TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANHNGUYỄN TRẦN PHONG NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN TRẦN PHONG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN TRẦN PHONG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ NGỌC VÂN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Luận văn nghiên cứu là của cá nhân dựa trên cơ sở lý thuyết được học tập vàqua tham khảo tình hình thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh Các số liệu, bảng biểu, sơ đồ
và những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thựctiễn nghiên cứu và kinh nghiệm phù hợp với địa phương Các thông tin trích dẫntrong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thai Nguyên, ngày tháng
́,
Tác giả luận văn
Nguyễn Trần Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi xin trân trọng gửi lờicảm ơn đến Ban Giám hiệu, phòng Quản lý đào đạo Sau đại học của Trường Đạihọc Kinh tế & QTKD Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quátrình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Thị Ngọc Vân - người đãtận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến lãnh đạo và một số ban ngành liên quan đãtạo điều kiện thuận lợi, cung cấp cho tôi số liệu, kiến thức, kinh nghiệm thực tế vềhiệu quả dự án đầu tư công trình xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước trên địabàn tỉnh Quảng Ninh
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí, đồng nghiệp, bè bạn và gia đình đãtạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đónggóp trong quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Trần Phong
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của Luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn Ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng 4
1.1.1 Dự án đầu tư 4
1.1.2 Đầu tư xây dựng 7
1.1.3 Khái niệm vốn NSNN và hiệu quả dự án đầu tư xây dựng 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng vốn đầu tư xây dựng ở một số nước và một số địa phương trong nước 29
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước 29
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 33
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Quảng Ninh 37
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 38
2.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 38
Trang 62.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 38
2.2.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu 39
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 43
3.1 Tổng quan về tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Quảng Ninh 43
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 43
3.1.2 Đặc điểm dân cư và phân bổ hành chính 45
3.1.3 Cơ sở hạ tầng của Tỉnh 45
3.1.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua 48
3.2 Tình hình ĐTXD từ nguồn vốn NSNN ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2010 - 2014 49
3.2.1 Kết quả đầu tư từ nguồn vốn NSNN 49
3.2.2 Phân cấp quản lý dự án các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn NSNN trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh 50
3.2.3 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý dự án đầu tư từ NSNN 52
3.3 Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư công trình xây dựng từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2014 53
3.3.1 Phân tích kết quả thực hiện các dự án đầu tư 53
3.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện các dự án đầu tư 54
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 75
3.4.1 Các yếu tố vĩ mô 75
3.4.2 Các yếu tố vi mô 76
3.5 Đánh giá chung về thực trạng đầu tư công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 78
3.5.1 Những kết quả đạt được 78
3.5.2 Những hạn chế 79
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 86
Trang 7Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 90
4.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2020 tầm nhìn đến năm 2030 90
4.1.1 Định hướng phát triển 90
4.1.2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian tới của Tỉnh 91
4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư công trình xây dựng bằng nguồn vốn NSNN 92
4.2.1 Đổi mới công tác quản lý nhằm giảm thất thoát ngân sách đầu tư XDCB .93
4.2.2 Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và quy hoạch đầu tư 94
4.2.3 Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá đầu tư 94
4.2.4 Hoàn thiện và nâng cao năng lực Chủ đầu tư và Ban quản lý dự án 95
4.2.5 Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp, quản lý trong công tác đầu tư XDCB 97
4.2.6 Hoàn thiện quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 99
4.2.7 Hoàn thiện quản lý dự án trong giai đoạn kết thúc đầu tư 104
4.3 Một số kiến nghị 110
4.3.1 Về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách 110
4.3.2 Đổi mới quản lý giá, hạn chế tình trạng thất thoát trong khâu mua sắm, khâu mà Kho bạc nhà nước hiện tại không có chức năng kiểm soát 112
4.3.3 Đối với UBND tỉnh Quảng Ninh 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 9Bảng 3.3 Đánh giá đáp ứng về tiến độ, chất lượng, chi phí 55
Bảng 3.4 Tổng hợp dự án hoàn thành đã phê duyệt quyết toán năm 2013 68
Bảng 3.5 Tổng hợp dự án hoàn thành đã phê duyệt quyết toán năm 2014 69
Bảng 3.6 Kết quả thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn vốn đầu tư công trình xây dựng từ ngân sách nhà nước là một nguồnlực tài chính hết sức quan trọng của quốc gia đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn đầu tư phát triển và rấtquan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế và xây dựng đất nước Chính vì vậyĐảng và Nhà nước rất quan tâm đến đầu tư công trình xây dựng và việc quản lý, sửdụng nguồn vốn này như thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, tạo cơ sở
hạ tầng vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng kinh tế khu vực và thếgiới Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước về phát triển đất nước,tỉnh Quảng Ninh đã tận dụng được lợi thế so sánh tiềm năng về du lịch, phát triểncông nghiệp và sản xuất nông nghiệp tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diệntrên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và đã đạt được những thành tựu kinh
tế quan trọng, hoàn thành cơ bản mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đặtra
Để đạt được những thành công trên phải kể đến vai trò của công cụ trongviệc phân bổ, quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn lực nói chung và vai trò của cácgiải pháp kinh tế - tài chính nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngânsách đầu tư công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, Quảng Ninh có vị trí địa lý “chiến lược về chính trị, kinh tế”, hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên và xã hội mà cả nước có, được ví như “nước Việt Nam thu nhỏ”, là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Bắc của Tổ quốc,
phía tây giáp với tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnhHải Dương và Hải Phòng, phía bắc giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với cửa khẩuMóng Cái, Hoành Mô và cửa khẩu Bắc Phong Sinh, có đường biên giới với TrungQuốc dài 132,8 Km; là một tỉnh có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), được xem như một phần quan trọng trong tăngtrưởng kinh tế ở phía Bắc Hướng phát triển của Quảng Ninh được Chính phủ xác định:
“Hình thành các trung tâm lớn có ý nghĩa tạo vùng và giao lưu quốc tế hỗ trợ cho cáctỉnh Nam vùng Đồng bằng Sông Hồng, hình thành các trung tâm công nghiệp lớn, phát
Trang 11triển các ngành công nghệ cao thuộc các lĩnh vực điện tử, tin học, sản xuất vật liệumới, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, phát triển kinh tế cảng biển và điđầu trong hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài”.
Để phát triển kinh tế xã hội, hàng năm ngân sách Nhà nước bỏ ra một lượngvốn đáng kể cho các dự án xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở từ Trung ươngđến địa phương Việc quản lý dự án thuộc nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàntỉnh Quảng Ninh thời gian qua đã có tiến bộ, nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành vàtừng bước phát huy hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện từngbước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Song đến nay so với mặt bằngchung của các tỉnh trong cả nước, những kết quả mà Quảng Ninh đạt được về kinh
tế xã hội vẫn chưa xứng với tiềm năng hiện có
Để sử dụng nguồn vốn đầu tư vào xây dựng được đạt hiệu quả cao thì vấn đềnâng cao hiệu quả dự án đầu tư công trình xây dựng luôn thu hút sự quan tâm của cáccấp lãnh đạo tỉnh, thành phố, huyện thị, các ngành Bên cạnh những kết quả đạt đượcvẫn còn những tồn tại trong dự án đầu tư công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh, một sốcông trình chất lượng còn hạn chế, thời gian thực hiện còn bị kéo dài; chính vì vậy việcnâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư trên địa bàn là rất cần thiết
Là một cán bộ công tác tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, đã tiếp cậnvới thực tế và có những kinh nghiệm nhất định về quản lý kinh tế với các dự án đầu
tư công trình xây dựng, nên tôi chọn vấn đề “Nâng cao hiệu quả dự án đầu tư
công trình xây dựng bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản lý Kinh tế.
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về về đầu tư xây dựng và hiệu quả sửdụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng trong nền kinh tế quốc dân Vậndụng những cơ sở đó để phân tích thực trạng về hiệu quả dự án đầu tư xây dựng côngtrình đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dự án đầu tư các công trìnhxây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những lý luận về hiệu quả quản lý dự án đầu tư công trình xây dựng có sử dụng nguồn vốn NSNN
Trang 12- Phân tích, đánh giá thực trạng công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả dự án đầu tư công trình xây dựng bằngvốn Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho dự ánđầu tư công trình xây dựng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho
dự án đầu tư công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua(giai đoạn năm 2010-2014)
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của Luận văn
- Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn là tài liệugiúp tỉnh Quảng Ninh, các Ban Quản lý dự án của tỉnh và huyện, thành phố trực thuộctỉnh xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế có cơ sở khoa học
- Dựa trên kết quả phân tích, đánh giá thức trạng triển khai dự án đầu tư cáccông trình bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn đã đề xuất nhữnggiải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư công trình xây dựngbằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh trong những năm tới Kết quả nghiên cứu có thể đượcdùng làm cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả dự án đầu tư công trình xây dựng bằng nguồnvốn Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư xây dựng và hiệu quả sử
dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư công trình xây dựng
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dự án đầu tư công trình xây
dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 131.1.1.1 Khái niệm đầu tư và dự án đầu tư
a Khái niệm đầu tư
Đầu tư là một phạm trù đặc biệt đối với phạm trù kinh tế, xã hội của đấtnước Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, theo nghĩa rộng nhất, có thể hiểu là quátrình bỏ vốn, bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ để đạt được những mục tiêunhất định trong tương lai Trong hoạt động kinh tế, đầu tư mang bản chất kinh tế, đó
là quá trình bỏ vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mụcđích thu lợi nhuận
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc chủthể kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn vàtái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
b Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ côngviệc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựatrên nguồn vốn xác định (Theo điều 3 - Luật đấu thầu), hay nói cách khác dự án đầu
tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện vớiphương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra mộtthể thực mới
“Dự án đầu tư” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựngmới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăngtrưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch
vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)
1.1.1.2 Vai trò của dự án đầu tư
a Đối với nền kinh tế - xã hội
Dự án là một bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội cóvai trò thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng đảm bảo công bằng và phát triển bền vữngmôi trường sinh thái
Trang 14Dự án là cơ sở để thực hiện tốt các mục tiêu kế hoạch đặt ra thông qua cácchương trình và mối quan hệ này có tính hệ thống, logic Việc quản lý thực hiện tốtcác dự án là cơ sở để hoàn thành tốt mục tiêu các chương trình và chỉ tiêu kế hoạch
đã xây dựng
b Đối với nhà nước
Dự án là cơ sở để Nhà nước thẩm định và ra quyết định đầu tư Văn bản phêduyệt dự án của Nhà nước là cơ sở khẳng định tính khả thi của dự án về các mặtnhư: Tài chính, kinh tế - xã hội và môi trường đồng thời cũng là căn cứ cấp vốnthực hiện dự án
c Đối với chủ đầu tư
+ Dự án là cơ sở để ra quyết định đầu tư, để xin cấp phép được đầu tư
+ Dự án là cơ sở để tìm đối tác cùng thực hiện và huy động vốn đầu tư.+ Dự án là cơ sở để giải quyết các mối quan hệ và quyền lợi và nghĩa vụ giữacác bên tham gia thực hiện dự án
1.1.1.3 Đặc điểm của dự án đầu tư
Dự án có mục đích, kết quả xác định Điều này thể hiện tất cả các dự án đềuphải có kết quả được xác định rõ Kết quả này có thể là một tòa nhà, khu đô thị, mộtcon đường, một dây chuyền sản xuất… Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiệm vụcần thực hiện Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập Tập hợp các kết quả cụthể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án
Dự án chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Dự án là một sựsáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi Khi dự án kết thúc, kết quả dự án đượcchuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán
Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cungcấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước Dự án nào cũng có sự tham giacủa nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các nhà tư vấn Nhàthầu, các cơ quan quản lý Nhà nước Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu củachủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau
Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại duy nhất
Môi trường hoạt động “va chạm” quan hệ giữa các dự án là quan hệ chianhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau vàvới các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Trongquản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng”
Trang 15nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lạimâu thuẫn nhau… do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạpnhưng năng động.
Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn củahoạt động đầu tư phát triển Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư vàlao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thờigian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đều tư thường có độ rủi ro cao
1.1.1.4 Phân loại dự án đầu tư và quản lý Nhà nước đối với dự án XDCT
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Thủ tướngChính phủ quy định các dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số83/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 củaThủ tướng Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọichung là dự án) được phân loại như sau:
Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua
chủ trương và cho phép đầu tư; các sự án còn lại được phân thành 3 nhóm: Nhóm
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngânsách Nhà nước
1.1.1.5 Quy trình hình thành và kết thúc của dự án đầu tư
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõràng nên dự án có một Quy trình Quy trình của dự án bao gồm nhiều giai đoạn pháttriển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự
án Thông thường, các dự án đều có quy trình bốn giai đoạn, bao gồm: Giai đoạnhình thành dự án (Chủ trương lập dự án); giai đoạn nghiên cứu phát triển (lập dựán); giai đoạn thực hiện và quản lý; giai đoạn kết thúc
Trang 16Tiến trình công việc chính: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định quy mô vàmục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và cơ
sở thực hiện dự án
Có thể thấy trong các giai đoạn trên thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề
và quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án, dự án có phát huy tác dụngtối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác định mụctiêu đúng đắn Nội dung chủ yếu của giai đoạn chuẩn bị đầu tư là việc xây dựng dự
án đầu tư Trong đó vấn đề chất lượng, tính chính xác của các kết quả nghiên cứutính toán và dự án là quan trọng nhất
Đến giai đoạn thực hiện đầu tư thì vấn đề thời gian là vấn đề quan trọng hơn
vì đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến khả năng về vốn, thời
cơ cạnh tranh của sản phẩm Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khaithác sử dụng thì việc tổ chức quản lý và phát huy tác dụng các kết quả của dự án làquan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian tồn tại của dự án
1.1.2 Đầu tư xây dựng
1.1.2.1 Khái niệm đầu tư xây dựng
Đầu tư xây dựng: là hoạt động bỏ vốn vào việc xây dựng, mua sắm tài sản cốđịnh trong lĩnh vực sản xuất (nhà xưởng, thiết bị, máy móc ), trong lĩnh vực không sảnxuất vật chất (nhà ở, bệnh viện, trường học ) và trong lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng(cầu đường, bến cảng, sân bay…) bao gồm việc xây dựng các xí nghiệp, công trìnhmới, khôi phục, cải tạo, mở rộng các xí nghiệp, công trình sẵn có (không kể các chi phísửa chữa, kể cả sửa chữa lớn các tài sản cố định) Đầu tư xây dựng (ĐTXD) là yếu tốquan trọng nhất của quá trình tái sản xuất mở rộng, phát triển khoa học - kỹ thuật, tăngnăng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Nguồn vốnđầu tư cơ bản lấy từ quỹ tích luỹ trong thu nhập quốc dân, bao gồm vốn từ ngân sáchnhà nước, vốn tự có của xí nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế, kết hợp với vốn tíndụng, vốn của tư nhân, vốn hợp tác và vay nước ngoài; trong đó vốn đầu tư của NSNN
và vốn vay với chế độ ưu đãi của nước ngoài được tập trung chủ yếu vào những côngtrình lớn, chậm thu hồi vốn, nhất là những công trình kết cấu hạ tầng Xét về mặt tổngthể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các tài sản cố định(TSCĐ), nó bao gồm toàn bộ cơ sở kỹ thuật đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước
và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả từng thời kỳ
Xây dựng chỉ là một khâu trong hoạt động ĐTXD Xây dựng là các hoạtđộng cụ thể để tạo ra TSCĐ (như khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt…) Kết quảcủa hoạt động xây dựng là các TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất
Trang 17định Như vậy, xây dựng là một quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kếhoạch về các TSCĐ của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chấtcũng như không sản xuất vật chất Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho mộtquốc gia.
Tóm lại, ĐTXD là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựngtheo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất, tạo ra các TSCĐ vàtạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội
1.1.2.2 Vai trò, chức năng và đặc điểm của đầu tư xây dựng
a Vai trò của đầu tư xây dựng
Đầu tư xây dựng có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹthuật cho xã hội, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân mỗinước, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước Nếu không có đầu
tư thì không có phát triển
ĐTXD từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếptác động đến quá trình phát triển KT - XH, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch
vụ công cộng như hạ tầng KT - XH, an ninh - quốc phòng…mà các thành phần kinh
tế khác không muốn, không thể hoặc không đầu tư; các dự án đầu tư từ NSNN đượctriển khai ở các lĩnh vực quan trọng, then chốt nhất, đảm bảo cho nền KT - XH pháttriển ổn định theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhìn trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước, đầu tư vừa tác động đếntổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Về cầu, đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trong tổngcầu Đầu tư có tác động to lớn đến việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệcủa đất nước Đầu tư còn có mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy, nếu muốn tốc độ phát triểnkinh tế tăng cao thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu côngnghiệp và dịch vụ Ngoài ra đầu tư còn có tác động giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, xoá đói giảm nghèo, phát huy lợi thế so sánh vềtài nguyên, địa thế, kinh tế chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh
để làm đầu tàu cho vùng khác Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triểnkinh tế
ĐTXD có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, bởi vì nó tạo ra cácTSCĐ ĐTXD là hoạt động đầu tư để sản xuất ra của cải vật chất, đặc biệt là tạo cơ
sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội Tất cả các ngành kinh tế chỉ tăng nhanhkhi có ĐTXD, đổi mới công nghệ, xây dựng mới để tăng năng suất, chất lượng và
Trang 18hiệu quả sản xuất ĐTXD nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện chocác tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh,thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá ĐTXD sẽ tạo điều kiện để phát triển mới, đầu tư chiều sâu, mở rộngsản xuất ở các doanh nghiệp ĐTXD sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực, cảithiện cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển y tế,văn hoá và các mặt xã hội khác ĐTXD góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảmnghèo, tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện sống ở các địaphương nghèo, vùng sâu và vùng xa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các cơ sởsản xuất và dịch vụ, tạo ra những tác động tích cực cho vùng nghèo, người nghèo,
hộ nghèo, khai thác các tiềm năng của vùng để vươn lên phát triển kinh tế, xoá đóigiảm nghèo Từ đó, đảm bảo tỷ lệ cân đối vùng, miền, ngành nghề, khu vực và phân
bổ hợp lý sức sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh
ĐTXD của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có một vai trò hết sức quantrọng, bởi vì vốn dành cho ĐTXD của Nhà nước chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng vốnĐTXD của toàn xã hội Mặt khác ĐTXD của Nhà nước được tập trung vào nhữngcông trình trọng điểm, sử dụng nguồn vốn lớn, có khả năng tác động mạnh đến đờisống KT - XH Bên cạnh đó, cũng cần phải thấy rằng ĐTXD của Nhà nước nếukhông được quản lý một cách hợp lý sẽ gây ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quảhơn là ĐTXD từ các nguồn vốn khác
b Chức năng của đầu tư xây dựng
ĐTXD với mục tiêu là làm tăng trưởng và thay đổi kết cấu của TSCĐ, thực hiệnmột loạt chức năng, trong đó có các chức năng quan trọng thường được chú ý là:
* Chức năng tạo năng lực mới
Chức năng này tạo ra năng lực mới của ĐTXD Các năng lực mới do ĐTXDtạo ra có giá trị sử dụng cá thể và thông qua đó các nhu cầu cá thể được thoả mãn
Vì vậy chức năng năng lực tạo ra khả năng đảm bảo duy trì hoặc phát triển sản xuấtsản phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cuối cùng hoặc khả năng bảo vệ và cảitạo môi trường nhằm hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêudùng
Chức năng năng lực được coi là chức năng đầu tiên của ĐTXD Các chứcnăng khác được suy ra hoặc hỗ trợ chức năng này
Trang 19* Chức năng thay thế
Chức năng thay thế của ĐTXD biểu hiện khả năng thay đổi từng tổ hợp cácnhân tố sản xuất và khả năng thay thế lẫn nhau của từng nhân tố này do kết quả củaquá trình ĐTXD
Vai trò, chức năng thay thế của ĐTXD ngày càng tăng lên cùng với sự pháttriển khoa học kỹ thuật, vì bản chất của nó chính là việc sử dụng vật liệu và côngnghệ mới, cao cấp hơn thay thế các vật liệu cũ và công nghệ hiện đang dùng và vớiviệc hướng dần nền kinh tế vào loại hình phát triển chiều sâu mà đặc trưng là thaythế có hiệu quả các yếu tố sản xuất
* Chức năng thu nhập và sinh lời
Chức năng thu nhập và sinh lời của ĐTXD được xác định bởi khả năng tạo ra thu nhập và sinh lời do quá trình ĐTXD mang lại Chức năng thu nhập và sinh lời
ở đây chính là sự kết hợp của chức năng năng lực và chức năng thay thế để tạo điềukiện tăng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc gia Đặc trưng, kết quả thunhập là ở chỗ đánh giá công dụng của ĐTXD về phương diện ảnh hưởng của nó, tạo ramối quan hệ giá trị và thu nhập trong nền kinh tế Do đó, chức năng thu nhập và sinh lờicủa ĐTXD chính là tác động của nó trong việc tạo ra và phân phối thu nhập quốc dân.Nói một cách chính xác hơn là tạo ra và tăng thu nhập của từng chủ thể trong hệ thốngkinh tế, mà trước hết là ảnh hưởng đến tăng thu nhập của các tổ chức và cá nhân tham giavào quá trình đầu tư, làm ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận và tổng thu nhập của các tổchức kinh doanh và các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế
c Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng
Đặc trưng của xây dựng, đó là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, cónhững đặc điểm riêng, khác với những ngành sản xuất vật chất khác Xuất phát từnhững đặc thù riêng của ngành xây dựng, dự án đầu tư xây dựng có những đặc điểmriêng khác với sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác:
- Dự án ĐTXD có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sảnphẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện, địa chất, thuỷ văn, khí hậu Dự án ĐTXD là nhữngTSCĐ, có chức năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ khác cho xã hội, thường có vốn đầu tư lớn,
do nhiều người, thậm chí do nhiều cơ quan, đơn vị khác cùng tạo ra
Dự án ĐTXD không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn mang tínhnghệ thuật, phản ánh trình độ kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật của từng giai đoạnlịch sử nhất định của một đất nước
Trang 20Quá trình xây dựng bị tác động bởi nhiều yếu tố tự nhiên như tình hình địachất thuỷ văn, ảnh hưởng của khí hậu thời tiết, mưa bão, động đất Do vậy, để giảmthiểu lãng phí, thất thoát do nguyên nhân khách quan bởi điều kiện tự nhiên, côngtác điều tra khảo sát, chuẩn bị đầu tư phải thật kỹ càng, chính xác.
Trong ĐTXD, chu kỳ sản xuất thường dài và chi phí sản xuất thường lớn Vìvậy, chọn công trình để bỏ vốn thích hợp nhằm giảm mức tối đa thiệt hại do côngtrình xây dựng dở dang là một thách thức lớn đối với các nhà thầu
Để thực hiện một dự án ĐTXD phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất nhiềuđơn vị tham gia thực hiện Trên một công trường, có thể có hàng chục đơn vị làmcác công việc khác nhau, nhưng các đơn vị này cùng hoạt động trên một không gian
và thời gian, vì vậy trong tổ chức thi công cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau bằngcác hợp đồng giao nhận thầu xây dựng Tuy vậy, hiện nay cách thức giao nhận thầuchưa được cải tiến, giá bán được định trước khi chế tạo sản phẩm, tức là trước khinhà thầu biết giá thành thực tế của mình, việc ước lượng đúng đắn giá cả và phươngtiện thi công rất khó khăn vì phải dựa trên những giả thiết mà rất có thể khi thi côngthực tế bị phủ định
Như vậy, đặc điểm này đòi hỏi cần có giải pháp tài chính để kiểm tra việc sửdụng và quản lý vốn đầu tư ngay từ khâu đầu tiên là xác định chủ trương đầu tư, lựachọn địa điểm, điều tra khảo sát để dự án đầu tư đảm bảo tính khả thi
- Dự án ĐTXD có quy mô lớn, kết cấu phức tạp
Dự án ĐTXD với tư cách là công trình xây dựng khi đã hoàn thành đưa vào sửdụng, đưa ra trao đổi mua bán trên thị trường là TSCĐ, không bé nhỏ như các loại sảnphẩm trong sản xuất công nghiệp Kết cấu của sản phẩm phức tạp, một công trình cóthể gồm nhiều hạng mục công trình, một hạng mục có thể bao gồm nhiều đơn vị côngtrình Với quy mô lớn và phức tạp của dự án ĐTXD dẫn đến chu kỳ sản xuất dài Từđặc điểm này đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn Muốn đáp ứng được điều đó, các quốcgia phải phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ nềnkinh tế, huy động mọi nguồn lực trong các tầng lớp dân cư, đồng thời phải tìm mọi giảipháp để thu hút các nguồn lực nước ngoài như vốn ODA, FDI, NGO…
Xuất phát từ đặc điểm này, yêu cầu trong công tác quản lý kinh tế, quản lý tàichính phải có kế hoạch, tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rútngắn thời gian xây dựng nhằm giảm chi phí quản lý, hạ giá thành xây dựng
- Dự án ĐTXD có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác
Trang 21Dự án ĐTXD sản xuất không theo dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình
dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, địađiểm nơi xây dựng công trình Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án
Quá trình ĐTXD gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và giaiđoạn kết thúc đầu tư, đưa dự án vào vận hành khai thác
Xây dựng dự án và thực hiện dự án là hai giai đoạn có thời gian dài nhưng lạikhông tạo ra sản phẩm, đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn giữa đầu tư vàtiêu dùng Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốnnhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này Muốn nâng cao hiệu quảvốn ĐTXD cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm, nhằm đưa nhanhcác dự án đầu tư vào khai thác sử dụng
Khi xét hiệu quả vốn ĐTXD cần quan tâm xem xét cả 3 giai đoạn của quátrình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện đầu tư,tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà không chú ý thời gian khai thác dự án.Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do ĐTXD mang lại là hết sức cần thiết nên phải cóphương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự xây dựng
- Dự án ĐTXD mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá nghệthuật và quốc phòng
Đặc điểm này đòi hỏi người quản lý phải có cách nhìn toàn diện, nếu không
có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất cân đối trong quan hệ phối hợp đồng
bộ giữa các khâu công tác từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng nhưquá trình thi công
Ngoài những đặc điểm của dự án ĐTXD nói chung thì dự án ĐTXD từnguồn vốn NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốnĐTXD bị tách rời nhau
Xuất phát từ đặc điểm này mà trong quản lý vốn ĐTXD của NSNN dễ bị thấtthoát Nếu các chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không ngừng nâng cao tinh thầntrách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không đáp ứng yêu cầu quản lý; Nhànước không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bằng những cơ chế chính sáchràng buộc trách nhiệm thì thất thoát lãng phí trong ĐTXD thuộc vốn NSNN làkhông thể tránh khỏi
1.1.2.3 Các giai đoạn của quá trình đầu tư xây
dựng a Các giai đoạn của dự án đầu tư
Một vòng đời dự án có 04 giai đoạn ứng 04 giai đoạn quản lý dự án:
Trang 22- Quản lý dự án ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
+ Lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư, báo cáo kinh tế kỹ thuật
+ Đánh giá hiệu quả dự án và xác định tổng mức đầu tư
+ Xây dựng phương án đền bù, giải phóng mặt bằng
+ Xây dựng và biên soạn toàn bộ công việc của công tác quản lý dự án xây dựng theo từng giai đoạn của quản lý đầu tư xây dựng công trình
- Quản lý dự án ở giai đoạn thực hiện dự án:
+ Tư vấn, tuyển chọn nhà thầu thiết kế và các nhà tư vấn phụ
+ Quản lý hợp đồng tư vấn (soạn thảo hợp đồng, phương thức thanh toán).+ Triển khai công tác thiết kế và các thủ tục xin phê duyệt Quy hoạch
+ Chuẩn bị cho giai đoạn thi công xây dựng
+ Xác định dự toán, tổng dự toán công trình
+ Thẩm định dự toán, tổng dự toán
+ Lập hồ sơ mời thầu và hồ sơ đấu thầu
- Quản lý dự án ở giai đoạn thi công xây dựng:
+ Quản lý và giám sát chất lượng
+ Lập và quản lý tiến độ thi công
+ Quản lý chi phí dự án (tổng mức đầu tư, dự toán, thanh toán vốn) +
Quản lý các hợp đồng (soạn hợp đồng, phương thức thanh toán)
+ Nghiệm thu bàn giao công trình
+ Lập hồ sơ quyết toán công trình
+ Bảo hành, bảo trì và bảo hiểm công trình
Một dự án được coi là hiệu quả khi quá trình thực hiện đầu tư phải đáp ứng được những yêu cầu về tiến độ, chất lượng và chi phí.
- Dự án phải đáp ứng được tiến độ như kế hoạch đã đề ra
Đây là vấn đề quan trọng bậc nhất, bởi lẽ kế hoạch thực hiện đã được đề cậpđến trong dự án đầu tư và thời gian để thực hiện dự án đầu tư là một trong nhữngyếu tố đầu vào để phân tích hiệu quả tài chính của dự án, việc không đáp ứng đượctiến độ sẽ làm phát sinh thêm nhiều chi phí có liên quan, nhiều rủi ro có thể xảy rakhông ngoài trừ trường hợp dự án đầu tư không kết thúc, không thể thực hiện được
do tiến độ thi công kéo dài
Trang 23- Dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt chất lượng
Dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt chất lượng như đã được mô tảtrong bản vẽ thiết kế Đây cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng trong việc thực hiệnđầu tư, nếu không đảm bảo chất lượng của dự án thì không thể có được “sản phẩm dựán” có chất lượng Có nghĩa là dự án sẽ không thể phát huy được hết hiệu quả như đã
đề cập trong dự án đầu tư; không đảm bảo chất lượng sẽ dẫn đến sự lãng phí, thất thoáttài sản; có thể phát sinh nhiều chi phí để sửa chữa cải tạo cũng như có thể dự án sẽkhông thể đi vào vận hành và khai thác sử dụng được Điều này dẫn đến dự án đầu tư bịphá sản, lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như xã hội
- Dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về mặt chi phí
Các chi phí vượt dự toán chi phí ban đầu xuất phát từ những nguyên nhân docông tác khảo sát, thiết kế không kỹ, do công tác định giá không chính xác làm tăngthêm các chi phí mà không tăng quy mô đầu tư Có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọngđến hiệu quả của dự án đầu tư Khi mà lập và phân tích hiệu quả tài chính thì tất cảcác khoản chi phí đã được đề cập tới trong tổng mức đầu tư TMĐT này là cơ sởquan trọng để phân tích hiệu quả tài chính của dự án Các chi phí phát sinh vượttổng mức đầu tư có thể sẽ làm giảm hiệu quả tài chính của dự án trong nhiều trườnghợp thì làm cho dự án đầu tư không có hiệu quả
* Giai đoạn kết thúc đầu tư
Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai khác sử dụng, gồm nhữngviệc như sau:
+ Nghiệm thu, bàn giao công trình
+ Thực hiện việc kết thúc hoạt động xây dựng công trình
+ Hướng dẫn sử dụng công trình và vận hành công trình
+ Tạm ứng, thanh quyết toán vốn đầu tư
Trách nhiệm của các bên như chủ đầu tư, Nhà thầu trong việc nghiệm thu, bàn giao, đưa công trình vào sử dụng:
Mức tiền bảo hành công trình xây dựng:
Để thực hiện tốt giai đoạn kết thúc đầu tư cần phải chú ý đến các nhân tố sau đây:
Trang 24+ Nhân tố con người: cần có các cán bộ đủ năng lực, công tâm, làm việc khách quan, khoa học và chính xác;
+ Phải sử dụng các trang thiết bị hiện đại để kiểm nghiệm chất lượng vật tư,vật liệu, thiết bị, độ vững của công trình, sự đáp ứng về mặt tiêu chuẩn kỹ thuật đối vớicác thiết bị
+ Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa đơn vị thi công, giám sát, chủ đầu tư, cơquan cấp trên, cơ quan thanh toán để tiến hành công tác nghiệm thu bàn giao được tiếnhành đúng tiến độ đã đặt ra
b Phân loại dự án đầu tư:
Trên thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng về cấp độ loại hình, quy mô và thờihạn Do vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta có thể phân loại
dự án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau Các dự án đầu tư xây dựng công trình(sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau:
* Theo quy mô và tính chất:
Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trươngđầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định tại Nghịđịnh 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xâydựng công trình
* Theo nguồn vốn đầu tư:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
1.1.2.4 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng
Có 2 loại hình thức quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng Căn cứ điềukiện năng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định lựa chọn một trong các hìnhthức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sau:
- Chủ đầu tư xây dựng công trình thuê tổ chức Tư vấn QLDA đầu tư
XDCT; - Chủ đầu tư xây dựng công trình trực tiếp QLDA đầu tư XDCT
a Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Việc thu được sản phẩm tốt, chất lượng cao đảm bảo kỹ mỹ thuật, phát huyhiệu quả giá cả hợp lý chính là bài toán đối với các Chủ đầu tư Để làm được điều
Trang 25này thì không thể phủ nhận được vai trò công tác quản lý dự án, do đó Chủ đầu tư cần cân nhắc việc lựa chọn hình thức quản lý dự án cho phù hợp.
Chủ đầu tư trực tiếp QLDA là hình thức Chủ đầu tư sử dụng bộ máy cơ quan, đơn vị của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư với 2 mô hình sau:
- Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộmáy hiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án, mô hình này được ápdụng với dự án quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, khi bộ máy của Chủ đầu
tư kiêm nhiệm được việc quản lý thực hiện dự án
- Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban QLDA để giúp mình trực tiếp tổ chứcquản lý thực hiện dự án Với hình thức này thì phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Ban QLDA do Chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc Chủ đầu tư Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban QLDA do Chủ đầu tư giao
+ Ban QLDA có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân của Chủ đầu tư
để tổ chức quản lý thực hiện dự án
+ Cơ cấu tổ chức của Ban QLDA gồm có Giám đốc, các phó giám đốc, vàlực lượng chuyên môn, nghiệp vụ Cơ cấu bộ máy phải phù hợp với nhiệm vụ đượcgiao và đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và tiết kiệm tối đachi phí Các thành viên của Ban QLDA làm việc theo chế độ chuyên trách hoặckiêm nhiệm
+ Ban QLDA hoạt động theo quy chế do Chủ đầu tư ban hành, chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao
+ Chủ đầu tư phải cử người có trách nhiệm để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra.Ban QLDA thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ để đảm bảo dự án được thực hiện đúngnội dung và tiến độ đã được phê duyệt
b Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý thực hiện dự án.
QLDA là hình thức Chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tưvấn QLDA Trong trường hợp này Chủ đầu tư phải cử cán bộ phụ trách đồng thờiphân giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện hợp đồng của
Tư vấn quản lý dự án
+ Chủ đầu tư thuê Tư vấn: Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản
lý điều hành dự án thì tổ chức Tư vấn đó phải thành lập một tổ chức bộ máy có đủđiều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Tráchnhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏathuận giữa hai bên Tư vấn quản lý dự án được thuê ở tổ chức, cá nhân tham gia
Trang 26quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký củachủ đầu tư.
Với hình thức Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án ở tỉnhQuảng Ninh ít được áp dụng vì hiện nay hầu hết các đơn vị tư vấn trên điạ bàn tỉnhQuảng Ninh chưa đủ năng lực để thực hiện
1.1.3 Khái niệm vốn NSNN và hiệu quả dự án đầu tư xây dựng
1.1.3.1 Khái niệm vốn NSNN
Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các sản phẩm nhằm mục tiêu thunhập trong tương lai Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi làvốn đầu tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư
Bất kỳ một quá trình tăng trưởng hoặc phát triển kinh tế nào muốn tiến hànhđược đều phải có vốn đầu tư Vốn đầu tư trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàngđầu đối với tất cả các dự án đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước
Như vậy, vốn đầu tư (VĐT) xây dựng bao gồm: chi phí cho việc khảo sát,quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí xây dựngcông trình, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác theo một dự ánnhất định
Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được
sử dụng cho hoạt động ĐTXD được gọi là VĐT xây dựng từ NSNN
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơquan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảođảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước NSNN được quản lý thốngnhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phâncấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm
Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐT xây dựng từNSNN được hình thành từ các nguồn sau:
+ Vốn trong nước của các cấp ngân sách nhà nước (vốn của NSNN cân đốicho đầu tư xây dựng của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương…)
+ Nguồn vốn vay nợ nước ngoài của Chính phủ cho ĐTXD và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nước
Vốn NSNN phân làm hai cấp quản lý đó là vốn thuộc ngân sách Trung ương
và vốn thuộc ngân sách địa phương
Trang 27+ VĐT xây dựng của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoảnthu của ngân sách trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia.Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng.
+ VĐT xây dựng của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoảnthu ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địaphương đó Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh,huyện, xã) quản lý thực hiện
Nguồn VĐT xây dựng của NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các
dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có tác dụngchung cho nền KT - XH mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặckhông muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN cótính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ Tuynhiên, trong nguồn vốn NSNN thì phải loại nguồn vốn không được đưa vào kếhoạch và cấp phát theo kế hoạch của Nhà nước (vốn để lại tại đơn vị), khả năngquản lý, kiểm soát của Nhà nước gặp khó khăn hơn Vốn ngoài nước thường phụthuộc vào điều kiện nhà tài trợ đặt ra, cũng làm cho việc quản lý bị chi phối Đốivới viện trợ không hoàn lại thường do phía nước ngoài điều hành nên giá thành cao
VĐT của NSNN dùng để đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc các đối tượng sau:
+ Các dự án kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng - an ninh không có khảnăng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng phân cấp chi NSNN cho đầu tư phát triển nhưcác công trình giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, đào tạo, y tế, trồng rừng phòng hộ, rừng đầunguồn…
+ Các dự án thuộc diện nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng khoa học, công nghệ mới…
+ Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo Quy định của pháp luật
+ Các dự án về quy hoạch (quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương; Quy hoạch phát triển ngành; Quy hoạch phát triểnvùng; Quy hoạch đô thị và phát triển nông thôn…
+ Các dự án được bố trí bằng vốn chi sự nghiệp trong dự toán NSNN để sửachữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có, có giá trị từ 100 triệu đồngtrở lên, nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị TSCĐ (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạngmục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp).+ Các dự án đầu tư khác theo quyết định của Chính phủ
Trang 281.1.3.2 Khái niệm về hiệu quả của dự án đầu tư
Do nguồn lực khan hiếm, có hạn nên nhu cầu đầu tư luôn luôn cao hơn khảnăng đầu tư của nền kinh tế Điều này đòi hỏi VĐT phải được sử dụng có hiệu quảtrong một thời gian nhất định với một khối lượng VĐT có hạn, nhưng lại có thể thoảmãn tốt nhất nhu cầu đầu tư nhằm góp phần thoả mãn tối đa nhu cầu xã hội Việcđầu tư vào các dự án như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề quan trọng
Như vậy, hiệu quả của dự án đầu tư (DAĐT) là toàn bộ mục tiêu đề ra của
dự án, được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạtđược) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự
án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án) [9]
Lợi ích kinh tế của DAĐT thể hiện ở mức độ thực hiện các mục tiêu kinh tếcủa quá trình ĐTXD nhằm thoả mãn chủ yếu các nhu cầu vật chất của xã hội Do
đó, lợi ích kinh tế biểu hiện cụ thể về sự thay đổi cán cân thương mại, ở mức độ lợinhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sản xuất…
Ngoài việc thực hiện các mục tiêu kinh tế nói trên DAĐT còn thực hiện cácmục tiêu xã hội khác như mục tiêu chính trị, mục tiêu an ninh quốc phòng, văn hoá
xã hội…Theo đó, lợi ích xã hội của DAĐT còn bao gồm những sự thay đổi về điềukiện sống, điều kiện lao động, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi côngcộng, chăm sóc y tế và quyền bình đẳng…
Dựa vào quá trình quản lý ĐTXD, ta thấy rằng từ khi có VĐT, tiến hànhthực hiện đầu tư sẽ tạo một khối lượng TSCĐ Khi các TSCĐ này được sử dụng(giai đoạn khai thác dự án) sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụnhất định Lợi ích của VĐT cho các dự án chỉ xuất hiện khi mà sản phẩm hàng hoádịch vụ được sử dụng, thoả mãn nhu cầu theo mục tiêu đã định
Để hoạt động đầu tư có hiệu quả, cần có chiến lược đầu tư dài hạn đúng quyhoạch (quy hoạch ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch KT -XH…) phùhợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, KT - XH… của đất nước Trên cơ sở quyhoạch được phê duyệt để xác định bước đi phù hợp với mục tiêu chiến lược, từ đó
bố trí kế hoạch đầu tư cho các dự án theo ngành và theo vùng, đảm bảo cân đối, hợp
lý với khả năng vốn cho phép Chất lượng và hiệu quả của dự án phụ thuộc vào việcxác định quyền hạn, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân từtrung ương đến địa phương trong việc ra quyết định liên quan đến chủ trương đầu tưnhư việc huy động vốn đầu tư, thẩm định và ra quyết định đầu tư, phân cấp quản lý
và giao kế hoạch, cơ chế đấu thầu, giải ngân và quyết toán…
Trang 291.1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN cho ĐTXD
Vốn ĐTXD của NSNN là thuộc quyền sở hữu Nhà nước Nhà nước là chủthể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành cho ĐTXD và là người
đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế dựtoán Song quyền sử dụng vốn ĐTXD Nhà nước lại giao cho một tổ chức làm chủđầu tư, thành lập các Ban quản lý dự án
Chủ đầu tư và các Ban quản lý dự án là người được Nhà nước giao tráchnhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của phápluật Do vậy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VĐT thuộc NSNN
a Công tác quy hoạch và kế hoạch đầu tư
Công tác quy hoạch và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư (gọi tắt là kế hoạchhoá đầu tư) là một nội dung của công tác kế hoạch hoá, là quá trình xác định mụctiêu của hoạt động đầu tư và đề xuất những giái pháp tốt nhất để đạt mục tiêu đó vớihiệu quả cao
Để nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT trong xây dựng thì công tác quy hoạch,
kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế Mục đích cuốicùng của hoạt động ĐTXD là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ
sở kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội Do đó, nhu cầu của nền kinh tế là xuất phátđiểm cho việc lập quy hoạch và công tác kế hoạch hoá và phải dựa vào định hướnglâu dài của Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật Kế hoạch đầu tư phảidựa trên khả năng huy động các nguồn lực trong và ngoài nước đảm bảo tính vữngchắc và có mục tiêu rõ rệt Công tác quy hoạch và kế hoạch phải đảm bảo tính khoahọc, tính đồng bộ và tính liên tục Có như vậy thì hiệu quả sử dụng VĐT trong xâydựng mới được nâng cao Ngược lại, nếu công tác quy hoạch, công tác kế hoạchtính khoa học không cao, không xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế, không cómục đích rõ rệt, không có tính bền vững thì dễ gây nên lãng phí thất thoát VĐTtrong xây dựng
Có thể khẳng định quy hoạch ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quảcủa hoạt động ĐTXD Thực tế ĐTXD trong những năm qua cho thấy, nếu quyhoạch yếu thì tình trạng các công trình không đưa vào sử dụng được hoặc thua lỗkéo dài như các nhà máy đường, các cảng cá, chợ đầu mối…Quy hoạch dàn trải sẽlàm cho việc ĐTXD manh mún không có hiệu quả Nhưng nếu không có quy hoạchthì hậu quả lại càng nặng nề hơn Vì vậy, khi đã có quy hoạch cần phải công bố quyhoạch để người dân biết để thực hiện theo quy hoạch Trên cơ sở quy hoạch, Nhà
Trang 30nước cần phải đưa vào đầu tư, khuyến khích các khu vực vốn khác tham gia đầu tư
để tránh tình trạng quy hoạch treo
b Các chính sách kinh tế
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sửdụng VĐT Đó là chính sách thương mại, chính sách đầu tư…Các chính sách điềutiết kinh tế vĩ mô, vi mô như chính sách tài khoá (chủ yếu là chính sách thuế vàchính sách chi tiêu của Chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ chính sách lãi suất
và mức cung tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao
Chính sách kinh tế góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điều kiệncho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, VĐT được sửdụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tưgóp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành một cơ cấu kinh
tế hợp lý hay không hợp lý cũng như tác động làm tăng hoặc giảm, thất thoát VĐT,theo đó mà VĐT được sử dụng có hiệu quả hay không có hiệu quả
Trong quá trình khai thác sử dụng, các đối tượng đầu tư hoàn thành, cácchính sách kinh tế tác động làm cho đối tượng này phát huy tác dụng tích cực haytiêu cực, tức là làm cho VĐT được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp
c Công tác tổ chức quản lý ĐTXD
Tổ chức, quản lý ĐTXD là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều nội dung nhằmkhuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiếnlược phát triển KT - XH trong từng thời kỳ nhất định để chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH - HĐH đất nước
Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn VĐT do Nhà nước quản lý, chốngthất thoát, lãng phí, bảo đảm dự án được xây dựng đúng quy hoạch, mỹ quan, bềnvững, đảm bảo môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trongĐTXD, áp dụng công nghệ tiên tiến với chi phí hợp lý, tổ chức quản lý chặt chẽtheo đúng trình tự ĐTXD đối với các dự án thuộc nguồn vốn NSNN, vốn tín dụng
do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Phân định rõtrách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tưvấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng, nhằm sử dụng có hiệu quảVĐT
Chất lượng của công tác quản lý đầu tư sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệmtránh thất thoát, lãng phí VĐT Chính do những thiếu sót trong công tác quản lý đầu
Trang 31tư và xây dựng đã làm cho VĐT bị thất thoát, lãng phí Một số đối tượng đầu tưhoàn thành mang lại hiệu quả sử dụng không như mong muốn về lợi ích KT - XHchính là những nguyên nhân làm cho ĐTXD kém hiệu quả.
d Tổ chức khai thác, sử dụng các dự án đầu tư
Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ tạo ra mộtkhối lượng cung ứng hàng hoá dịch vụ nhất định So sánh khối lượng hàng hoá dịch
vụ này với nhu cầu hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi ích kinh tế củaĐTXD
Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành có kết quả tốthay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Do tác động của việc chọn mô hình chiến lược CNH, tác động của việc sửdụng các chính sách kinh tế và tác động của các tổ chức quản lý quá trình đầu tư xâydựng Các nhân tố này tuỳ thuộc vào mức độ đúng đắn, phù hợp của chúng mà có tácđộng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các đối tượng của quá trình đầu tư hoànthành
- Các nhân tố thuộc bản thân của quá trình tổ chức, khai thác, sử dụng cácđối tượng đầu tư hoàn thành như công tác tổ chức điều hành, công tác nghiên cứu triểnkhai, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, công tác tiếp thị,chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm, công tác cải tiến mẫu mã, chấtlượng sản phẩm…
Nhóm nhân tố tổ chức khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành,với vị trí riêng có vai trò quan trọng trong sự tác động độc lập và theo mối liên hệtác động lẫn nhau giữa chúng có thể tác động tổng hợp đến hiệu quả sử dụng VĐT
Tóm lại, ĐTXD từ NSNN là tiền đề để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở
hạ tầng, thu hút các nguồn VĐT như vốn nước ngoài, vốn từ các doanh nghiệp, vốncủa các tầng lớp dân cư…đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế Nó là động lựcthúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội Do đó, việc nâng cao hiệu quả vốnĐTXD từ NSNN là một vấn đề đang được các cấp, các ngành quan tâm
1.1.3.4 Nguyên tắc và quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN
trong ĐTXD a Một số nguyên tắc đánh giá hiệu quả các dự án ĐTXD
Các dự án đầu tư phải được đánh giá theo các giác độ lợi ích khác nhau nhưlợi ích của chủ đầu tư, lợi ích của quốc gia và xã hội, lợi ích của tổ chức tài trợ cho
dự án, lợi ích của cư dân địa phương đặt dự án
Trang 32Khi đánh giá dự án đầu tư, các chủ đầu tư phải xuất phát trước hết từ lợi íchtrực tiếp của họ, tuy nhiên lợi ích này phải nằm trong khuôn khổ lợi ích chung củaquốc gia và cộng đồng, mà lợi ích này thể hiện trước hết ở đường lối chung pháttriển KT - XH của đất nước cũng như ở các luật có liên quan đến đầu tư, bảo vệ môitrường…
Khi phân tích đánh giá các dự án cần quan tâm đến một số nguyên tắc chủyếu sau:
* Kết hợp phân tích định tính với phân tích định lượng
Phân tích định tính dựa trên cơ sở phân tích và sử dụng các lí luận và kinhnghiệm đã đúc kết, chưa đi sâu vào tính toán định lượng
Ngay từ đầu chưa có các tính toán tốn kém đã có thể xác định được tính chất
và định hướng của dự án Không phải tất cả mọi vấn đề về KT - XH đều có thể tínhtoán thành số lượng cụ thể được và các định lượng thường là rất tốn kém Vì vậyphải dựa vào phân tích định tính
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở bước phân tích định tính thì các cơ sở khoa họccủa quyết định chưa toàn vẹn và chưa bảo đảm Do vậy, phải kết hợp với phân tíchđịnh lượng
Phân tích định lượng dựa trên các phép tính về số lượng cụ thể hoặc các công
cụ tính toán hiện đại
Trong nhiều trường hợp, với tổng số nguồn lực như nhau, nhờ các phươngpháp tính toán định lượng sẽ tìm ra tìm được các phương án có hiệu quả nhất Cáckết quả tính toán định lượng có khi làm thay đổi hẳn chủ trương ban đầu của chủđầu tư Ví dụ tính toán định lượng đã phát hiện ra rằng với chủ trương ban đầu làquá tốn kém, vượt quá khả năng của chủ đầu tư
Tuy nhiên việc phân tích định lượng đòi hỏi phải có các số liệu gốc bảo đảmchính xác để tính toán ban đầu, nếu không bảo đảm yêu cầu này thì phương pháptính toán dù chính xác đến mấy vẫn không có ý nghĩa, thậm chí còn có thể gây nêncác tác động nguy hiểm
* Kết hợp các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối với các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tương đối
Các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối như các chỉ tiêu: Tổng lợi nhuậnhàng năm, hiện giá của hiệu số thu chi (NPV), các chỉ tiêu hiệu quả tính theo sốtương đối như các chỉ tiêu: Tỉ suất lợi nhuận (lợi nhuận hàng năm tính cho mộtđồng vốn đầu tư), suất thu lợi nội tại (IRR)
Trang 33Nếu chỉ tiêu tổng lợi nhuận rất lớn, nhưng chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận tính chotrường hợp sau khi đã nộp thuế lại bé hơn ngưỡng hiệu quả cho phép, ví dụ lãi suấttrung bình của thị trường vốn, thì phương án vẫn không hiệu quả, vì không đủ lợinhuận để trả vốn vay, hoặc đem vốn đầu tư tài chính (cho vay) sẽ lợi hơn đầu tư cho
dự án
Nếu chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận rất lớn nhưng tổng số lợi nhuận lại rất bé thìhiệu quả kinh doanh kém ý nghĩa, vì chỉ tiêu tổng lợi nhuận có đủ lớn thì mới táisản xuất và mở rộng kinh doanh được
Cho nên để kết hợp hai loại chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối và sốtương đối, có thể rút ra nguyên tắc tổng quát để lựa chọn phương án cuối cùng là:phải ưu tiên chọn phương án có chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối như chỉ tiêutổng lợi nhuận, hiện giá của hiệu số thu chi NPV là lớn nhất, còn chỉ tiêu hiệu quảtính theo số tương đối (như chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận, suất thu lợi nội tại IRR) chỉcần đạt ngưỡng hiệu quả quy định (nếu các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tương đốinày cũng lớn nhất thì càng tốt) Không bao giờ được phép sử dụng một trong hai chỉtiêu trên một cách riêng rẽ để lựa chọn dự án đầu tư
* Kết hợp các chỉ tiêu về lợi nhuận với các chỉ tiêu về an toàn
Các chỉ tiêu về lợi nhuận như: tổng lợi nhuận thu được hàng năm, tỉ suất lợinhuận, hiện giá hiệu số thu chi (NPV), suất thu lợi nội tại (IRR)
Các chỉ tiêu về an toàn như: thời hạn thu hồi vốn đầu tư, điểm hoà vốn, khảnăng trả nợ
Khi đánh giá lựa chọn phương án để đầu tư không được sử dụng một tronghai loại chỉ tiêu trên một cách riêng rẽ, vì chỉ có kết hợp hai chỉ tiêu lợi nhuận và antoàn mới bảo đảm được tính phát triển và bền vững của kinh doanh
* Phải tôn trọng nguyên tắc so sánh hai bước
Ở bước thứ nhất phải xét sự đáng giá của các phương án, tức là hiệu quả của các phương án phải bảo đảm một ngưỡng hiệu quả (định mức hiệu quả) cho phép
Ở bước thứ hai, phải chọn lấy trong số các phương án đáng giá một phương
án có hiệu quả lớn nhất
Như vậy, phương án được chọn không phải chỉ là phương án có hiệu quả lớnnhất mà còn phải là phương án có hiệu quả đạt mức yêu cầu
* Phải đảm bảo tính so sánh được của các phương án
Các điều kiện bảo đảm cho tính có thể so sánh được của các phương án làphương pháp tính toán của các phương án phải thống nhất về các mặt: hình thành sốliệu gốc, phương pháp so sánh và chỉ tiêu định mức hiệu quả
Trang 34Khi muốn so sánh một chỉ tiêu thì chỉ có chỉ tiêu đó thay đổi, còn các chỉ tiêukhác phải giữ nguyên và giống nhau Cụ thể như sau:
- Khi so sánh về mặt giá trị (chi phí) thì mặt giá trị sử dụng (chất lượng sảnphẩm, công suất, tuổi thọ, độ bền chắc ) của các phương án phải giống nhau Nếu
ở đây giá trị sử dụng của các phương án khác nhau thì phải đưa các phương án vềcùng một mặt bằng giá trị sử dụng nhờ một phương pháp nhất định (trong đó có phươngpháp giá trị - giá trị sử dụng)
- Khi tuổi thọ của các phương án khác nhau thì phải quy về bằng nhau bằngcác cách như: lấy thời gian tính toán so sánh bằng bội số chung bé nhất của tuổi thọ củacác phương án, hoặc lấy bằng thời kỳ kế hoạch, hoặc theo luật đầu tư quy định, hoặc điềuchỉnh thông qua giá trị thu hồi khi đào thải tài sản, hoặc lấy bằng thời gian tồn tại của mỏnguyên liệu, hoặc tính san đều hàng năm
- Khi vốn đầu tư của các phương án khác nhau thì phải quy về điều kiện cóthể so sánh được bằng cách so sánh theo hiệu quả của gia số đầu tư, hoặc có phương ánphụ thêm
b Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong ĐTXD
Nói chung khi đánh giá các DAĐT, Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích tổngthể của quốc gia và xã hội, từ đường lối chung phát triển đất nước và phải xem xéttoàn diện các mặt kỹ thuật, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, bảo vệ an ninh quốcphòng cũng như bảo vệ môi trường
Đối với các DAĐT từ nguồn vốn NSNN, sự đánh giá dự án phải toàn diện vàsâu sắc hơn, sự phân tích dự án chủ yếu đứng trên quan điểm vĩ mô và phải coitrọng phân tích KT - XH của dự án
Để nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ĐTXD từ NSNN cần phải quán triệt các quan điểm sau:
* Kết hợp chặt chẽ lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội khi xem xét đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT
Kết hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội sẽ dẫn đến sự kết hợp giữa hiệu quảkinh tế và hiệu quả xã hội Do đó lợi ích kinh tế biểu hiện cụ thể về sự thay đổi khốilượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm, sự thay đổi cán cân thương mại ở mức lợinhuận thu được, ở sự thay đổi chi phí sản xuất
Lợi ích xã hội của ĐTXD là thực hiện các mục tiêu kinh tế nói trên, ngoài racòn thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêu xã hội khác như mục tiêu chính trị, mụctiêu an ninh quốc phòng, mục tiêu văn hoá xã hội, môi trường
Trang 35Việc phân biệt hai lợi ích này mang tính cân đối và chúng gắn bó chặt chẽvới nhau Vì vậy, phân biệt 2 lợi ích này trong nhiều trường hợp khá dễ dàng, nhưngtrong nhiều trường hợp trở nên khó khăn Mặt khác, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hộitrong nhiều trường hợp có sự tương thích, bổ sung cho nhau, nhưng ở những trườnghợp khác lại xung đột với nhau Khi xem xét hiệu quả sử dụng VĐT cho các dự áncần phải đánh giá một cách kỹ lưỡng, toàn diện để quyết định ưu tiên lợi ích kinh tếhay lợi ích xã hội Trong rất nhiều trường hợp có sự xung đột xảy ra giữa 2 loại lợiích như vậy, về nguyên tắc lợi ích xã hội sẽ được ưu tiên hơn.
* Kết hợp chặt chẽ 3 mặt lợi ích để xem xét hiệu quả sử dụng VĐT cho các
dự án ĐTXD
Hệ thống kinh tế được xem là hệ thống có tầng bậc Theo các quan điểmkhác nhau được chia thành 8 tầng, 5 tầng hoặc 3 tầng Nếu nền kinh tế được chiathành 3 tầng theo quan điểm chính thống của nước ta hiện nay thì tầng cao nhất là
“toàn bộ nền kinh tế quốc dân” Tầng này ngoài việc coi trọng nhất mục tiêu củamình còn phải quan tâm đến mục tiêu của 2 tầng còn lại Mục tiêu của tầng kinh tế
“tập thể” cũng vậy trong khi coi trọng nhất mục tiêu của tầng mình còn phải quantâm đến mục tiêu của “toàn bộ nền kinh tế quốc dân” và mục tiêu của tầng kinh tế
“cá nhân hộ gia đình” Tương tự tầng kinh tế “cá nhân hộ gia đình” cũng phải quantâm mục tiêu của 3 tầng, tuy nhiên mục tiêu của nó được coi trọng nhất
Với vai trò con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ thống quản lý,mục tiêu cá nhân người lao động được coi là lao động trực tiếp, mạnh mẽ nhất kíchthích hoạt động kinh tế đặt hiệu quả cao Chính vì lẽ đó mà Đảng ta nhấn mạnh kếthợp chặt chẽ 3 lợi ích: Lợi ích toàn xã hội, lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân người laođộng trực tiếp
* Hiệu quả sử dụng VĐT cần được xem xét toàn diện trong suốt cả quá trình đầu tư hoàn chỉnh
Quá trình đầu tư hoàn chỉnh một dự án đầu tư gồm 3 giai đoạn: giai đoạnchuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện DAĐT, giai đoạn đưa dự án vào khai thác sửdụng Mỗi giai đoạn có đặc điểm, tính chất khác nhau nên có vai trò tác dụng khácnhau đối với hiệu quả sử dụng VĐT
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện dự án đầu tư là những giai đoạn chíphí về VĐT rất lớn, nhưng chưa tạo ra sản phẩm, chưa thu lợi ích từ các dự án Cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT của 2 giai đoạn này cần tập trungvào việc nâng cao chất lượng của các sản phẩm khảo sát, thiết kế, lập dự toán ,
Trang 36nâng cao chất lượng sản phẩm ĐTXD, đảm bảo thời gian thi công, giảm thiểunhững thất thoát lãng phí trong ĐTXD.
Trong giai đoạn đưa dự án vào khai thác sử dụng tức là mục tiêu cuối cùngcủa dự án được thực hiện, các lợi ích KT - XH từ dự án được thu nhận những chiphí chủ yếu là chi phí vận hành Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giai đoạnnày cần phải tập trung vào việc thực hiện tốt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý kỹthuật công nghệ, quản lý lao động, quản lý tài chính, quản lý tiêu thụ sản phẩm, hiệusuất máy móc thiết bị, năng suất lao động được nâng cao, vốn sản xuất được tiếtkiệm, sản phẩm tiêu thụ nhanh, giá cả hợp lý Đó là những yếu tố làm tăng hiệu quảsản xuất trong giai đoạn khai thác dự án, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng VĐTcho các dự án ĐTXD Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả VĐT cần phải được xem xéttoàn diện ở cả ba giai đoạn của quá trình đầu tư hoàn chỉnh
* Coi trọng yếu tố con người khi xem xét đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong các dự án đầu tư xây dựng
Nhận thức đúng vị trí con người có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT
Xét về con người, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, nhưng lại là khách thể cónhận thức (khác với các khách thể khác như: nhà xưởng, mày móc ) nên phản ứngcủa con người sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực lớn không lường trước được.Điều này đòi hỏi các chính sách, nhất là chính sách về kinh tế phải quan tâm đúngmức đến con người lao động, đồng thời cũng có những chế tài xử phạt nghiêm minhđối với những hành vi vi phạm pháp luật của con người
Xét về hệ thống sản xuất, con người vừa là mục tiêu vừa là phương tiện của
hệ thống này Mối quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện chỉ ra rằng việc nâng caohiệu quả, phát triển sản xuất là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người Đếnlượt nó, chất lượng cuộc sống được nâng cao sẽ trở thành yếu tố sản xuất quyết địnhhiệu quả và sự phát triển sản xuất
Việc chú trọng yếu tố con người thể hiện ở việc chú ý đầu tư cải thiện mứcsống của nhân dân như đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà ở, môi trường sống và làm việc,chăm sóc y tế, đầu tư cho các chương trình xoá đói, giảm nghèo Đặc biệt, tronggiai đoạn nền kinh tế vật chất chuyển sang kinh tế tri thức các lợi thế như lao độngnhiều, tiền công rẻ chỉ là tạm thời và mất đi rất nhanh Cho nên đầu tư cho conngười là đầu tư cho trí tuệ thông qua đầu tư cho giáo dục và đào tạo để nâng cao dântrí, bồi dưỡng nhân tài
Trang 37* Kết hợp nội lực và ngoại lực khi xem xét hiệu quả sử dụng VĐT
Trong bối cảnh hiện nay khi xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tếphát triển mạnh mẽ thì kết hợp giữa nội lực và ngoại lực nhằm kết hợp sức mạnhdân tộc và sức mạnh thời đại có ý nghĩa hết sức quan trọng để sử dụng hiệu quả mọinguồn lực phát triển kinh tế nhanh và bền vững; sự kết hợp đó được thể hiện ở chỗ:huy động triệt để các nguồn lực trong nước, tranh thủ huy động tối đa các nguồn lựcngoài nước
Để thực hiện quan điểm nói trên, trước hết phải tạo lập môi trường đầu tưphù hợp đủ sức hấp dẫn, khuyến khích, mạnh dạn đầu tư trong và ngoài nước
Chú trọng đầu tư cho một nền kinh tế phát triển hướng ngoại, theo đó hướngvào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển công nghệ, đầu tư đúng mức vào giáodục và đào tạo Đó là điều kiện để một mặt, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá dịch vụ,xuất khẩu vốn và xuất khẩu lao động; mặt khác, có thể tiếp cận tốt nhất về côngnghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nước ngoài Thực hiện tốt sự kết hợp nóitrên cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế là yếu tố rất quan trọng để đánh giá hiệu quả sửdụng VĐT
1.1.3.5 Một số đặc trưng cơ bản các dự án sử dụng nguồn vốn NSNN
Ngân sách nhà nước (NSNN) là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sựhình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ Nhà nước với tưcách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định cáckhoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảochi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục và chi phát triển kinh tế
Ở Việt Nam, NSNN được qui định trong Luật NSNN như sau: "NSNN là toàn bộcác khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định vàđược thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhànước"
* Dự án đầu tư sử dụng NSNN có có đặc điểm sau:
Một là, qui mô vốn đầu tư lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi NSNN Hai là, có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư xây dựng
Ba là, chi ngân sách cho đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp
ngân sách
Bốn là, nguồn vốn đầu tư mà các chủ đầu tư sử dụng phải được tạm ứng,
nghiệm thu và thanh toán theo qui định của Nhà nước
Như vậy, các chủ đầu tư là người chủ cạnh tranh, nhưng không phải là người chủ thực sự của đồng vốn nên dễ dấn đến việc thiếu trách nhiệm quản lý, sử dụng
Trang 38tiết kiệm trong chi tiêu, thậm chí có tình trạng tìm mọi kẽ hở trong chính sách quản
lý để tiêu cực, tham nhũng, bòn rút VĐT của Nhà nước Nếu các chủ đầu tư, cácBan quản lý dự án không nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên mônnghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu quản lý; Nhà nước không có những cơ chếchính sách chặt chẽ ràng buộc trách nhiệm trong quản lý, không tăng cường côngtác thanh tra, kiểm tra thì thất thoát, lãng phí trong ĐTXD bằng nguồn vốn NSNN
là không thể tránh khỏi
1.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng vốn đầu tư xây dựng ở một số nước và một số địa phương trong nước
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước
Ở các nước phát triển và đang phát triển, dành vốn ĐTXD vào phát triển cơ
sở hạ tầng, các cơ sở kinh tế lớn mà tư nhân không thể đầu tư được và dùng chính sách
hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua con đường tín dụng Nhà nước để đầu
tư vào các cơ sở sản xuất, chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, các tập đoàn kinh doanh.Gần chúng ta nhất là các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan là nhữngnước dùng rất lớn nguồn vốn ngân sách vào ĐTXD và đạt được những kết quả đáng họctập
Đường sắt cao tốc Bắc Kinh - Thượng Hải, Bắc Kinh - Quảng Đông, CápNhĩ Tân - Đại Liên, dọc các thành phố ven biển Đông Nam … những dự án nàyhoặc đang được đẩy nhanh việc xây dựng hoặc đã bước vào giai đoạn thực thi Cáctuyến khách vận cao tốc có thể giảm mạnh thời gian đi lại của người dân, hệ thốngđường có năng lực vận chuyển cao sẽ giúp hàng hóa lưu thông dễ dàng hơn trêntoàn Trung Quốc Sau khi được xây dựng những đường cao tốc này sẽ giải quyếtđược mâu thuẫn về năng lực vận chuyển và nhu cầu vận chuyển tr ên các tuyếnchính, đẩy nhanh việc hình thành hệ thống vận tải đường sắt hiện đại
Trang 39hóa với năng lực vận chuyển lớn, trang thiết bị tiên tiến, chức năng hoàn thiện vàthuận tiện hiệu quả.
Tháng 1/2005, “quy hoạch mạng đường bộ cao tốc quốc gia” Trung Quốc đã
đề xuất, Trung Quốc sẽ mất 30 năm để hình thành mạng đường bộ cao tốc quốc giavới 85 ngàn km đường Theo lộ trình kế hoạch của Bộ giao thông vận tải TrungQuốc, đến cuối năm 2008, độ dài thông xe mạng đường bộ cao tốc quốc gia có thểđạt 49 nghìn km, đang xây dựng 14 nghìn km và còn 23 nghìn km chưa khởi công.Trong số đó, có một bộ phận đáng kể thuộc đoạn đường giao giữa địa phận các tỉnh,
có khoảng 6.000 km thuộc dạng “dự án treo”, những dự án này đều đang chuẩn bịcác điều kiện để khởi công xây dựng vào năm 2009 và 2010
Bộ giao thông vận tải Trung Quốc nêu rõ, bằng việc xây dựng trong 3-5 năm
sẽ nỗ lực xây dựng về cơ bản mạng lưới đường bộ cao tốc quốc gia
Ngoài ra, vào cuối “kế hoạch 5 năm thứ 11”, tổng số các sân bay dân dụngcủa Trung Quốc sẽ đạt khoảng 190 sân bay, tăng mới khoảng 45 sân bay Đến 2010,các thành phố cấp tỉnh, thành phố mở cửa chủ yếu, khu du lịch quan trọng, vùnggiao thông không thuận lợi trên toàn Trung Quốc sẽ đều có sân bay nối liền Sẽ có75% đơn vị hành chính cấp huyện của Trung Quốc có thể hưởng những dịch vụhàng không trong phạm vi bán kính 100 km hoặc 1,5 giờ xe chạy
Cuối năm 2008, Trung Quốc đã có kế hoạch đầu tư cơ sơ hạ tầng lên tới 600
tỷ USD có mục tiêu lớn cho quá trình đô thị hoá chưa từng có trong lịch sử Nguyênnhân hợp lý cho kế hoạch chi tiêu hoành tráng này là đáp ứng nhu cầu tài chính choquá trình đô thị hóa lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại Thay đổi này sẽ đưaTrung Quốc từ một nước bao thế kỷ nay với số dân chủ yếu sống ở vùng nông thônsang một thái cực trái ngược 30 năm trước đây, khi Trung Quốc bắt đầu hiện đạihóa nền kinh tế, khoảng hơn 80% người sống tại nông thôn, và chỉ 6 năm trước, con
Trang 40công trình từ khi bắt đầu xây dựng, xây dựng xong, bước vào vận hành cho tới tuổithọ quy ước của nó.
Về xây dựng, trên phương diện quy hoạch, cả nước - thành phố Singaporebao gồm rất nhiều nhà chọc trời, nhiều công trình đồ sộ, nhưng nhìn chung không ai
có cảm giác nặng nề bởi những khối bê tông sừng sững như một số thành phố khác,chẳng hạn Băngkok, Hồng Kông
Singapore có được cảnh quan đô thị văn minh, hiện đại và “thân thiện môitrường” như ngày nay, trước hết là nhờ vào quy hoạch tổng thể 1/5.000 có từ rấtsớm - năm 1971 - và được thực hiện cho đến nay Gọi là quy hoạch tổng thể, nhưngthực tế đã được chi tiết hóa tại từng dự án thông qua thiết kế đô thị bằng mô hình(mô tả về kiến trúc, tầng cao, màu sắc công trình, đường sá, đường vành đai, đườngsắt, công trình an sinh xã hội…) Ngày nay, Singapore là một trong những nước cókết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại nhất thế giới
Cá biệt mới có dự án được điều chỉnh quy hoạch theo yêu cầu của nhà đầu tưnhưng với điều kiện phải bảo đảm kết nối hạ tầng theo quy hoạch chung và được cơquan chuyên môn thuộc Chính phủ xét duyệt chặt chẽ Quy hoạch tổng thểSingapore có phân ra từng khu nhà cao tầng (trên 10 tầng), cao trung bình (3 - 10tầng) và thấp tầng (1 - 2 tầng) và có tính đến bảo tồn kiến trúc cổ cũng như bản sắcvăn hóa của 4 tộc người (bản địa, Hoa, Malaysia và Ấn Độ) Bản quy hoạch tổngthể cũng thể hiện việc kết nối hạ tầng (nước sạch, thoát nước, xử lý nước thải, điện,điện thoại…) do nhà nước đầu tư
Vấn đề cơ bản là các kiến trúc sư quy hoạch tổng thể đã có những biện pháp
xử lý hài hoà về không gian theo cả chiều đứng lẫn chiều ngang, để chỉ đạo và kiểmsoát kiến trúc ngay từ đầu, thực hiện được điều mà giới kiến trúc hiện đại gọi là Sựhài hoà không gian thống nhất
Đồng thời, ý thức hành động bảo vệ, tôn tạo cảnh quan được chú trọng mộtcách triệt để, điều này hầu như đã thấm vào máu thịt của tất cả mọi thành viên xãhội Các trụ cầu vượt trong thành phố đều được trồng loại cây leo phủ kín bám chặtvào mặt bê tông, tạo một cảm giác mượt mà, thoải mái, tươi mát tự nhiên Nhiềugiải pháp thiết kế kiến trúc đã, đang được áp dụng linh hoạt, thông minh, sáng tạotrong từng công trình riêng lẻ, trong một quần thể công trình và trong cả một khuvực, dưới bối cảnh ràng buộc số một của Singapore là sự hạn chế gắt gao về diệntích đất đai Không kể đến những dự án cần lấn biển để có thêm mặt bằng xây dựng,phải mua đất và cát từ Inđônêxia chở về, một số công trình mới, có nhiều tầng hầm,