Tôn giáo có từ khi bình minh, vì vậy những nghiên cứu về tôn giáo cũng có rất sớm. Tư tưởng đầu tiên về tôn giáo là của vị vua Ai cập Ikhnaton (137558TCN) can đảm từ chối truyền thống tôn giáo của 2000 năm trước để tìm đến giá trị tinh thần của tôn giáo mới. Ông phê phán triệt để truyền thống cũ của tôn giáo có ảnh hưởng trước đó. Đạo Hindu (indea) cổ: phát triển một ngành khoa học phân tích những kinh nghiệm tôn giáo. Họ cho ra
Trang 1CHUYÊN ĐỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÂM LÝ HỌC TÔN GIÁO
Đi sâu vào vấn đề tôn giáo dưới góc độ tâm lý học: niềm tin, tình cảm, sùng bái, nhân cách tôn giáo Đây là lĩnh vực mới của tâm lý học nước ta
1 Lịch sử hình thành
1.1 Trước XIX, là thời điểm chưa trở thành khoa học độc lập
Tôn giáo có từ khi bình minh, vì vậy những nghiên cứu về tôn giáo cũng có rất sớm
- Tư tưởng đầu tiên về tôn giáo là của vị vua Ai cập Ikhnaton (1375-58TCN) can đảm từ chối truyền thống tôn giáo của 2000 năm trước để tìm đến giá trị tinh thần của tôn giáo mới Ông phê phán triệt để truyền thống cũ của tôn giáo có ảnh hưởng trước đó
- Đạo Hindu (indea) cổ: phát triển một ngành khoa học phân tích những kinh nghiệm tôn giáo Họ cho ra những bài tập Yoga, cho rằng nó rất
có giá trị đến kiểm soát tinh thần và tác động đến ý thức tôn giáo của con người
- Socrates: không tồn tại một thế giới hư ảo như tôn giáo đưa ra, bác
bỏ những vị thần truyền thống, hướng đến tìm cho mình một thượng đế riêng thể hiện trong lương tâm của con người Thần linh bắt nguồn chính từ trong tâm hồn của con người, ở sự chấp nhận của con người đối với sự sống và cái chết
- Jesus: tình cảm tôn giáo biểu hiện đời sống nội tâm của con người, thẻ hiện từ biểu hiện bên ngoài đến biểu hiện bên trong như mong muốn, động cơ con người, đến tình thương yêu, suy nghĩ và quyết định giá trị cuộc sống
- B.Pascal (1623-1662): do thiên về toán và lý ông đã áp dụng toán và
lý vào nghiên cứu thí nghiệm tôn giáo
Trang 2- J.F.Herbart: (1776-1841): là nhà tâm lý học, là người kiên trì đấu tranh cho tâm lý học trở thành khoa học thực nghiệm Vì vậy ông cũng nghiên cứu tình cảm tôn giáo theo hướng thực nghiệm
- G.T.Phechnes (1801-1887) nhà tâm lý học này cho rằng ý thức và vật chất đồng nhất với nhau, ý thức lan tỏa tới tất cả mọi sự vật hiện tượng của cuộc sống Từ đó hình thành niềm tin tôn giáo
1.2 Sau XIX, trở thành khoa học độc lập
- Gắn với tên tuổi của W.Vundt:
- G.S.Hall (1844-1924): là người đầu tiên nghiên cứu tâm lý học tôn giáo theo phương pháp thực nghiệm Là người đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm về ý thức tôn giáo
Ông cho rằng, ý thức tôn giáo của thanh niên liên quan đến sự trưởng thành về giới tính ở thời thanh niên Trở thành tiền đê cho những nghiên cứu
về đạo đức, tôn giáo của thanh thiếu niến
Đã áp dụng phương pháp anket trong nghiên cứu tâm lý học tôn giáo Mời Freud đến giảng dạy tâm lý học ở trường mà ông làm hiệu trưởng
- J.H.Leuba (1868-1946): là nhà tâm lý học gắn bó suốt đời với tôn giáo, tất cả các công trình nghiên cứu của ông đều là về TLHTG Là người làm cho phương pháp phỏng vấn thành phương pháp cơ bản trong tâm lý học
Ông theo quan điểm của chủ nghĩa tự nhiên để làm sáng tỏ sự khác biệt về tư tưởng, tình cảm, ý thức của những người theo tôn giáo và những người không theo tôn giáo
Ông cho rằng, chân lý của tôn giáo được rút ra từ kinh nghiệm, đó là
sự nhầm lẫn chủ quan của mọi người
Niềm tin tôn giáo có 2 nguồn gốc: tìm cách giải thích về bí ẩn cuộc sống và những tìm kiếm về sự giúp đỡ trong cuộc sống (cứu dỗi)
E.D.Starbuck (1866-1947): là người xuất bản cuốn đồ sộ về TLHTG
từ 1893-99 Tên cuốn sách là "TLHTG, kinh nghiệm nghiên cứu về sự phát
Trang 3triển của ý thức tôn giáo" xuất bản tại Newyork năm 1899 với lời giới thiệu của Wiliam Jame
Ông đi sâu tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện phát triển tôn giáo theo hướng kinh nghiệm chủ nghĩa
- G.A Coe (1862-1951): là người nghiên cứu động thái (nghi lễ) sùng bái tôn giáo với tác phẩm nổi tiếng "Cuộc sống linh hồn"
- Wiliam James: nhà tâm lý học Mỹ (1842-1910): là người cùng góp phần vào sáng lập phòng thực nghiệm tâm lý học cùng Vundt
Ông đã đi từ nghiên cứu lâm sàng để nghiên cứu tôn giáo, đặc biệt chú trọng tìm ra sức sống cá nhân trong thời gian khủng hoảng và hoạt động Từ
đó ông đã rút ra kết luận đagns chú ý: "Tôn giáo liên quan đến khía cạnh tầng sâu của cuộc sống con người Nó trở thành sự cố gắng của con người trong cuộc sống"
Ông đặt tiền đề cho phân ngành tâm lý học mới: tâm lý học lệch chuẩn
* Các hướng nghiên cứu TLHTG:
1 Nghiên cứu TLHTG theo hướng TLHXH
2 Nghiên cứu TLHTG trên cơ sở Tâm lý học tiềm ẩn (phân tâm học)
3 Nghiên cứu TLHTG trên cơ sở Tâm lý học nhân đạo
E.Fromm, A.Maslow, G.Allport
4 Nghiên cứu tôn giáo theo học thuyết những cảm xúc bậc cao và trạng thái ý thức của Maslow
Mặc dù có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều hướng nghiên cứu nhưng nhwgx năm 60 đến 80 thì những nội dung cơ bản của TLHTG mới được hoàn thiện
2 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
Có nhiều quan điểm
Trang 4Chốt lại: Là nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của những người theo tôn giáo, và phân biệt những đặc điểm tâm lý đó trong hành vi của những người theo và không theo tôn giáo
Ở nước ta, khoảng ¼ dân số theo các tôn giáo khác nhau
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Lý luận
- Ứng dụng
2.3 Phương pháp
Cơ bản vẫn dùng các phương pháp nhưng chủ yếu là 4 phương pháp chủ yếu: quan sát, thực nghiệm, nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu
3 Các học thuyết tâm lý học hiện đại về tôn giáo
3.1 Những thuyết xung đột:
- Thuyết xung đột của Freud: giữ vị trí quan trọng
Văn hóa Do thái là điểm khởi đầu cho quan điểm tôn giáo của Freud: cha mẹ là người Do Thái
Đối với ông, tôn giáo siêu nhiên chỉ là ảo giác Các khái niệm tôn giáo chính là ý niệm của ý thức
Bản chất phân tâm học là xung đột
Mặc cảm owdip là căn nguyên cuối cùng của đạo đức và tôn giáo Sau khi giết cha lại xuất hineej tình cảm yêu thương, sùng bái người cha Sùng bái
Tô Tem Và cuốn sách tên Sùng Bái Tô Tem chính là sùng bái cha Sự sùng bái đó dẫn đến tôn thờ động vật nào đó Và cấm giết Tô Tem Là cơ sở nảy sinh tôn giáo Cấm người con trai quan hê tình dục với phụ nữ ngang với Tô Tem
=> Tôn giáo xuất hiện do cảm giác tội ác và tâm lý hối hận Như vậy, nguồn gốc tôn giáo bắt nguồn từ xung đột
Ông cho rằng tôn giáo có chức năng an ủi Giúp cho họ thỏa mãn những ước vọng nội tâm
Trang 5Cá nhân chúa trời không phải cái gì khác mà chính là người cha Chúa trời chính là hình ảnh TOOTEM
Ông khẳng định vai trò của Tôn giáo đối với sự phát triển của văn hóa nghệ thuật Trong cuốn : "tương lai hư ảo" ông nói: tôn giáo phục vụ to lớn cho văn hóa nhân loại bằng việc kiềm chế, ngăn cản những bản năng của con người và giúp các tín đồ chống lại ưu phiền của mình
* Thuyêt xung đột của A Boisen
Kinh nghiệm tôn giáo với tư cách là hôn loạn tâm thần có sự liên quan đến biến đổi cảm xúc đột ngột Hỗn loạn tâm thần với tư cách là kinh nghiệm tôn giáo có sức mạnh điều chỉnh bản năng
Những bệnh nhân tâm thần do bị cô lập với bản bè: thất bại xã hội và mất tự trọng, đi đến rối loạn thần kinh phải trải qua những cảm xúc huyền bí khó hiểu, những cảm xúc liều lĩnh, suy nghĩ về cái chết, dẫn đến xung đột (hoang mang, sợ hãi, tự dối trá) Tôn giáo thể hiện sự chín muồi những điều chỉnh xung đột trong khủng hoảng nhằm thực hiện những trách nhiệm đạo đức Còn Freud: tôn giáo là sự thoái bộ của các cá nhân Boisen thì lại là sự phát triển Nếu F dựa vào mặc cảm Ơ thì Boisen lại dựa vào góc độ của rối loạn tâm thần
3.2 Thuyết tập thể về tôn giáo.
* C G.Jung (1875-1961) học trò của Freud: người kế tục học thuyết Freud
Nổi lên là vấn đề xung đột và khắc phục xung đột Ông đã đi sâu phân tích các thành tố của xung đột
Ông là tác giả của cuốn: Vô thức tập thể
Với 1 tập thể, ông tìm thấy cái chung, có những yếu tố cá nhân riêng biệt nhwg lại tạo nên sự hòa hợp và sáng tạo của tập thể
Nhân cách không có danh giới
Trang 6=> Kinh nghiệm tôn giáo được tạo nên từ vô thức tập thể Tâm lý học với tư cách là khoa học thực nghiệm cần phải giải thích sự huyền bí để làm sáng tỏ hiện tượng tôn giáo Nếu Freud phân tích tôn giáo theo xu hướng hướng vào trong thì Jung thì ngược lại, hướng ra bên ngoài Ông cho rằng tôn giáo được hình thành từ năng lượng vô thức, nó vượt ra so với ý thức cá nhân
Vì vậy tìm những quyền lực thiêng liêng ở bên cá nhân chứ không phải là trong cá nhân như Freud
Ông rút ra kết luận, những khác biệt của chúng ta là cơ sở để rút ra ý chí chung và điều này cũng đúng với các nền văn hóa khác nhau
VD Cơ đốc giáo là chúa 3 ngôi: cha, con, thánh thần với biểu tượng là cây thánh giá
Ông cho rằng, biểu tượng tôn giáo không phải là sự hư cấu mà được hình thành trên cơ sở những điều kinenej sống tự nheien của con người
Ông đánh giá cao vai trò của tôn giáo, tôn giáo sẽ làm giàu thêm và thống nhất ý thức cá nhân bằng những phương sách khôn ngoan
3.3 Thuyết nhân cách
Đại diện tiêu biểu là G Allport: là người tìm ra cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu nhân cách Ông phản đối cả 2 thuyết trên
Theo ông: tôn giáo là sự tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và hướng đến cuộc sống của con người Mỗi cá nhân sẽ theo đuổi và khám phá theo cách riêng của mình
Nét đặc biệt của tôn giáo là nó thống nhất và tâp hợp được mục đích trọng tâm của các cá nhân riêng lẻ
Tôn giáo phát triển hết sức nhạy cảm qua tác động tương hỗ của xã hội, thậm chí qua mỗi cá nhân
Cái tham gia tạo nên tôn giáo trong nhân cách: sở thích, sự quan tâm trong cấu trúc nhân cách là tiền đề quyết định tạo nên tình cảm tôn giáo TÌnh cảm tôn giáo với các tinfhcarm khác khác nhau ở mức độ sâu sắc của nó
3.4 Thuyết liên nhân cách
Trang 7Tiêu biểu là J.Moreno:
Ông cho rằng, trong cuộc sống có nhiều xung đột sâu sắc, có thể được giải quyết bởi tôn giáo Chúa trời được tạo nên trong ngày đầu tiên của sư jsangs tạo, chúa tạo nên một thế giới mới
Ông nổi tiếng với trác đạc xã hội và liên nhân cách Và chính tôn giáo
đã sinh ra thuyết quan hệ liên nhân cách
3.5 Thuyết tôn giáo và cá nhân
P.E Jonhson
Là người trực tiếp nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo Ông cho rằng đưa ra định nghĩa về tôn giáo hết sức khó khăn, vì nó rất rộng và phức tạp với rất nhiều sự trái ngược nhau
Theo ông:
- Tôn giáo là sự phản ứng với sự chấp nhận giá trị: phản ứng sợ hãi, tin tưởng, các hành động và các quan điểm thừa nhận các quyền lực có thể điều khiển giá trị (như vậy nhìn tôn giáo dưới khía cạnh cảm xúc)
- Tôn giáo là sự hiến dâng của cá nhân: mong muốn trở thành người dám chấp nhận đóng góp tiềm năng sáng tạo cho cuộc sống nhân loại qua các quan hệ mở
Trang 8Chuyên đề 2
NIỀM TIN VÀ TÌNH CẢM TÔN GIÁO
- Lý luận: Là quan trọng của nhân cách, là thành phần động cơ thúc đây
- Thực tiễn: nghi lễ, sự kiện tôn giáo đều liên quan đến niềm tin và tình cảm Sự biến mất và sự hình thành tôn giáo mới cũng liên quan đến niềm tin và tình cảm
Tài liệu:
- TLHTG Vũ Dũng
- Khoa học và tin ngưỡng tốn giáo, Nxb Kh Hà Nội 1997
1 Niềm tin tôn giáo
1.1 Nguồn gốc và đặc điểm của niềm tin tôn giáo
* Nguồn gốc:
- Tiếp cận từ góc độ sinh học thì do tinh di truyền, có cơ sở vật chất là cấu trúc trên não; Mang bản năng vô thức
* Xã hội: C.Mác, Angghen, Lenin:
- Mác: tôn giáo thực ra là hình thái ý thức xã hội
- Angghen: phản ánh tôn giáo là phản ánh hư ảo về thế giới
- Lênin nhấn mạnh thêm nguồn gốc nhận thức: tin vào thần thánh, tin vào lực lượng siêu nhiên do sự bất lực trước…; Một nguyên nhân nữa là xuất phát từ tâm lý sợ hãi trước thiên nhiên, và siêu nhiên
- Cách tiếp cận của các nhà Xã hội học về tôn giáo:
+ Duykhiem: Tôn giáo là nơi mà sự xã hội hóa cá nhân được thể hiện đặc biệt nhất, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào các vị thần siêu biệt, siêu nhiên Nhưng niềm tin tôn giáo không tách rời các tổ chức xã hội
+ Veber: Đặt vấn đề tôn giáo trong sự phát triển xã hội nói chung, là nhân tố quuyeets định thái độ ứng xử của con người với kinh tế và là nguyên
Trang 9nhân biến đổi kinh tế Niềm tin vào chúa, vào thánh thần phải được thể hiện ở chính bản thân
* Đặc điểm tôn giáo:
- Niềm tin tôn giáo là niềm tin hư ảo: Tin vào các lực lượng siêu nhiên
và tin vào một thế giới khác Thiên chúa giáo (địa ngúc và thiên đường) Đạo Phật có cõi Niết Bàn, Cực Lạc Đó là nơi có cảnh giới tốt đẹp, nó trái ngược với sự đâu khổ của con người ở trần gian Địa ngục là nơi cải tạo
Tootem giáo -> Vật linh giáo -> Thánh thần: Thánh (đạo, tôn giáo, giesu) và Con người nhân cách hóa (Trần Hưng Đạo)
- Niềm tin tôn giáo là niềm tin bền vững ở các tín đồ, lâu dài, chi phối suốt cuộc đời, không thay đổi Dẫn đến niềm tin và hành động cực đoan: 1954
có 55 vạn tín đồ vào Nam vì Chúa, vì Đức Mẹ đã di chuyển vào Nam
Nguyên nhân sâu xa của sự vững bền là: tu để giải thoát
- Niềm tin tôn giáo là niềm tin phi logic: không thể kiểm tra được bằng thực nghiệm, niềm tin vào đối tượng bí ẩn cao xa, vào các lực lượng siêu nhiên mà không thể nhận thức được bằng cảm tính
=> Niềm tin tôn giáo rất bền vững, khó thay đổi, hướng vào thế giwois
hư ảo, không kiểm nghiệm được, mang tinh chủ quan và duy tâm Làm cho các tin đồ dễ có hành vi thiếu minh mẫn, mù quáng, cực đoan dễ là nơi mà các thế lực thù địch lợi dụng, phục vụ cho các mưu đồ chính trị, những kẻ xấu lợi dụng mê tín dị đoan
1.2 Các quá trình tâm lý trong niềm tin tôn giáo: tưởng tượng, cảm xúc, ý chí (đều thử thách con người trong khó khăn cả về thể xác tinh thần, Cuồng tín…)
2 Tình cảm tôn giáo
Trang 102.1 Khái niệm chung về tình cảm tôn giáo: là cảm xúc của tín đồ với đối tượng là thế giới hư ảo mà họ tôn thờ Tình cảm tôn giáo tạo ra động lực
to lớn, mạnh mẽ
- Trong sếp hạng thứ bậc, tình yêu với tôn giáo đặt trước cả tình yêu con người: nam nữ, cha con, vợ chồng
- Tình cảm là sự an ủi, là chức năng quan trọng của tôn giáo: vì tôn giáo là sự an ủi, xoa dịu nỗi đâu, nuôi hy vọng, tạo niềm tin vào tương lai trong thế giới bất công, khổ đau, oan trái…
Tôn giáo tồn tại và phát triển do: mâu thuẫn về chính trị, xã hội, kinh
tế trên toàn thế giới, con người vẫn bất an, phân hóa dầu nghèo; do trật tự thế giới đang xao động về chức năng; thiên nhiên khó lường; nhân tâm con người thì khủng hoảng niềm tin vào mô hình xã hội tương lai, vào lý tưởng, vào giá trị con người Vì vậy, tôn giáo chính là sự an ủi con người Nhất là tầng lớp nghèo khổ
2.1 Các giai đoạn phát triển của nghi lễ tôn giáo
Có 3 giai đoạn:
- Ban đầu: chủ yếu là cảm xúc âm tính
- Giai đoạn 2: dương tính
Các yếu tố tác động đến cường độ cảm xúc:
- Sinh lý: khi thực hiện nghi lễ, các tín đồ có sự thay đổi về sinh lý: hoạt động thần kinh cấp cao, hoocmon, CO2 trong máu tăng lên
- Ăn tray: Phật, Hồi, Thiên chúa giáo cũng có: có tác động tốt đến cảm xúc tình cảm tôn giáo theo hai khía cạnh: tăng hoạt động trí tuệ, làm con người tập trung hơn; thứ hai là ăn tray làm giảm sức khỏe thể lực, tăng yếu tố trực giác, tưởng tượng, ám ảnh
- Cơ chế tâm lý: Cơ chế thôi miên, bắt chước, ám thị, lây lan tâm lý
- Xưng tội và suy tưởng tôn giáo:
+ Xưng tội là bộc lộ, giãi bầy với đấng tôi cao, đặc biệt là những hành
vi sai trái Các tôn giáo đều như vậy nhưng ở những hình thức khác nhau:
Trang 11thiên chúa giáo, phật giáo, cao đài (thánh ala) Xưng tội phản ánh cơ chế tâm lý: phản tỉnh, giải tỏa
+ Suy tưởng tôn giáo: là trạng thái trí tuệ tập trung sâu sắc vào tôn giáo, thánh thần, vào hệ thống triết lý, nguyên tắc, chế định tôn giáo
Trang 12Chuyên đề 3: Nhân cách tôn giáo
Sự tác động của môi trường gần đến sự phát triển nhân cách Những người theo tôn giáo bị tác động rất mạnh của cộng đồng tôn giáo, nơi họ trực tiếp sống, sinh hoạt
1 Đặc điểm tâm lý xã hội của nhân cách tôn giáo
* Nhu cầu tôn giáo: sự bổ sung, bù đắp những thiếu hụt và bất lực trước thực tế của con người
Là một dạng của nhu cầu tinh thần, thể hiện qua niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, niềm tin của tín đồ tôn giáo với thần thánh
Nhu cầu trong hành vi sùng bái, phương tiện tác động giữa con người
và thế giới hư vô
Một số hướng nghiên cứu nhu cầu tôn giáo:
- Tìm hiểu nhu cầu tôn giáo trong niềm tin vào thần thánh: nhu cầu tôn giáo là kết quả sự gặp gỡ giữa con người với thần thánh, xảy ra trong tâm hồn con người (tiếp cận thân thể)
- Nhu cầu tôn giáo là những đặc điểm khác biệt đặc trưng cho đặc điểm tâm lý con người (tiếp cận tâm trạng của con người)
- Nhu cầu tôn giáo là kết quả của những cảm xúc, những khát vọng vô thức (tiếp cận theo hướng sinh học)
- Nhu cầu tôn giáo là sự thỏa mãn các nhu cầu xã hội cụ thể của con người (tiếp cận theo hướng xã hội)
* Động cơ tôn giáo: là những cái thúc đẩy, định hướng con người tin vào lực lượng siêu nhiên, sự thể hiện phức tạp, biểu hiện: sự bất lực sợ hãi, cầu mong được cứu vớt, sự hy vọng, là những lực thôi thúc con người thực hiện các hành vi sùng bái
Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học Ucraina, chia thành các loại động cơ tôn giáo:
- Tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu trí tuệ: 4% người theo tôn giáo