1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số NHẬN xét ĐÁNH GIÁ về CÔNG tác tổ CHỨCBỘ máy QUẢN TRỊ tại CÔNG TY TNHH TM THẾ GIỚI TRẺ

74 35 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn giành chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi phải có năng lực cạnh tranh đủ m

Trang 1

MỘT SỐ NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨCBỘ MÁY QUẢN TRỊ TẠI

CÔNG TY TNHH TM THẾ GIỚI TRẺ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

1 Bảng 1: Tổng hợp “12 trụ cột” cho năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam.

2 Đồ thị 1: Thang điểm các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

3 Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH TM Rồng Châu Á qua

các năm 2010 – 2012

4 Bảng 3: Doanh thu bán hàng, thị phần tương đối của Công ty TNHH TM Rồng

Châu Á

5 Bảng 4: Lợi nhuận sau thuế của Công ty TNHH TM Rồng Châu Á.

6 Bảng 5: Tỷ suất lợi nhuận của Công ty TNHH TM Rồng Châu Á.

7 Bảng 6: Sản lượng sản phẩm công ty qua các năm.

8 Bảng 7: Trị giá gói cứu trợ ở các nước trên thế giới.

9 Bảng 8: Tốc độ đô thị hoá các nước trên thế giới.

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị truờng là một buớc ngoặt lớn có tính chất cơ bản để nền kinh tế nuớc ta có thể đứng vững và phát triển kịp với nền kinh tế thế giới và khu vực Sự chuyển đổi này

đã kéo theo sự chuyển huớng trong việc lập kế hoạch, chiến luợc kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Cơ chế mới này đã mở ra một thời kỳ mới đầy cơ hội phát triển nhưng cũng nhiều thách thức lớn đối với các thành phần kinh tế cũng như các doanh nghiệp

ở Việt Nam Hoạt động trong cơ chế thị truờng mọi doanh nghiệp phải tự mình vận động, tự quyết định mọi vấn đề về kinh doanh của mình, không còn nhiều sự quan liêu như trong chế độ cũ, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp, phải có tính linh hoạt cao Chính vì sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp mà đã có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau Cạnh tranh từ đó đã ra đời góp phần giúp các doanh nghiệp khẳng định sức mạnh chính mình, tăng doanh thu, lợi nhuận Nguợc lại đó cũng là yếu tố loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh không hiểu quả, không có sức cạnh tranh

2 Mục tiêu đề tài:

- Khi nền kinh tế càng phát triển, các thành phần kinh tế ngày càng đa dạng, số luợng các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều thì cạnh tranh ngày càng gay gắt Mỗi doanh nghiệp để đảm bảo cho sự tồn tại của mình đã đưa ra những chiến luợc cạnh tranh táo bạo nhằm không ngừng tăng cuờng khả năng cạnh tranh cho mình Mặt khác, các doanh nghiệp không bao giờ tự thoả mãn với thị truờng vừa dành đuợc (điều này sẽ kéo theo sự phát triển vuợt trội của doanh nghiệp này nhưng cũng là sự diệt vong của doanh nghiệp kia) Nên các doanh nghiệp luôn tìm cách vuơn lên, mở rộng thị truờng Và vì vậy, xây dựng một chiến luợc cạnh tranh với những công cụ, biện pháp thích hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh

3 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu:

- Công ty TNHH TM Rồng Châu Á đang đứng truớc những cơ hội và thách thức lớn lao trong điều kiện cạnh tranh gay gắt Để có thể tồn tại, đứng vững và phát

Trang 7

triển đòi hỏi Công ty phải xác định đuợc cho mình những phuơng thức hoạt động, những chính sách, những chiến luợc cạnh tranh đúng đắn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nhằm đưa sản phẩm của Công ty thống trị tại thi truờng Việt Nam.

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phuơng pháp thu thập thông tin: thông qua các tài liệu về cạnh tranh, các công

cụ hỗ trợ khác, kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm của Công ty TNHH TM Rồng châu Á

- Phuơng pháp chọn lọc thông tin: qua các tài liệu đã thu thập đuợc từ việc thu thập thông tin, lựa chọn những thông tin có liên quan đến bài báo cáo thực tập

5 Bố cục đề tài:

- Xuất phát từ tầm quan trọng của cạnh tranh đối với mỗi Doanh nghiệp nhất là trên thị truờng Việt Nam, cùng với quá trình tìm hiểu thực tế trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH TM Rồng Châu Á, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH TM Rồng Châu Á” làm đề tài cho bài báo cáo thực tập của em

Chương 1: Cơ sở lý luận cơ về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh Chương 2: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH TM Rồng

Châu Á

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH

TM Rồng Châu Á

Trang 8

CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

I Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

1 Canh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1 Khái niệm cạnh tranh và vai trò cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là một thuật ngữ phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,

đó là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay nhóm, các loài vì mục đích giành sự tồn tại, sống còn, lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, hay các phần thưởng khác

Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh xuất hiện khi tiền tệ ra đời, đặc biệt trong thời kỳ nền sản xuất hàng hoá của chế độ Tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh

Cùng với thời gian cũng như theo các cách tiếp cận khác nhau, có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh

Theo K.Mark, “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt của các nhà Tư bản nhằm tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch, cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận, các nhà Tư bản luôn cạnh tranh với nhau và tìm đến nơi nào có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường”

Theo Kinh tế chính trị học, “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành giật thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp của mình”

Theo quan điểm Marketing, “Cạnh tranh là việc đưa ra những chiến thuật, chiến lược phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, xử lý tốt các chiến lược, chiến thuật của đối thủ, giành được lợi thế trong kinh doanh hàng hóa và dịch vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận”

Dù hiểu theo cách tiếp cận nào đi chăng nữa, bản chất của cạnh tranh vẫn là sự ganh đua của các chủ thể với nhau nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể Đối với các doanh nghiệp thì cạnh tranh là hoạt động nhằm đối phó lại với các đối thủ khác trên thị trường, với mục đích chiếm lĩnh thị phần, nâng cao vị thế của doanh nghiệp nhằm mục đích cao nhất là lợi nhuận

Trang 9

Hiện nay, khi tình hình kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến, người ta hiểu cạnh tranh không đơn thuần chỉ là cuộc chiến giữa các đối thủ nhằm phân chia thặng

dư kinh tế mà còn là giành những cơ hội xuất hiện trong tương lai

Ở Việt Nam, trước đổi mới - năm 1986, thuật ngữ cạnh tranh còn đang mơ hồ, chưa được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, bởi thời gian đó kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hoá, tự cung tự cấp, các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, sản phẩm sản xuất ra lại được chính Nhà nước bao tiêu Vì thế mà các doanh nghiệp thiếu đi động lực phát triển Thực tế đó đã kìm hãm sự phát triển đất nước trong một thời gian dài Nhận thức được điều đó, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần

VI năm 1986, Đảng ta quyết định đưa nước ta đi theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đến lúc này, cạnh tranh mới trở nên phổ biến hơn Các doanh nghiệp trong nền kinh tế không còn ỷ lại vào vai trò của Nhà nước nữa mà trở nên chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vì thế mà bộ mặt nền kinh tế nước ta mới được cải thiện rõ rệt hơn sau thời gian đó

Ngày nay, khi quốc tế hoá, toàn cầu hoá trở thành một tất yếu, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh nếu không muốn bị đào thải

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh

Cũng giống như cách mạng, với bản chất là sự ganh đua của mình, cạnh tranh là động lực của mọi sự phát triển

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân

Cạnh tranh là động lực của sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, thông qua cạnh tranh, tiềm lực của nền kinh tế ngày càng được cải thiện hơn nhờ sự nâng cao năng suất lao động của các chủ thể trong nền kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển và được ứng dụng rộng rãi hơn, của cải xã hội được tạo ra ngày càng nhiều hơn, nhu cầu con người sẽ được đáp ứng nhiều hơn

Cạnh tranh tạo ra nhiều sản phẩm mới, qua đó kích thích nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, tạo tăng trưởng cho nền kinh tế

Trang 10

Cạnh tranh giúp loại bỏ những những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có khả năng ra khỏi thị trường, tạo điều kiện thuân lợi hơn cho các doanh nghiệp còn lại của nền kinh tế có điều kiện thuân lợi hơn để phát triển.

Cạnh tranh giúp nâng cao sức đề kháng của nền kinh tế, giúp đất nước phát triển đi lên, không tụt lại sau so với sự phát triển chung của kinh tế thế giới

1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp

Cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhận thức rõ vị trí hiện tại của mình trên thị trường, từ đó doanh nghiệp buộc phải có những đối sách nhằm nâng cao vị thế của mình

Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp không còn nhận được sự bảo hộ

của Nhà nước, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp buộc phải tự cứu lấy chính mình trước sự cạnh tranh của các đối thủ khác trong việc giành giật và đáp ứng nhu cầu khách hàng

Bất kỳ một doanh nghiệp tồn tại trong một phân đoạn thị trường nào đều muốn mình là người chiếm lĩnh các lợi thế của thị trường đó, nhằm thu lợi nhuận tối đa Để đạt được mục đích đó, doanh nghiệp buộc phải làm tốt nhất việc phục vụ nhu cầu của khách hàng Đó là động lực để doanh nghiệp không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất sản phẩm, năng động, linh hoạt hơn trong việc tìm ra các tính năng mới cũng như các sản phẩm mới Doanh nghiệp phải tìm cách tối thiểu hoá chi phí sản xuất, hoàn thiện hơn dịch vụ bán hàng và sau bán hàng… Vì thế cạnh tranh là động lực mang lại sự phát triển cho doanh nghiệp

1.1.2.3 Đối với sản phẩm

Thành công của doanh nghiệp trong cạnh tranh thể hiện một phần qua các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra Để giành chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá thành thấp hơn, mẫu mã đa dạng hơn, phù hợp hơn với thị hiếu của người tiêu dùng Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành là động lực để tạo nên sự hoàn thiện hơn của các sản phẩm

Trang 11

1.1.2.4 Đối với người tiêu dùng

Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau đều nhằm mục đích phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng Khách hàng trở thành cái đích trước lợi nhuận của các doanh nghiệp trong các hoạt động cạnh tranh của mình

Khi mà cuộc sống của người tiêu dùng được cải thiện nhiều hơn, nhu cầu tiêu dùng của họ cũng tăng theo không chỉ về số mà còn về chất lượng

Cạnh tranh giúp doanh nghiệp nâng cao được khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nhờ đó, nguời tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc mua sắm sản phẩm Nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng dễ dàng hơn, đầy đủ hơn Như vậy cạnh tranh giúp người tiêu dùng thoả mãn nhu cầu của mình một cách dễ dàng hơn

Bên cạnh những vai trò tích cực đó, cạnh tranh còn mang lại nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội đó là khi các chủ thể cạnh tranh không lành mạnh với nhau Cạnh tranh tạo nên sự thành công cho các doanh nghiệp lớn mạnh nhưng cũng tiêu diệt các doanh nghiệp có tiềm lực không đủ mạnh Sự phá sản của các doanh nghiệp này tạo nên hiệu ứng dây chuyền như người lao động mất việc, thu nhập giảm sút, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, bất bình đẵng thu nhập trong xã hội tăng theo Mặt khác, cạnh tranh có thể dẫn đến tình trạng giữ bí mật công nghệ sản xuất, cản trở công tác chuyển giao công nghệ Cạnh tranh không lành mạnh là động lực thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh như trốn thuế, ăn cắp phát minh, sáng chế của đối thủ

1.2 Năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp muốn giành chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi phải có năng lực cạnh tranh

đủ mạnh để đối phó với các đối thủ khác trên thị trường

Cũng như cạnh tranh, năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, bản chất của năng lực cạnh tranh là khả năng hay những lợi thế so sánh mà chủ thể có được so với đối thủ của mình để duy trì và nâng cao vị thế của mình so với các đối thủ

Trang 12

Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, người ta thường chia thành 3 cấp độ là năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

1.2.1 Năng lực cạnh tranh của quốc gia

Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới WEF(Wold Economic Forum) thì

“Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ

mô, là năng lực một nền kinh tế đạt được và duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hôi, nâng cao đời sống nhân dân”

Theo quan điểm của Asian Development 2003, “Năng lực cạnh tranh của quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước đế sản xuất các hàng hóa dịch vụ, đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của người dân nước đó”

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, thường dựa vào các tiêu chí: Thể chế kinh tế, Cơ sở hạ tầng, Kinh tế vĩ mô, Hệ thống giáo dục và Y tế phổ thông, Giáo dục đại học, Hiệu quả của cơ chế thị trường, Mức độ sẵn sàng về công nghệ, Mức độ hài lòng doanh nghiệp, Mức độ sáng tạo

Theo báo cáo của diễn đàn kinh tế thế giới WEF năm 2008 thì 10 nước

có năng lực canh tranh lớn nhất của thế giới bao gồm: Mỹ, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Thụy Điển, Singapo, Phần Lan, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Canada Cũng theo đánh giá của diễn đàn này, năng lực cạnh tranh của Việt Nam giảm từ vị trí 68 năm 2007 xuống vị trí 70

Trong nhóm các yếu tố đánh giá thì nhóm các yếu tố căn bản của Việt Nam bị đánh giá thấp nhất

Trang 13

Bảng 1: Tổng hợp “12 trụ cột” cho năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam

Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF

Đồ thị 1: Thang điểm các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam

Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam bị đánh giá thấp chủ yếu là do các yếu tố như lạm phát, cơ sở hạ tầng và lao động được đào tạo Bên cạnh đó thì Việt Nam vẫn được đánh giá cao trong các lĩnh vực như quy mô thị trường, y tế, giáo dục tiểu học

Trang 14

Trong nước, hàng năm Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI) cũng tiến hành đánh giá năng lực canh của các tỉnh dựa vào chỉ số PCI được đánh giá theo 10 tiêu chí:

- Chính sách phát triển kinh tế tư nhân

- Tính minh bạch

- Đào tạo lao động

- Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo

- Chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà Nước

- Thiết chế pháp luật

- Ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước

- Chi phí không chính thức

- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất

- Chi phí gia nhập thị trường

Theo đánh giá, các tỉnh ở nhóm đầu của bảng xếp hạng đã có sự chuyển biến rõ rệt trong việc cải thiện các thủ tục hành chính, giảm thời gian doanh nghiệp phải chờ đợi hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục gia nhập thị trường, các văn bản pháp lý được công khai minh bạch hơn Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều điểm đen ở các tỉnh nhóm cuối về các chỉ tiêu như đào tạo lao động, thủ tục về hóa đơn giá trị gia tăng, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ…

1.2.2 Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thấp hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn các đối thủ khác trên thị trường

Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là doanh nghiệp có khả năng tạo

ra và duy trì vị thế của mình trên thị trường một cách vững chắc ở hiện tại lẫn tương lai

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua các chỉ

tiêu nội tại của doanh nghiệp như vốn, lao động, công nghệ, quản lý, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối…

Trang 15

Một đất nước có năng lực cạnh tranh tốt đòi hỏi các doanh nghiệp trong đó phải

có năng lực cạnh tranh tốt

Theo đánh giá của WEF thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được xếp hạng ở mức thấp 79/120 Do các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ chú trọng công tác sản xuất sản xuất sản phẩm mà chưa chú ý nhiều đến các hoạt động tạo giá trị gia tăng cao như R&D(nghiên cứu và triển khai), P&M( xúc tiến và tiếp thị)

Các cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ khăng khít với nhau, theo đó, cấp độ cạnh tranh thấp sẽ góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh cho cấp cao hơn và ngược lại Một doanh nghiệp sẽ có được năng lực cạnh tranh tốt so với các đối thủ của mình khi sản phẩm của họ có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm của doanh nghiệp đối thủ Khi doanh nghiệp có năng lực canh tranh tốt sẽ góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia Ngược lại, khi quốc gia có năng lực cạnh tranh lớn, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy cao hơn năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi doanh nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp đó sẽ có khả năng đối phó với các sản phẩm của đối thủ

1.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Đó là những đặc tính hay giá trị sử dụng mà sản phẩm có được lợi thế so với các sản phẩm thay thế như chất lượng, mẫu mã, giá cả Đó là khả năng giúp cho sản phẩm duy trì được vị trí của mình trong mắt của người tiêu dùng

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Sản phẩm có năng lực cạnh tranh tốt là các sản phẩm có giá thành thấp, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Để có được các sản phẩm có năng lực cạnh tranh tốt, các doanh nghiệp phải chú ý đầu tư nhiều cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào, sở hữu lao động có trình độ cao cũng như nguồn vốn lớn, cở sở

hạ tầng hiện đại đồng bộ

Ngày nay, các doanh nghiệp lớn trên thế giới đều chi ra một lượng kinh phí lớn cho các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng lớn như R&D

Trang 16

Ở Việt Nam, sỡ dĩ các sản phẩm không đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu là do công nghệ sản xuất sản phẩm của chúng ta còn lạc hậu, sản phẩm chủ yếu

là nhập khẩu, giá trị gia tăng cao, giá trị cấu thành do các yếu tố nhập khẩu chiếm khoảng 70% Thêm vào đó nữa, công tác tiếp thị, giới thiệu quảng bá hình ảnh sản phẩm còn yếu kém Chính vì thế, nhiều mặt hàng của các doanh nghiệp trong nước không đủ sức chống lại sản phẩm nhập khẩu ngay trên sân nhà của mình

1.3 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.1 Đánh giá theo thị phần sản phẩm

Thị phần (Market Share) là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh

Trong đó:

Si: Thị phần của công ty trên thị trường.

Qi: Doanh số bán hàng của doanh nghiệp.

ΣQi: Tổng doanh số của cả thị trường.

Hay

Trong đó:

Sj: Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường

Qj: Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp

ΣQj: Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường.

Thị phần thể hiện rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường

Ngoài ra, khi xem xét thị phần, người ta cũng thường sử dụng thị phần tương đối ( Relative Market Share)

Trang 17

Mx: Phần doanh số của doanh nghiệp.

ΣMx: Phần doanh số của đối thủ cạnh tranh.

Hay

Trong đó:

Sy: Thị phần tương đối của doanh nghiệp trên thị trường

My: Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp.

ΣMy: Số sản phẩm bán ra của đối thủ cạnh tranh.

Nếu thị phần tương đối lớn hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh nghiệp.Nều thị phần tương đối nhỏ hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh thuộc về đối thủ

Nếu thị phần tương đối bằng 1 thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và đối thủ là như nhau

Thị phần là một yếu tố quan trọng hàng đầu khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiêp Trên thị trường, một doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp khác trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng Một doanh nghiệp có đủ năng lực để cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm lĩnh thị phần lớn so với các đối thủ còn lại

1.3.2 Đánh giá theo thương hiệu doanh nghiệp

Thương hiệu (Trademark) là những dấu hiệu được các cá nhân tổ chức sử dụng

để tạo khác biệt hoá, nét riêng biệt cho sản phẩm hàng hoá mà họ cung cấp cho khách hàng, phân biệt với sản phẩm của chủ thể khác

Thương hiệu là một tài sản của công ty, thường được cấu thành từ cái tên, cụm

từ, logo, biểu tượng hay hình ảnh

Là một tài sản hữu hình nhưng thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong cấu thành giá trị của doanh nghiệp Theo đánh giá của Interbrand năm 2010, giá trị thương hiệu của Coca-Cola là 107,5 tỷ USD, trong khi doanh số

cả năm chưa tới 60 tỷ USD, giá trị thương hiệu của Microsoft là 90 tỷ USD còn doanh

số khoảng 50 tỷ

Thương hiệu của một doanh nghiệp đánh giá uy tín của doanh nghiệp

Sy = My/ ΣMy

Trang 18

trong mắt người tiêu dùng Một doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như: thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm, thuyết phục người bán hàng phân phối sản phẩm, tạo niềm tự hào cho nhân viên công

ty, tạo ra lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả của quảng cáo tiếp thị, tác động làm tăng giá

cổ phiếu, dễ dàng phát triển kinh doanh, làm tăng giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp

1.3.3 Đánh giá theo lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là số tiền mà doanh nghiệp thu được sau hoạt động đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị trường sẽ có cơ hội đạt được mức lợi nhuận cao nhờ việc bán được nhiều hàng hoá, dịch vụ cũng như khả năng giảm chi phí sản xuất

Khi xem xét tỷ suất lợi nhuận thường đề cập đến 3 chỉ tiêu:

+ Tỷ suất thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Vốn chủ sở hửuThể hiện lợi nhuận đạt được trên một đồng vốn

+ Tỷ suất thu nhập sau thuế trên tổng tài sản (ROA)

Tổng tài sảnThể hiện lợi nhuận đạt được trên tổng tài sản doanh nghiệp

Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh so với đối thủ thể hiện qua chỉ số tỷ suất lợi nhuận lớn hơn

1.3.4 Đánh giá theo sản lượng sản phẩm

Sản lượng sản phẩm là số sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định, thường tính theo năm Sản lượng sản phẩm thể hiện năng lực sản xuất cũng như quy mô của doanh nghiệp Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh lớn là doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra số lượng sản phẩm lớn, đủ sức cung ứng cho thị trường

1.3.5 Đánh giá theo chủng loại sản phẩm

Trang 19

Chủng loại sản phẩm thể hiện quy mô sản xuất cũng như chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Sự đa dạng hoá của chủng loại sản phẩm giúp cho doanh nghiệp phân tán được rủi ro cũng như mở rộng hơn thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Một doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm sẽ tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, nhờ khả năng đáp ứng rộng rãi nhu cầu của khách hàng

1.3.6 Đánh giá theo chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng cho thấy năng lực, công nghệ sản xuất của một doanh nghiệp Nó cũng thể hiện chiến lược cạnh tranh cũng như sự tôn trọng khách hàng của doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng của khách hàng, nó cũng là yếu tố giúp nâng cao hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng Sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp tốt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh với các đối thủ trong việc giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, qua đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

1.3.7 Đánh giá theo giá cả sản phẩm

Giá cả sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ, trình độ lao động, chi phí đầu vào, sự sẵn có của nguồn vốn…nên nó cũng phản ánh được năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp

Giá cả cũng là một trong những chiến lược phát triển của doanh nghiệp, nó là yếu tố cấu thành trong quyết định mua sắm của người tiêu dùng Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có giá bán sản phẩm cạnh tranh với đối thủ dựa trên quan hệ tương đối với chất lượng sản phẩm

1.3.8 Đánh giá theo dịch vụ chăm sóc khách hàng

Chăm sóc khách hàng là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng trong chuỗi hoạt động tạo ra giá trị của doanh nghiệp Sự tận tuỵ, quan tâm đến lợi ích của khách hàng giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số bán hàng cũng như cũng cố vị thế doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng

2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 20

2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh là yêu cầu khách quan của kinh tế thị truờng

Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận quy luật này Theo quy luật này, doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển phải đối phó lại các đối thủ khác trên thị trường Trong cạnh tranh luôn có người yếu, kẻ mạnh, kẻ thắng người thua, muốn giành chiến thắng trong cuộc chiến này, đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết để doanh nghiệp và nền kinh tế tham gia vào hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hóa của kinh tế thế giới cạnh tranh là một tất yếu, một doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ khác đến từ các nước khác trên thế giới Việt Nam

đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, cơ hội để hàng hóa Việt Nam xâm nhập sâu rộng vào thị trường thế giới trở nên dễ dàng hơn, bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước cũng phải đối mặt với những khó khăn đến từ các doanh nghiệp nước ngoài Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp doanh nghiệp giành chiến thắng trong thị trường nội địa mà còn giúp doanh nghiệp vươn ra thị trường thế giới Đó là một thị trường tiềm năng, với sức tiêu thụ hàng hoá đa dạng

2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng

Ngày nay khi cuộc sống của đại bộ phận người tiêu dùng được cải thiện, nhu cầu của họ không chỉ là sự tăng lên về số lượng sản phẩm mà còn là chất lượng, mẫu

mã của sản phẩm mà họ tiêu dùng Để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp phải nỗ lực phấn đấu để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của mình

3 Nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 21

3.1 Môi trường vĩ mô:

3.1.1 Môi trường kinh tế:

3.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng hay thu nhập của đất nước trong một giai đoạn nhất định

Doanh nghiệp là một cá thể của nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp phát triển

sẽ tạo nên sự tăng trưởng kinh tế, ngược lại, nền kinh tế tăng trưởng cũng tác động tích cực trở lại doanh nghiệp Tăng trưởng kinh tế giúp nâng cao thu nhập của người tiêu dùng, kích cầu tiêu dùng tăng lên, thị trường được mở rộng và doanh nghiệp có cơ sở

để mở rộng quy mô sản xuất của mình

3.1.1.2 Lạm phát và giảm phát

Lạm phát là sự gia tăng liên tục với tốc độ nhanh của mức giá chung trong nền kinh tế

Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh

tế Lạm phát làm giảm sức mua của đồng nội tệ, làm tăng chi phí đầu vào cho hoạt động của doanh nghiệp, tác động làm tăng giá thành sản phẩm, dịch vụ Mặt khác, trong điều kiện lạm phát cao, lãi suất ngân hàng tăng theo, doanh nghiệp cùng nhà đầu

tư không dám mạo hiểm tiến hành các hoạt động đầu tư của mình Người tiêu dùng trong thời kỳ lạm phát trở nên nghèo hơn do sự mất giá của đồng tiền, cầu tiêu dùng của họ giảm xuống, doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng ế ẩm hàng hoá, hàng tồn kho gia tăng Vì thế, lạm phát là một nguy cơ đối với các doanh nghiệp

Trong thời gian 3 quý đầu năm 2011, Việt Nam đối mặt với tình trạng lạm phát cao, tỷ lệ lạm phát lên đến 25,6%, thực trạng này đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước

Ngược lại với lạm phát, giảm phát là tình trạng giá cả các mặt hàng của

nền kinh tế giảm sút liên tục Hậu quả của tình trạng này là cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ giảm xuống do lượng cung tiền tệ trong nền kinh tế giảm

Mặt khác do giá cả giảm sút nên các doanh nghiệp thiếu động lực sản xuất, sản lượng của nền kinh tế giảm theo, kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế đất nước Cũng

Trang 22

giống như lạm phát, giảm phát cũng là một nguy cơ gây nên những khó khăn cho doanh nghiệp.

để đối phó lại những khó khăn cũng như tận dụng cơ hội xuất hiện trong từng giai đoạn của chu kỳ

3.1.1.4 Lãi suất

Một doanh nghiệp hoạt động không thể không cần đến nguồn vốn vay từ ngân hàng Nguồn vốn vay sẽ làm tăng khả năng sinh lời của nguồn vốn chủ sở hữu Khi lãi suất tăng, doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng do chi phí sử dụng vốn vay lớn và ngược lại

Mặt khác lãi suất cũng ảnh hướng đến mức cầu tiêu dùng do có bộ phận người tiêu dùng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản chi tiêu cá nhân

3.1.1.5 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị đồng tiền trong nước với đồng tiền của quốc gia khác Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu Khi tỷ giá VND/USD tăng lên, tức là đồng nội tệ mất giá, hàng hoá trong nước sẽ rẻ hơn, hàng nước ngoài sẽ đắt hơn, vì thế kích thích hoạt động xuất khẩu nhưng lại ảnh hưởng xấu đến nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ Ngược lại, khi nội tệ lên giá, tỷ số VND/USD giảm xuống, hàng hoá sản xuất trong nước sẽ trở nên đắt hơn, sức cạnh tranh về giá giảm xuống và hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn, hạn chế xuất khẩu, kích thích tăng nhập khẩu

3.1.2 Môi trường chính trị, pháp luật

Là một yếu tố định tính nhưng nó cũng có vai trò khá quan trọng đối với các doanh nghiệp Mỗi một doanh nghiệp hoạt động đều phải tuân theo những quy định Pháp luật như sử dụng lao động, thuế, đầu tư, bảo vệ môi trường…

Trang 23

Sự ổn định của chính trị xã hội là điều kiện quan trọng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong nước cũng yên tâm hơn trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.

3.1.3 Môi trường văn hoá, xã hội

Hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như:

- Dân số: tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, mật độ dân số, giới tính, tỷ lệ nam/nữ, tốc độ di dân…

3.1.4 Môi trường tự nhiên

Là những yếu tố thuộc môi trường sống xung quanh như khí hậu, tài nguyên thiên nhiên khoáng sản, đất đai…Những yếu tố này có thể tạo nên thuận lợi hoặc khó khăn cho các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp khai thác, chế biến

3.1.5 Môi trường công nghệ

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, sự phát triển của khoa học công nghệ đống vai trò cực kỳ quan trọng Ngày nay, công nghệ được coi là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh, vì thế các công ty đã chi ra một lượng kinh phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể chi phí hoạt động của doanh nghiệp cho các nghiệp vụ nghiên cứu, phát triển

và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất của doanh nghiệp

Công nghệ phát triển, giúp doanh nghiệp có đựơc những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, chủng loại sản phẩm phong phú hơn và giá thành sản phẩm nhỏ hơn trước Đó là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Sự phát triển của công nghệ vừa là một cơ hội nhưng cũng là một nguy

cơ, công nghệ phát triển nhanh làm cho các sản phẩm trở nên lạc hậu, chu kỳ

sống của nó bị giảm ngắn lại

Trang 24

3.1.6 Tình hình kinh tế thế giới

Mỗi doanh nghiệp là một cá thể của nền kinh tế quốc dân, mỗi nền kinh tế là một bộ phần cấu thành nền kinh tế thế giới Vì thế tình hình kinh tế thế giới sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp Khi kinh tế thế giới ở trong giai đoạn phát triển mạnh, đó sẽ là tiền đề cho các doanh nghiệp trong nước phát triển

3.2 Mô hình 5 áp lực canh tranh

Bất kỳ một doanh nghiệp nào trong thị trường cũng chịu tác động của 5 đối tượng

Đây là đối tượng cung cấp đầu vào đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành liên tục như nguyên vật liệu, trang thiết bị, lao động Vì thế nhà cung ứng góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh cho doanh nghiêp Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nhà cung ứng gây khó khăn cho doanh nghiệp thông qua việc đòi tăng giá,

Các đối thủ tiềm năng

Các đối thủ cạnh tranh trong ngành Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện

tại

Sản phẩm thay thế

Khách hàng

của người mua

của người cung ứng

Nguy

cơ đe dọa từ

những sản phẩm và dịch

vụ thay thế

Trang 25

giảm chất lượng của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất hoặc tiến hành cung ứng cho doanh nghiệp canh tranh trong ngành.

Sức ép từ phía nhà cung cấp phụ thuộc vào:

Mức độ tập trung của nhà cung cấp

- Sự khác biệt hoá của sản phẩm nhà cung cấp

- Khả năng hội nhập dọc xuôi chiều của doanh nghiệp

- Chi phí chuyển đổi

Công ty Xerox là người phát minh ra máy photocopy, họ có được sự độc quyền trong thời gian 25 năm trong việc sản xuất loại máy này Khách hàng buộc phải chấp nhận mức giá bởi Xerox là nhà độc quyền

Là đối tượng trực tiếp tiêu thụ cũng như đánh giá sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Khi tiêu dùng, họ có nhu cầu đòi hỏi nâng cao chất lượng cũng như hạ giá bán của sản phẩm dịch vụ Ngoài ra họ còn gây khó khăn cho doanh nghiệp thông qua việc

từ bỏ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp và chuyển sang sản phẩm thay thế của doanh nghiệp khác trong ngành

Sức ép từ phía khách hàng phụ thuộc vào các yếu tố:

- Mức độ tập trung của khách hàng: Nếu khách hàng tập trung, doanh nghiệp phân tán thì sức ép của khách hàng lên doanh nghiệp lớn

- Tỷ trọng mua sắm của khách hàng đối với sản phẩm của ngành Đó là tỷ lệ giữa

số tiền mà khách hàng chi trả cho sản phẩm của ngành trên tổng chi phí tiêu dùng của khách hàng Nếu tỷ trọng này lớn thì sức ép lớn

- Chi phí chuyển đối Nếu giữa khách hàng và doanh nghiệp có hợp đồng cam kết, người tiêu dùng khó thay đổi sự lựa chọn của mình thì sức ép của khách hàng lên doanh nghiệp nhỏ

- Khả năng hội nhập dọc ngược chiều của doanh nghiệp Nếu khả năng này lớn thì sức ép lớn và ngược lại

Trang 26

3.2.3 Sản phẩm thay thế

Là những sản phẩm của công ty trong những ngành khác nhưng có khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường giống như công ty trong ngành Những công ty này thường cạnh tranh gián tiếp với nhau

Ví dụ: ngành cafe với ngành chè, bia với rượu Khi giá của sản phẩm tăng lên thì người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng sản phẩm thay thế

Sự xuất hiện của sản phẩm thay thế vừa là động lực để doanh nghiệp cải tiến, nâng cao chất lượng cũng như hạ giá thành sản xuất, nhưng cũng là một nguy cơ đe doạ đến sự phát triển của doanh nghiệp

Sức ép từ phía sản phâm thay thế phụ thuộc vào:

- Số lượng các sản phẩm thay thế: Số lượng sản phẩm thay thế nhiều thì sức ép càng lớn và ngược lại

- Giá cả của sản phẩm thay thế: Nếu giá sản phẩm thay thế thấp thì sức ép lớn

- Chất lượng sản phẩm thay thế: Chất lượng sản phẩm thay thế cao thì sức ép lên doanh nghiệp lớn

3.2.4 Đối thủ hiện tại trong nội bộ ngành

Đây là đối thủ cạnh tranh trực tiếp ở thời điểm hiện tại của doanh nghiệp

Sức ép của đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào:

- Xu hướng nhu cầu thị trường của ngành: Nếu xu hướng này tăng lên cao thì cường độ cạnh tranh giữa các công ty trong ngành giảm và ngựơc lại

- Cấu trúc ngành hay mức độ tập trung của ngành: Thể hiện qua số lượng, quy

mô của các doanh nghiệp trong ngành Nếu ngành tập trung( gồm ít doanh nghiệp quy

mô lớn liên kết với nhau) thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là nhỏ, ngược lại ngành phân tán ( gồm nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ liên kết với nhau), sự gia nhập ngành dễ dàng thì cạnh tranh là rất lớn

- Rào cản rút lui khỏi ngành: Đó là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi rút lui khỏi ngành như máy móc, hợp đồng, lao động…Nếu rào cản này lớn, doanh nghiệp khó rút ra khỏi ngành thì cạnh tranh giữa các đối thủ lớn và ngược lại

Trang 27

3.2.5 Đối thủ tiềm ẩn

Là những đối thủ tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai và cạnh tranh với doanh nghiệp trên thị trường Sự đe doạ của những đối thủ tiềm ẩn này là rất lớn, do tính chất khó lường trước nên không có nhiều những phương án hữu hiệu để đối phó với những đối thủ này

Đối thủ tiềm ẩn này sẽ gây ra nhiều sức ép cho doanh nghiệp hiện tại đang hoạt động trong ngành, sức ép này phụ thuộc vào rào cản gia nhập ngành

Rào cản gia nhập ngành phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố:

- Tăng hiệu quả kinh tê do quy mô lớn: Một công ty muốn gia nhập thị trường nhưng hiện tại trong thị trường đó lại đang tồn tại những công ty có quy mô lớn, điều này gây khó khăn cho công ty khi muốn gia nhập vào thị trường này

- Khác biệt hoá sản phẩm: Nhằm giành giật khách hàng của đối thủ

- Yêu cầu về vốn

- Phí tổn chuyển đổi: Là phí tổn một lần mà người mua gặp phải khi chuyển từ sản phẩm của một nhà cung ứng này sang nhà cung ứng khác

- Tiếp cận các kênh phân phối: Công ty muốn xâm nhập thị trường phải đảm bảo

có một hệ thống phân phối sản phẩm, công ty mới phải thuyết phục cửa hàng bán lẻ bán sản phẩm của mình

Những bất lợi về giá cả cho dù quy mô lớn nhỏ như thế nào: Một công ty có sẵn thương hiệu nổi tiếng từ trước có nhiều lợi thế hơn công ty mới gia nhập không thể có được dù quy mô lớn hay nhỏ như: Công nghệ sản phẩm độc quyền, được tiếp cận nguồn nguyên liệu thuận lợi, vị trí thuận lợi, sự hỗ trợ của chính phủ, kinh nghiệm…

Để giải quyết những áp lực này, doanh nghiệp cần thực hiện một trong

ba chiến lược đó là:

- Chiến lược dẫn đầu về chi phí: Doanh nghiệp tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp hơn trong ngành với tiêu chuẩn chất lượng nhất định Khi đó, công ty có thể bán sản phẩm với giá trung bình của toàn ngành để thu được lợi nhuận cao hơn đối thủ hoặc bán với giá thấp hơn giá trung bình để giành thêm thị phần

Trang 28

- Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm: Là chiến lược mà doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh nhờ vào việc sản xuất sản phẩm có đặc tính, đặc thù được khách hàng đán giá cao hơn đối thủ cạnh tranh Giá trị gia tăng nhờ tính độc đáo của sản phẩm cho phép nhà sản xuất tăng giá bán bán mà không sợ bị khách hàng tẩy chay.

- Chiến lược tập trung vào một phân đoạn thị trường hẹp: Doanh nghiệp cố gắng giành lợi thế nhờ cạnh tranh chi phí thấp hoặc cá biệt hoá sản phẩm bằng cách áp dụng

l thuyết “ nhu cầu của một nhóm có thể được thoả mãn tốt hơn bằng cách hoàn toàn tập trung vào phục vụ nhóm đó”

3.3 Nhân tố nội tại của doanh nghiệp

Để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, yếu tố vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng Vốn đảm bảo cho việc duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Lao động là yếu tố đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất sản xuất, số cũng như chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp vì thế nó góp phần nâng cao năng lực canh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có đầy đủ số lượng lao động với trình độ tay nghề cao sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác

Là yếu tố sáng tạo nên những sản phẩm mới cũng như huỷ diệt những sản phẩm

cũ, lạc hậu Công nghệ hiện đại giúp doanh nghiệp có được những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và nó cũng quyết định năng suất lao động của người lao động trong doanh nghiệp

3.3.4 Năng lực quản lý

Mỗi loại hình doanh nghiệp có một cách thức tổ chức ban lãnh đạo cũng như năng lực quản lý khác nhau Sự chủ động, khôn ngoan, tài năng, đạo đức, nhạy bén trong quản lý giúp doanh nghiệp tận dụng được cơ hội, chiếm được thời cơ trước các đối thủ của mình

Trang 29

3.3.5 Quy mô

Quy mô là điều kiện giúp cho doanh nghiệp triển khai kế hoạch sản xuất được thuận lợi, tiết kiệm chi phí Doanh nghiệp có quy mô lớn, sản xuất ra khối lượng hàng hoá lớn sẽ thoả mãn được lớn hơn nhu cầu của khách hàng so với đối thủ

Là động lực cho các hoạt động của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện

đại giúp doanh nghiệp hoạt động dễ dàng hơn, hiệu quả lớn hơn

3.3.7 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến cạnh tranh

3.3.7.1 Hàng hóa và cơ cấu hàng hóa trong kinh doanh

Điều quan trọng nhất đối với hoạt động của một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh là phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai? Còn đối với doanh nghiệp thương mại thì điều quan trọng trong kinh doanh là cung cấp cái gì? cho ai? và ở đâu? Như vậy , có nghĩa là cần xây dựng cho mình một chính sách sản phẩm , hàng hóa Khi tham gia hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có hàng hóa đem ra thị trường và phải làm sao cho hàng hóa của mình thích ứng được với thị trường, nhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường , tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện đa dạng hóa các mặt hàng kinh doanh Thực chất của đa dạng hóa đó là quá trình

mở rộng hợp lý danh mục hàng hóa, tạo nên một cơ cấu hàng hóa có hiệu quả của doanh nghiệp Hàng hóa của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng

để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng, mẫu

mã, bao bì Đồng thời tiếp tục duy trì các hàng hóa đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu tìm ra các hàng hóa mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Đa dạng hóa hàng hóa kinh doanh không chỉ là để đáp ứng nhu cầu thị trường, thu được nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh trong tình hình cạnh tranh trở nên gay gắt, quyết liệt

Đi đôi với việc thực hiện đa dạng hóa các mặt hàng, để đảm bảo đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể hiện hiện trọng tâm hóa hàng

Trang 30

hóa vào một số loại hàng hóa nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một vùng thị trường nhất định của mình Trong phạm vi này, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh, do đó doanh nghiệp

đã tạo dựng một bức rào chắn, đảm bảo giữ vững được thị trường của mình

Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần thực hiện chiến lược khác biệt hóa hàng hóa, tạo ra các nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách hàng vào các hàng hóa của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp

Như vậy, hàng hóa và cơ cấu hàng hóa một cách tối ưu là một trong những yếu

tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

3.3.7.2 Chất lượng hàng hóa

Nếu như trước kia giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng hàng hóa Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là “biện pháp nghèo nàn” vì nó làm giảm lợi nhuận thu được, mà ngược lại cùng một loại hàng hóa, chất lượng hàng hóa nào đáp ứng được nhu cầu khách hàng thì họ cũng sẵn sàng mua với mức giá cao hơn, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời sống nhân dân được nâng cao hơn trước Chất lượng hàng hóa là hệ thống nội tại của hàng hóa được xác định bằng cả thông số có thể đo được hoặc so sánh được, thõa mãn các điều kiện kỹ thuật và những yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội Chất lượng hàng hóa được hình thành từ khâu thiết kế với tổ chức sản xuất và ngay cả khâu tiêu thụ hàng hóa và chịu tác động của nhiều yếu tố: công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ quản lý…

Chất lượng hàng hóa không chỉ là bền, tốt, đẹp mà nó còn do khách hàng quyết định Muốn đảm bảo về chất lượng thì một mặt phải thường xuyên chú ý tới tất

cả các khâu trong quá trình sản xuất Mặc khác, chất lượng hàng hóa không những được đảm bảo trước khi bán mà còn phải được đảm bảo ngay cả sau khi bán hàng bằng các dịch vụ bảo hành Chất lượng hàng hóa thể hiện tính quyết định khả năng của doanh nghiệp ở chỗ:

+ Nâng cao chất lượng hàng hóa sẽ làm tăng khối lượng hàng hóa bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm

Trang 31

+ Hàng hóa chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp kích thích khách hàng mua hàng và mở rộng thị trường.

+ Chất lượng hàng hóa cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp

3.3.7.3 Tổ chức hoạt động xúc tiến

Trong kinh doanh thương mại hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả cao nếu chỉ nghĩ rằng: “Có hàng hóa chất lượng cao, giá rẻ là đủ để bán hàng” Nhưng giá trị hàng hóa, dịch vụ, thậm chí cả những lợi ích đạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phải được thông tin tới khách hàng hiện đại, khách hàng tiềm năng, cũng như những người có ảnh hưởng tới việc mua sắm Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần thực hiện tốt các hoạt động xúc tiến thương mại

Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến là tập hợp nhiều nội dung khác nhau nhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp…

 Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến gồm một số nội dung sau :

- Quảng cáo

- Khuyến mại

- Hội chợ triễn lãm

- Bán hàng trực tiếp

- Quan hệ công chúng và các hoat động khuếch trương khác

Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền tin (Đài, báo, truyền hình…) về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tới người tiêu dùng nhằm làm cho khách hàng chú ý tới sự có mặt của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ sẽ được cung cấp Quảng cáo phải tạo ra sự khác biệt giữa hàng hóa của doanh nghiệp với hàng hóa khác trên thị trường, làm tăng giá của hàng hóa bán ra Quảng cáo phải gây ấn tượng cho khách hàng, tác động vào tâm lý của khách hàng… để làm nảy sinh nhu cầu mua sắm của họ Từ đó, làm tăng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (nhờ tăng lượng bán) Và một tác dụng nữa của quảng cáo là nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, là một phương tiện cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh

Trang 32

Bên cạnh hoạt động trên, hiện nay các doanh nghiệp còn thực hiện các hoạt động như chào hàng, tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng… để giới thiệu

về sản phẩm của doanh nghiệp mình

Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến tốt tác động mạnh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt giúp cho doanh nghiệp tăng lượng bán, tăng doanh thu, lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh

- Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt sẽ tạo ra uy tín sản phẩm trên thị trường, làm cho khách hàng biết đến và hiểu rõ kỹ năng, công dụng của sản phẩm

- Tổ chức hoạt động xúc tiến giúp cho doanh nghiệp tìm được nhiều bạn hàng mới, khai thác được nhiều thị trường, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển

Công ty TNHH TM Rồng Châu Á đã có một số hoạt động xúc tiến như cho ra đời các catalogue giới thiệu sản phẩm của công ty, cử cán bộ đi tham dự các hội chợ, triễn lãm quốc tế nhằm tìm kiếm thêm khách hàng, giới thiệu mặt hàng… và đã thu được một số kết quả đáng khen ngợi

3.3.7.4 Dịch vụ sau bán hàng

Để nâng cao uy tín và trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng về hàng hóa của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phaiar thực hiện tốt các dịch vụ sau bán hàng

Nội dung hoạt động sau bán hàng gồm : Hướng dẫn cách sử dụng hàng hóa, lắp đặt, sữa chữa, bảo hành, bảo đảm các dịch vụ thay thế…

Tác động của dịch vụ sau bán hàng :

- Tạo được uy tín cho hàng hóa vầ doanh nghiệp trên thị trường

- Duy trì và mở rộng thị trường

- Bán thêm các thiết bị thay thế làm tăng doanh thu lợi nhuận

Qua dịch vụ sau bán hàng doanh nghiệp nắm bắt được hàng hóa của mình có đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng không, để từ đó ngày càng hoàn thiện và đổi mới sản phẩm của mình Do vậy, dịch vụ sau bán hàng là một biện pháp rất tốt tăng uy tín trong cạnh tranh

Trang 33

3.3.7.5 Phương thức thanh toán

Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phương thức thanh toán khác nhau như : mở L/C… giúp cho hoạt động mua bán được diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi cho người bán và người mua Việc lựa chọn phương thức thanh toán hợp lý sẽ có tác đọng kích thích đối với khách hàng, tăng khối lượng tiêu thụ và do đó, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

3.3.7.6 Yếu tố thời gian

Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay làm thay đổi nhanh chóng suy nghĩ, sở thích hay nhu cầu của người tiêu dùng, cũng như

sự rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm, đối với các doanh nghiệp yếu tố quan trọng quyết định thành công trong kinh doanh hiện đại là thời gian và tốc độ chứ không phải là yếu tố truyền thống như nguyên vật liệu, hay lao động

Những thay đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cho các cuộc cạnh tranh ngày trở nên gay gắt, khốc liệt hơn và trong công cuộc chạy đua này

ai biết nắm bắt thời cơ và đi trước thì người đó sẽ thắng Muốn vậy các doanh nghiệp phải tổ chức tốt hoạt động thu thập và xử lý thông tin thị trường, phải biết nắm bắt thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu của thị trường, nhanh chóng tổ chức kinh doanh, tiêu thụ , thu hồi vốn trước khi chu kỳ sản phẩm kết thúc

Hiện nay, ở nhiều nước phát triển cạnh tranh bằng thời gian là một biện pháp rất quan trọng mang tính chất sống còn của doanh nghiệp Đi trước một bước trong kinh doanh là đã dành được một phần chiến thắng quan trọng trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị trường, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, khi xây dựng một chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp thường đề cập tới vấn đề

“Tốc độ thị trường” ; “cạnh tranh dựa trên thời gian” và chú trọng tới chu kỳ sống của sản phẩm, thõa mãn nhu cầu sống của thị trường, thời gian đầu tư, thời gian thu hồi vốn, tốc độ tiêu thụ sản phẩm

Ngoài các yếu tố trên vốn và quy mô daonh nghiệp… cũng sẽ tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như việc nâng cao khả năng cạnh tranh

Uy tín của doanh nghiệp cũng là yếu tố rất quan trọng, đó là cơ sở để doanh nghiệp

có thể dể dàng giành thắng lợi trong canh tranh vì họ đã có một lượng khách hàng

Trang 34

quen thuộc tín nhiệm Uy tín của doanh nghiệp được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và nó là một tài sản vô hình mà doanh nghiệp cần phải biết giữ gìn và phát huy tài sản đó.

Trang 35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY

TNHH THƯƠNG MẠI RỒNG CHÂU Á

1 Quá trình hình thành và giới thiệu về Công ty TNHH TM Rồng Châu Á

Tên giao dịch: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mại Rồng Châu Á

Tên tiếng anh: Asia Dragon Trading Company Limited

Trụ sở chính: 238 Bình Lợi, Phường 13, Quận Bình Thạnh, Hồ Chí Minh

Văn phòng kinh doanh: 23 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, Hồ Chí Minh

Website: asiadragon.vn

Công ty TNHH TM Rồng Châu Á được thành lập theo giấy phép kinh doanh số……… do UBND Tp.Hồ Chí Minh vào ngày 15/12/2007 Công ty có vốn điều lệ 500 triệu đồng do hai thành viên sáng lập Trụ sở công ty đặt tại 238 Bình Lợi, Phường 13, Quận Bình Thạnh, Hồ Chí Minh

Công ty TNHH TM Rồng Châu Á được hạch toán độc lập tự chủ về tài chính,

có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và tài khoản tại Ngân hàng, được tổ chức hoạt động theo điều lệ công ty và trong khuôn khổ pháp luật

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của toàn xã hội thì nhu cầu sử dụng nguồn năng lượng điện cũng tăng cao, bên cạnh đó các nguồn nhiên liệu lại đang dần khan hiếm dẫn tới điện không đủ phục vụ cho sản xuất và đời sống Đi đôi với việc giải quyết vấn đề khó khăn trên thì giải pháp trước mắt vẫn là sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng hiện có, trong đó có việc sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng chiếu sáng

Trải qua nhiều năm phát triển cho đến nay công ty đã có một đội ngũ cán bộ nhân viên năng động, nhân viên bán hàng chuyên nghiệp Công ty là nhà phân phối độc quyền thương hiệu COOPER tại thị trường Việt Nam, công ty có văn phòng, chi nhánh và tổng kho dự trữ hàng hóa tại nhiều quận (huyện) tại thành phố Hồ Chí Minh, nhằm đảm bảo cho khách hàng luôn được cung ứng những sản phẩm và dịch vụ đầy

đủ, nhanh chóng và tốt nhất khắp các tỉnh thành Nhờ vậy mà hiện nay công ty đã tạo được uy tín và chỗ đứng vững chắc trên thị trường

Công ty TNHH TM Rồng Châu Á chuyên cung cấp thiết bị chiếu sáng tiết kiệm điện của thương hiệu COOPER, được nhập khẩu trực tiếp từ Malaysia với các loại đèn

Trang 36

chiếu sáng trong nhà và ngoài nhà, đèn trang trí các loại dùng cho văn phòng, resort, chung cư, siêu thị, cửa hàng, trường học, bệnh viện, các công trình công nghiệp và dân

dụng…… đặc biệt là dòng sản phẩm đèn LED (Light Emitting Diode) với các tính

năng vượt trội như:

Tiết kiệm năng lượng

Không những tiết kiệm tối đa năng lượng so với việc sử dụng bóng đèn chiếu sáng thông thường như đèn Sợi đốt, đèn Halogen, đèn Huỳnh quang, đèn Compact,

… sản phẩm này còn nâng cao hiệu quả làm việc của hệ thống điều hòa không khí

do lượng nhiệt tỏa ra rất thấp

Thân thiện môi trường

Do đèn LED có tuổi thọ rất cao, đặc biệt là không sử dụng thủy ngân nên tối thiểu hóa lượng khí thải CO2 (từ 45% đến 80%) và giảm phần lớn lượng rác thải ra môi trường

Tiện dụng

Lắp đặt dễ dàng và hoàn toàn phù hợp để thay thế cho các loại đèn khác

An toàn cho người sử dụng

Bản thân đèn LED đều sử dụng tăng phô làm giảm dòng điện còn 12/24V và có

hệ thống tiếp đất nên không gây nguy hiểm, giảm tối đa nguy cơ cháy nổ

Chất lượng ánh sáng thân thiện với con người

Tối thiểu hóa tia cực tím và bức xạ hồng ngoại, không nhấp nháy, không gây nhức mỏi mắt, dải điện áp tương đối rộng (110 – 220V)

Tuổi thọ cao

Sử dụng bền lâu, tuổi thọ trung bình gấp 10-20 lần các loại bóng đèn chiếu sáng thông thường, tiết kiệm chi phí

2 Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty

2.1 Chức năng: Công ty có chức năng cung cấp, phân phối các sản phẩm thiết

bị đèn chiếu sáng cho các công trình dân dụng và công nghiệp phục vụ nên kinh kế quốc dân

2.2 Nhiệm Vụ: Tổ chức sản xuất kinh doanh đúng với đăng ký kinh doanh

được cấp đồng thời đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 37

- Thúc đẩy doanh nghiệp phát triển đảm bảo đời sống cho người lao động.

- Thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước

- Chăm lo đời sống nhân viên về cả tinh thần và vật chất

- Quản lý tốt cán bộ, công nhân viên của công ty, bồi dưỡng nghiệp vụ kinh doanh để có hiệu quả kinh tế cao

- Tổ chức tiếp nhận và lưu thông phân phối các loại đèn chiếu sáng

2.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty:

- Công ty có tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán kinh doanh độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng, được đăng ký kinh doanh theo nhiệm vụ quy định được ký hợp đồng kinh tế với tất cả các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước Được huy động mọi nguồn vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh

- Hình thức sở hữu vốn: sở hữu tư nhân

- Hình thức hoạt động: kinh doanh

- Lĩnh vực kinh doanh: Buôn bán các thiết bị đèn chiếu sáng, thiết bị điều khiển ánh sáng tự động

2.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty

- Cùng với quá trình phát triển, công ty đã không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của mình Có thể nói bộ máy quản lý là đầu não, là nơi đưa ra quyết định kinh doanh và tổ chức sản xuất

- Đến nay công ty tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến gồm 4 phòng ban:

- Đứng đầu công ty là Giám đốc và Phó Giám đốc

- Tại các phòng ban đều có trưởng phòng và phó phòng phụ trách công tác hoạt động của phòng ban mình

- Bộ máy quản lý kinh doanh của công ty có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:

Ngày đăng: 07/04/2021, 22:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w