Cùng với sự gia tăng dân số và phát triển về kinh tế, các vấn đề dân sinh như y tế, giáo dục, văn hóa, cũng ngày càng được quan tâm và đầu tư. Con người và hoạt động sống của con người đang từng ngày tạo ra rất nhiều loại chất thải khác nhau như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải trong lĩnh vực nônglâmngư nghiệp dưới những dạng rắn, lỏng, khí. Trong số những loại chất thải đó không thể không nhắc tới chất thải BV bởi những đặc tính nguy hại của loại chất thải này khi đưa ra môi trường. Bên cạnh các lợi ích phục vụ dân sinh thì các cơ sở y tế cũng đồng thời tạo ra một khối lượng CTYT rất lớn, nhất là CTRYT.
Trang 1BỆNH VIỆN QUẬN 10
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
VỀ THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2017
Quận 10 – 2017
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về chất thải y tế 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1 10 Phân loại 3
1.1 10.1 Chất thải lây nhiễm 3
1.1 10 10 Chất thải hóa học nguy hại: 4
1.1 10.3 Chất thải phóng xạ: 4
1.1 10.4 Bình chứa áp suất 4
1.1 10.5 Chất thải thông thường 4
1.1.3 Thành phần CTRYT 4
1.1.4 Tác động của CTRYT lên môi trường và sức khỏe con người 5
1.1.4.1 Tác động của CTRYT đến các thành phần môi trường 5
1.1.4 10 Tác động của CTYT đến sức khỏe con người 7
1 10 Một số quy định về quản lý chất thải y tế 8
1 10.1 Khái niệm quản lý CTYT 8
1 10 10. Quy định phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý CTRYT 8 1 10.3 Quy định tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển CTRYT 9
1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế 9
1.3.1 Tình hình quản lý CTRYT trên Thế giới 9
1.3 10 Tình hình quản lý CTRYT tại Việt Nam 10
1.3.3 Những vấn đề trong quản lý CTRYT ở nước ta hiện nay 11
1.4 Các nghiên cứu về tình hình quản lý chất thải y tế 1 10 1.4.1 Nghiên cứu nước ngoài 1 10 1.4 10 Nghiên cứu tại Việt Nam 15
Trang 31.6 Tình hình chung về quản lý chất thải y tế tại cơ sở y tế trong kỳ báo cáo 17
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 100
10.1 Đối tượng nghiên cứu 100
10 10 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 100
10.3 Thiết kế nghiên cứu 100
10.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 100
10.5 Phương pháp thu thập thông tin 100
10.6 Biến số nghiên cứu 101
10.6.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 101
10.6 10 Kiến thức và thực hành về quản lý CTRYT 101
10.7 Phương pháp phân tích số liệu 101
10.8 Hạn chế của nghiên cứu và hướng khắc phục 10 10 10.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 10 10 CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 104
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 104
3.1.1 Nhân lực quản lý chất thải y tế 104
3.1 10 Các chỉ số thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện Quận 10 105
3 10 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ CTRYT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ 106
3 10.1 Kiến thức về thực hiện quy chế quản lý CTRYT 106
3.3.YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ QUẢN LÝ CTRYT 109
3.3.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức về thực hiện quy chế quản lý CTRYT 109
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 31
4.1 Thực trạng công tác quản lý và nguồn nhân lực thực hiện quy trình quản lý CTRYT31 4 10 Đặc tính nền của đối tượng tham gia nghiên cứu: 31 4.3 Kiến thức của nhân viên y tế về quy trình quản lý CTRYT 3 10
Trang 44.4 Yếu tố liên quan đến kiến thức về quản lý CTRYT 34
KẾT LUẬN 36
1 Kiến thức về quản lý chất thải y tế 36
10 Thực hành về quản lý chất thải y tế 36
3 Mối liên quan giữa kiến thức và đặc tính nền của đối tượng nghiên cứu 36
KIẾN NGHỊ 38
Trang 5Chữ viêt tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6Bảng 3 1: Thông tin nhân lực quản lý chất thải y tế 103
Bảng 3 10: Thông tin nhân lực quản lý chất thải y tế (tiếp theo) 104
Bảng 3 3: Kiến thức cơ bản về quản lý CTRYT 104
Bảng 3 4: Kiến thức quy định chung về quản lý CTRYT 105
Bảng 3 5: Kiến thức về giảm thiểu CTRYT 105
Bảng 3 6: Kiến thức về mã màu, dán nhãn và tiêu chuẩn túi, thùng đựng và xe vận chuyển CTRYT 105
Bảng 3 7: Kiến thức về quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải y tế trong khoa phòng CTRYT 105
Bảng 3 8: Kiến thức về an toàn lao động và ứng phó sự cố 106
Bảng 3 9: Kiến thức chung chung về quản lý chất thải rắn y tế 106
Bảng 3 10: Thực hành về quản lý chất thải rắn y tế nói chung 106
Bảng 3 11: Mối liên quan giữa kiến thức chung và đặc tính mẫu về quản lý CTRYT 107
Bảng 3 1 10: Mối liên quan giữa kiến thức chung và đặc tính mẫu về quản lý CTRYT (tiếp theo) 108
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự gia tăng dân số và phát triển về kinh tế, các vấn đề dân sinh như y
tế, giáo dục, văn hóa, cũng ngày càng được quan tâm và đầu tư Con người và hoạtđộng sống của con người đang từng ngày tạo ra rất nhiều loại chất thải khác nhau nhưchất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải trong lĩnh vực nông-lâm-ngưnghiệp dưới những dạng rắn, lỏng, khí Trong số những loại chất thải đó không thểkhông nhắc tới chất thải BV bởi những đặc tính nguy hại của loại chất thải này khiđưa ra môi trường Bên cạnh các lợi ích phục vụ dân sinh thì các cơ sở y tế cũng đồngthời tạo ra một khối lượng CTYT rất lớn, nhất là CTRYT Xu thế áp dụng các kỹthuật cao trong điều trị bệnh cũng như việc gia tăng sử dụng các sản phẩm dùng mộtlần trong y tế đã khiến lượng CTRYT phát sinh ngày càng nhiều, trong đó có nhiềunhóm chất thải thuộc loại nguy hiểm đối với môi trường và con người Theo Tổ chức
Y tế thế giới, trong thành phần chất thải BV có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn
và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóachất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị Trước tình hình đó, Thủtướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm
10011 về việc phê duyệt Đề án tổng thể xử lý CTYT giai đoạn 10011 - 10015 vàđịnh hướng đến năm 100 100, trong đó đề ra mục tiêu 100% các cơ sở y tế tuyếnTrung ương, tuyến tỉnh và các cơ sở y tế tư nhân, 70% các cơ sở y tế tuyến huyện thựchiện xử lý chất thải rắn bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môitrường; CTRYT nguy hại tại 30% các cơ sở y tế tuyến huyện còn lại phải được xử lýban đầu trước khi thải ra môi trường Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng đã banhành Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 0 10 năm 1001 10 về việc phê duyệtQuy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 100 105, trong đó đề ramục tiêu cụ thể đến năm 10015 là 100% lượng CTYT nguy hại tại các cơ sở được thugom, phân loại và vận chuyển đến các cơ sở xử lý, trong đó 70% lượng CTRYT nguyhại được xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường; đến năm 100 105 thì 100%lượng CTRYT nguy hại tại các cơ sở y tế thu gom, vận chuyển và xử lý đạt tiêu chuẩn
về môi trường [ 108],[31]
Trong thời gian qua, Bệnh viện Quận 10 đã phối hợp ký hợp đồng thu gom,
xử lý các loại chất thải với các đơn vị có chức năng (Công ty TNHH MTV Môi trường
Trang 8đô thị TPHCM và Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích quận 10) Tuy nhiên tại
BV vẫn còn một số bộ phận chưa thực hiện đầy đủ các quy định quản lý CTYT dẫntới lượng rác thải phát sinh lớn Năm 10019 lượng giác thải thông thường là 474500
kg, giác thải lây nhiễm là 68.669 kg, rác thải nguy hại là 44 kg
Để có góc nhìn tổng quát về hiện trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện huyện,
từ đó đưa ra các giải pháp quản lý CTRYT phù hợp, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Khảo sát kiến thức và thực hành về thực hiện quy chế quản lý chất
thải rắn y tế tại Bệnh viện Quận 10 năm 2017” với mục tiêu:
1. Xác định tỉ lệ kiến thức đúng về thực hiện quản lý CTRYT tại Bệnh viện Quận10
10 Mô tả đặc điểm thực hành quản lý CTRYT tại Bệnh viện Quận 10
3 Xác định mối liên quan giữa kiến thức đặc tính mẫu về quản lý chất thải rắn y tếtại Bệnh viện Quận 10
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chất thải y tế
- Quản lý CTYT: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thugom,vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTYT vàkiểm tra, giám sát việc thực hiện [6]
1.1 10.1 Chất thải lây nhiễm
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọcthủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây chuyền,lưỡi dao mỗ, đinh mỗ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác
Trang 10- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người;rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
1.1 10 10 Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốcgây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị hóa trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị
vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì sửdụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
1.1 10.3 Chất thải phóng xạ:
Chất thải phóng xạ gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ cáchoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất Danh mục thuốc phóng xạ vàhợp chất đánh dấu dung trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số33/ 10006/QĐ-BYT ngày 104 /10/ 10016 của Bộ trưởng Bộ Y tế
1.1 10.4 Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng Oxy, CO 10, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy,gây nổ khi thiêu đốt
1.1 10.5 Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa họcnguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chaihuyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thảinày không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệuđóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu ngoại cảnh
1.1.3 Thành phần CTRYT
Thành phần và tính chất của CTRYT (CTRYT) dựa trên đặc tính lý, hóa baogồm: Bông vải sợi (bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải, drap,…); giấy (hộp đựng
Trang 11dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ công việc hành chính,…); nhựa (hộp đựng, bơm tiêm,bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm); kim loại (Dao kéo, kim tiêm); bệnh phẩm, bộ phận
cơ thể bị cắt bỏ; hóa chất, thuốc hết hạn sử dụng… Chất thải sinh hoạt (vỏ bánh, hoaquả, lá cây, thức ăn thừa…) [6],[10],[11]
Tỷ lệ các loại CTRYT theo ước lượng trung bình của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) cho các nước đang phát triển như sau: 80% là chất thải thông thường, 15% làchất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu, 3% là chất thải hóa học nguy hại và dượcphẩm, 1% là chất thải sắc nhọn, <1% là chất thải đặc biệt như: chất thải phóng xạ, bìnhchứa áp suất, kim loại nặng như nhiệt kế vỡ, pin hỏng…[36]
Tại Việt Nam, thành phần CTRYT cũng tương tự đánh giá của WHO, khoảng75- 80% chất thải BV là chất thải thông thường, khoảng 100- 105% CTRYT nguyhại, trong đó chủ yếu là CTRYT có tính lây nhiễm Thành phần CTRYT có thể tái chếtrên 105% tổng lượng CTRYT phát sinh trong BV (BV) [8],[9]
1.1.4 Tác động của CTRYT lên môi trường và sức khỏe con người
1.1.4.1 Tác động của CTRYT đến các thành phần môi trường
Bất kỳ một loại chất thải nào cũng có những tác động trực tiếp hoặc gián tiếpđến các thành phần môi trường và sức khỏe con người, trong đó CTRYT đặc biệt làrác thải nguy hại có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của người dân.Trong tình hình quản lý rác chưa được tốt như nước ta hiện nay thì việc tác động của
nó lên các thành phần môi trường là điều không thể tránh khỏi
Do quá trình đô thị hóa, hầu hết các BV nằm xen lẫn với các khu dân cư, việcđốt rác, chôn lấp rác thải y tế không hợp vệ sinh thường làm ô nhiễm không khí, ônhiễm môi trường, chỉ có một số ít BV lớn trong cả nước làm tốt công tác quản lýnhưng cũng chỉ hoàn thành tốt ở khâu phân loại, thu gom, còn vấn đề xử lý vẫn là mộtdấu hỏi lớn
Hiện nay ở nước ta hệ thống xử lý CTYT hoạt động hiệu quả thấp Nói về tínhchất nguy hại của CTYT, trước hết phải khẳng định, đã là CTYT thì đều có khả năngtác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người Rác thải y tế, nhất là rác thảinguy hại là nơi tập trung nhiều vi khuẩn, vi rút gây bệnh, sẽ rất nguy hiểm nếu phát tán
ra môi trường chúng có thể gây nhiễm độc hoặc lây truyền các bệnh nhiễm trùng cho
Trang 12người tiếp xúc với chất thải đối tượng có nguy cơ nhiễm cao nhất trong nhóm nàychính là những người trực tiếp phân loại, thu gom và xử lý chất thải.
Gây ô nhiễm môi trường nước: Rác sinh hoạt, nếu rác hữu cơ trong môi trườngnước nó sẽ bị phân hủy nhanh chóng Phần nổi lên mặt nước sẽ có quá trình hóa chấthữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian cuối cùng là khoáng chất và nước Phần chìmtrong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí tạo ra các hợp chất trung gian và các sảnphẩm cuối cùng CH4, H 10S, H 10O, CO 10 có nguy cơ gây ô nhiễm nước, làm nước
có mùi khó chịu, tăng độc tính Ngoài ra, rác sinh hoạt còn chứa một lượng lớn các visinh vật và vi trùng gây ô nhiễm nguồn nước Đối với CTYT nguy hại thì nghiêmtrọng hơn vì đặc tính chứa nhiều mầm bệnh và các hóa chất độc hại nếu không quản lýtốt khi vào nguồn nước sẽ gây ra những tác động cực kỳ nghiêm trọng Các loại chấtđộc hại lan truyền vào nguồn nước làm suy giảm chất lượng nước mặt, nếu xâm nhậpvào nước ngầm sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với việc quản lý tài nguyên nước Bêncạnh đó, nếu nơi tập trung không có mái che, nhà lưu giữ rác không có nền đảm bảo vệsinh thì nước mưa sẽ hòa tan, vận chuyển các chất đi xa gây ô nhiễm nước, ô nhiễmđất
Tác động đến môi trường đất: Các mầm bệnh, ký sinh trùng, hóa chất độc hạitrong rác thải y tế nếu xử lý chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm đất, suy thoáiđất, làm cho đất không canh tác được và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con ngườithông qua nguồn nước, các sản phẩm nuôi trồng Nếu rác thải hữu cơ được phân hủytrong môi trường đất, nó cũng có thể là nguồn cung cấp dinh dưỡng nhưng nếu lượngrác quá lớn thì đất sẽ thành nơi chứa rác
Tác động đến môi trường không khí: Các loại mầm bệnh, ký sinh trùng, vikhuẩn trong rác có thể phát tán trong không khí, lan truyền bệnh cho con người vàđộng vật Mặt khác quá trình phân giải rác thải tạo ra nhiều mùi hôi thối, khó chịu.Chất thải phóng xạ còn phát ra các loại tia phóng xạ ảnh hưởng đến sức khỏe conngười nếu không được quản lý tốt Khí thải thoát ra từ quá trình đốt CTRYT nguy hại
ở một số lò đốt trong các cơ sở y tế không đảm bảo tiêu chuẩn gây ảnh hưởng đếnkhông khí nhiều nhất Khí thải này gây ra nhiều khói bụi và mùi hôi ảnh hưởng nhiềuđến môi trường sống xung quanh, trong số đó có các chất đặc biệt nguy hiểm nhưFuran, Dioxin là những chất gây nên quái thai
Trang 131.1.4 10 Tác động của CTYT đến sức khỏe con người
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người đó là thông qua hoạt động thu gom,phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải y tế trong các BV, cơ sở y tế Tất cả nhữngngười phơi nhiễm với rác thải đều có nguy cơ bị mắc bệnh: bác sĩ, y tá, hộ lý và cácnhân viên hành chính BV, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và khách thăm bệnh nhân,người làm trong các cơ sở lưu giữ, xử lý chất thải, với các mức độ khác nhau tùy theotừng loại CTYT
- Tác động gián tiếp đến sức khỏe: Do ô nhiễm môi trường hoặc tiếp xúc vớicác tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột hoặc ô nhiêm môi trường không khí dophát sinh mùi hôi thối khó chịu
Rác không được thu dọn kịp thời sẽ trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, chuột,gián, các trung gian truyền bệnh này sẽ có nguy cơ dẫn đến lan tràn dịch bệnh nhanhchóng từ các BV, từ CTYT không được xử lý đúng cách
Cũng như vậy, nước thải BV không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh cũng
sẽ là nguồn phát tán các mầm bệnh vào các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) Cácnguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đường tiêu hóa do vi khuẩn tả, lỵ, thươnghàn, trứng giun, nhiễm khuẩn hô hấp do lao, phế cầu khuẩn, bệnh nghề nghiệp, nhiễmkhuẩn da, bệnh do trực khuẩn than, nhiễm khuẩn huyết, viêm gan A, B, C…Một trongnhững ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người đó là người dân ăn các thực phẩm,các nông sản được trồng trên đất ô nhiễm, nguồn nước mặt, nước ngầm bị nhiễmkhuẩn nên dễ bị nhiễm bệnh
- Ảnh hưởng của CTYT đến sức khỏe cộng đồng:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ,nhân viên BV do các vật sắc nhọn gây ra Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh
Trang 14hưởng của CTYT đối với cộng đồng nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào đánhgiá thực trạng của CTYT đối với sức khỏe con người.
+ Các nguy cơ về mặt y tế công cộng: HIV/AIDS,Viêm gan B và C, các bệnhnhiễm khuẩn đường ruột, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp,Viêm nhiễm qua truyềnmáu, viêm nhiễm da, ảnh hưởng phóng xạ
+ Gây phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh đến cộng đồng: Các mầm bệnh vàhóa chất gây độc hại đi vào môi trường đất, nước, không khí nếu không được quản lýtốt [ 10],[3],[8]
1.2 Một số quy định về quản lý chất thải y tế
1.2.1 Khái niệm quản lý CTYT
Quản lý CTYT là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vậnchuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTYT và kiểm tra,giám sát việc thực hiện [6],[7]
1.2.2 Quy định phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý CTRYT
- Phân loại CTYT là hoạt động phân tách chất thải thành các nhóm và đưa vàocác dụng cụ chứa theo quy định Bất kỳ ai làm phát sinh chất thải đều phải thực hiệnviệc phân loại ngay tại nguồn Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có
mã màu kèm biểu tượng theo đúng quy định
- Thu gom CTYT là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữu tạm thờichất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế Mỗi loại chất thải được thugom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu quy định và phải có nhãn hoặc ghi bênngoài túi nơi phát sinh chất thải Các CTYT nguy hại (CTYTNH) không được để lẫntrong chất thải thông thường Tần suất thu gom ít nhất 1 lần trong ngày và khi cần.Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải
- Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh tới nơi
xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy CTYTNH và chất thải thông thường phát sinh tại cáckhoa, phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất
1 lần một ngày và khi cần Khi vận chuyển CTYTNH ra ngoài cơ sở y tế phải sử dụngphương tiện vận chuyển chuyên dụng để đảm bảo vệ sinh, đúng quy định
Trang 15- Lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế: CTYTNH và chất thải thông thườngphải lưu giữ trong các buồng riêng biệt Chất thải tái sử dụng, tái chế phải được lưugiữ riêng.
- Tái chế, tái sử dụng chất thải rắn thông thường: chất thải thông thường đượctái chế phải đảm bảo không có yếu tố lây nhiễm và các chất hóa học nguy hại gây ảnhhưởng cho sức khỏe Chất thải được phép tái chế, tái sử dụng chỉ cung cấp cho các tổchức, cá nhân có giấy phép hoạt động và có chức năng tái chế chất thải
- Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơlây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêuhủy
- Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mấtkhả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường
1 10.3 Quy định tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển CTRYT
- Màu sắc của dụng cụ chứa đựng CTYT phải theo mã màu sắc phù hợp vớitừng loại chất thải, gồm: màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thảihóa học nguy hại và chất phóng xạ, màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình
áp suất nhỏ, màu trắng đựng chất thải tái chế
- Túi, hộp, thùng đựng CTYT phải đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế, chất liệu, có mãmàu sắc và biểu tượng chỉ lọai chất thải phù hợp theo quy định
- Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáykín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô
1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế
1.3.1 Tình hình quản lý CTRYT trên Thế giới
Xu hướng của Thế giới hiện nay là tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểulượng CTYTNH thông qua phân loại tốt và nâng cao tỷ lệ tái sử dụng, các BV ởphương Tây đều sử dụng lại tất cả những dụng cụ, hóa chất có thể tái sinh với điềukiện đáp ứng đúng quy định an toàn y tế Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vừa ban hànhchính sách quản lý an toàn CTYT, theo đó, khuyến khích việc xử lý an toàn để tái sửdụng, tái chế CTYT Phương pháp xử lý khử nhiễm hiệu quả nhất đối với các chất thải
ô nhiễm vi sinh vật là hấp ướt trong thời gian 30 phút ở nhiệt độ 1 101°C- 134°C Mộtphương pháp cũng có thể được sử dụng là tiệt trùng khử nhiễm bằng các hóa chất khử
Trang 16trùng Quy trình khử nhiễm để tái chế chất thải nên được thực hiện ngay tại BV nhằmhạn chế chuyển chất thải ô nhiễm ra môi trường bên ngoài WHO hỗ trợ U-crai-natriển khai thành công dự án tái chế CTYT [36].
Đối với các quốc gia đang phát triển, việc quản lý môi trường chung vẫn còn rất
lơ là, nhất là đối với chất thải BV Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại đây, các quốcgia như Ấn độ và Trung quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường và có nhiềutiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở BV Đặc biệt ở Ấn độ từ năm 1998 Chính phủ
đã ban hành Luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và quản lý”; trong bộ Luật này có ghi
rõ ràng các phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải cùng việc xử lý và didời đến các bãi rác Do đó vấn đề phế thải độc hại của quốc gia này đã được cải thiệnrất nhiều Hiện tại, trên Thế giới ở hầu hết các quốc gia kỹ nghệ, trong các BV, xử lýchất thải đều có thiết lập hệ thống xử lý bằng lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại chấtthải từ 1000°C đến trên 4000°C, đây là phương pháp tiêu diệt triệt để mầm bệnh [35],[37],[38]
1.3 10 Tình hình quản lý CTRYT tại Việt Nam
Trong thời gian qua, tại các cơ sở khám chữa bệnh tỷ lệ BV có thực hiện phânloại CTRYT là 95,6% và thu gom CTRYT hàng ngày là 90,9% Phương tiện thu gomCTYT như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng
bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT Chỉ có 50%các BV phân loại, thu gom CTRYT đạt theo yêu cầu Quy chế quản lý CTYT [5],[9]
Tỷ lệ BV xử lý CTRYT bằng lò đốt 10 buồng hoặc sử dụng công nghệ vi sóng,nhiệt ướt khử khuẩn CTRYT nguy hại là 109,4%, số BV hợp đồng với công ty môitrường thuê xử lý là 39,8% và 30,8% BV xử lý bằng lò đốt 1 buồng, thiêu đốt thủ cônghoặc tự chôn lấp trong khuôn viên của BV Hiện có 369 lò đốt 10 buồng, 1 107 lò đốt
1 buồng Trong đó đa số lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt sửdụng chưa hợp lý, gây ô nhiễm môi trường [4], [14]
Theo dự kiến của nhiều chuyên gia, trong những năm tới do sự gia tăng dân số,mức sống của người dân ngày một nâng cao, các BV được phát triển và mở rộng,lượng rác thải BV sẽ tiếp tục tăng và nguy hại hơn nữa, còn người có quyết định về tàichính thì không quan tâm đến những rủi ro do CTYT
Trang 17Việc thu gom CTYT ngoài hộ lý thì các đối tượng khác chưa được đào tạo đểtham gia vào họat động quản lý CTYT Không đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộkhác cho nhân viên tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy CTYT.
Việc lưu trữ CTYT: chưa có xe chuyên dụng để chuyên chở CTYT Một sốcông ty môi trường đô thị từ chối vận chuyển CTYT Chỉ 18,75% các BV CTYT đượcvận chuyển ra khỏi BV bằng xe chuyên dụng của công ty môi trường đô thị
Xử lý và tiêu hủy CTYT: Thiêu đốt là chủ yếu tại các lò đốt thủ công không có
hệ thống xử lý khí thải, nguyên liệu chính là củi và dầu do vậy khí thải rất nhiều khói,bụi, ngoài ra việc xử lý, tiêu hủy CTYT còn sử dụng phương pháp chôn lấp tại bãi ráccông cộng hoặc chôn trong khuôn viên BV [11],[14],[15],[16]
Chính vì những bất cập trên đây mà Bộ Y tế cho rằng quan tâm xử lý chất thải
BV là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện những nhiệm vụ cấp bách củacông tác khám chữa bệnh
Ngày 15 tháng 11 năm 10011, Thủ tưởng Chính phủ đã ký phê duyệt Đề ántổng thể xử lý CTYT giai đoạn 10011- 10015 và định hướng đến 100 100 (tại Quyếtđịnh số 10038/QĐ-TTg) Thực hiện Quyết định của Thủ tưởng Chính phủ trong thờigian qua Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị triển khai Đề án tổng thể xử lý CTYT giai đoạn10011- 10015 và định hướng đến 100 100; xây dựng hướng dẫn thực hiện Đề án tổngthể xử lý CTYT giai đoạn 10011- 10015 và định hướng đến năm 100 100 gửi Sở y tếcác tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế vàcác Bộ, ngành để hướng dẫn thực hiện Đề án; phối hợp các Bộ ngành và đơn vị liênquan xây dựng dự án để thực hiện Đề án, cụ thể phối hợp với Bộ Xây dựng để xâydựng quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 100 105 (đã đượcphê duyệt tại Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8 tháng 10 năm 1001 10 của Thủtướng Chính phủ) Đồng thời cũng phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng
dự án: “Nghiên cứu khoa học nhằm tăng cường ứng dụng và chuyển giao công nghệ
xử lý CTYT tiên tiến, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế, xã hội của Việt Nam” [ 106],[ 107],[ 108],[ 109],[30],[31]
1.3.3 Những vấn đề trong quản lý CTRYT ở nước ta hiện nay
Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã chỉ ra 6 bất cập đang tồn tại tại các BV trongvấn đề quản lý chất thải đó là:
Trang 18- Việc phân loại CTRYT còn chưa đúng quy định: Cho đến nay ở hầu hết các
BV công tác quản lý CTRYT đều chưa hợp lý từ khâu thu gom, phân loại và xử lý Sựphân công trách nhiệm chưa cụ thể, thiếu nhân viên được đào tạo về quản lý CTYT
- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ,hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn mà nguyên nhân sâu xa nhất đó là thiếu kinh phí, nguồn hỗtrợ cho công tác này còn hạn hẹp
- Xử lý và tiêu hủy chất thải gặp nhiều khó khăn: giá các lò đốt rác thải quá đắt
để có thể trang bị cho các BV và chi phí xử lý quá cao cho dù có lò đốt đi nữa thì việchoạt động thường xuyên cũng hiếm vì nó không mang lại hiệu quả kinh tế cho các BV.Bên cạnh đó, còn có nhiều khó khăn về nguồn nhân lực, phương tiện phục vụ cho việc
xử lý rác thải
- Thiếu các cơ sở tái chế chất thải: rác thải y tế có chứa một phần lớn rác đượcphép tái chế, song để đảm bảo vệ sinh cho các sản phẩm tái chế để có thể sử dụng antoàn thì cần phải có các cơ sở tái chế hoạt động theo một quy trình riêng, cụ thể phùhợp với loại rác thải có những đặc tính riêng biệt này
- Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thảirắn và nước thải BV
- Vấn đề quản lý CTYT thông thường có thể tái chế còn nhiều bất cập từ khâuthu gom, vận chuyển cho đến lưu giữ để bán cho các cơ sở tái chế phải được kiểm tra,theo dõi chặt chẽ nhằm tránh hiện tượng những vật dụng có khả năng lây nhiễm được
sử dụng lại chẳng hạn cần làm biến dạng các vật dụng đó trước khi bán ra ngoài…
Về hiện trạng quản lý CTYT, báo cáo cho biết: 73,3% BV đã xử lý CTRYTnguy hại bằng lò đốt tại chỗ hoặc bằng lò đốt tập trung; 95,6% BV đã thực hiện phânloại rác thải; 80,4% BV có hệ thống cống thu gom nước thải [ 103]
1.4 Các nghiên cứu về tình hình quản lý chất thải y tế
1.4.1 Nghiên cứu nước ngoài.
Nghiên cứu về tình trạng quản lý chất thải BV ở Iran - nghiên cứutrường hợp các BV có tập huấn của Đại học Y Khoa Iran do Farzadkia M vàcộng sự tiến hành năm 10009 với mục tiêu là để điều tra quản lý CTR trong8BVcó tập huấn của Đại học Y Khoa Iran Kết quả cho thấy công suất thải là10.5-3.01 kg/giường/ngày, trong đó bao gồm 85-90% của nước thải và 10-15%
Trang 19của CTLN Trong đó, kết quả chính thu được là việc thiếu sự phân loại giữaCTNH và chất thải không nguy hại, không tuân thủ các quy tắc và quy định ápdụng cho các loại chất thải trong các phòng bệnh và viêc vận chuyển đến vị trílưu trữ tạm thời, không xử lý chất thải phù hợp, và xử lý chất thải BV cùng vớirác thải đô thị [35].
Nghiên cứu về Kiến thức, thái độ, và thực hành về CTQL CTYT củaNVYT của Mathur V, Dwivedi S, M Hassan, Misra R năm 10011 là mộtnghiên cứu cắt ngang 100 được tiến hành giữa các BV (công suấtgiường>100%) tại thành phố Allahabad Kết quả cho thấy: các bác sĩ, y tá, kỹthuật viên phòng thí nghiệm và có kiến thức tốt hơn so với nhân viên vệ sinh vềquản lý CTYT.Kiến thức liên quan đến việc mã hóa màu sắc và phân loại rácthải tại nguồn đã cho thấy giữa các y tá và nhân viên phòng thí nghiệm tốt hơn
so với các bác sĩ Về thực tiễn liên quan đến quản lý CTYT (bỏ chất thải đúngtheo phân loại màu sắc, bỏ kim vào thùng chứa vật sắc nhọn,…), nhân viên vệsinh hầu như không biết về tất cả các khía cạnh [47]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Manar M K và cộng sự tiến hành trên 8
BV chưa được tập huấn tại Lucknow, Ấn Độ từ tháng 9 năm 1001 10 đếntháng 3 năm 10013 Kết quả cho thấy lượng chất thải tạo ra của tất cả 8 BV là0.56 kg/giường/ngày Có 50.5% BV không có bộ phận quản lý CTYT và phânmàu thùng rác Có 37.5% BV không có hồ sơ theo dõi quản lý CTYT và phânloại tại nguồn Lò đốt chỉ được sử dụng ở 1 BV để xử lý CTYT Có 10 BVkhông có trang thiết bị và phương tiện xử lý CTYT [36]
Nghiên cứu quản lý CTRBV ở Khartoum State, Sudan do Saad S.A thựchiện trong năm 1001 10 nhằm đánh giá việc quản lý CTR y tế tại một số BV tạithị trấn Khartoum và tạo ra các đề xuất thích hợp chấp nhận được đối với việcquản lý xử lý CTYT Có 8 BV chính đã được đề cập trong nghiên cứu với côngsuất tổng thể 10,978 giường Nghiên cứu quan sát ở tất cả BV cho thấy đa sốCTYT, rác văn phòng, rác sinh hoạt, rác xây dựng, vật liệu và hóa chất độc hại
đã được xen lẫn với nhau khi thực hiện thu thập và xử lý Chỉ có một phần nhỏ
ở một số BV (những phần của các bộ phận cơ thể có khả năng lây nhiễm và vậtsắt nhọn) được thu gom riêng và xử lý trong một lò đốt rác thải tập trung Ước
Trang 20tính công suất mỗi giường là 0.87 kg/ngày, nằm trong phạm vi các nước có thunhập thấp Không có luật quản lý CTYT, chất thải độc hại chỉ có một số quyđịnh về môi trường liên bang nói chung và một số thủ tục từ thị trấn và thànhphố địa phương để kiểm soát chất thải tồn tại trong thành phố Tại các BV cấpthấp, không có chính sách hay quy chế quản lý CTYT, ngoại trừ trong các trungtâm xạ trị, quản lý chất thải phóng xạ theo pháp luật của Cơ quan Nguyên tửSudan [38].
Nghiên cứu Kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên bệnh viện vềquản lý CTYT của Lakbala P, Lakbala M năm 10013 cho rằng việc xử lý thíchhợp và xử lý CTYT là rất cấp bách Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kiếnthức và thái độ của nhân viên BVvềquản lý CTYT Nghiên cứu cắt ngang đượctiến hành trên 1061 NVYT từ 9 BV, đã được chọn ngẫu nhiên từ 3 10 BV Pháthiện quan trọng nhất là nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa trình
độ học vấn và việc được tập huấn trong quản lý CTYT Có 109 thành viên(19.9%) trong số nhân viên BV chính phủ và 37 thành viên (3 10 10%) của độingũ nhân viên từ khu vực tư nhân đã đồng ý rằng quản lý CTYT không chỉ làtrách nhiệm của chính phủ, nhưng trong đó mỗi thành viên cán bộ phải chia sẻvới nhau Phát hiện này sẽ giúp giải quyết vấn đề này một cách thích hợp hơn,
và lập kế hoạch cho các chương trình huấn luyện và giám sát quản lý hệ thốngCTYT tốt hơn trong các BV [40]
Một nghiên cứu khác trong năm 10013 của Kumar R, R Samrongthong,Shaikh B T về Kiến thức, thái độ và thực hành của NVYT về xử lý CTLN tạicác cơ sở y tế cấp III tại thành phố thủ đô của Pakistan Nghiên cứu này là mộtphần của một nghiên cứu liên tục bán thực nghiệm có kiểm soát và thiết kế canthiệp đã được tiến hành tại các BV chính phủ cấp III của Rawalpindi Kết quảnghiên cứu cho thấy việc thực hành về quản lý CTLN ở cả hai BV đã không tìmthấy ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa cácnhóm thông tin chung như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và kinh nghiệmcủa NVYT khi xét mối liên quan với thực hành Các bác sĩ và y tá có kiến thứctốt, thái độ tích cực và thực hành tốt hơn so với y sĩ và nhân viên vệ sinh trongviệc quản lý xử lý CTLN và tìm thấy ý nghĩa thốngkê [39]
Trang 211.4 10 Nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Hoàng Thị Thúy, Phan Văn Tường về quản lý CTR y tế và kiếnthức, thực hành của NVYT tại BV đa khoa Đông Anh Hà Nội năm 10011 cho thấy:hầu hết các dụng cụ thu gom chất thải của BV còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt đủtheo các tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy định Các chất thải được phân loại ngay tạinguồn phát sinh, chủ yếu thành hai nhóm: CTLN và CTTT Công tác thu gom, vậnchuyển chất thải được đảm bảovề tần suất và thời gian quy định Tuy nhiên cáchthức tiến hành còn chưa đúng, tỷ lệ thu gom lẫn các chất thải khác còn cao (33.9%),vận chuyển chất thải bằng tay là chủ yếu Thời gian lưu giữ chất thải ở nơi tậptrung dài (trên 48 giờ) trong khi điều kiện bảo quản chưa đảm bảo đúng quyđịnh Đối với NVYT, tỉ lệ đạt kiến thực chung đúng về quản lý chất thải tương đốicao (86.8%), tuy nhiên kiến thức về các nhóm chất thải, các CTLN còn rất thấp( 107 10% và 54.4%) Bên cạnh đó tỉ lệ NVYT đạt thực hành phân loại CTYT là
8 10.4%, thu gom là 5 106%, vận chuyển là 5 10.6% và lưu giữ chất thải là 100%.Nghiên cứu còn cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên côngtác với kiến thức về CTLN: những ngưởi có công tác lâu (từ 10 năm trở lên) cókiến thức và về CTLN kém hơn những người ở nhóm thâm niên công tác dưới 10năm; kiến thức và thực hành có mối quan hệ với nhau (những người kiến thức tốtthì thực hành tốt hơn) [ 106]
Nghiên cứu Đặng Thị Thu Hương và cộng sự thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trunương cho kết quả: Tỉ lệ NVYT tại BV có kiến thức về các quy định chung và các quyđịnh cụ thể về mã màu phân loại chất thải, quy định thu gom chất thải lần lượt là53.9%; 65.9%, 53.4% NVYT có kiến thức đúng về quy định biểu tượng CTYT vàkiến thức về ATLĐ cũng như ứng phó với sự cố có liên quan đến CTYT còn thấpdưới 40% NVYT có thực hành đúng về quản lý chất thải còn rất thấp dưới 40% trong
đó thực hành đúng việc phân loại theo mã màu, theo nhóm và theo biểu tượng lần lượtlà
37.7%; 35.1% và 19.7% Tỉ lệ thực hành đúng về an toàn lao động và ứng phó sự cốcòn thấp dưới 40% Có 45.6% NVYT thực hành đúng khi xử trí sự cố rủi ro do vậtsắc nhọn
Trang 22Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Cảnh thực hiện tại 3 Bệnh viện tại Ngệ An,Kiên Giang, Đức Giang năm 10019 cho kết quả: Tỉ lệ cán bộ có kiến thức về quản lýchất thải rắn y tế nói chung đạt ở mức 64,7% Trong đó, tỉ lệ CBYT đạt kiến thức vềquản lý chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế đạt tỉ lệ thấp nhất chiếm53,9% Tỉ lệ CBYT đạt về kiến thức thu gom cao ở mức 89,5% Ngoài ra, số cán bộ cókiến thức chung về phân định chất thải rắn đạt 73,4%; kiến thức chung về phân loạiCTRYT là 69, 10%; kiến thức chung về bao bì, dụng cụ và thiết bị lưu chứa đạt 88,10%; kiến thức chung về việc lưu giữ CTRYT đạt 77, 10% Với nhóm kiến thức chung
về xử lý chất thải y tế nguy hại tỉ lệ CBYT có kiến thức đạt 75, 10% Các yếu tố liênquan đến kiến thức chung về QLCTRYT của CBYT tại 03 bệnh viện tỉnh trên baogồm chức danh chuyên môn, trình độ học vấn và thâm niên công tác cuả CBYT là cácyếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ đạt kiến thức về QLCTRYT Kỹ thuật viên có xuhướng có kiến thức về quản lý chất thải rắn đạt cao gấp 3,86 lần so với bác sỹ; CBYT
có trình độ học vấn đại học/ cao đẳng và sơ cấp có kiến thức đạt về quản lý chất thảirắn y tế lần lượt chỉ bằng 109% và 8% so với những cán bộ có trình độ sau đại học vàcán bộ có thâm niên công tác từ 10 năm trở lên có kiến thức về quản lý chất thải rắn y
tế đạt bằng 39% so với những cán bộ có thâm niên dưới 5 năm (p<0,05)
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Ngọc Trân thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Thị
Xã Dĩ An cho kết quả: Tỉ lệ NVYT có kiến thức chung đúng 100% chỉ có 1.90% vàkiến thức đúng 70-99% là 58.10% Tỉ lệ NVYT thực hành đúng 100% chiếm 33.33%
và thực hành đúng trên 70% chiếm tỷ lệ 55 104% Tìm thấy mối liên quan việc có đọcQuy chế và kiến thức về công tác quản lý CTYT (p<0.05)
1.5 Khái quát về Bệnh viện Quận 10
Bệnh viện quận 10 được xây dựng vào năm 10008 với quy mô ban đầu chỉ 60giường bệnh, thực hiện nghĩa vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn sau 10năm xây dựng và trưởng thành, Bệnh viện đã có sự "lột xác" nhanh chóng Phát triểntoàn diện về quy mô, cơ sở hạ tầng nguồn nhân lực và chất lượng khám chữa bệnh.Nhiều kỹ thuật y khoa phức tạp đã được thực hiện ngay tại Bệnh Viện giúp người dântiết kiện chi phí khám chữa bệnh và giảm tải áp lực cho các bệnh viện tuyến trên
Trang 23Với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, Bệnh Viện Quận 10 đang tiến gần hơnvới phân loại xếp hạng I theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Trong đó, luôn đề cao thái độ,phong cách phục vụ, lấy sự hài lòng của người bệnh làm chất lượng dịch vụ Hiện mỗingày trung bình bệnh viện tiếp nhận khám ngoại trú gần 10.500 bệnh nhân, điều trịnội trú cho hơn 350 bệnh nhân, cấp cứu 100-150 ca Trong đó, tỷ lệ chuyển viện đãgiảm rất lớn, chỉ còn dưới 10%.
1.6 Tình hình chung về quản lý chất thải y tế tại cơ sở y tế trong kỳ báo cáo
1.5.1 Tình hình chung về quản lý chất thải y tế tại cơ sở y tế trong kỳ báo cáo
Thực hiện phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý các loại chất thải (thôngthường không tái chế, thông thường tái chế, nguy hại lây nhiễm và nguy hại không lâynhiễm) đúng quy định theo thông tư 58: 10015/TTLT-BYT-BTNMT
Thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên thông qua quan sát, bảng kiểm, biênbản
1.5 10 Thống kê chất thải y tế phát sinh và được xử lý trong kỳ báo cáo
(Trường hợp có nhiều hơn một cơ sở phát sinh chất thải y tế thì báo cáo lần lượtđối với từng cơ sở y tế)
Bảng 1 Báo cáo thống kê rác thải năm 10019
TT Loại chất
thải y tế
Mã CTNH
Đơn vị tính
Số lượng chất thải phát sinh
Xử lý chất thải y tế Chuyển giao cho đơn vị khác
xử lý
Tự xử lý tại cơ sở
y tế Hình thức/
Phương pháp
xử lý (*)
Số lượng Tên và mã số QLCTNH
Số lượng
1.4 Chất thải 130101 kg/năm 1030 1030 Công ty TNHH MTV 0 Thiêu đốt
Trang 24TT Loại chất thải y tế CTNH Mã Đơn vị tính
Số lượng chất thải phát sinh
Xử lý chất thải y tế Chuyển giao cho đơn vị khác
xử lý
Tự xử lý tại cơ sở
y tế Hình thức/
Phương pháp
xử lý (*)
Số lượng Tên và mã số QLCTNH
Số lượng
Trang 25TT Loại chất thải y tế CTNH Mã Đơn vị tính
Số lượng chất thải phát sinh
Xử lý chất thải y tế Chuyển giao cho đơn vị khác
xử lý
Tự xử lý tại cơ sở
y tế Hình thức/
Phương pháp
xử lý (*)
Số lượng Tên và mã số QLCTNH
Số lượng
tế thông
4 Nước thải
Trang 26CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
10.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế làm việc tại Bệnh viện Quận 10
10 10 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu sẽ được tiến hành từ tháng 03 năm 100 100đến tháng 10 năm 100 100
Địa điểm nghiên cứu: Tại Bệnh viện Quận 10
10.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
10.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: chọn ngẫu nhiên 50% nhân viên y tế đang làm việc tạiBệnh viện Quận 10
10.5 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập số liệu định lượng:
Tổ chức thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi tự điền được thiết kế sẵn để thuthập thông tin liên quan đến kiến thức và thực hành của nhân viên y tế tại các khoa,phòng
Đánh giá kiến thức, thực hành về việc thực hiện quy chế quản lý CTRYT của nhân viên y tế
+ Thông tin chung về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
+ Khảo sát kiến thức về quản lý CTRYT
+ Đánh giá thực hành của nhân viên y tế về quy trình quản lý CTRYT
Cán bộ thu thập số liệu trực tiếp phỏng vấn, ghi nhận trung thực thông tin theo
sự lựa chọn của đối tượng được phỏng vấn vào bộ câu hỏi
Cán bộ thu thập số liệu phỏng vấn nhân viên phụ trách thu gom CTRYT ở cáckhoa
10.6 Biến số nghiên cứu
10.6.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Giới: Nam, Nữ
Tuổi: theo 4 nhóm tuổi: < 105 tuổi, 105- 34 tuổi, 35- 44 tuổi, ≥45 tuổi