lá chè già, sản lượng chè tăng 3,19 - 16,4 %, độ ẩm tăng 3 - 5 % Kết quả thí nghiệm cho thấy: các nguồn phụ phẩm đều có thể sử dụng để bón cho chè và hiệu quả tăng năng suất chè đáng kể, cải thiện lý hoá tính đất chè rõ rệt Cành

lá chè đốn tốt hơn cây phân xanh xen giữa hàng chè (Đỗ Ngọc Quý)[3]

Kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ năm 1981 - 1984 cho thấy tổng sinh khối phần đốn hàng năm ở nương chè kinh doanh phụ thuộc vào loại hình năng suất Để sử dụng có hiệu quả lượng cành lá chè đốn hàng năm (1981 - 1987) ở Phú Hộ đã triển khai nghiên cứu nội dung này trên chè kinh doanh 7 -

12 tuổi

Năm 1996 - 1997, Viện nghiên cứu chè đã sử dụng toàn bộ cành lá chè đốn hàng năm, cây cỏ dại quanh đồi và trên nương chè ủ với vôi, supe lân cải thiện tốt chế độ mùn và năng suất chè tăng 8 - 10 %

Năm 1996 - 1997 kết quả nghiên cứu ở Trại chè Phú Hộ cho thấy: Cứ 2 hàng chè đào rãnh rộng 25 cm, sâu 25 cm vào trung tuần tháng 12 hàng năm rồi bỏ phân chuồng, nguyên liệu đốn chè cuối vụ, cỏ dại đưa vào rãnh, vùi toàn bộ lân, bón magie 20 kg/ha, lấp đất phía gốc chè cao hơn giữa hàng 5 - 7

cm, năm sau đào rãnh ở hàng bên cạnh theo chu kỳ luân phiên 2 năm đã làm

Trang 29

tăng đáng kể khả năng giữ ẩm của đồi chè kinh doanh, nương chè đủ ẩm cho thu hoạch búp ở cả những tháng khô hạn (Đỗ Ngọc Quỹ)[3]

Giai đoạn 1996 - 2000 và 2001 - 2005, trong quá trình triển khai các đề tài KHCN cấp nhà nước về phân bón vi sinh vật, các cán bộ khoa học, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu xử lý một

số nguyên liệu và phế thải giàu hợp chất cacbon thành các chất hữu cơ đơn giản sử dụng làm cơ chất cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học trên nền chất không mang khử trùng

Viện công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm, Đại học Bách Khoa

Hà Nội năm 1999 - 2000 đã thực hiện đề tài: “Công nghệ xử lý một số phế thải nông sản chủ yếu (lá mía, vỏ thải cà phê, rác thải nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ sinh học” thuộc chương trình công nghệ sinh học KHCN -

02 - 04 B Kết quả của đề tài đã đề xuất được công nghệ xử lý lá mía thành phân hữu cơ sinh học với thời gian ngắn (còn 30 % so với bình thường bằng chế phẩm vi sinh vật), xây dựng được công nghệ xử lý rác thải nông nghiệp bằng bộ chế phẩm vi sinh vật Emuni, hoàn thiện được công nghệ xử lý vỏ cà phê thành phân hữu cơ vi sinh bằng bộ chế phẩm Mcrocom

Tuy bước đầu đã nhận thức được vai trò của phân bón hữu cơ, hữu cơ

vi sinh trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất, song ở Việt Nam nói chung đặc biệt là khu vực trung du, miền núi Phía Bắc cho đến nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế Người nông dân, nhất là đồng bào dân tộc miền núi chưa thực sự được thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học Viêt Nam về phân bón hữu cơ vi sinh Nói cách khác chúng ta mới chỉ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh trong nhà máy hoặc một vài cơ sở sản xuất lớn, giá thành sản xuất còn cao, việc chuyên chở tới vùng sâu, vùng xa còn có nhiều hạn chế Người nông dân trồng chè khu vực trung du - miền núi phía Bắc có rất ít cơ hội để tiếp xúc và sử dụng loại

Trang 30

phân bón này

2.4 Kết luận rút ra từ phần tổng quan tài liệu

Phân bón hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 có tác dụng làm tăng năng suất

và chất lượng chè Tuy nhiên chưa có ai nghiên cứu về hai loại phân khoáng này tại thái nguyên , và đó là lí do chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh trưởng cây chè tại xã Tân Cương Thành Phố Thái Nguyên” Đây là loại

phân bón thân thiện môi trường Qua thử nghiệm, chọn công thức thích hợp đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho cây chè, từ đó cũng đã phát triển rộng rãi trong sản xuất

2.5 Đặc điểm của phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2

Công nghệ sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 từ phân lợn nái

và phân gà là công nghệ mới Công nghệ sản xuất phân hữu cơ khoáng do Trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên nghiên cứu và sản xuất Trong nước hiện nay nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ khoáng chủ yếu từ nguồn nguyên liệu hữu cơ từ than bùn Than bùn sau khi khai thác được sơ chế và bổ sung các dinh dưỡng đạm, lân, kali các chất dinh dưỡng trung vi lượng thành phân hữu cơ khoáng Còn phân NTR1, NTR2 nguyên liệu từ phân lợn nái và phân gà chăn nuôi quy mô công nghiệp Phân NTR1 và NTR2 hàm lượng hữu cơ lớn hơn 20%, trong khi đó các phân hữu cơ khoáng hiện có trên thị trường hiện nay chỉ đạt 15% Ngoài ra trong phân NTR1, NTR2 còn có các chất trung vi lượng cân đối giúp cây phát triển và năng suất cao ổn định

Phân NTR1 có hàm lượng (%) và tỷ lệ N:P2O5:K2O = 2,5:5,5: 1,5 nên dùng làm bón lót cho các loại cây trồng Phân NTR2 có hàm lượng (%) và tỷ

lệ N:P2O5:K2O = 5,5:1,5: 4 nên dùng để bón thúc cho các loại cây trồng

Trang 31

Sơ đồ : Quy trình sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2

Sản xuất sinh khối VSV đậm đặc

Trang 32

- Nhân sinh khối vi sinh vật: Chế phẩm sinh học EMINA được nhân

sinh khối trước khi sử dụng Dung dịch dùng nhân sinh khối được pha từ 1 kg mật gỉ đường với 5 lít nước Sau khi khuấy đều hòa tan mật gỉ đường trong nước thì bổ sung 1 kg chế phẩm gốc EMINA và tiếp tục khuấy đều Sau khi nhân sinh khối từ 2-3 ngày, thấy dung dịch có nhiều bảo tử nấm nổi lên thì có thể dùng được

- Sơ chế phân gà, phân lợn: Phân lợn sau khi vận chuyển ra khỏi khu vực trang trại chăn nuôi tiến hành gỡ bỏ túi ny lông để sơ chế Nếu phân lợn quá ướt thì bổ sung phân gà khô Phân lợn đổ dày khoảng 30-40 cm thì phun một lớp chế phẩm EMINA Độ cao đống phân khoảng 1,0 -1,2 m thì lại phun EMINA kín bề mặt và rắc thêm phủ một lớp phân chuồng khô lên trên bề mặt đống ủ Đối với phân gà sau khi đổ phân ra khỏi bao, nếu độ ẩm quá cao

>50% thì bổ sung phân chuồng hoai khô Phân gà được đổ theo lớp, cứu mỗi lớp 30 - 40 cm lại phun EMINA Tương tự như sơ chế phân lợn, trên bề mặt đống ủ cũng phủ kín một lớp phân chuồng hoai khô và phun EMINA để khử mùi thối của phân gà

Trong quá trình đống ủ sơ chế lên men, nhiệt độ đống ủ tăng cao trên

50oC dùng máy súc lật đảo từ 2-3 lần để đống ủ lên men thuận lợi và giảm độ

ẩm Trong quá trình đảo trộn bổ sung thêm chế phẩm EMINA dạng bột Khi

độ ẩm phân giảm còn khoảng 35-40% thì tiến hành phối trộn phân lợn với phân gà để nghiền thô

- Nghiền thô và ủ háo khí: Phân lợn và phân gà sau khi phối trộn rải mỏng để phân lên men và giảm độ ẩm nhanh Khi độ ẩm đạt mức thích hợp tiến hành nghiền nhỏ, nguyên liệu sau khi nghiền nhỏ để khoảng 2-4 ngày tiếp tục lên men tiếp

- Sàng và nghiền nhỏ: Sau khi để lên men tự nhiên, độ ẩm giản còn 35% thì tiến hành sàng Nguyên liệu nhỏ có kích thước nhỏ hơn 5mm thì đưa

Ngày đăng: 08/04/2021, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung, Đỗ Ngọc Oanh (1999), Giáo trình cây chè, Nxb Nông nghiệp HN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè
Tác giả: Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung, Đỗ Ngọc Oanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp HN
Năm: 1999
2. Luận văn thạc sỹ: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng chè LDP2 tuổi 5 tại Khải Xuân – Thanh Ba – Phú Thọ”. Nguyễn Thị Kiều Ngọc 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng chè LDP2 tuổi 5 tại Khải Xuân – Thanh Ba – Phú Thọ
3. Đỗ Ngọc Quỹ (1989), “40 năm nghiên cứu về cây chè ở trại nghiên cứu chè Phú Hộ (1947-1946)”, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm nghiên cứu về cây chè ở trại nghiên cứu chè Phú Hộ (1947-1946)
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1989
4. Sở NN & PTNT (2006), Báo cáo kết quả thực hiện Đề án sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè Thái Nguyên giai đoạn 2001 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Đề án sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè Thái Nguyên giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Sở NN & PTNT
Năm: 2006
6. Phạm Văn Toản, Trần Huy Lập, Nguyên Kim Vũ, Bùi Huy Hiền (2004), Công Nghệ Sinh Học phân bón, Chương trình kỹ thuật kinh tế Công nghệ sinh học, Viện Khoa học kỹ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công Nghệ Sinh Học phân bón, Chương trình kỹ thuật kinh tế Công nghệ sinh học
Tác giả: Phạm Văn Toản, Trần Huy Lập, Nguyên Kim Vũ, Bùi Huy Hiền
Năm: 2004
7. Phạm Văn Toản (2005) “Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân bón đa chủng, chức năng ứng dụng cho cây trồng quy mô công nghiệp”, Dự án KC 04 DA11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân bón đa chủng, chức năng ứng dụng cho cây trồng quy mô công nghiệp”
8. Quyết định Số: 43/1999/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ (1999), phê duyệt kế hoạch sản xuất chè năm 1999 – 2000 và hướng phát triển chè năm 2005 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phê duyệt kế hoạch sản xuất chè năm 1999 – 2000 và hướng phát triển chè năm 2005 – 2010
Tác giả: Quyết định Số: 43/1999/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ
Năm: 1999
10. Phùng Thị Vân, Nguyên Văn Lục, Trịnh Quang Tuyên (2004b), ứng dụng một số giải pháp khoa học nhằm đẩy mạnh xuất khuẩu thịt lợn. Báo cáo khoa học năm 2004 phần chăn nuôi gia súc, nxb Nông Nghiệp Hà Nội, trang 169 – 176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng một số giải pháp khoa học nhằm đẩy mạnh xuất khuẩu thịt lợn
Tác giả: Phùng Thị Vân, Nguyên Văn Lục, Trịnh Quang Tuyên
Nhà XB: nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
11. Trần Cẩm Vân, Bạch Phương Lan (1995) công nghệ vi sinh bảo vệ môi trường, nxb Khoa Học Kỹ Thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công nghệ vi sinh bảo vệ môi trường
Tác giả: Trần Cẩm Vân, Bạch Phương Lan
Nhà XB: nxb Khoa Học Kỹ Thuật Hà Nội
Năm: 1995

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w