1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận tâm lý học đặc điểm tâm lý của giai cấp công nhân việt nam và ý nghĩa của vấn đề trong giáo dục, huấn luyện

21 99 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ buổi đầu dựng nước đến nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân càng có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ đối với phát triển kinh tế xã hội mà còn đối với việc ổn định chính trị đất nước.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM.

Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ TRONG GIÁO DỤC, HUẤN LUYỆN

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ buổi đầu dựng nước đến nay,vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng hàngđầu Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nôngdân càng có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ đối với phát triển kinh tế - xãhội mà còn đối với việc ổn định chính trị đất nước Thực tiễn đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc, thống nhất đất nước cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấpnông dân thực sự là một lực lượng hùng hậu, cùng với giai cấp công nhân vàtoàn thể nhân dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc Hiện nay,giai cấp nông dân nước ta chiếm gần 80% dân số cả nước, chiếm khoảng 71%tổng lao động toàn xã hội Đây là giai cấp có tiềm năng rất to lớn của đấtnước, đặc biệt tiềm năng về lao động, con người Họ không chỉ là lực lượnglao động có vai trò quyết định đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hộinông thôn nói riêng mà còn là lực lượng cách mạng hùng hậu, góp phần quantrọng vào sự thành bại trong sự nghiệp xây dựng CNXH của cả dân tộc

Sau hơn 2 thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới đã tạo nên những biếnđổi quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới về vai trò vị trí của giai cấp nôngdân và sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn nước ta Đặc biệt, chủ trươngđưa kinh tế nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa (XHCN), đưa nông nghiệp, nông thôn hội nhập nhanh chóng vào

sự nghiệp CNH, HĐH kinh tế - xã hội của cả nước, làm thay đổi nhanh chóng

bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn Cùng với những biến đổi về kinh tế - xãhội, tâm lý của giai cấp nông dân cũng có những biến đổi mạnh mẽ Đây làmột quá trình rất phức tạp với sự thay đổi về tình cảm, tâm trạng, động cơ,thái độ, nhu cầu, xu hướng tâm lý, niềm tin, ý chí; là sự tự điều chỉnh lạinhững mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng của nông dân Nó

Trang 2

trực tiếp tác động, chi phối hành vi của người nông dân trong sản xuất, trongsinh hoạt thường ngày Do đó, dưới góc độ tâm lý học xã hội, nghiên cứu đặcđiểm tâm lý của giai cấp công nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng tronghoạch định những chính sách đối với nông dân, với sự phát triển của nôngnghiệp và nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay Trongphạm vi bài tiểu luận này, trên cơ sở khái quát các tài liệu khác nhau, chúngtôi trình bày những đặc điểm tâm lý cơ bản của giai cấp nông dân Việt Nam,

từ truyền thống đến hiện đại, chỉ ra những biến đổi của những đặc điểm đótrong điều kiện kinh tế thị trường, từ đó rút ra một số vấn đề trong giáo dục,huấn luyện

1 Đặc điểm tâm lý truyền thống của giai cấp nông dân Việt Nam

Tâm lý nông dân thực chất là tâm lý xã hội nông dân Đó là các hiệntượng ý thức như tình cảm, tâm trạng, ước muốn, thói quen, tập quán, động

cơ, thái độ, hứng thú, sở thích, nhu cầu, xu hướng của giai cấp nông dân,được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ vàchi phối thái độ, hành vi, cách ứng xử của họ Tâm lý giai cấp nông dân đượchình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc,với tính chất công điền, công thổ về ruộng đất cùng những luật lệ quy địnhchặt chẽ về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, về mối quan hệ cá nhân và cộngđồng suốt bề dày lịch sử đấu tranh, vận lộn với thiên nhiên và chống giặcngoại xâm và chi phối hành vi, cách ứng xử của họ Đồng thời, tâm lý giaicấp nông dân còn phản ánh điều kiện xã hội lịch sử chung của dân tộc Vìvậy, tâm lý giai cấp nông dân Việt Nam có những đặc điểm truyền thốngriêng, bao gồm cả những nét tích cực và tiêu cực

1.1 Những đặc điểm tâm lý truyền thống tích cực của giai cấp nông dân Việt Nam

Truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc

Trang 3

Đây là một trong những giá trị tinh thần lớn nhất, bền vững và trườngtồn, chi phối ý thức, hành vi, lối ứng xử của người nông dân; là nét tâm lýtruyền thống đặc trưng tiêu biểu của người nông dân Việt Nam cũng đồngthời là của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Trong quan niệm củamình, người nông dân Việt Nam rất đề cao chữ “hiếu”, họ cho rằng con cáiphải hiếu thảo, chăm sóc, nuôi nấng phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu Trongcác câu ca dao truyền khẩu, người ta vẫn nhắc nhở nhau rằng: đạo làm conphải luôn ghi nhớ "công cha", "nghĩa mẹ", phải "thờ mẹ, kính cha" sao cho

"tròn chữ hiếu" Có như vậy mới hợp với đạo sinh thành của trời đất Song,trong tâm hồn của mỗi nông dân Việt Nam, không chỉ có tình cảm yêu thươngcha mẹ mà ở họ, lòng yêu nước đã trở thành một tình cảm thiêng liêng, ngấmvào máu thịt Bởi vậy, họ không chỉ giữ chữ hiếu với cha mẹ mà còn phải trònchữ hiếu với Tổ quốc Điều này đã trở thành thói quen, thành phong tục, tậpquán, lối sống đạo đức của của nông dân Việt Nam Khi nước nhà có giặcngoại xâm, vì đại hiếu với Tổ quốc, người nông dân tạm gác tiểu hiếu với cha

mẹ để ra đi đánh giặc cứu nước Cứu nước cũng là cứu nhà, người thực hiệntốt đại hiếu sẽ được dư luận đánh giá cao, làm rạng danh cho tổ tông, cha mẹ

và như vậy, cũng phần nào thực hiện được tiểu hiếu của ḿnh Trái lại, ngườinào không làm tròn đại hiếu sẽ mang lại nỗi ô nhục cho tổ tông, dòng tộc vàcũng là bất hiếu với cha mẹ Hiếu với cha mẹ cũng là để hiếu với nước Nướcvới nhà, làng xóm với gia đình đan xen, hòa quyện vào nhau tạo thành mộtđộng lực, một giá trị tinh thần bền vững của nông dân Việt Nam Đây chính làmột trong những giá trị tinh thần lớn nhất, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt truyềnthống Việt Nam đến tận ngày nay

Tinh thần đoàn kết, tính cố kết cộng đồng

Đặc điểm địa lý, khí hậu khắc nghiệt, thất thường đã khiến người nôngdân Việt Nam luôn phải vất vả, vật lộn với thiên tai để sinh tồn, mặt khác,trong lịch sử, dân tộc ta phải trải qua biết bao cuộc chiến tranh để giữ nước do

Trang 4

vậy đã hun đúc nên “truyền thống đoàn kết”, tính “cố kết cộng đồng” Ngườinông dân Việt Nam ý thức rất rõ mối liên kết Nhà - Làng - Nước gắn bó chặtchẽ với nhau, nước mất thì nhà tan nên họ rất có ý thức chăm lo, bảo vệ, xâydựng và phát triển mối liên kết cộng đồng Do vậy, tinh thần đoàn kết, tính cốkết cộng đồng là đặc trưng phổ biến trong tâm lý người nông dân Việt Nam.Nhờ có tâm lý cộng đồng mà người nông dân đã cùng nhau gánh vác côngviệc chung của cộng đồng, làng xóm, thể hiện sự tương thân, tương ái

"thương người như thể thương thân", cùng nhau "chia ngọt sẻ bùi"; cùng nhauvượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống

Tình yêu lao động, cần cù trong cuộc sống

Yêu lao động, cần cù trong cuộc sống là nét bản chất nhất, là thước đogiá trị cao nhất người nông dân Việt Nam Do đặc thù của điều kiện sống vàsản xuất nông nghiệp, người nông dân Việt Nam gắn liền với lao động và rấtcần cù chịu khó trong cuộc sống Việt Nam là đất nước nhỏ, thiên nhiên tươiđẹp, song, khí hậu lại rất hà khắc Người nông dân luôn phải đối mặt với thiêntai, địch họa Vì vậy từ xa xưa đã hình thành nên trong con người nông dânViệt Nam một tình yêu đối với lao động, sự cần cù sáng tạo trong cuộc sống.Hơn ai hết, họ hiểu rằng, nếu không gắng sức, lười biếng trong lao động thì sẽđói nghèo, nên yêu lao động, cần cù trong cuộc sống vốn là bản tính củangười nông dân Việt Nam Hơn thế nữa, bản tính này dược truyền từ đời nàysang đời khác và trở thành truyền thống người nông dân Việt Nam Khinghiên cứu bản chất con người, Mác và Ăngghen cho rằng: nhân tố cơ bảnlàm xuất hiện ý thức con người chính là lao động; nhân tố làm nên sự khácbiệt giữa con người và con vật chính là ở chỗ biết làm ra công cụ lao động

Rõ ràng, nhờ có lao động mà xã hội có thêm nhiều của cải; có phân công laođộng và xã hội phát triển lần lượt qua các nền văn minh từ đồ đá, đồ đồng, đồsắt đến văn minh điện tử, tin học ngày nay Lao động là đặc trưng cơ bảnnhất của bản chất người, của nhân tính Với người dân Việt Nam, đặc biệt là

Trang 5

nông dân làng xã cổ truyền Việt Nam, lao động cần cù và sáng tạo là nét bảnchất của họ.

Trọng đạo đức, trọng danh dự và tình cảm.

Coi trọng đạo đức, sống có tình nghĩa là lối ứng xử của người nông dânViệt Nam cũng là tiêu biểu cho con người Việt Nam Truyền thống tốt đẹp đógóp phần tạo dựng văn hóa, văn hiến đặc sắc, tạo nên sự bình yên, duyêndáng của nông dân Việt Nam, làng quê Việt Nam Cùng với tinh thần yêunước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết thân ái, yêu lao động, cần cù, chịu khóthì trọng đạo đức, danh dự và tình cảm cũng là một phẩm chất tốt đẹp củangười nông dân Việt Nam Phẩm chất này chịu tác động khá sâu sắc của một

số hệ tư tưởng tôn giáo, triết học, tín ngưỡng trong và ngoài nước, đáng kểnhất là: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Tuy nhiên, sự tiếp thu những ảnhhưởng đó ở người nông dân Việt Nam cũng rất linh hoạt, không thụ động, màmềm dẻo, có chọn lọc, sáng tạo Chính vì vậy, suốt hàng chục thế kỷ quangười nông dân Việt Nam vẫn giữ được bản sắc riêng mà không bị đồng hóa

Trên mảnh ruộng, luống cày, người nông dân Việt Nam sống bằngchính sức lao động của mình Họ không bóc lột sức lao động của người khác,không buôn bán lớn, sống quần tụ trong cộng đồng làng xóm, dòng họ Vìvậy, nhìn chung lối sống cá nhân chủ nghĩa, vị kỷ, thực dụng thường xa lạ vớingười nông dân nước ta, họ lấy tích thiện làm đầu Cái thiện, cái đức là nétđặc trưng cơ bản của người nông dân Việt Nam, là cái để phân biệt nhân bảnvới cái phi nhân bản Thiện được xem là cốt lõi của đạo đức Có đức mới là

có tính người Kẻ nào đánh mất đức, đánh mất tính thiện thì không phải làngười Cái thiện vốn có trong con người ta, sinh ra đã là vậy, "nhân sơ tínhbản thiện" Con người Việt Nam, người nông dân Việt Nam luôn trọng đạođức, danh dự và tình cảm Họ quan niệm giữ gìn được đạo đức sẽ giữ đượctính người Người nông dân Việt Nam không trọng của cải vật chất hơn đạođức, danh dự, tình cảm Hơn nữa, văn hóa truyền thống làng xã cùng thể chế

Trang 6

chính trị phong kiến luôn hướng con người ta đến chỗ coi trọng đạo đức.Trong cộng đồng làng xã, ngoài các chức sắc, chức dịch, người học hành thi

cử đỗ đạt cao thì người được kính trọng nhất trong làng vẫn là những người

có đạo đức Có thể nói đạo đức là thước đo quan trọng của nhân cách, là nềntảng cơ bản của cái đẹp, có thể đánh bật được cái hào nhoáng bóng bẩy bềngoài Dân gian thường truyền tụng: "Cái nết đánh chết cái đẹp", "Tốt gỗ hơntốt nước sơn"

Người nông dân Việt Nam sống trong làng xã rất coi trọng nghĩa tình

Họ luôn nhấn mạnh sự hài hòa giữa tình cảm yêu thương với nghĩa vụ conngười Khi mối quan hệ này bị xung khắc, bị thương tổn hoặc thậm chí bị phá

vỡ thì cái tình dù mất, cái nghĩa vẫn còn Điều đó đã làm cân bằng cán cân xãhội, dù mọi vật xoay vần, tạo hóa biến chuyển khôn lường thì cuộc sốngngười nông dân ngàn đời nay vẫn tạo được cho mình sự bình yên, êm ả riêng

có của nó Sức mạnh của lối ứng xử Tình - Nghĩa thể hiện rất rõ trong mộtkhoảng trời rất riêng của mỗi con người - đó là gia đình Người Việt Nam từxưa đến nay luôn xem gia đình là vấn đề hệ trọng Với nền văn minh lúanước, sản xuất nhỏ phân tán, người nông dân Việt Nam gắn rất chặt với giađình Gia đình là đơn vị gốc Gia đình gắn chặt với làng, với nước Giađình truyền thống của người nông dân chịu ảnh hưởng và mang nhiều yếu

tố của một nền sản xuất ngưng đọng đóng kín Ngoài những qui định chặtchẽ của pháp luật nhà nước, thì hệ thống hương ước, quy tắc làng xã chiphối mạnh mẽ đến những quan hệ trong gia đình, dòng tộc Đó là việc thờcúng tổ tiên, kính già yêu trẻ, việc cưới, việc tang tất cả phải lấy hiếu, lấynhân, lấy nghĩa làm đầu

Tóm lại, những đặc điểm tâm lý nói trên của giai cấp nông dân ViệtNam được hun đúc, chọn lọc, kế thừa từ đời này qua đời khác, góp phần tạonên truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đó là: tình yêu nước, tinh thần

Trang 7

tự tôn dân tộc, nếp sống cộng đồng tình nghĩa, lối sống giản dị, nhân hậu Đó

là những yếu tố tâm lý tích cực có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội

1.2 Những đặc điểm tâm lý truyền thống tiêu cực của giai cấp nông dân Việt Nam

Tâm lý sản xuất nhỏ manh mún, phân tán, tự túc, tự cấp

Ở mọi thời đại, con người nhờ có hoạt động lao động sản xuất mà tồntại Hoạt động sản xuất chính là phương thức biểu hiện nội dung sống, sựsáng tạo của con người; còn cách thức sản xuất và sinh sống quy định tâm lýmỗi cá nhân con người Trong thời kỳ sản xuất hiện đại, những người laođộng, nhất là công nhân sản xuất công nghiệp có quan hệ phụ thuộc lẫn nhaurất chặt chẽ Sự phụ thuộc đó do tính chất của sản xuất công nghiệp quy định.Trái lại, khi trình độ sản xuất thấp kém, sự hợp tác kinh tế lỏng lẻo, rời rạc thìtính chất của lao động lại tách những người sản xuất ra thành những người laođộng riêng biệt Đó chính là nét đặc trưng của người lao động nông nghiệptrong xã hội phong kiến Tâm lý sản xuất nhỏ manh mún, phân tán, tự túc, tựcấp là nét tâm lư đặc trưng của người nông dân Việt Nam khi chưa bị cái "tấtyếu kỹ thuật" chi phối

Nếu như điều kiện lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên như đắp đê điều,làm thuỷ lợi chống giặc ngoại xâm đã cố kết cộng đồng chặt chẽ thì ngượclại, đặc điểm của nền sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán, lại tách rời nhữngngười nông dân với nhau Hàng ngày, họ làm những công việc như nhau, tồntại bên nhau, nhưng hầu như không có sự liên kết, ràng buộc hữu cơ nào cả

Sống trong một cộng đồng làng nhỏ hẹp, nông dân Việt Nam có quan

hệ gắn bó với nhau theo kiểu cố kết dòng họ Tâm lý bám làng để an cư lạcnghiệp cũng ăn sâu vào mỗi người Cùng với thời gian, những thiết chế làng

xã càng làm cho tâm lý này được củng cố Trong khi ruộng đất ngày một bịthu hẹp do dân số gia tăng tự nhiên, đất đai canh tác ngày một thu hẹp do bị

Trang 8

chuyển dần thành đất thổ cư, thì sản xuất của người nông dân ngày một khókhăn cũng là lẽ đương nhiên.

Mặt khác, phương thức sản xuất của nền kinh tế tiểu nông riêng rẽ,manh mún đă dẫn đến phong cách tư duy của người nông dân cũng hết sứcvụn vặt, lẻ tẻ theo kiểu "gà nhà ăn quẩn cối xay", không có tầm nhìn xa, trôngrộng, không có tính chiến lược Cách tư duy, cách nghĩ, cách nhìn đó, cùngvới mảnh ruộng, cái cày càng cột chặt người nông dân trong lũy tre làng, yênphận với cuộc sống đơn giản, nghèo khó đời này qua đời khác, xoáy conngười vào cái vòng luẩn quẩn, kém tính tổ chức, kỷ luật, xa lạ với lối tư duycủa văn minh công nghiệp, thích sự ổn định, an phận, dễ rơi vào tâm lý thiểncận, thực dụng, tư duy theo chủ nghĩa kinh nghiệm, khó tiếp thu cái mới, ngạiđổi mới Từ phong cách tư duy dẫn đến một lối ứng xử co cụm "đèn nhà ai,nhà nấy rạng" hay "cháy nhà hàng xóm bình chân như vại" thiếu tinh thần hợptác ở một bộ phận nông dân Nét tâm lý này là hệ quả tất yếu của nền sản xuấtphát triển ở tŕnh độ thấp

Bảo thủ, thiên về tư duy kinh nghiệm, trực giác, hạn chế sự phát triển của tư duy lôgic và khoa học

Nông dân Việt Nam là cư dân vùng sông nước, lấy trồng trọt làm nghềlao động chính Cuộc sống, sản xuất của họ phụ thuộc rất nhiều vào thiênnhiên, thời tiết, khí hậu và rất nhiều các điều kiện tự nhiên khác Đặc điểmnày đến lượt nó lại chi phối luôn trạng thái khép kín trong các quan hệ xã hội,trong phương pháp tư duy của người nông dân Nếu như ở trong xã hội hiệnđại, sản xuất và nhu cầu thị trường là hai mặt tác động tích cực lẫn nhau thìtrong xã hội truyền thống của người nông dân, nhu cầu trao đổi, buôn bánhàng hóa trên thị trường lại chưa phát triển Vì vậy, tất yếu sản xuất cũngkhông phát triển Đối với người nông dân ở đây, họ chỉ cần đảm bảo nhữngnhu cầu sống sinh hoạt tối thiểu theo kiểu "cơm 3 bát, áo 3 manh, đói không

Trang 9

xanh, rét không chết" Do đó, trí tuệ, tư duy của họ cũng không phát triển,không được mở mang.

Sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán đã khiến cho sự phân công lao động

và các quan hệ xã hội ở nông thôn Việt Nam kém phát triển Người nông dânsống và làm việc theo những tập quán cổ truyền, bám chắc vào cái cũ màkhông dám thử nghiệm những cái mới Người nông dân bằng lòng với cuộcsống đạm bạc, bình ổn, tạm đủ với suy nghĩ "đói nằm co còn hơn ăn no phảilàm" Họ ít quan tâm và thậm chí không muốn quan tâm đến những cái mớidiễn ra ngoài phạm vi hoạt động nhỏ hẹp của họ Từ đời cha đến đời con, họ

"cày cấy trên mảnh đất của mình hoàn toàn theo lối thô sơ cũ của ông cha họ

và chống lại mọi điều mới mẻ với sự ngoan cố vốn có của những người nô lệcủa tập quán trải qua bao nhiêu đời kiếp vẫn không thay đổi" Chính vì vậy,theo thời gian, họ càng trở nên bảo thủ ghê gớm Hậu quả cuối cùng là tâm lýbảo thủ đă đưa người nông dân đến chỗ lạc hậu, thụt lùi quá xa so với bướctiến chung của cả xă hội

Mặt khác, trong truyền thống Việt Nam, giáo dục mặc dù rất được coitrọng, song lại chỉ chú trọng giáo dục đạo đức, văn chương mà ít chú trọnggiáo dục về sản xuất, dạy nghề, về khoa học tự nhiên, kỹ thuật - công nghệ

Do đó, người nông dân không được giáo dục tri thức về khoa học tự nhiên, vềsản xuất, dạy nghề nên người nông dân phải dựa vào tri thức kinh nghiệm làchủ yếu Trong cái vòng luẩn quẩn ấy, sản xuất cho người ta kinh nghiệm,kinh nghiệm lại được áp dụng vào sản xuất Và tư duy kinh nghiệm đă trởthành truyền thống Rõ ràng, do sản xuất ở trình độ thủ công, lạc hậu nênnhận thức cảm tính, tư duy kinh nghiệm đă trở thành thói quen trong đời sốngngười nông dân Người nông dân suy nghĩ, hành động, ứng xử và cảm nhậnmọi việc bằng trực giác, bằng kinh nghiệm chứ không phải bằng tư duy

Nền kinh tế tiểu nông kém phát triển tất yếu suy nghĩ của người nôngdân chỉ bó hẹp trong khuôn khổ những công việc bình thường, lặng lẽ, lặp đi,

Trang 10

lặp lại ngày này qua ngày khác Cái nhìn của họ không vượt xa hơn nhữngmảnh ruộng nhỏ hẹp - nơi họ cày cấy và lũy tre làng nơi họ sinh sống Tư duycủa nông dân Việt Nam trong xã hội phong kiến thực sự xa lạ với lối tư duyduy lý, tư duy thực nghiệm, tư duy khoa học Đó là một hạn chế lớn trong tâm

lý nông dân, cản trở họ trong quá trình mở cửa hội nhập và giao lưu với quốc

tế để phát triển

Tâm lư hẹp hòi, vị kỷ, phường hội, bè phái, cục bộ địa phương

Tình yêu đất nước, tính cố kết cộng đồng vốn là truyền thống tốt đẹpcủa người Việt Nam ta nói chung và người nông dân nói riêng Tuy nhiên,tính cố kết cộng đồng đậm nét, bền chặt ở người nông dân là cơ sở cũng tạo rachủ nghĩa bình quân cào bằng về mọi mặt quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm.Mặt khác, phương thức sản xuất manh mún, phân tán, sản xuất tự cấp, tự túc,phương pháp canh tác cổ truyền được kế thừa từ đời này sang đời khác, ngườinông dân sản xuất chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân và cộngđồng gia đình nhỏ hẹp của họ càng làm cho mối quan hệ của họ chỉ dừng ởmối quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, làm cho người nông dân cô lập vớinhau, biệt lập, riêng lẻ, không liên hệ với nhau Thêm vào đó, sự kém pháttriển của cơ sở hạ tầng, của phương tiện giao thông cùng với cuộc sống bấpbênh, nghèo khó đã kìm hãm họ mở rộng mối quan hệ với các địa phương,các vùng, các miền khác, đó là căn nguyên tồn tại tính đố kỵ, tâm lý hẹp hòi,

vị kỷ, phường hội, bè phái, cục bộ địa phương của người nông dân Việt Nam.Với cái nhìn thiển cận trong phạm vi của người tư hữu nhỏ, người nông dânViệt Nam không thể nhìn xa, trông rộng, chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt, lợiích cục bộ, không nhìn thấy lợi ích lâu dài, lợi ích toàn bộ

Thêm vào đó, nông dân ở từng vùng, từng miền trên đất nước ViệtNam có những phong tục, tập quán, lối sống, tính cách, tâm lý riêng, cho nên

sự hòa đồng không phải bao giờ cũng thuận lợi, trong nhiều trường hợp còn

có sự khác biệt giữa xã này với xã khác, tỉnh này biệt lập với tỉnh khác Thậm

Ngày đăng: 07/04/2021, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w