1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong quân đội nhân dân việt nam hiện nay

205 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 882,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đội ngũ BCV ở các BĐCL là một bộ phận của độingũ BCV của Đảng, do cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ,thuộc biên chế của các BĐCL; là lực lượng nòng cốt tiến hành công tác TTMt

Trang 1

nghiên cứu khoa học của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Khúc Văn Hưởng

Trang 2

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 10 1.2 Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến đề tài luận án 17 1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên

quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 29

Chương 2: NHỮNG VẦN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN Ở CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC TRONG QUÂN ĐỘI

2.1 Đội ngũ báo cáo viên và chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các

binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam 33 2.2 Quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá

nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam 58

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN Ở CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 77 3.1 Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các binh

đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam 77 3.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ báo

cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam 102

Chương 4: YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN Ở CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ báo

cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt

4.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các

binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 125

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ

PHỤ LỤC 175

Trang 3

1 Báo cáo viên BCV

6 Công tác đảng, công tác chính trị CTĐ, CTCT

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Từ khi thành lập đến nay, ĐCS Việt Nam luôn coi trọng vị trí, vai tròcủa công tác TTM và đội ngũ BCV trong sự nghiệp cách mạng Tuyên truyềnmiệng là một hình thức tuyên truyền được tiến hành thông qua sự giao tiếpbằng lời nói trực tiếp giữa người nói (nhà tuyên truyền) với người nghe (đốitượng tuyên truyền), là kênh thông tin quan trọng, là vũ khí sắc bén đấu tranhtrên mặt trận tư tưởng lý luận, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.Đảng ta xác định BCV là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, “là lựclượng nòng cốt, chủ lực thực hiện công tác tuyên truyền miệng của Đảng”[33], là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần to lớn vàonhững thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam

Các BĐCL trong QĐNDVN là lực lượng chủ lực, cơ động chiến lượccủa Bộ Quốc phòng, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN Đội ngũ BCV ở các BĐCL là một bộ phận của độingũ BCV của Đảng, do cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ,thuộc biên chế của các BĐCL; là lực lượng nòng cốt tiến hành công tác TTMtrong cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị BĐCL và nhân dân trên địa bàn đóngquân; góp phần tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhànước, nhiệm vụ của quân đội và đơn vị, củng cố niềm tin tuyệt đối vào sựlãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH, sức mạnh chiến đấu của quânđội và bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; đấu tranh phòng chốngchiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của cácthế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nộibộ; xây dựng các BĐCL vững mạnh về chính trị, là lực lượng chính trị, lựclượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Trang 5

Những năm qua, quán triệt và triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết

của Đảng, nhất là Chỉ thị 17-CT/TW, ngày 15-10-2007 của Ban Bí thư “về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới”, đội ngũ BCV ở các BĐCL cơ bản được kiện toàn đủ về

số lượng và có bước chuyển biến quan trọng về chất lượng, thực sự góp phầnđổi mới, nâng cao hiệu quả công tác TTM, xây dựng tổ chức đảng TSVM, cácBĐCL VMTD Tuy nhiên, phần lớn đội ngũ BCV chủ yếu hoạt động kiêmnhiệm, chưa tập trung đầu tư thời gian, trí tuệ, công sức cho hoạt động TTM tạiđơn vị; chưa được quy hoạch, đào tạo bài bản về nghiệp vụ TTM; chính sáchđãi ngộ BCV chậm được cải tiến, chưa tạo được động lực thúc đẩy họ trongthực hiện nhiệm vụ Chính vì thế, đội ngũ BCV ở các BĐCL “đông nhưng

chưa mạnh” [33], chất lượng đội ngũ BCV chưa đồng đều, chất lượng đội ngũ

BCV kiêm nhiệm và bán chuyên trách còn những hạn chế nhất định; hoạt độngcủa đội ngũ BCV trong các cơ quan, bệnh viện, nhà trường, đơn vị độc lậpchưa hiệu quả Một bộ phận BCV chưa nhiệt tình với công tác TTM; thiếu sắcsảo, nhạy bén trong đánh giá các vấn đề thời sự; kiến thức chính trị - xã hộichưa phong phú; trải nghiệm thực tiễn chưa nhiều; kỹ năng thuyết trình thiếutính chuyên nghiệp; kỹ năng đối thoại còn lúng túng… Trên thực tế, việc tiếnhành các hình thức TTM ở đơn vị chưa có sức thu hút, thuyết phục cao; việcđấu tranh với các quan điểm sai trái thù địch chưa kịp thời, thiếu tính sắc bén

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mau lẹ, phứctạp; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão nhất là côngnghệ thông tin tạo ra sự bùng nổ thông tin và đa dạng hóa các loại hình truyềnthông, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác TTM Đất nước ta đang đứng trướcnhững vận hội và thách thức mới của thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng Tuynhiên, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện chiến lược "diễn biến hòabình", âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh

Trang 6

vi, thâm độc, hòng làm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống củacán bộ, đảng viên và nhân dân ta, làm suy yếu tinh thần, tư tưởng của bộ đội.Trước sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của công tác TTM vàđội ngũ BCV càng tăng lên, thực sự là vũ khí sắc bén, mũi nhọn xung kích củacuộc đấu tranh tư tưởng, nhằm cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, cổ vũhành động cho cán bộ, chiến sĩ một cách thiết thực, hiệu quả mà các hình thứckhác không thể làm được Trong giai đoạn cách mạng mới, để thực hiện thắnglợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, xây dựng quân đội và cácBĐCL cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng vềchính trị làm cơ sở đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác TTM vàchất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” để làm luận án tiến sĩ chính trị học Đây là vấn đề vừa cơ bản, vừa

mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuấtnhững giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trongQĐNDVN hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và xácđịnh những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Làm rõ những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng độingũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN

Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra một số kinhnghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN

Trang 7

Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng độingũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN hiện nay.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN

Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản liên quan trực tiếpđến chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trongQĐNDVN Phạm vi khảo sát thực tế ở 04 BĐCL: Binh đoàn Quyết thắng(Quân đoàn 1), Binh đoàn Hương Giang (Quân đoàn 2), Binh đoàn TâyNguyên (Quân đoàn 3), Binh đoàn Cửu Long (Quân đoàn 4) Các tư liệu và

số liệu được sử dụng trong luận án chủ yếu từ năm 2010 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của ĐCS Việt Nam về côngtác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; về CTTT, công tác TTCĐ; về công

tác cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng.

Cơ sở thực tiễn

Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; tình hình, nhiệm vụ của quân đội;thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL; các công trình khoahọc, đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu đã được nghiệm thu công bố; các sốliệu, tài liệu, báo cáo, tổng kết của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp và

hệ thống các số liệu thực tế về nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCLtrong QĐNDVN do tác giả khảo sát, điều tra là cơ sở thực tiễn của luận án

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quá trìnhnghiên cứu luận án, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu

Trang 8

của khoa học chuyên ngành và các khoa học liên ngành, trong đó chú trọngphương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp; lôgic và lịch sử; hệ thống, cấutrúc, thống kê, so sánh; khảo sát, điều tra xã hội học; phương pháp tổng kếtthực tiễn; phương pháp chuyên gia.

5 Những đóng góp mới của luận án

Xây dựng quan niệm chất lượng và làm rõ những yếu tố quy định chấtlượng đội ngũ BCV ở các BĐCL; xác lập và luận giải quan niệm, tiêu chíđánh giá nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN

Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở cácBĐCL trong QĐNDVN

Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, có tính khả thi trong những giảipháp nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài

Luận án góp phần luận giải, làm sâu sắc hơn những vấn đề cơ bản về lýluận chất lượng đội ngũ BCV và nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở cácBĐCL trong QĐNDVN

Luận án cung cấp luận cứ khoa học giúp cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quanchính trị tại các BĐCL vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thựchiện có hiệu quả nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL hiện nay

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy, học tập trong các nhà trường quân đội về nâng cao chất lượng đội ngũBCV, công tác TTM trong QĐNDVN

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các côngtrình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệutham khảo và các phụ lục

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền cổ động

Cuốn sách Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô [165] do tác

giả X.I Xurơnitrencô chủ biên (1982) đã phân tích toàn diện hoạt động tư tưởng

của ĐCS Liên Xô: Cơ sở lý luận và những nguyên tắc của CTTT; nội dung phongphú và toàn diện của CTTT; những hình thức và phương pháp làm CTTT; sự chỉđạo CTTT của ĐCS; việc đào tạo cán bộ làm CTTT; cuộc đấu tranh tư tưởng và

sự phối hợp của các tổ chức trong CTTT Theo các tác giả: Bộ phận cấu thành hếtsức quan trọng trong hoạt động của Đảng là CTTT, “mà mục đích cao nhất của nó

là biện giải về mặt lý luận đường lối của Đảng, xây dựng con người phát triểntoàn diện và có đời sống tinh thần phong phú, không ngừng nâng cao ý thức giácngộ giai cấp của họ, phát triển tính tích cực sáng tạo của quần chúng” [165, tr.11].Hình thức CTTT gồm công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, tuyên truyền và cổđộng Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng mục đích nhằm xây dựng thế giớiquan khoa học, giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế; xây dựngnhững tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa Tuyên truyền là truyền bá và giảithích sâu sắc cho quần chúng lao động hiểu rõ lý luận Mác - Lênin và đường lốicủa Đảng, trang bị cho quần chúng những tri thức về quy luật phát triển của xãhội, và trên cơ sở đó, xây dựng niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa cộng sản Cổđộng là thông tin cho quần chúng và nâng cao ý thức giác ngộ chính trị của họ;giải thích cho họ đường lối của Đảng, làm cho họ tin tưởng vào sự đúng đắn củađường lối, chính sách, nâng cao tính tích cực xã hội của họ

Trang 10

Cuốn sách Công tác tư tưởng trong các lực lượng vũ trang Xô viết [53] của

tác giả A.A.Êpisép (1980) là một tác phẩm lý luận tổng kết về CTTT trong các lựclượng vũ trang Liên Xô, rút ra những vấn đề vừa có tính chất nguyên tắc, vừa cótính chất hướng dẫn hành động, gắn liền với việc xây dựng lực lượng vũ trangtrong thời kỳ hiện đại Khi bàn về vai trò của CTTT, tác giả cho rằng: “Nhờ tăngcường công tác tư tưởng ở các đơn vị nên đã đạt được những thành tích mới trongviệc nâng cao bản lĩnh của quân nhân, trình độ sẵn sàng chiến đấu, trong việc rènluyện bộ đội về tinh thần chính trị và tâm lý” [53, tr.8,9] Tác giả đã luận bàn sâusắc quan điểm tổng hợp trong CTTT, trong đó có những vấn đề liên quan đến cácnội dung, hình thức, biện pháp quản lý tư tưởng, đó là: “Rèn luyện tư tưởng cho

bộ đội là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của các nhà giáo dục Nhiệm vụ này đượcgiải quyết thành công nhất theo hướng cải tiến toàn bộ công tác tư tưởng, áp dụng

rộng rãi quan điểm tổng hợp vào thực tiễn công tác” [53, tr.100] Quan điểm tổng

hợp trong CTTT yêu cầu phải “sử dụng rộng rãi và khéo léo tất cả các phươngtiện giáo dục tư tưởng có trong tay Đấy là tất cả các hình thức học tập chính trị;các hoạt động quần chúng; các cuộc nói chuyện riêng với từng người; các hìnhthức cổ động bằng hình ảnh và hiện vật cụ thể” [53, tr.106] Tác giả chỉ rõ: “Mỗingười sĩ quan, mỗi người chuyên nghiệp bất kể công việc công tác như thế nào,đều phải tự coi mình là một chiến sĩ của mặt trận tư tưởng” [53, tr.107]

Cuốn sách Nghệ thuật phát biểu miệng [97] của tác giả E.A.Nôgin (1984)

đi sâu nghiên cứu có hệ thống về vị trí, vai trò của hình thức TTM - một trongnhững loại hình chủ lực của hoạt động tuyên truyền; phân tích các yêu cầu khi tiếnhành công tác TTM; chỉ rõ cách thức, biện pháp để tiến hành TTM đạt hiệu quảnhư mong muốn Tác giả xuất phát từ những nguyên lý tuyên truyền và cổ độngcủa ĐCS Liên Xô để trình bày các vấn đề: những vấn đề tâm lý sư phạm của nghệthuật phát biểu miệng; công việc chuẩn bị bài phát biểu; lôgic và văn phong củabài phát biểu; cách sử dụng tư liệu thực tế; sự tác động lẫn nhau giữa cán bộ

tuyên truyền và người nghe… Tác giả kết luận: “Nghệ thuật phát biểu miệng là

một quá trình phức tạp và không đơn điệu Đó là quá trình “sản xuất” và trình

Trang 11

bày bài phát biểu trước công chúng nhằm tác động có sức thuyết phục vàgiáo dục cử tọa [97, tr.347] Nghệ thuật phát biểu miệng là hợp nhất củaniềm tin cộng sản chủ nghĩa và trình độ thế giới quan của cán bộ tuyêntruyền, cổ động, của người thông tin chính trị, là hợp nhất của vốn hiểu biếtrộng và trình độ cao về văn hóa chung của cán bộ đó với một tổng thể cáctri thức, kỹ năng và kỹ xảo trong diễn thuyết

Cuốn Giáo trình công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (dùng trong các học viện, nhà trường trong thời kỳ mới) [92] do tác giả Chương Tư Nghị chủ biên (1987) cho rằng: Vấn đề tư tưởng của cán

bộ, chiến sĩ vô cùng rộng lớn và phức tạp, đặc biệt nó càng nổi bật vào thời kỳ

có biến đổi lớn Nhưng dù phức tạp thế nào, vấn đề tư tưởng của cán bộ,chiến sĩ ngoài việc phát sinh trên những vấn đề về tình hình trong nước vàquốc tế, nhận thức về phương châm chính trị lớn của Đảng và Nhà nước, phầnlớn đều phản ánh trên mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợiích trước mắt và lợi ích lâu dài, phản ánh mối quan hệ giữa chỉ huy và chiến

sĩ, giữa trên và dưới, giữa đồng chí với nhau và giữa quân với dân Giáo dục

lý tưởng đạo đức và kỷ luật chung có tác dụng đặc biệt to lớn đối với việc giảiquyết vấn đề tư tưởng trên những nội dung nêu trên Cuốn sách cũng đã đềcập đến giải pháp: làm tốt CTTT đối với những cá nhân cá biệt, đặc biệt làcông tác làm chuyển biến những chiến sĩ chậm tiến Đối với những đồng chínày, cần “lấy lý lẽ làm họ thấu hiểu, để có thể làm họ phát huy những nhân tốtích cực, khắc phục những nhân tố tiêu cực, phấn đấu để tiến bộ; cần phảidùng phương châm ngăn trước, ngừa sau, chữa bệnh cứu người để đối xử vớicác đồng chí đã phạm sai lầm” [92, tr.52]

Cuốn sách Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới [27] của tác

giả Bùi Phương Dung (2005) chỉ rõ: Công tác tuyên truyền tư tưởng của ĐCSTrung Quốc phải nắm vững hai điểm cốt yếu: “một là, phải thống nhất với Trungương về tư tưởng, về chính trị, về hành động, tăng cường và đổi mới sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác tuyên truyền tư tưởng; hai là, phải phát huy dân chủ

Trang 12

một cách đầy đủ, nâng cao quan điểm quần chúng” [27, tr.22] Nội dung cơ bảncủa công tác chính trị tư tưởng xác định lấy giáo dục niềm tin vào lý tưởng làmcốt lõi, triển khai mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục trên các mặt lý luận cơ bản, đườnglối cơ bản, cương lĩnh cơ bản của Đảng, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể vàCNXH Triển khai giáo dục tư tưởng quan trọng về “ba đại diện” (đại diện choyêu cầu phát triển lực lượng sản xuất xã hội tiên tiến, đại diện cho sự phát triểnvăn hóa tiên tiến, đại diện trung thực cho lợi ích căn bản của đông đảo nhân dânTrung Quốc) và “ba chú trọng” (chú trọng học tập, chú trọng chính trị, chú trọngđạo đức) cho toàn thể đảng viên, cán bộ Giáo dục tinh thần “uống nước nhớnguồn”, “người giàu rồi phải giàu hơn nữa” Kết hợp chặt chẽ giữa đức trị và pháptrị và giáo dục lý luận về chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần, giáo dục tri thứckhoa học, tinh thần khoa học và phương pháp khoa học Nguyên tắc, phươngchâm của CTTT đó là lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lýluận Đặng Tiểu Bình làm tư tưởng chỉ đạo.

Luận án Tiến sĩ Lịch sử Công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào [164] của tác giả Xắcxavắt Xuânthếpphimmason (2003) đã luận giải làm rõ

tính cấp thiết của CTTT trong sự nghiệp đổi mới, phân tích các quan điểm,nguyên tắc CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào; đánh giá thực trạng, rút ranhững kinh nghiệm về CTTT của Đảng Nhân dân cách mạng Lào thời gian qua;

đề xuất phương hướng và các giải pháp để tăng cường hơn nữa CTTT của ĐảngNhân dân cách mạng Lào hiện nay Khi luận bàn về đổi mới phương thức CTTT,luận án cho rằng: Đổi mới phương thức hoạt động của CTTT đòi hỏi phải “tìm tòinhững phương thức sinh hoạt đảng phong phú, đa dạng nhằm phát huy cao nhấtvai trò tư duy của tư tưởng và CTTT của Đảng, không có một phương thức nào cóthể áp dụng mọi lúc, mọi nơi cho mọi hoạt động” [164, tr.140] Khi bàn về đổimới nội dung CTTT, luận án cho rằng: Đổi mới nội dung CTTT phải bám sát vàothực tiễn, dùng dẫn chứng trong thực tiễn để chứng minh… Nội dung CTTT phảibám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Lào;

Trang 13

phù hợp với từng đối tượng, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ; mang tính dân chủ rộngrãi giúp cho mọi người hăng hái lao động, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên truyền, cán bộ chính trị trong quân đội

Cuốn sách Tuyên truyền miệng: Lý luận, tổ chức và phương pháp [108] do tác giả M.M.Rakhomacunov chủ biên (1983) đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ

bản của công tác TTM – một hình thức chủ đạo của công tác tuyên truyền cổ độngnhư vị trí, vai trò, nội dung, nguyên tắc, phương hướng, cách thức tổ chức,hình thức, phương pháp tiến hành cổ động miệng, phát biểu miệng Đáng chú

ý, Chương thứ ba (phần II): Các nhóm báo cáo viên của cấp ủy và hoạt động của các nhóm ấy, hướng dẫn cách tổ chức công tác của các BCV, hình thức

phát biểu của BCV: Các BCV, dưới sự quản lý của cấp ủy, “phát biểu trongtập thể những người lao động và tại nơi cư trú của nhân dân mỗi tháng mộtlần Ngoài ra, nhiều báo cáo viên được thu hút vào việc chỉ đạo cán bộ thôngtin chính trị, cán bộ cổ động và các cán bộ cốt cán khác của Đảng” [108,

tr.171] Chương thứ hai (phần IV): Công tác cán bộ của cổ động miệng, trình

bày về việc lựa chọn, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cổ động,BCV Trong đó nhấn mạnh: Thực tiễn đã chứng minh điều quan trọng nhất làphải “thu hút vào đội ngũ cán bộ cổ động những người có thể bằng lời nói vàviệc làm ảnh hưởng tích cực đến việc tăng cường kỷ luật và tính tổ chức, tạo

ra hoàn cảnh sáng tạo và bầu không khí đạo đức lành mạnh trong tập thểnhững người lao động” [108, tr.284]

Cuốn sách Tóm tắt lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Liên Xô, từ 1918 - 1973 [51] do tác giả A.A.Ê-pi-sép chủ biên

(1974) là các công trình nghiên cứu, tổng kết khá sâu sắc, toàn diện về lịch sử quátrình hình thành và phát triển của CTĐ, CTCT trong sự nghiệp xây dựng các lựclượng vũ trang Liên Xô từ năm 1918 - 1973 Công trình này đã chỉ rõ sự ra đờicủa hệ thống chính uỷ trong Hồng quân từ 4/1918 theo chỉ thị của V.I.Lênin vàđến 14/10/1919 Hội đồng Quân sự Cách mạng đặt chức vụ CTV ở đại đội, phân

Trang 14

đội, các đội quân đặc biệt Xác định rõ chức trách, nhiệm vụ chủ yếu của chính uỷ

là “người lãnh đạo CTĐ, CTCT”, là “lãnh đạo chính trị đối với quân đội, tiếnhành CTĐ, CTCT trong quân nhân” Khẳng định rõ uy tín, vị thế của đội ngũchính uỷ, CTV trong quân đội ở các giai đoạn trong những năm nội chiến (1918 -1920) và xây dựng quân đội (1921 - 1928) Cuốn sách cũng chỉ rõ mục tiêu, yêucầu “đào tạo và giáo dục các cán bộ chính trị”, toàn diện cả phẩm chất, năng lực

và phương pháp, tác phong công tác đáp ứng nhiệm vụ trước mắt, nhiệm vụ lâudài của quân đội và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước

Cuốn Công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang viết [10] do tác giả P.I.Các-pen-cô chủ biên (1981) đề cập khá cụ thể đến công tác

Xô-xây dựng đội ngũ sĩ quan nói chung, cán bộ chính trị nói riêng Đối với đội ngũcán bộ chính trị, tác giả xác định: “Cán bộ chính trị là những người trực tiếp tổchức CTĐ, CTCT”; là “những người mang tinh thần của Đảng, kỷ luật của Đảng,lòng kiên định và dũng cảm của Đảng trong cuộc đấu tranh để thực hiện mục tiêu

đã đặt ra” và là người “chịu trách nhiệm về tổ chức và tình hình công tác chính trịtrong quân đội…” Các tác giả cho rằng, để huấn luyện, bồi dưỡng trình độ lýluận, chính trị cho đội ngũ cán bộ của Đảng phải thực hiện nhiều hình thức vàphương pháp như: giảng bài, xê-mi-na, tổ chức hội nghị lý luận, đọc tác phẩm củaV.I.Lênin, diễn đàn sĩ quan, tổ chức các cuộc mạn đàm lý luận, trao đổi cá nhân

và giải đáp, tự học tập, tự nghiên cứu và thông qua hoạt động thực tiễn Trong

đó, “phương pháp cơ bản của việc học tập lý luận Mác - Lênin cho sĩ quan là việc

tự học, tự nghiên cứu tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin,những nghị quyết của các đại hội, các hội nghị Trung ương Đảng” [10, tr.134];đồng thời động viên sĩ quan tích cực tham gia hoạt động xã hội - chính trị, thamgia công tác cổ động, tuyên truyền, bảo đảm được mối liên hệ chặt chẽ giữa họcvới hành, giữa học với đời sống đơn vị

Sách tham khảo Phát hiện và sử dụng nhân tài [121] của tác giả Nhiệm

Ngạn Thân (2016) là sự tổng kết, kiểm nghiệm lại những điều đã làm, đã thấy,

Trang 15

đã nghe, đã nghĩ trong 40 năm công tác và phấn đấu của chính tác giả với nộidung sâu sắc về “dụng nhân” mang hơi thở cuộc sống Phần chủ yếu của cuốnsách đi sâu trình bày về công tác cán bộ của ĐCS Trung Quốc, trong đó đề cậprất thẳng thắn, không né tránh những vấn đề xã hội rất quan tâm như: tính dânchủ trong ĐCS Trung Quốc, thể chế chính trị, phong cách hội họp, phong cáchviết… Tác giả đúc kết những vấn đề quan trọng về cách dùng người, lựa chọncán bộ, nghệ thuật lãnh đạo, tinh thần đại học - học rộng, giá trị của văn hóa,truyền thông đại chúng Lựa chọn cán bộ cần nắm vững “hai đầu”, tức là việclựa chọn, tuyển dụng hiền tài và ngăn chặn, kiểm soát những hành vi tiểu nhân.Nhân tài trong xã hội nhiều, “chỉ cần chế độ tiên tiến, tư duy đổi mới sáng tạo,quy định hợp lý thì nhất định có thể hình thành được cục diện “hiền tài hội tụ”sinh động” [121, tr.13].

Cuốn Giáo trình công tác chính trị của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (dùng trong các học viện, nhà trường trong thời kỳ mới) [92] do tác giả

Chương Tư Nghị chủ biên (1987) cho rằng phải tăng cường bồi dưỡng cán bộ cảphẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác thông qua con đường cơbản là đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường, rèn luyện tại chức và tự học thành tài Tácgiả viết: “…bồi dưỡng toàn diện cho cán bộ cả về kiến thức chính trị, quân sự,khoa học tự nhiên và kinh nghiệm thực tiễn; những kiến thức thực tiễn là vấn đềquyết định sự hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ các cấp” [9292, tr.336] Đồng thời,chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực sáng tạo cho cán bộ, coi đó là nhiệm vụquan trọng nhất trong hoạt động bồi dưỡng năng lực của người cán bộ Về hìnhthức, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải sáng tạo, đa dạng, trong đó xácđịnh, học viện, nhà trường là nơi quan trọng nhất, là con đường có hiệu quả nhất

để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với việc “bồi dưỡngnâng cao trình độ cán bộ trong thực tiễn công tác” [92, tr.341] Đây là hình thức

cơ bản, phương pháp chủ yếu và là truyền thống tốt đẹp trong việc đào tạo, bồidưỡng cán bộ của Đảng và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc Mặt khác, các

Trang 16

tác giả cho rằng, “tự học thành tài là con đường chủ yếu để cán bộ đạt được trithức, là cái nôi đào tạo ra nhân tài” [92, tr.347].

1.2 Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền cổ động

Cuốn sách Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới [125] do

tác giả Nguyễn Danh Tiên chủ biên (2010) khẳng định: Ngay từ khi ra đời và lãnhđạo cách mạng, ĐCS Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi CTTT là linhhồn của mọi công tác khác “Tư tưởng đúng đắn, thông suốt, lập trường tư tưởngvững vàng là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên sự đoàn kết, thống nhất của toànĐảng, toàn dân, toàn quân” [125, tr.7] CTTT có ba bộ phận hợp thành: công tác

lý luận, công tác tuyên truyền giáo dục, công tác cổ động CTTT có các chức năngchủ yếu: nhận thức lý luận; giáo dục, tuyên truyền và cổ động; hình thành giá trịtinh thần giải phóng tư tưởng; dự báo sự phát triển xã hội và đấu tranh tư tưởng.Cuốn sách đã phân tích, luận giải: tình hình mới, yêu cầu mới đối với CTTT và sựlãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng; quá trình Đảng lãnh đạo CTTT trongthời kỳ đổi mới; phương hướng nhiệm vụ và giải pháp nâng cao sự lãnh đạo củaĐảng đối với CTTT trong tình hình hiện nay

Cuốn sách Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc [120] của tác giả Phạm Tất Thắng (2010) đã luận giải các khái

niệm tư tưởng, lý luận và CTTT, lý luận; phân tích làm rõ những yếu tố tác độngđến CTTT, lý luận; những quan điểm cơ bản của ĐCS Việt Nam về CTTT Đángchú ý là tác giả cuốn sách đã phân tích rõ những biểu hiện tư tưởng, tâm trạng tíchcực và tiêu cực trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và thực trạng nhận thức lý luậncủa cán bộ, đảng viên Tác giả cho rằng: “Ngay trong tư tưởng của đội ngũ cán

bộ, đảng viên cũng có những biểu hiện phức tạp, đan xen giữa cái tích cực tiêucực, giữa niềm tin và sự giao động hoài nghi vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh

Trang 17

đạo của Đảng và triển vọng phát triển của đất nước” [120, tr.90] Trên cơ sở đánhgiá thực trạng, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm trong CTTT, lý luận; xácđịnh mục tiêu, phương hướng và biện pháp đổi mới CTTT, lý luận trong tình hìnhmới.

Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và nghiệp vụ công tác tư tưởng [93] do tác giả Phạm Quang Nghị chủ biên (2015) đã trình bày vai trò của công tác lý

luận, tư tưởng, văn hóa văn nghệ, vấn đề tâm lý xã hội và dư luận xã hội trongCTTT, vấn đề lãnh đạo, quản lý báo chí, công tác TTCĐ, rèn luyện kỹ năng vànghiệp vụ của người làm CTTT, cuộc đấu tranh bảo vệ CNXH khoa học hiện

nay Đặc biệt, ở Chương mười Rèn luyện kỹ năng và nghệ thuật nói để làm tốt công tác tuyên truyền cổ động, tác giả nhấn mạnh: Lời nói vô cùng quan trọng,

“Nếu là chính khách, nhà ngoại giao, nhà bình luận, phát thanh viên, người dẫnchương trình truyền hình, báo cáo viên… lại càng phải rất coi trọng việc traudồi lời nói, cách nói” [93, tr.263] BCV hay người được giao nhiệm vụ thuyếttrình cần chuẩn bị kỹ đề cương thuyết trình, tích cực sưu tầm tài liệu, gặp gỡcác chuyên gia, nhân chứng lịch sử; tích cực trau dồi khả năng sử dụng ngônngữ; tự tin, nghiêm túc, khiêm tốn khi trình bày bài nói chuyện Nói trước côngchúng vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, đòi hỏi BCV phải tuân thủnguyên tắc tính đảng, vừa linh hoạt, mềm dẻo tạo sức cuốn hút, thuyết phụctrước công chúng

Cuốn sách Một số vấn đề đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo trong tình hình mới [79] của tác giả Phạm Văn Linh (2016) luận giải những

vấn đề cơ bản về tư tưởng, CTTT, nội dung, phương thức công tác tuyên giáotrong tình hình mới Tác giả đã đưa ra các nguyên tắc đổi mới nội dung, phương

thức công tác tuyên giáo của ĐCS Việt Nam trong tình hình mới: Một là, đổi mới

nội dung, phương thức công tác tuyên giáo phải bảo đảm tính đồng bộ, toàn diện,phù hợp với từng nhiệm vụ, điều kiện thực hiện ở cả Trung ương và địa phương

Hai là, lấy hiệu quả công việc làm tiêu chí của đổi mới, xử lý hài hòa giữa hiệu

Trang 18

quả trước mắt và hiệu quả lâu dài trong đổi mới nội dung, phương thức công tác,

bám sát nhiệm vụ chính trị và phương châm công tác trong từng thời kỳ Ba là,

đổi mới phải có bước đi phù hợp, kết hợp phương thức truyền thống và hiện đạitrong thể hiện nội dung mới, coi trọng việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc

biệt là công nghệ thông tin trong thực hiện Bốn là, đổi mới nội dung, phương

thức công tác “phải bảo đảm tính ổn định và phát triển chung của công tác tuyêngiáo, phải đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương và cấp

ủy các cấp trong triển khai thực hiện” [79, tr.132].

Cuốn sách Tuyên truyền miệng là một nghệ thuật [113] của tác giả Bùi

Đình Sâm (2013) đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm của tác giả về côngtác TTM như: chuẩn bị hành trang cho nghề nghiệp; soạn đề cương báo cáo nghịquyết; soạn đề cương bài nói chuyện chuyên đề; cách rèn luyện kỹ năng nóichuyện Tác giả cho rằng: Nói chuyện - tuyên truyền miệng đều là “những hoạtđộng giao tiếp của con người với con người, chủ yếu bằng ngôn ngữ nói, nhằmphổ biến, trao đổi những hiểu biết, kinh nghiệm và chia sẻ, động viên, tạo cơ hội

để cùng nhau thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra” [113, tr.7] Hoạt động giao tiếpbằng lời nói - tuyên truyền “vừa là một hoạt động khoa học vừa là một hoạt độngnghệ thuật mang lại rất nhiều tiện ích” [113, tr.7] Một số kinh nghiệm trong TTM

mà tác giả rút ra là: xây dựng lòng tin, lòng say mê và tinh thần trách nhiệm vớinghề nghiệp; cần nắm chắc đặc điểm của đối tượng TTM; nắm vững nội dung; chủđộng phối kết hợp, lựa chọn phương pháp phù hợp với điều kiện thực tế; chuẩn bịtốt về điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật Mỗi cán bộ làm công tácTTM của Đảng phải không ngừng tự bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng nói chuyệntrước đông người với tinh thần chịu khó, kiên trì và quyết tâm cao

Cuốn Sổ tay chính trị viên đại đội [147] do Trường Sĩ quan Chính trị biên

soạn (2017) đã tập trung hướng dẫn CTV đại đội các kỹ năng tiến hành CTTT vàcông tác tổ chức ở đơn vị Trong phần kỹ năng tiến hành CTTT, cuốn sách đã dànhmột dung lượng đáng kể để hướng dẫn CTV đại đội tiến hành một số hình thứccủa công tác TTM ở đơn vị như: tổ chức nói chuyện, kể chuyện; thông báo thời sự

Trang 19

chính trị hàng tuần và thông báo thời sự chính trị theo chuyên đề hàng tháng; tổchức diễn đàn Với từng hình thức trên, các tác giả đã trình bày quan niệm, yêucầu, quy định, đi sâu vào hướng dẫn cụ thể về công tác chuẩn bị, các bước tiếnhành, sơ tổng kết rút kinh nghiệm… Tuy chưa trang bị đầy đủ, có hệ thống cả lýthuyết và thực hành về công tác TTM, song việc hướng dẫn kỹ năng tiến hành cáchình thức cơ bản, điển hình về công tác TTM ở đại đội đã giúp đội ngũ cán bộchính trị ở đơn vị cơ sở và học viên đào tạo CTV của Trường Sĩ quan Chính trịbiết cách tiến hành các hình thức trên một cách bài bản, đúng quy định.

Luận án Tiến sĩ Chính trị học Đổi mới công tác tuyên truyền miệng ở đơn

vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay [123] của tác giả Vũ

Minh Thực (2008) đã nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận về công tác TTM;đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cơ bảnđổi mới công tác TTM ở đơn vị cơ sở trong quân đội Theo tác giả: Công tácTTM có vị trí, vai trò quan trọng với ưu thế đặc trưng tạo được sự giao tiếptrực tiếp giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền, với công cụtuyên truyền là ngôn ngữ nên TTM “có thể tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi, vớimọi đối tượng, trong mọi điều kiện hoàn cảnh, không phụ thuộc nhiều vàokhông gian, thời gian, đối tượng” [123, tr.5] Các giải pháp mà tác giả đề xuấtlà: đổi mới, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chínhtrị và đội ngũ cán bộ chính trị; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổchức đảng, chính ủy, CTV, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp; đổi mớinội dung, hình thức, phương pháp TTM ở đơn vị cơ sở; nâng cao chất lượngđội ngũ BCV, tuyên truyền viên ở đơn vị cơ sở; tăng cường cơ sở vật chất kỹthuật, đổi mới phương tiện tiến hành công tác TTM

Bài báo khoa học Tiêu chí đánh giá tính hấp dẫn của tuyên truyền miệng

[159] của tác giả Mè Quốc Việt (2018) đã đề cập những vấn đề chung về côngtác TTM và đề xuất các tiêu chí đánh giá tính hấp dẫn của TTM trên các khíacạnh: nội dung, hình thức phương pháp, phương tiện tuyên truyền Theo tácgiả, nội dung TTM phải mới lạ, độc đáo, thiết thực; có tính thời sự, cấp thiết;

Trang 20

đảm bảo tính đảng, tính định hướng Hình thức, phương pháp TTM phải đadạng, phong phú, thường xuyên đổi mới; nhuần nhuyễn, điêu luyện, sáng tạo;phù hợp với đặc điểm người nghe Ngôn ngữ sử dụng trong TTM phải đảm bảotính phổ thông, dễ hiểu, sinh động, truyền cảm; phương tiện kỹ thuật phục vụTTM phải đồng bộ, hiện đại.

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên truyền, cán bộ chính trị trong quân đội

* Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ tuyên truyền

Cuốn sách Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng [46] của tác giả Trần Thị Anh Đào (2008) đã đề cập tương đối toàn diện về

lý luận của CTTT; đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quảCTTT và vấn đề đào tạo cán bộ làm CTTT, BCV, tuyên truyền viên Theo tác giả:CTTT ở Việt Nam hiện nay là hoạt động tư tưởng có mục đích của giai cấp côngnhân Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo Thông qua Đảng, Nhà nước và các tổchức chính trị - xã hội, CTTT có nhiệm vụ “bảo vệ, phát triển và truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước; thông tin theo định hướng của Đảng trên tất cả các mặt của đời sống xãhội” [46, tr.23] Tác giả cũng đề cập đến vấn đề phẩm chất, năng lực của đội ngũcán bộ chuyên trách làm CTTT, nhất là vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làmCTTT xuất phát từ thực tiễn ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đội ngũ cán bộtuyên giáo, BCV, tuyên truyền viên là lực lượng nòng cốt trong tiến hành CTTTnên cần quan tâm xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng lực lượng này đáp ứng yêu cầunhiệm vụ Tác giả đã đề xuất phương hướng, yêu cầu và các giải pháp nâng caochất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng hiện nay

Cuốn sách Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo trong giai đoạn hiện nay [56] do Học viện Báo chí và Tuyên truyền biên soạn (2017), tập hợp các bài tham

luận tiêu biểu của các tác giả tham gia Hội thảo khoa học quốc gia về chủ đề “Đàotạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo trong giai đoạn hiện nay” Cuốn sách được chia

Trang 21

làm hai phần: Phần thứ nhất: Trình bày bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay,

phân tích một số thuận lợi, khó khăn và những vấn đề đặt ra cho công tác tuyên

giáo, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo Phần thứ hai: Trình bày thực

trạng, các yếu tố tác động, đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằmđổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo hiện nay Khiđánh giá thực trạng, bên cạnh kết quả đạt được, các tác giả chỉ rõ những hạn chế,yếu kém trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo: Số lượng cán bộ được đàotạo chuyên sâu về nghề nghiệp tuyên giáo còn chiếm tỷ lệ thấp; năng lực chuyênmôn, năng lực tham mưu, hoạch định chính sách của cán bộ tuyên giáo trên cáclĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, văn nghệ còn nhiều bất cập;năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa đáp ứng được đòi hỏi của thựctiễn “Năng lực tuyên truyền, cổ động còn yếu, thiếu thuyết phục” [56, tr.11] Trên cơ

sở đó, các tác giả đề xuất nhiều giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo hiện nay đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ CTTT của Đảngtrong giai đoạn cách mạng mới

Cuốn sách Kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chính trị đơn vị cơ sở trong Quan đội nhân dân Việt Nam [71] của tác giả Nguyễn Hoàng Lân (2008) đã luận

giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chínhtrị ở đơn vị cơ sở trong quân đội Theo đó, kỹ năng tuyên truyền của cán bộ chínhtrị ở đơn vị cơ sở là một loại kỹ năng đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp, “thểhiện năng lực vận dụng một cách thuần thục, sáng tạo những tri thức, kỹ xảotuyên truyền để thực hiện những nội dung tuyên truyền phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh và đối tượng cụ thể, đạt được mục đích, yêu cầu mà nhiệm vụ tuyêntruyền đề ra” [71, tr.56] Tác giả đề xuất sáu (06) biện pháp nâng cao kỹ năngtuyên truyền của cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở: nâng cao trình độ tri thức toàndiện cho đội ngũ cán bộ chính trị; tiến hành tuyển chọn tâm lý đối với cán bộchính trị; thông qua hoạt động thực tiễn phong phú để phát triển các phẩm chất trítuệ, phẩm chất giao tiếp, sự thành thạo chuyên môn nghiệp vụ tuyên truyền; pháthuy tinh thần tích cực, tự giác học tập, rèn luyện của đội ngũ cán bộ chính trị; xây

Trang 22

dựng các tập thể quân nhân vững mạnh để phát triển kỹ năng tuyên truyền; nângcao khả năng khai thác, sử dụng trang thiết bị phục vụ hoạt động tuyên truyền.

Cuốn Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam [18] do Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị phát hành

(2015) đã trình bày rất rõ nét về nghiệp vụ công tác tuyên huấn theo từng mặtcông tác cụ thể Đáng chú ý, có hai chuyên đề trình bày về công tác TTM và

BCV Đó là Chuyên đề 11: Công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên trong quân đội [18, tr.173-184] và Chuyên đề 12: Phương pháp chuẩn bị đề cương và trình bày bài tuyên truyền miệng [18, tr.185-195] Tác giả khẳng định:

Lực lượng trực tiếp tiến hành TTM ở đơn vị cơ sở trong quân đội là đội ngũ BCV,tuyên truyền viên, đây là “lực lượng giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định

đến chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng” [18, tr.183-184] Để nâng

cao chât lượng đội ngũ BCV, tuyên truyền viên cần tăng cường bồi dưỡng, nângcao phẩm chất và năng lực của đội ngũ BCV, tuyên truyền viên; tích cực bồidưỡng, học tập, nâng cao trình độ khai thác, sử dụng trang thiết bị phục vụ côngtác TTM; kiện toàn đội ngũ BCV, tuyên truyền viên đủ về số lượng, đảm bảo chấtlượng; quan tâm chế độ, chính sách đối với đội ngũ BCV, tuyên truyền viên

Cuốn sách Nghệ thuật và kỹ năng nghiệp vụ tuyên truyền miệng trong Quân đội nhân dân Việt Nam [124] của tác giả Vũ Minh Thực (2016) tiếp tục

phát triển nền tảng lý luận về công tác TTM và hoạt động BCV trong QĐNDVN.Đồng thời, hướng dẫn các kỹ năng, nghiệp vụ tiến hành công tác TTM trong quânđội như nắm bắt dư luận xã hội; thu thập thông tin; chuẩn bị đề cương và thực

hành bài nói (diễn thuyết)… Đáng chú ý, ở Chương 7, Sự rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ tuyên truyền miệng, tác giả chỉ rõ cấu trúc nhân cách của cán bộ làm công

tác TTM gồm phẩm chất và năng lực Phẩm chất của BCV gồm: thế giới quankhoa học, niềm tin và lý tưởng XHCN, lòng say mê nghề nghiệp, ý thức tổ chức,

kỷ luật cao, lối sống trong sáng, giản dị, quan điểm và tác phong quần chúng đúngđắn… Năng lực của BCV gồm: năng lực hiểu đối tượng, tri thức và tầm hiểu biếtrộng, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, năng lực xử lý tài liệu, năng lực ngôn

Trang 23

ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực đối thoại… Những phẩm chất, năng lực này

“được hình thành thông qua quá trình học tập, rèn luyện khổ công, nghiêm túc và

chính trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp sáng tạo…” [124, tr.162].

Luận án Tiến sĩ Tâm lý học Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên [82] của tác giả Đinh Thị Mai (2013) đã luận

giải cơ sở lý luận, thực tiễn; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp và thực

nghiệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCV

cơ sở Trong phần lý luận, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về BCV cơ sở

“Báo cáo viên cơ sở là người do cấp ủy đảng cơ sở chọn lựa theo những tiêu chínhất định, được cấp thẻ để đại diện cho tổ chức đảng cơ sở tuyên truyền trực tiếpcác quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng tới cán bộ và người dân ở cơ sở”[82, tr.41] Họ được hưởng chế độ phụ cấp nghề nghiệp và hoạt động theo quyđịnh của Đảng BCV cơ sở phải có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, cóphẩm chất đạo đức nhân cách tốt, có thời gian và khả năng tuyên truyền bằng lờinói trực tiếp Các kỹ năng tuyên truyền bằng lời của BCV cơ sở gồm: kỹ năng thiếtlập các mối quan hệ, kỹ năng quan sát, kỹ năng thuyết phục và kỹ năng đối thoại.BCV cơ sở phải thuần thục các kỹ năng trên để thực hiện tốt nhiệm vụ

Luận án Tiến sĩ Chính trị học Chất lượng hoạt động báo cáo viên vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay [78] của tác giả Phạm Tuyết Lệ (2018) đã

khái quát đặc điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long; luận giải cơ sở lý luận, thựctiễn về chất lượng đội ngũ BCV vùng đồng bằng sông Cửu Long; đánh giá thựctrạng chất lượng đội ngũ BCV và hoạt động BCV vùng đồng bằng sông CửuLong Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất năm (05) nhóm giải pháp nâng cao chấtlượng hoạt động BCV vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, đó là: công táclãnh đạo, chỉ đạo hoạt động BCV; nâng cao chất lượng đội ngũ BCV; đổi mớichương trình, kế hoạch, nội dung hoạt động của đội ngũ BCV; quản lý hoạt độngcủa BCV và phối hợp với các hình thức khác trên địa bàn; tăng cường cơ sở vậtchất, phương tiện hoạt động, đổi mới chế độ chính sách đãi ngộ đối với BCV

Trang 24

Bài báo Vĩnh Phúc: Tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên [13] của tác giả Bảo Châu (2019) đã phân tích những cách làm hay, sáng tạo,

hiệu quả của các cấp ủy ở Vĩnh Phúc trong xây dựng đội ngũ BCV, tuyên truyềnviên như: thường xuyên đánh giá, phân loại BCV, tuyên truyền viên; tổ chức cáchội thi: BCV giỏi, bí thư chi bộ giỏi, kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh; mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ; định kỳ tổ chức hội nghịcung cấp thông tin cho BCV; tổ chức cho BCV tham quan các mô hình thực tế ởđịa phương; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động để đội ngũ BCVhoàn thành nhiệm vụ… Tác giả đề xuất một số giải pháp trọng tâm để nâng caochất lượng đội ngũ BCV ở tỉnh Vĩnh Phúc như: tăng cường sự lãnh đạo của cấp

ủy, sự chỉ đạo của ban tuyên giáo trong xây dựng đội ngũ BCV; nâng cao trình độ

lý luận chính trị cho BCV; định hướng nội dung tuyên truyền cho BCV; đổi mớiphương thức hoạt động của đội ngũ BCV, tuyên truyền viên…

* Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội Cuốn sách Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ người chính uỷ trong lực lượng vũ trang nhân dân [55] của Thượng tướng Song Hào (1967) đã chỉ rõ

nhiệm vụ, nội dung công tác và cách tiến hành công tác của chính uỷ - thủtrưởng chính trị, người đại diện Đảng trong các đơn vị quân đội Tác giả đã đặt

ra yêu cầu, mỗi chính ủy phải không ngừng tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện vềmọi mặt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng, Quân đội và nhân dân giao phó

Cụ thể, có bốn nội dung mà mỗi chính ủy cần phải tập trung tu dưỡng, rèn luyện

để trở thành người chính uỷ xuất sắc trong lực lượng vũ trang nhân dân: Thứnhất, đạo đức, năng lực của chính uỷ là đạo đức, năng lực của người đảng viêncộng sản trong quân đội; thứ hai, đạo đức của chính uỷ là đạo đức của ngườiđảng viên ưu tú của Đảng; thứ ba, năng lực của chính uỷ là năng lực của ngườicán bộ làm công tác giáo dục và công tác lãnh đạo; thứ tư, tác phong của chính

uỷ là tác phong lãnh đạo của Đảng [55, tr.54]

Cuốn sách Người chính uỷ Quân đội nhân dân Việt Nam [83] do Đại

tướng Chu Huy Mân chủ biên (2006) đã tập hợp một số bài viết của các tướng

Trang 25

lĩnh trong quân đội, các thế hệ chính uỷ, cán bộ chỉ huy trong hai cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ về vai trò của đội ngũ chính uỷ, CTV trong xâydựng quân đội vững mạnh về chính trị dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam vàChủ tịch Hồ Chí Minh Công trình này đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến cơchế lãnh đạo của Đảng trong QĐNDVN, cũng như sự hình thành, phát triển vàlớn mạnh của đội ngũ chính uỷ, CTV trong các giai đoạn cách mạng Từ thực tiễnxây dựng và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ chính uỷ, CTV trong haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, tác giả kết luận: “Trên bìnhdiện tổng quát, người chính uỷ Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành xây dựngquân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức” [83, tr.53].

Cuốn sách Xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên trong quân đội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh [99] của tác giả Nguyễn Quang Phát (2006) đã

tập trung nghiên cứu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ chính

ủy, CTV; phân tích, đánh giá tình hình đội ngũ cán bộ chủ trì về chính trị, công tácxây dựng đội ngũ chính ủy, CTV trước tình hình, nhiệm vụ mới Tác giả khẳngđịnh: Thực tiễn xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của quân đội chứng minh ýnghĩa to lớn và giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũchính ủy, CTV Tư tưởng đó “chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng, đảm bảocho sự phát triển nhanh chóng và vững chắc của các thế hệ cán bộ chính trị, kể cảtrong điều kiện khó khăn ác liệt nhất của chiến tranh cách mạng” [99, tr.102] Từ

đó, tác giả xác định những giải pháp xây dựng đội ngũ chính ủy, CTV trong quânđội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh: tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhậnthức về vị trí, vai trò của cán bộ chính trị và tầm quan trọng của công tác xây dựngđội ngũ chính ủy, CTV; nghiên cứu, hoàn thiện quy hoạch tổng thể và chỉ đạo cácđơn vị thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ chính ủy, CTV; tiếptục đổi mới, nâng cao chất lượng toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũchính ủy, CTV; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, phát huy sức mạnhtổng hợp trong xây dựng đội ngũ chính ủy, CTV

Trang 26

Cuốn sách Chính ủy, chính trị viên trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị [155] do Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự biên

soạn (2007) là tập hợp nhiều bài viết của một số tướng lĩnh, sĩ quan trong quânđội nhằm làm rõ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, của ĐCS Việt Nam về chế độ chính ủy, CTV; việc thực hiện chế

độ chính ủy, CTV trong Quân đội và Hải quân Liên Xô, Quân Giải phóng nhândân Trung Quốc; kinh nghiệm thực hiện chế độ chính ủy, CTV trong QĐNDVNkháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, mốiquan hệ công tác, chế độ công tác của chính ủy, CTV; yêu cầu phẩm chất, nănglực và phong cách làm việc của chính uỷ, CTV; vấn đề nâng cao chất lượng đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ chính ủy, CTV; những giải pháp nhằm phát huy vai tròcủa chính ủy, CTV trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị theo tinhthần Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị khóa IX

Cuốn sách Kinh nghiệm công tác chính ủy, chính trị viên [25] của Trung

tướng Phạm Hồng Cư (2010) đã chỉ rõ nguồn gốc chế độ chính ủy, CTV trongHồng quân Liên Xô; điểm lại quá trình hình thành, hoàn thiện chế độ chính ủy,CTV trong quân đội ta gắn với cơ chế lãnh đạo của Đảng với quân đội qua cácthời kỳ Cuốn sách đúc rút những kinh nghiệm quý báu đối với chính ủy, CTVnhư: chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nắm vững vị trí, nhiệm vụcủa đảng ủy; tuân thủ những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; vận dụngnguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong chiến đấu; chuẩn bị và tiếnhành hội nghị đảng ủy; nắm vững và thực hiện chức trách của chính ủy,CTV… Chính ủy, CTV phải vượt lên chính mình trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ, chú trọng rèn luyện phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong

công tác, “giải quyết thật tốt mối quan hệ phối hợp công tác giữa chính ủy,

CTV với người chỉ huy trên cơ sở nhiệm vụ chung, trên cơ sở nguyên tắc Đảng

và tình thương yêu đồng chí, đồng đội” [25, tr.129]

Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt

Trang 27

Nam hiện nay [9] của tác giả Phạm Đình Bộ (2007) luận giải: Đội ngũ cán bộ

chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành trong QĐNDVN được giao nhữngquyền hạn nhất định và chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp uỷ cấp mình vềtoàn bộ các hoạt động của đơn vị theo phạm vi, chức trách, nhiệm vụ Đội ngũ cán

bộ chính trị phải có năng lực công tác nhất định, đó là tổng thể khả năng và trình

độ thực tế đảm bảo cho đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội hoàn thành tốt chứctrách, nhiệm vụ Cấu trúc năng lực công tác của cán bộ chính trị bao gồm: Trithức, kỹ xảo, kỹ năng, trong đó tri thức là nền tảng; kỹ xảo, kỹ năng là trình độvận dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn Cần xây dựng và thực hiện tốt cáckhâu, các bước trong quy trình bồi dưỡng năng lực công tác; trong đó chú ý ở cáckhâu như: Tập trung nghiên cứu đánh giá tình hình và xác định nội dung, hìnhthức, biện pháp bồi dưỡng; xây dựng và thông qua kế hoạch bồi dưỡng; triển khai

và thực hiện nghiêm túc kế hoạch bồi dưỡng; tiến hành sơ, tổng kết, rút kinhnghiệm hoạt động bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấpphân đội

Luận án Tiến sĩ Chính trị học Bồi dưỡng năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ ở phòng chính trị các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay [64] của tác giả Trần Sinh Huy (2013) đã luận giải những vấn đề

cơ bản lý luận và thực tiễn về năng lực công tác của đội ngũ cán bộ phòng chínhtrị các sư đoàn bộ binh Trên cơ sở đi sâu phân tích về năng lực nhóm trưởng ban,ngành, trợ lý nghiệp vụ, tác giả cho rằng: năng lực công tác của đội ngũ cán bộ ởphòng chính trị sư đoàn bộ binh là tổng thể năng lực chuyên ngành CTĐ, CTCT,năng lực chỉ huy, quản lý và năng lực chuyên biệt của đội ngũ cán bộ cơ quanchính trị đáp ứng tốt yêu cầu của các chức danh, bảo đảm cho đội ngũ này hoànthành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Đồng thời, tác giả phân tích làm rõ vaitrò, con đường hình thành, phát triển năng lực công tác của đội ngũ cán bộ phòngchính trị; đánh giá đúng thực trạng bồi dưỡng, chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm, hạnchế trong bồi dưỡng năng lực công tác, tác giả đưa ra yêu cầu và xác định năm

Trang 28

(05) giải pháp chủ yếu bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ phòngchính trị các sư đoàn bộ binh QĐNDVN giai đoạn hiện nay.

Bài báo khoa học Nâng cao năng lực công tác tuyên huấn của đội ngũ cán

bộ chính trị cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [50] của

tác giả Nguyễn Văn Đức (2020) đã khái quát vị trí, vai trò của công tác tuyênhuấn và đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội; đánh giá ưu điểm và hạn chế vềnăng lực công tác tuyên huấn của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội Trên cơ

sở đó, tác giả đề xuất bốn (04) giải pháp nâng cao năng lực công tác tuyên huấncủa đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội trong QĐNDVN hiện nay, đó là: tiếptục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với đội ngũ cán

bộ chính trị cấp phân đội làm công tác tuyên huấn; tăng cường bồi dưỡng kiếnthức, nội dung, phương pháp tiến hành công tác tuyên huấn cho đội ngũ cán bộchính trị cấp phân đội; phát huy tính tích cực, tự giác trong tự nâng cao năng lựccông tác tuyên huấn của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội; bảo đảm cơ sở vậtchất cho đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội tiến hành công tác tuyên huấn

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án

Một là, các công trình đã bàn sâu sắc, toàn diện về CTTT, công tác TTCĐ của Đảng Các công trình khẳng định CTTT có vai trò quan trọng hàng đầu trong

sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần quyết định sự trưởng thành và chiếnthắng của quân đội cách mạng Công tác tuyên truyền cùng với công tác lý luận vàcông tác cổ động là những bộ phận quan trọng hợp thành CTTT của Đảng Cáccông trình đã luận giải về vị trí, vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ, đặc điểm, nguyên tắc,phương châm, phương pháp; đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân; đề xuấtgiải pháp nâng cao chất lượng CTTT, công tác TTCĐ của Đảng

Trang 29

Hai là, các công trình đã luận giải tương đối toàn diện về công tác TTM.

Các công trình khẳng định công tác TTM là một hình thức chủ đạo, rất quan trọngcủa công tác tuyên truyền; chỉ ra quan niệm, chủ thể, đối tượng, lực lượng, nộidung, hình thức, biện pháp của công tác TTM; vị trí, vai trò, đặc điểm của côngtác TTM; những vấn đề có tính nguyên tắc trong tiến hành công tác TTM; đánhgiá thực trạng công tác TTM; dự báo sự tác động của tình hình nhiệm vụ; xác địnhyêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác TTM

Ba là, các công trình đã bàn về đội ngũ cán bộ tuyên truyền, BCV, tuyên truyền viên của Đảng Khá nhiều công trình nước ngoài và trong nước (ngoài quân

đội) đã đi sâu nghiên cứu về đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, BCV,tuyên truyền viên Các công trình đều khẳng định, BCV là lực lượng nòng cốt,chủ lực trong tiến hành công tác TTM; luận giải khá sâu sắc về vị trí, vai trò, nhiệm

vụ, đặc điểm, yêu cầu về phẩm chất, năng lực của đội ngũ BCV của Đảng; đánhgiá thực trạng chất lượng đội ngũ BCV, xác định nguyên nhân; đề xuất các giảipháp nâng cao chất lượng đội ngũ BCV của Đảng

Bốn là, các công trình đã nghiên cứu tương đối toàn diện và sâu sắc về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội Các công trình

đều khẳng định, cán bộ chính trị là đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước hoạt độngtrong quân đội, đảm nhiệm CTĐ, CTCT, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh

về chính trị; luận giải sâu sắc về vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ, đặc điểm, yêucầu về phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác, các mối quan hệcông tác của chính ủy, CTV và các chức danh cán bộ chính trị khác; đánh giá thựctrạng chất lượng đội ngũ cán bộ chính trị, xác định nguyên nhân; đề xuất các giảipháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính trị

Năm là, các công trình đã bước đầu đề cập tới công tác TTM và đội ngũ BCV quân đội Các công trình nghiên cứu về nội dung này còn ít, song bước đầu

chỉ ra quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, nguyên tắc tiến hành công tác TTMtrong quân đội; đánh giá thực trạng công tác TTM; đề xuất các giải pháp nâng cao

Trang 30

chất lượng công tác TTM trong quân đội Các công trình bước đầu đề cập về vị trí,vai trò, chức trách, nhiệm vụ của BCV quân đội; thực trạng chất lượng đội ngũBCV quân đội và những biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ này

Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cứu đã công bố trong thời gianqua thực sự chứa đựng những giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc Đây là nguồn tàiliệu có hàm lượng khoa học cao; là khối tri thức quan trọng để tác giả kế thừa vàphát triển trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện luận án Song đến nay,dưới góc độ khoa học xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, chưa có mộtcông trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu, luận giải cơ bản, có hệ thống về vấn

đề nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN hiện nay Dovậy, góc độ nghiên cứu, hướng tiếp cận, cách luận giải của luận án là độc lập,không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã được công bố trước đó

1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Thứ nhất, nghiên cứu luận giải, làm rõ quan niệm, hệ thống tổ chức, chức

trách, nhiệm vụ, quyền lợi và nghĩa vụ, tiêu chuẩn, vai trò, đặc điểm của BCV ởcác BĐCL trong QĐNDVN

Thứ hai, nghiên cứu luận giải, làm rõ quan niệm, biểu hiện chất lượng đội

ngũ BCV ở các BĐCL; những yếu tố quy định chất lượng đội ngũ BCV ở cácBĐCL trong QĐNDVN

Thứ ba, nghiên cứu luận giải, làm rõ quan niệm, xác định một số vấn đề có

tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở cácBĐCL trong QĐNDVN

Thứ tư, đánh giá đúng thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các

BĐCL, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội

ngũ BCV ở các BĐCL trong QĐNDVN hiện nay

Trang 31

Thứ năm, chỉ rõ những yếu tố tác động; xác định yêu cầu và đề xuất

những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ BCV ở các BĐCL trong

QĐNDVN hiện nay

Trang 32

Kết luận chương 1

Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác TTM và đội ngũ BCV đối với

sự nghiệp cách mạng do ĐCS lãnh đạo nên vấn đề này được các nhà khoa họctrên thế giới và trong nước quan tâm, nghiên cứu Đặc biệt, các nhà chính trị,quân sự và học giả Liên Xô, Trung Quốc, Lào đã có những nghiên cứu vềCTTT, công tác tuyên truyền và xây dựng, nâng cao chất lượng cán bộ tuyêntruyền của Đảng, đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội Các công trình khoahọc ở trong nước cũng đã đề cập tương đối toàn diện về công tác TTM, độingũ BCV của Đảng và đội ngũ cán bộ chính trị quân đội; bước đầu đề cập tớicông tác TTM và đội ngũ BCV quân đội Đây là những tài liệu rất quan trọng,quý báu để tác giả nghiên cứu, tham khảo, kế thừa, vận dụng vào luận án Quátrình nghiên cứu tổng quan, tác giả luận án đã tiếp cận với nhiều nội dung,phương pháp nghiên cứu, luận giải của các nhà khoa học trong và ngoài nước;qua đó, học hỏi, tiếp cận và lĩnh hội các vấn đề nghiên cứu ở nhiều góc độkhác nhau, làm cơ sở giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án

Mỗi công trình khoa học trên thế giới và trong nước có liên quan đến

đề tài luận án có đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, phương pháp

nghiên cứu cụ thể khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào

nghiên cứu một cách trực tiếp, cơ bản, toàn diện, có hệ thống về vấn đề:

“Nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” Đây là vấn đề mới, vừa cơ bản,

vừa mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc; hướng tiếpcận của luận án là độc lập; nội dung không trùng lặp với bất kỳ công trìnhkhoa học nào đã được công bố

Trang 33

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN Ở CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 2.1 Đội ngũ báo cáo viên và chất lượng đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam

2.1.1 Đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam

* Khái quát về các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Trong QĐNDVN, binh đoàn là đơn vị lực lượng vũ trang cấp quân đoàn

và tương đương Căn cứ vào tính chất nhiệm vụ, có thể chia thành hai loại binh đoàn:binh đoàn làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; binh đoàn làm nhiệm vụlao động sản xuất, xây dựng kinh tế Các binh đoàn làm nhiệm vụ lao động sản xuất,xây dựng kinh tế hiện nay gồm: Binh đoàn 11 (Tổng công ty Thành An), Binh đoàn

12 (Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn), Binh đoàn 15 (Tổng công ty 15), Binhđoàn 16 (Tổng công ty 16), Binh đoàn 18 (Tổng công ty Trực thăng Việt Nam) Binhđoàn chủ lực là loại hình đơn vị có nhiệm vụ chính trị trung tâm là sẵn sàng chiếnđấu và chiến đấu Các BĐCL trong QĐNDVN hiện nay gồm: Binh đoàn QuyếtThắng (Quân đoàn 1) thành lập năm 1973, Binh đoàn Hương Giang (Quân đoàn 2)thành lập năm 1974, Binh đoàn Tây Nguyên (Quân đoàn 3) thành lập năm 1975,Binh đoàn Cửu Long (Quân đoàn 4) thành lập năm 1974 Trong lịch sử QĐNDVNtừng tồn tại các BĐCL khác như: Binh đoàn Chi Lăng (Quân đoàn 14), Binh đoànPác Bó (Quân đoàn 26), Binh đoàn Sông Thao (Quân đoàn 29) được thành lập trongChiến tranh biên giới phía Bắc, sau đó được giải thể khi đã hoàn thành nhiệm vụ

BĐCL là loại hình đơn vị chủ lực cấp chiến dịch của QĐNDVN; lựclượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân và nền quốc phòng toàndân; lực lượng cơ động chiến lược sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ

Trang 34

độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng,Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị của đấtnước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thếlực thù địch Trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu củacác BĐCL biểu hiện tập trung tiềm lực chính trị, tinh thần và sức mạnh chiếnđấu của quân đội, có ý nghĩa răn đe đối với các thế lực thù địch Trong quátrình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các BĐCL là những “quả đấmthép”, lực lượng trực tiếp quyết định thắng lợi trên chiến trường; đồng thời làlực lượng hết sức quan trọng trong xây dựng thế trận phòng thủ chiến lược vàthế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Các BĐCL có chức năng đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất

và đội quân công tác Nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của các BĐCL làhuấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, gópphần bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của

Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN Bên cạnh đó,các BĐCL có nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành công tácvận động quần chúng, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vữngmạnh; phối hợp với địa phương giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội trên địa bàn đóng quân; phối hợp với các tổ chức, lực lượng có liên quanthực hiện nhiệm vụ phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu nạn, cứu hộ, bảo vệtính mạng và tài sản của nhân dân

Về tổ chức biên chế, BĐCL gồm: Bộ Tư lệnh (Tư lệnh, Chính ủy, cácPhó Tư lệnh, Phó Chính ủy); các cơ quan (Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, CụcHậu cần, Cục Kỹ thuật); các sư đoàn bộ binh hoặc bộ binh cơ giới; các lữ đoànbinh chủng (pháo binh, phòng không, tăng thiết giáp, công binh); trường quân

sự Cấp sư đoàn gồm: Ban chỉ huy (Sư đoàn trưởng, Chính ủy, các Phó Sư đoàntrưởng, Phó Chính ủy); các cơ quan (Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị, PhòngHậu cần, Phòng Kỹ thuật); các trung đoàn bộ binh hoặc bộ binh cơ giới; các tiểuđoàn trực thuộc Cấp trung đoàn gồm: Ban chỉ huy (Trung đoàn trưởng, Chính

Trang 35

ủy, các Phó Trung đoàn trưởng, Phó Chính ủy); các cơ quan (Ban Tham mưu,Ban Chính trị, Ban Hậu cần, Ban Kỹ thuật); các tiểu đoàn; các đại đội trực thuộc.Cấp tiểu đoàn gồm: Ban chỉ huy (Tiểu đoàn trưởng, CTV, Phó Tiểu đoàntrưởng, CTV phó), các đại đội, các trung đội trực thuộc Cấp đại đội gồm Banchỉ huy (Đại đội trưởng, CTV, Phó Đại đội trưởng, CTV phó) và các trung đội.

Về hệ thống tổ chức đảng, đoàn thanh niên và hội đồng quân nhân ở các

BĐCL: Đảng bộ quân đoàn là tổ chức đảng trực thuộc Quân ủy Trung ương;

đảng bộ cấp sư đoàn và tương đương là tổ chức đảng cấp trên trực tiếp cơ sở;các tổ chức đảng ở các lữ đoàn, trung đoàn và tương đương là tổ chức cơ sởđảng ba cấp gồm có: đảng bộ trung, lữ đoàn và tương đương, đảng bộ bộ phậntiểu đoàn và tương đương, chi bộ đại đội và tương đương Đoàn thanh niênđược tổ chức ở các đơn vị cơ sở gồm ba cấp: đoàn cơ sở trung đoàn, lữ đoàn vàtương đương; liên chi đoàn ở tiểu đoàn và tương đương; chi đoàn ở đại đội vàtương đương Hội đồng quân nhân là tổ chức đại diện quyền làm chủ của cán

bộ, chiến sĩ được tổ chức ở cấp đại đội và tương đương

Các BĐCL có những đặc điểm nổi bật sau:

Một là, các BĐCL luôn đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, hết sức khẩn trương, khó khăn, gian khổ; cường độ hoạt động của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ lớn; tính kỷ luật cao Các BĐCL cùng một lúc phải triển khai

rất nhiều nhiệm vụ trong đó nhiệm vụ chính trị hàng đầu của các BĐCL làhuấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.HIện nay, các BĐCL tập trung vào nhiệm vụ huấn luyện nâng cao trình độchính trị, kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, trang bị kỹ năng, kỹ xảo chiến đấu cho

bộ đội; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu cho đội ngũ cán bộ; nângcao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các cơ quan, đơnvị; rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy; quản lý, bảo quản và sử dụng cóhiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; sẵn sàng nhận và hoàn thành mọinhiệm vụ được giao Tất cả hoạt động huấn luyện, học tập, sinh hoạt, công táccủa bộ đội ở các BĐCL phải luôn luôn đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu

Trang 36

cao, đáp ứng các tình huống rất khẩn trương, điều kiện gian khổ, khó khăn, ácliệt của chiến tranh Khối lượng và cường độ công việc ở các BĐCL rất lớn,

tính chính quy, kỷ luật rất cao Đặc điểm này đặt ra yêu cầu rất cao đối với đội

ngũ BCV trong quán triệt, tuyên truyền cho mọi cán bộ, chiến sĩ ở các BĐCLthấm nhuần đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; nâng cao ý thức cảnhgiác cách mạng, ý chí quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vìđộc lập dân tộc và CNXH, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, không bị động,bất ngờ trong mọi tình huống, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao

Hai là, số lượng quân thường trực đông, tổ chức biên chế chặt chẽ, được trang bị, quản lý, sử dụng một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự đa

dạng, tương đối hiện đại Là lực lượng chủ lực cơ động chiến lược của Bộ Quốc

phòng, các BĐCL có số lượng quân thường trực đông, được trang bị và quản lý,

sử dụng một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự đa dạng, nhiều

chủng loại, tương đối hiện đại với tính năng chiến đấu của nhiều binh chủng Về

tổ chức biên chế, một BĐCL gồm nhiều đầu mối, trong đó đặc trưng rõ nét nhất làtrong đội hình chiến đấu của BĐCL có các sư đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới vàcác lữ đoàn thuộc các binh chủng khác nhau Hàng năm, các BĐCL tiếp nhậnhàng nghìn thanh niên nhập ngũ; chất lượng chính trị của hạ sĩ quan, binh sĩkhông đồng đều; thành phần đa dạng về vùng miền, hoàn cảnh gia đình, trình độhọc vấn, dân tộc, tôn giáo Hạ sĩ quan, binh sĩ ở các BĐCL rất đông đảo, tuổiđời còn trẻ, được giáo dục, rèn luyện trong môi trường quân sự với cường độ hoạtđộng lớn, tính chất khẩn trương, quyết liệt, gian khổ, tính kỷ luật cao nên đòi hỏicông tác giáo dục chính trị và huấn luyện chiến đấu phải khoa học, phù hợp với

đặc điểm tâm sinh lý của họ Đặc điểm này đòi hỏi đội ngũ BCV phải thực sự linh

hoạt, có sức thuyết phục, đi sâu vào từng cơ quan, đơn vị, từng đối tượng ngườinghe, đặc biệt đối với hạ sĩ quan, binh sĩ - đối tượng đông đảo nhất ở các BĐCL

Ba là, các BĐCL được bố trí trên những hướng chiến lược và địa bàn trọng yếu của đất nước; phối hợp hiệp đồng chiến đấu với các quân khu và các quân, binh chủng của quân đội BĐCL đóng quân ở địa bàn rộng, trên

Trang 37

những hướng chiến lược, trọng yếu của đất nước; phần lớn là vùng sâu, vùng

xa, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu,đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội tương đối phức tạp Do đó, các BĐCL phải triển khai nhiều nhiệm vụ khácnhư: tham gia công tác vận động quần chúng, phát triển kinh tế - xã hội và xâydựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh; phối hợp với địa phương giữ vững

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân; phối hợp vớicác tổ chức, lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng chống thiên tai, dịch bệnh,cứu nạn, cứu hộ Các BĐCL phải phối hợp, hiệp đồng chiến đấu với các lựclượng vũ trang địa phương và các quân, binh chủng của quân đội để ngăn chặn,đẩy lùi, đánh bại chiến tranh xâm lược và âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà

bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch Đặc điểm này đặt ra những yêu

cầu cao đối với đội ngũ BCV ở các BĐCL trong việc tuyên truyền, giáo dụccho bộ đội thực hiện tốt nhiệm vụ của một đội quân công tác, gắn bó máu thịtvới cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương, phối hợp, hiệp đồng với cáclực lượng trong khu vực phòng thủ; sẵn sàng làm nhiệm vụ tuyên truyền đặcbiệt ở biên giới, những điểm nóng về an ninh chính trị

* Quan niệm về đội ngũ báo cáo viên ở các binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Tuyên truyền là một trong những bộ phận chủ yếu của CTTT Theo nghĩarộng, tuyên truyền là hoạt động truyền bá những kiến thức, những giá trị tinhthần, tác động vào các đối tượng trong xã hội nhằm làm chuyển biến và nâng caonhận thức, hình thành niềm tin, bồi dưỡng và xây dựng tình cảm, ý chí, cổ vũ vàthôi thúc mọi người hành động một cách tự giác theo những yêu cầu, nhiệm vụtuyên truyền đặt ra Công tác tuyên truyền được tiến hành với nhiều hình thứcnhư: TTM; tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: báo chí,phát thanh, truyền hình…; tuyên truyền thông qua các phương tiện trực quan:khẩu hiệu, biểu ngữ, áp phích, tranh ảnh, triển lãm, thư viện, bảo tàng…

Trang 38

Tuyên truyền miệng là hình thức đặc biệt của công tác tuyên truyền, đượctiến hành bằng lời nói trực tiếp thông qua đội ngũ BCV, tuyên truyền viên.

“Tuyên truyền miệng là một hình thức tuyên truyền được tiến hành thông qua sựgiao tiếp bằng lời nói trực tiếp giữa người nói (nhà tuyên truyền) với người nghe(đối tượng tuyên truyền)” [18, tr.174] Công tác TTM có vị trí, vai trò đặc biệtquan trọng Đảng ta khẳng định, TTM là “một trong những kênh thông tin quantrọng nhất” [18, tr.221-222], trực tiếp truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước; định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Đây là mộttrong những vũ khí sắc bén, kịp thời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễnbiến hoà bình” của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc,phản động Đồng thời, TTM là một mắt khâu quan trọng, trực tiếp nối liền Đảng,Nhà nước với nhân dân, để vừa đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,luật pháp của Nhà nước đến với nhân dân, vừa nắm bắt, phản ánh trung thực, kịpthời tư tưởng, tâm tư, nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân đối với lãnh đạoĐảng, Nhà nước; gắn truyền đạt với đối thoại, trao đổi, truyền tải những thông tinnội bộ cần thiết với các đối tượng ở mọi hoàn cảnh, điều kiện một cách linh hoạt

Tiến hành công tác TTM là trách nhiệm của toàn Đảng, của mọi cán

bộ, đảng viên, trong đó đội ngũ BCV là lực lượng nòng cốt ĐCS Việt Nam

đã ban hành các chỉ thị, thông báo về tổ chức, xây dựng đội ngũ BCV như:

Chỉ thị 14/CT-TW, ngày 03/8/1977 của Ban Bí thư (Khoá IV) “Về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên của Đảng”, Thông báo 71/TB-

TW, ngày 07/6/1997 của Thường vụ Bộ Chính trị (Khoá VIII) “Về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng”, Chỉ thị 17-CT/TW, ngày 15/10/2007 của Ban Bí thư (Khoá X) “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới” Qua

thực tiễn lãnh đạo, nhận thức của Đảng về BCV ngày càng hoàn thiện và sáng

tỏ Theo đó, “Báo cáo viên của Đảng là người do cấp ủy đảng lựa chọn và

quyết định công nhận, thực hiện công tác TTM trong cán bộ, đảng viên và

Trang 39

nhân dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng; hướng dẫn, quản lý và tổchức hoạt động của Ban Tuyên giáo cùng cấp và cấp trên” [18, tr.17] Đội ngũBCV của Đảng được tổ chức thành hệ thống dọc, hoàn chỉnh từ Trung ươngđến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn, đảng bộ cơ sở và tương đương.

Đội ngũ BCV quân đội là một bộ phận hợp thành đội ngũ BCV của Đảng,được tổ chức theo hệ thống dọc từ toàn quân đến đại đội và đơn vị tương đương.Cấp toàn quân có Phòng Báo cáo viên thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chínhtrị Cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, Bộ đội Biên phòng, binh chủng, họcviện, nhà trường, Bộ Tổng Tham mưu và các tổng cục có một BCV chuyêntrách Các đơn vị trực thuộc Bộ còn lại; cấp sư đoàn, bộ chỉ huy quân sự tỉnh, bộchỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh; cấp lữ đoàn, trung đoàn, ban chỉ huy quân sựquận và các đơn vị tương đương có một BCV bán chuyên trách do trợ lý tuyênhuấn đảm nhiệm Cấp tiểu đoàn, đại đội và tương đương, BCV kiêm nhiệm làCTV hoặc CTV phó đơn vị đảm nhiệm

Theo đó, có thể quan niệm: Đội ngũ BCV ở các BĐCL là tập hợp BCV của Đảng trong Quân đội, thuộc biên chế của các BĐCL; là những cán

bộ có đủ các tiêu chuẩn, được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc giao nhiệm

vụ BCV chuyên trách, BCV bán chuyên trách và BCV kiêm nhiệm; là lực lượng nòng cốt tiến hành TTM cho bộ đội ở các BĐCL và nhân dân trên địa bàn đóng quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy, chính ủy, CTV, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp.

Quan niệm chỉ ra:

Một là, đội ngũ BCV ở các BĐCL là tập hợp BCV của Đảng trong Quân đội, thuộc biên chế của các BĐCL.

Đội ngũ BCV được hiểu một cách đơn giản nhất là tập hợp của nhiềuBCV Một BCV không để trở thành đội ngũ mà phải có nhiều BCV mới đủ điềukiện để hình thành đội ngũ BCV Mặt khác, đội ngũ BCV không phải là tập hợpmột cách cơ học nhiều BCV mà là tập hợp những BCV theo một trật tự nhất định

Trang 40

trong khuôn khổ tổ chức của các cơ quan, đơn vị, có sự liên kết, gắn bó chặt chẽtrên cơ sở nguyên tắc, cơ chế, quy chế hoạt động, chương trình, nội dung TTM.

Hiện nay, có nhiều lực lượng đảm nhiệm công tác tuyên truyền thuộccác hệ thống tổ chức khác nhau và dưới các góc độ chuyên môn như: đội ngũBCV của Đảng, BCV pháp luật, tuyên truyền viên Việc phân biệt các nhómcán bộ này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy vai trò của các tổ chức,lực lượng; phân công nhiệm vụ rõ ràng, tránh chồng chéo, trùng lặp; tạo nênsức mạnh tổng hợp trong công tác tuyên truyền trong quân đội

BCV pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan được cơquan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định công nhận để kiêm nhiệm thựchiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật BCV pháp luật được tổ chức ở

ba cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và hoạt động gắn liền với hệ thống hànhchính nhà nước, theo các quy định của Luật và các văn bản của Bộ Tư pháp

Tuyên truyền viên là lực lượng TTM được tổ chức ở cấp cơ sở, không

có hệ thống dọc từ Trung ương Về nguyên tắc, mọi cán bộ, đảng viên đều làtuyên truyền viên, trực tiếp tham gia tuyên truyền đường lối, quan điểm củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời thông tin và định hướng

tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ở nơi công tác và cư trú về các vấn

đề quan trọng trong nước và trên thế giới

Hai là, đội ngũ BCV ở các BĐCL được tổ chức theo hệ thống

từ quân đoàn đến đại đội; có BCV chuyên trách, BCV bán chuyên trách và BCV kiêm nhiệm.

Căn cứ Quy chế công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam [129] do Tổng cục Chính trị ban

hành, đội ngũ BCV ở các BĐCL được tổ chức theo hệ thống dọc hoàn chỉnh

từ cấp quân đoàn đến cấp đại đội và đơn vị tương đương; có BCV chuyêntrách, BCV bán chuyên trách và BCV kiêm nhiệm Cụ thể như sau: cấp quânđoàn có BCV chuyên trách; cấp sư đoàn, cấp lữ đoàn, trung đoàn và các đơnvị tương đương có BCV bán chuyên trách, do trợ lý tuyên huấn đảm nhiệm;

Ngày đăng: 08/04/2021, 06:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Quyết định số 518-QĐ/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc ban hành quy chế hoạt động báo cáo viên của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 518-QĐ/BTGTW củaBan Tuyên giáo Trung ương về việc ban hành quy chế hoạt động báocáo viên của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2011
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Hướng dẫn số 31-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc xây dựng, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên các cấp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 31-HD/BTGTW củaBan Tuyên giáo Trung ương về việc xây dựng, kiện toàn đội ngũ báocáo viên các cấp
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2011
3. Ban Tư Tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), Chương trình nghiệp vụ công tác tuyên truyền miệng và báo cáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nghiệp vụcông tác tuyên truyền miệng và báo cáo viên
Tác giả: Ban Tư Tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2002
4. Trần Danh Bích (2005), Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ chủ trì công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị cơ sở, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực hoạt độngthực tiễn của cán bộ chủ trì công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vịcơ sở
Tác giả: Trần Danh Bích
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2005
5. Dư Xuân Bình (2009), Nghiên cứu đổi mới công tác tạo nguồn và tuyển chọn học viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng cán bộ quân đội trong giai đoạn mới, Đề tài khoa học KXB. 04 - 05, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đổi mới công tác tạo nguồn và tuyểnchọn học viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với sửdụng cán bộ quân đội trong giai đoạn mới
Tác giả: Dư Xuân Bình
Năm: 2009
6. Bộ Quốc phòng (2009), Thông tư số 28/2009/TT-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện chế độ đối với báo cáo viên của Đảng trong quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 28/2009/TT-BQP của Bộ trưởng BộQuốc phòng hướng dẫn thực hiện chế độ đối với báo cáo viên củaĐảng trong quân đội
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2009
7. Bộ Quốc phòng (2012), Thông tư số 103/2012/TT-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với báo cáo viên các cấp trong quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 103/2012/TT-BQP của Bộ trưởng BộQuốc phòng hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm đối vớibáo cáo viên các cấp trong quân đội
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2012
8. Bộ Quốc phòng (2013), Quyết định số 2677/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2677/QĐ-BQP của Bộ trưởng BộQuốc phòng về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chínhtrị tại đơn vị trong giai đoạn mới”
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2013
9. Phạm Đình Bộ (2007), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chínhtrị cấp phân đội binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiệnnay
Tác giả: Phạm Đình Bộ
Năm: 2007
10. P.I.Các-pen-cô (1981), Công tác đảng - công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô-viết, bản dịch tiếng Việt (người dịch Lê Bá Phán), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đảng - công tác chính trị trong các lựclượng vũ trang Xô-viết
Tác giả: P.I.Các-pen-cô
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1981
11. Dale Carnegie (2013), Nghệ thuật nói chuyện trước công chúng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật nói chuyện trước công chúng
Tác giả: Dale Carnegie
Nhà XB: Nxb Vănhóa Thông tin
Năm: 2013
12.Bunđuong Cayxỏn (2008), Chất lượng công tác tư tưởng của các Đảng bộ tỉnh đồng bằng miền Trung nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng công tác tư tưởng của các Đảng bộtỉnh đồng bằng miền Trung nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Tác giả: Bunđuong Cayxỏn
Năm: 2008
13.Bảo Châu (2019), “Vĩnh Phúc: Tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên”, Tạp chí Tuyên giáo, số 12, tr.45-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh Phúc: Tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của mỗicán bộ, đảng viên”, "Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Bảo Châu
Năm: 2019
14. Công tác tuyên truyền miệng ở đơn vị cơ sở, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền miệng ở đơn vị cơ sở
Nhà XB: Nxb Văn hoá
15.Cục Chính trị Quân đoàn 2 (2017), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉthị 17-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới
Tác giả: Cục Chính trị Quân đoàn 2
Năm: 2017
16.Cục Chính trị Quân đoàn 3 (2017), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉthị 17-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới
Tác giả: Cục Chính trị Quân đoàn 3
Năm: 2017
17.Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (2012), Sổ tay báo cáo viên Quân đội nhân dân Việt Nam (2012-2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay báo cáo viên Quân độinhân dân Việt Nam (2012-2015)
Tác giả: Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị
Năm: 2012
18.Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (2015), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ côngtác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2015
19.Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (2016), Báo cáo kết quả công tác tuyên huấn năm 2015, phương hướng nhiệm vụ công tác tuyên huấn năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công táctuyên huấn năm 2015, phương hướng nhiệm vụ công tác tuyên huấnnăm 2016
Tác giả: Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị
Năm: 2016
20.Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (2017), Báo cáo kết quả công tác tuyên huấn năm 2016, phương hướng nhiệm vụ công tác tuyên huấn năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công táctuyên huấn năm 2016, phương hướng nhiệm vụ công tác tuyên huấnnăm 2017
Tác giả: Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w