Hàng năm, Ủy ban nhân dân UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo các cơ quan, tổ chức trên địa bàn Tỉnh triển khai cụ thể, lồng ghép công tác NKT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội KT-XH của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VÂN THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VÂN THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ DUY YÊN
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan, luận văn “Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân với sự hướng dẫn của nhà khoa học Thày PGS.TS Vũ Duy Yên Các dữ liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Vân Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia,
em đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công Em xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến nhà khoa học - Thày PGS.TS
Vũ Duy Yên đã tận tình hướng dẫn em phương pháp, cách thức nghiên cứu trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Đồng thời, em xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Ban Quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, cán bộ công chức thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã cung cấp tài liệu, tham gia đóng góp ý kiến và tạo điều kiện tốt nhất để em nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn đến cơ quan em công tác, gia đình, bạn bè, người thân đã ủng hộ, động viên, khích lệ em trong suốt thời gian qua
Em xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Vân Thanh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu đồ 2.1 Số lượng người khuyết tật theo độ tuổi 54 Biểu đồ 2.2 Số lượng người khuyết tật theo giới tính 55 Biểu đồ 2.3 Số lượng người khuyết tật theo dạng tật 56 Biểu đồ 2.4 Trình độ chuyên môn người khuyết tật 56 Biểu đồ 2.5 Thực trạng việc làm của người khuyết tật 58 Biểu đồ 2.6 Kết quả phỏng vấn đối với NKT không có việc làm 58 Biểu đồ 2.7 Kết quả phỏng vấn đối với NKT có việc làm 59 Biểu đồ 2.8 Ý kiến của NKT về các mức độ cần thiết của tư vấn
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa
BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm y tế CTXH Công tác xã hội HĐND Hội đồng nhân dân NKT Người khuyết tật TB&XH Thương binh và xã hội UBND Ủy ban nhân dân
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT …12
1.1 Những vấn đề cơ bản về chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật ……… ………… …12
1.1.1 Khuyết tật và người khuyết tật ……….……….12
1.1.2 Chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật ………….……19
1.2 Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật … 27 1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật……… ………….……… …… .27
1.2.2 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật …… ……… ……….….33
1.2.3 Quy trình thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật ……… ……….38
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật …… ……….…….……43
1.3.1 Yếu tố khách quan ……… ……… ….…….……….43
1.3.2 Yếu tố chủ quan ……… ……….……….46
Tiểu kết Chương 1 48
Trang 8Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH 49
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 49
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên……… ……… 49
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 50
2.1.3 Thực trạng về người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ……… ………….………54
2.2 Kết quả triển khai thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh … ……… 60
2.2.1 Tư vấn việc làm ……… ……….60
2.2.2.Giới thiệu việc làm … 62
2.2.3 Đào tạo nghề cho người khuyết tật ……… ……… 64
2.2.4 Hỗ trợ tự tạo việc làm ……… ………67
2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 69
2.3.1 Kết quả đạt được … ……….……… 69
2.3.2 Hạn chế, tồn tại ……… ………73
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế ……… ……….75
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH……… ……… 79
3.1 Quan điểm, phương hướng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 79
Trang 93.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho
người khuyết tật tại thành phố Hà Long, tỉnh Quảng Ninh 85
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, toàn xã hội, nhất là đối với các doanh nghiệp và người khuyết tật ………85
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong việc đào thực hiện chính sách đào tạo nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật ………….…86
3.2.3 Giải pháp kinh tế ……… ………88
3.2.4 Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành từ tỉnh đến cơ sở, UBND các địa phương nhằm tăng cơ hội đào tạo nghề, tạo việc làm cho NKT ……… 89
3.2.5 Thanh tra, kiểm tra, đánh giá thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Hạ Long ………… ……… 91
3.3 Một số khuyến nghị chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ……… ………… …92
3.3.1 Đối với Nhà nước……… …….… …………92
3.3.2 Đối với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ……… ………92
3.3.3 Đối với UBND tỉnh Quảng Ninh và UBND thành phố Hạ Long … 93
3.3.4 Đối với bản thân người khuyết tật ……… ……… 94
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC ……… …….…… 104
Trang 10Chính sách giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật không chỉ
là vấn đề kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Không may mắn như người bình thường, người khuyết tật (NKT) chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là trong việc tìm kiếm và duy trì việc làm Khi người lao động khuyết tật được tạo điều kiện cơ hội tiếp cận việc làm họ sẽ có thêm tự tin để cống hiến những năng lực của mình cho xã hội Thông qua chính sách, giúp người lao động khuyết tật tạo ra của cải vật chất cho xã hội, có thu nhập nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình; qua đó, giúp NKT hòa nhập hơn với cộng đồng xã hội và được mọi người chấp nhận Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan khiến NKT ít cơ hội tìm được việc làm; trong đó, nguyên nhân chủ quan trước hết là do trình độ văn hóa của NKT còn thấp, đáp ứng yêu cầu
về thể lực còn hạn chế Trong khi đó, muốn có nghề, có việc làm thì phải có trình độ văn hóa nhất định Hơn nữa, trong quá trình tiếp cận cơ hội học nghề, tìm việc làm NKT cũng gặp nhiều khó khăn, thiếu thông tin về học nghề, việc làm; tuy nhiên, về phía nhà nước cần có những chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho những đối tượng này hòa nhập xã hội và tạo cơ hội có việc làm bởi các chính sách khác nhau, từ đào tạo nghề đến tạo cơ hội tìm việc; quy định những ngành nghề nhất định cần tiếp nhận những NKT có khả năng lao động thích ứng
Những năm qua tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm cho NKT Cùng với việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
Trang 112
- xã hội, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm, gắn nhiệm vụ thực hiện chính sách việc làm cho NKT Hàng năm, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo các cơ quan, tổ chức trên địa bàn Tỉnh triển khai cụ thể, lồng ghép công tác NKT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của từng tổ chức, doanh nghiệp nhằm đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi của NKT được tham gia lao động, đóng góp cho gia đình và xã hội phát triển; Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về NKT; đồng thời, phòng, chống phân biệt đối xử đối với NKT trong việc tạo điều kiện cho họ có cơ hội được học tập, được tiếp nhận vào các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố; ban hành và thực hiện các chính sách trợ giúp, giải quyết việc làm cho NKT Tuy nhiên, thực tế NKT vẫn rất khó tiếp cận cơ hội học nghề, tìm việc làm bởi còn nhiều rào cản Theo số liệu thống kê của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, tính đến năm 2019 thành phố Hạ Long có 3.358 NKT, chiếm tỷ lệ 1,22% dân số Số NKT trong độ tuổi còn khả năng lao động là 1.077 người, chiếm tỷ lệ 32,1% trên tổng số NKT Tỷ lệ NKT học nghề, học văn hóa và có việc làm trên địa bàn Thành phố còn thấp NKT chủ yếu là phụ việc gia đình, việc làm bấp bênh hoặc không có việc làm Trong thời gian tới, nhu cầu việc làm của NKT ngày càng nhiều, đòi hỏi chính quyền thành phố Hạ Long cần có nhiều biện pháp thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho NKT, giúp NKT ổn định
cuộc sống Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực hiện chính
sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự nghèo đói và tình trạng bị phân biệt đối xử đối với NKT chính là việc từ chối các cơ hội việc làm công bằng, thiếu các chính sách ưu tiên cụ thể đối với nhóm NKT Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nước
Trang 123
và quốc tế đề cập đến vấn đề chính sách tạo việc làm cho NKT
- Các nghiên cứu về chính sách công, chính sách giải quyết việc làm:
Tác phẩm Đại cương về chính sách công (2013) do tác giả Nguyễn Hữu
Hải và tác giả Lê Văn Hòa đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia đã phân tích vai trò, những điều kiện và các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách công; đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh đến những điều kiện liên quan đến bản thân chính sách công như để thực thi chính sách công thành công thì chính sách công phải có mục tiêu rõ ràng, chính xác; thiết kế chính sách phải tính đến tất cả các tác động chủ định và không chủ định…[24];
Tác giả Nguyễn Hữu Hải (2014) với tác phẩm “Chính sách công và những
vấn đề cơ bản”, Nxb Chính trị Quốc gia, đã phân tích những yêu cầu, các hình
thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách công, đó là: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp kết hợp trong thực thi chính sách công [25];
Tác phẩm “Quản lý thực thi chính sách công theo kết quả” của tác giả Lê
Văn Hòa (2016), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật đã làm rõ bản chất của quản
lý theo kết quả, bản chất của thực thi chính sách công; các yếu tố cấu thành quản lý thực thi theo kết quả, đánh giá thực trạng quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam; từ đó, đề xuất áp dụng quản lý thực thi chính sách công theo kết quả ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm giải trình trong thực thi chính sách công [26]
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung (chủ biên) nghiên cứu về:
“Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997 đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm làm rõ thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay; từ
đó khuyến nghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nghiên cứu “Việc làm và chính sách tạo viêc làm ở Hải Dương hiện nay”,
Trang 134
luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Bùi Thị Thúy (2005) đã đưa ra những vấn đề lý luận về lao động, việc làm, quan niệm về việc làm và những nhân tố ảnh hưởng tới tạo việc làm; tác giả phân tích thưc trạng tạo việc làm ở Hải Dương, chỉ ra xu hướng tạo việc làm ở Hải Dương trong thời gian tiếp theo
Trong luận án tiến sĩ “Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng
nghề truyền thống”, tác giả Trần Văn Luận (2014) cho rằng giải quyết việc làm
cho lao động nông nghiệp bằng việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống thông qua các chính sách cụ thể là một phương hướng chiến lược
có ý nghĩa cả về kinh tế, văn hoá và xã hội Nghiên cứu của tác giả đã có những điểm mới, là việc đề xuất các chính sách và áp dụng những chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề truyền thống ngay tại địa bàn nghiên cứu để tạo việc làm cho lao động nông thôn, vừa giải quyết được vấn đề việc làm, vừa bảo tồn và phát huy được nghề truyền thống, lưu giữ được nét văn hóa dân tộc, đây
sẽ là một hướng đi rất hiệu quả và thiết thực trong hoạt động tạo dựng việc làm cho người khuyết tật gắn với môi trường kinh tế tại địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế bền vững của địa phương [28]
Nghiên cứu "Đánh giá hiệu quả và tác động của chính sách dạy nghề, giải
quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc từ đổi mới đến nay", mã số:
CTDT.26.17/16-20 thuộc Chương trình: Khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc thiểu số
và chính sách dân tộc ở Việt Nam đến năm 2030” do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là cơ quan chủ trì, GS.TS Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm đã nghiên cứu sâu và có đề xuất khung giám sát, đánh giá chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm nói chung, cho lao động vùng dân tộc nói riêng; Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách dạy nghề cho lao động vùng dân tộc; Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc
- Các nghiên cứu về chính sách giải quyết việc làm cho NKT:
Trang 145
Dự án “Thúc đẩy việc làm bền vững cho NKT thông qua dịch vụ hoà nhập”
của Promoting decent work for people with disabilities through a disabilityincusion support service (INCLUDE) do cơ quan Hợp tác quốc tế và phát triển Tây Ban Nha, Hội Chữ thập đỏ Tây Ban Nha tổ chức Mục tiêu của
dự án là thúc đẩy hoà nhập xã hội cho NKT trong các chính sách, chương trình
và dịch vụ thông qua việc thí điểm thành lập và hoạt động của trung tâm tư vấn, đào tạo và dịch vụ hoà nhập tại Việt Nam Việc ra đời Văn phòng hoà nhập sẽ thúc đẩy quá trình hoà nhập của NKT trong lĩnh vực việc làm cũng như các lĩnh vực khác trong xã hội, cung cấp nguồn lao động đã qua đào tạo cho các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT
Báo cáo điều tra và phân tích thị trường lao động của Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội “Hỗ trợ hoà nhập kinh tế xã hội và việc làm cho người
khuyết tật tại các khu vực can thiệp” dưới sự tài trợ của Hội chữ Thập đỏ Tây
Ban Nha được triển khai tại Hưng Yên Mục tiêu của dự án này nhằm viện trợ nhân đạo và phục hồi kinh tế, hỗ trợ thể chế đào tạo và việc làm cho các nhóm người dễ bị tổn thương, góp phần giảm thiểu sự tổn thương của những NKT tại Việt Nam thông qua các hoạt động như: Tổ chức các hội nghị, hội thảo tuyên truyền về Luật Người khuyết tật, quyền bình đẳng của NKT, cung cấp kiến thức
và kỹ năng giao tiếp trợ giúp NKT cho các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh Dự án nêu lên được những hiệu quả rõ rệt trong tạo dựng việc làm cho NKT ở những địa bàn thí điểm triển khai dự án Bên cạnh sự tác động tạo cơ hội về việc làm, thu nhập cho NKT, Dự án cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cho cán bộ Hội Chữ thập đỏ các cấp trong vùng triển khai dự án
Báo cáo khảo sát về việc làm và đào tạo nghề cho người khuyết tật ở
Việt Nam của Tổ chức lao động quốc tế ở Việt Nam (2010) Báo cáo chỉ ra
rằng: “Người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ khuyết tật tại Việt Nam có rất ít cơ hội được đào tạo nghề có chất lượng Phần lớn các trung tâm dạy nghề đều ở
Trang 156
khu vực thành thị và thường không có nhiều trung tâm giành cho NKT Báo cáo đã phân tích được thực trạng về những hạn chế, khó khăn của NKT trong học nghề và tìm kiếm việc làm hiện nay, đồng thời, Báo cáo đã nêu các tổ chức
xã hội có những hoạt động nhằm dạy nghề và tạo việc làm cho NKT Tuy nhiên, Báo cáo mới chỉ đưa ra được thực trạng chung về vấn đề học nghề và việc làm cho NKT trên cả nước mà chưa đi sâu vào từng nhóm đối tượng khuyết tật xem xét nhu cầu mong muốn của họ là gì?
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Đắng (2011) “Những biện pháp chủ
yếu tạo việc làm cho người tàn tật ở Việt Nam” có cái nhìn cụ thể về sự cần
thiết của việc làm đối với NKT, nhu cầu được có việc làm với NKT, thực trạng việc làm của NKT [20]
Cuốn sách “Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế” do
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội biên soạn (2013) đã đề cập đến những vấn đề chung đối với các nhóm yếu thế, những rào cản, những nhu cầu và các đặc thù trong đào tạo nghề, tạo việc làm bền vững cho một số nhóm đối tượng yếu thế trên thị trường lao động bao gồm: người khuyết tật, nông dân nghèo, người dân tộc thiểu số và nhóm phụ nữ nghèo Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT tại Việt Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế (2010) Báo cáo đã cho thấy một cách nhìn về các tổ chức của NKT, các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho người khuyết tật [19]
Tác giả Nguyễn Thị Quế (2013) trong nghiên cứu “Quyền làm việc và hòa
nhập cộng đồng của người khuyết tật Việt Nam” đã nêu được những quyền của
NKT liên quan đến vấn đề việc làm Nghiên cứu cũng đánh giá được thực trạng
về khả năng và cơ hội làm việc cũng như những vấn đề xã hội, chính sách pháp luật về vấn đề quyền làm việc của NKT tại Việt Nam; Chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong thực hiện chính sách pháp luật về việc làm cho NKT Từ đó, tác giả nêu ra các giải pháp khắc phục hạn chế và nâng cao
Trang 167
hiệu quả của những kết quả đã đạt được, những giải pháp hữu ích để giải quyết vấn đề quyền làm việc của NKT, đồng thời giúp NKT hòa nhập cộng đồng [32]
Tác giả Đoàn Thị Cẩm Vân (2015) trong đề tài “Một số giải pháp giải
quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh” đã đánh giá
thực trạng cung ứng việc làm nói chung và những việc làm cụ thể dành riêng cho NKT thông qua các chính sách hỗ trợ NKT, mối liên kết giữa doanh nghiệp
và NKT [44]
Bài báo của tác giả Nguyễn Đức Minh (2017) “Chính sách giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật Việt Nam” đã phân tích việc Đảng và Nhà nước tạo sự bình
đẳng cho trẻ em khuyết tật Việt Nam có cơ hội tiếp cận với giáo dục hòa nhập, nhưng trên thực tế tỷ lệ trẻ tiếp cận với lĩnh vực này còn rất hạn chế Nguyên nhân là do những quy định trong Luật Người khuyết tật – một trong những chính sách quan trọng về NKT, về tạo cơ hội cho NKT có việc làm chưa sát với thực tiễn, chính sách chưa cụ thể, việc xác nhận là NKT thường được kiểm tra bằng y tế, chưa sử dụng các hình thức kiểm tra tâm lý, do đó, nhiều trẻ em là trẻ khuyết tật chưa được xác định đúng về mức độ khuyết tật [29]
Tác giả Phạm Thị Thanh Tâm (2019) khi nghiên cứu “Pháp luật về lao
động là người khuyết tật ở Việt Nam” đã phân tích và đánh giá chung cơ sở lý
luận của pháp luật về lao động là NKT quốc tế và Việt Nam, cũng như thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật Việt Nam vào cuộc sống Nghiên cứu đã đưa
ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các quy định đó trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay của Việt Nam [33]
Tác giả Thái Yến (2019) với bài viết “Hỗ trợ tạo việc làm cho người
khuyết tật” đã đề cập đến kết quả thực hiện các đề án, chính sách về an sinh xã
hội, tạo việc làm, dạy nghề cho NKT; đồng thời cũng nêu lên những khó khăn, thách thức trong việc giải quyết việc làm cho NKT; từ đó khuyến nghị Nhà nước ban hành các chính sách quan tâm đến NKT, có cơ chế chính sách về tài chính hỗ trợ NKT học nghề, hỗ trợ người sử dụng lao động nhận NKT vào làm
Trang 178
việc, hỗ trợ những NKT có ý tưởng mở cơ sở sản xuất kinh doanh, bên cạnh
đó, cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức của tất cả mọi người trong xã hội, nhằm xóa bỏ cảm giác mặc cảm tự ty của gia đình và bản thân NKT, giúp họ hòa nhập cộng đồng, tìm được việc làm phù hợp, đóng góp sức mình vào việc xây dựng và phát triển đất nước… [48]
Tác giả Văn Hải (2019) có bài viết về “Dạy nghề và tạo việc làm cho
người khuyết tật” Bài viết cho thấy kết quả thực hiện công tác dạy nghề cho
người khuyết tật theo Đề án 1019 (giai đoạn 2013 - 2019) cũng như những khó khăn, hạn chế và kiến nghị để thực hiện có hiệu quả Công ước về quyền của người khuyết tật và Luật Người khuyết tật [49]
Bài viết: “Quảng Ninh: Còn nhiều khó khăn trong dạy nghề, tạo việc làm
cho người khuyết tật” của tác giả Nguyễn Hiền (2020) cho thấy tỉnh Quảng
Ninh đã triển khai nhiều giải pháp, trong đó các cấp, ngành cũng tích cực hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho NKT Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dạy nghề cho NKT trên địa bàn tỉnh cũng chưa hiệu quả Để triển khai có hiệu quả công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho NKT trong thời gian tới, Quảng Ninh sẽ tăng cường công tác tuyên truyền, nhất
là đối với các doanh nghiệp về ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc đào tạo và tuyển dụng lao động là NKT vào làm việc [50]
Tuy nhiên đến nay, vấn đề thực thi chính sách giải quyết việc làm cho NKT ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là mảng đề tài chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện, chính vì vậy, đây là “khoảng trống” cho tác giả nghiên cứu đề tài này Những tác giả, tác phẩm nêu trên đã giúp cho tác giả rất nhiều trong định hướng nghiên cứu của đề tài, nhất là tham khảo để tác giả luận văn xây dựng khung lý thuyết ở Chương 1 Các công trình nghiên cứu trên
đã tiếp cận vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung ở nhiều góc độ khác nhau và là những tài liệu quí báu cho tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình
Trang 18đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật trên địa bàn Thành phố phù hợp với thực tiễn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn thực hiện những nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, từ đó xác định những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện chính sách
- Đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động
- Phạm vi về không gian: tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ năm 2017 đến nay, đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách đến năm 2030
Trang 195.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp các văn bản, chính sách pháp luật, tài liệu liên quan đến thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
- Phương pháp quan sát: Tác giả sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết
tật, về kết quả thực hiện chính sách
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Tổng hợp thông tin, dữ liệu
từ các báo cáo của cơ quan nhà nước tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
để so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đề ra, từ đó đánh giá việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019
- Phương pháp khảo sát, phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu kỹ hơn về tình trạng việc làm của NKT, cách thức NKT có việc làm và giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho NKT trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Thời gian khảo sát, phỏng vấn: tháng 8 và tháng 9 năm 2020.Do tình hình dịch bệnh covid 19 diễn biến phức tạp, tác giả đã gửi phiếu khảo sát và phỏng vấn: đối với NKT, tác giả gửi 200 phiếu khảo sát và phỏng vấn, thu về 185 phiếu; đối với các trung tâm, sở, hội, tác giả gửi phiếu phỏng vấn đến 20 cán bộ; đối với lãnh đạo doanh nghiệp, tác giả phỏng vấn 10 người
Trang 206.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu các đề tài liên quan về chính sách đối với người khuyết tật Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật, cũng như bất cứ ai có quan tâm đến lĩnh vực này, đặc biệt là Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hạ Long, Trung tâm đào tạo nghề thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho
người khuyết tật
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người
khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 Giải pháp đảm bảo thực hiện chính sách giải quyết việc làm
cho người khuyết tật tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 2112
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.2 Khái quát chung về chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
1.2.1 Khuyết tật và người khuyết tật
1.1.1.1 Khái niệm
Khuyết tật là sự khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể của một người hay bị suy giảm chức năng trong vấn đề về nhận thức, khuyết tật được biểu hiện dưới nhiều dạng tật và dị dạng khác nhau khiến cho đời sống sinh hoạt và cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn Hiểu theo cách khác, khuyết tật có thể là khiếm khuyết diễn ra rất lâu dài và không có cơ hội phục hồi về mặt tinh thần, thể chất, trí tuệ không được minh mẫn hoặc sự ảnh hưởng của các giác quan mà khi tương tác với xã hội họ gặp rất nhiều cản trở và ảnh hưởng; gây bất lợi đến quá trình làm việc và có thể những khiếm khuyết đó làm họ không thể hoạt động và làm các công việc giống như người bình thường
Khái niệm người khuyết tật hiện đang là một khái niệm gây rất nhiều tranh cãi ở các quốc gia và cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về người khuyết tật áp dụng chung cho các nước Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật, NKT trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể
và các tính năng xã hội mà người khuyết tật sống trong đó
Ở Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước, chúng ta vẫn dùng song song hai từ này trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy Tuy nhiên, trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng
Trang 2213
Tại Điều 1, Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998, người tàn tật được định nghĩa
như sau: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn
gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” Đến năm
2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ người khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, người
khuyết tật được định nghĩa như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết
một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”
Theo cách hiểu này, NKT bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh, … Họ có thể gặp các rào cản do các yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Tác giả lựa chọn khái niệm về người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật Việt Nam năm 2010
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản và quyền của người khuyết tật
* Đặc điểm cơ bản của người khuyết tật
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe của con
người:“Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã
hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”
Sức khỏe của NKT là tình trạng ổn định toàn diện về thể chất, tâm thần,
xã hội Theo đó, việc chăm sóc sức khỏe của NKT cần quan tâm hợp lý đến cả
ba mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội Điều này đã được chứng minh trong các công ước của WHO cũng như pháp luật các nước Việt Nam đã đặt ra 5 quan điểm cơ bản, chủ yếu chỉ đạo công tác chăm sóc sức khỏe con người, trong đó có NKT, chăm sóc sức khỏe NKT bao gồm chăm sóc
Trang 2314
y tế, chăm sóc ngoài y tế Sự chăm sóc này được hiểu trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường bên ngoài (thức ăn, nước uống…) với yếu tố môi trường bên trong (di truyền, gen…); giữa các hoạt động
đề phòng sự phát sinh ra bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật đến việc điều trị kịp thời, phục hồi sức khỏe cho NKT
Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, dịch vụ công cộng, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT Đây là một trong những nhóm dân cư chịu thiệt thòi nhất trong xã hội hiện nay, khi hoạt động sinh sống hòa nhập xã hội họ gặp phải rất nhiều những khó khăn và cản trở Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang đẩy mạnh sự quan tâm hỗ trợ NKT có được cuộc sống tốt hơn về cả vật chất lẫn tinh thần nhằm đảm bảo công bằng, vì con người và phát triển bền vững quốc gia Mặc dù vậy thực tế vẫn còn những vấn đề mà NKT đang gặp phải, đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc hoặc chưa có điều kiện, khả năng tiếp cập, hiểu biết về những chính sách ưu đãi dành
cho họ…, dẫn đến khả năng hòa nhập và phát triển của NKT bị hạn chế
* Quyền của người khuyết tật
Người khuyết tật cũng có các quyền cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Nếu quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế thì khái niệm quyền của NKT có thể được hiểu như sau: Quyền của người khuyết tật bao gồm các quyền tự do cơ bản của con người, là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người-với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại và được chăm sóc, bảo vệ đặc
Trang 24vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; Các quyền khác theo quy
định của pháp luật
1.1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật và những khó khăn đối với người khuyết tật
* Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật
Thứ nhất, môi trường sống tưởng như rất bình thường nhưng nó lại có tầm
ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân Những môi trường sống với các điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, nơi ở chật chội, yếu kém, mất vệ sinh ảnh hưởng đến sức khỏe gây nên đói nghèo, suy dinh dưỡng, từ đó dẫn đến bệnh tật mà không tìm cách chữa trị và ảnh hưởng đến cơ thể Những người lao động trong môi trường độc hại, nhiều khói bụi, hay thường xuyên tiếp xúc với các loại hóa chất, khi sinh con cũng mắc phải chứng khuyết tật với việc thiếu khuyết các bộ phận trên cơ thể Việc ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường, thiên tai cũng ảnh hưởng đến con người đáng kể Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc chữa bệnh không theo khoa học làm biến chứng cơ thể và dẫn đến khuyết tật
Thứ hai, do con người gặp phải các vụ tai nạn, rủi ro hay trong khi đang
lao động và mắc phải tai nạn lao động
Thứ ba, do bà bầu trong quá trình mang thai bị ảnh hưởng bởi việc thiếu
ôxy, tổn thương trong khi sinh non hay bị mắc các bệnh dịch trong quá trình
Trang 2516
mang thai không có sự chuẩn bị và phòng, chống nên con sinh ra thường mắc các bệnh về dị tật
Thứ tư, do thiếu kiến thức và không thực hiện tiêm phòng, sử dụng các
dịch vụ y tế sẵn có Bên cạnh đó, tình trạng cơ thể thường xuyên bị áp lực và căng thẳng cũng làm cho bản thân tinh thần bị tổn thương nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trí não
Thứ năm, có thể do việc kết hôn cùng huyết thống Những người dân tộc
thiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa thường không có kiến thức và kết hôn trong cùng dòng họ nên con sinh ra có khả năng mắc và gặp phải tình trạng khuyết tật là rất lớn
Nếu như giai đoạn trước đây, các nguyên nhân như: bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh là nguyên nhân chính dẫn tới khuyết tật, thì trong những năm tới, các nguyên nhân như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường
sẽ khiến cho số lượng người khuyết tật có xu hướng ngày một gia tăng
* Những khó khăn trong cuộc sống đối với người khuyết tật
- Khó khăn về việc học tập: Với những hạn chế trong khi vận động, trí tuệ kém hay việc không nghe thấy, không nhìn thấy làm cuộc sống và việc tiếp thu kiến thức của họ từ mọi thứ đề hạn chế hơn Những bài giảng của thày, cô đối với những người có khuyết tật về tai thì hoàn toàn khó khăn và vất vả
- Khó khăn trong tìm việc làm: Nếu những người bình thường khi theo học trình độ trung học phổ thông xong, họ có thể tìm kiếm những công việc thích hợp, nhưng người khuyết tật thì khác Tại Việt Nam, các trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật là rất ít Số lượng thấp và quy mô nhỏ, chủ yếu chưa tiếp cận và chưa sử dụng đến những NKT, do vậy, hạn chế rất nhiều thông tin việc làm đến NKT Các doanh nghiệp và các nhà tài trợ còn chưa hứng thú với việc tuyển dụng NKT vào làm việc Hơn thế, họ có thể chưa được rèn luyện tay nghề và kỹ năng nhất định nên cơ hội xin việc rất khó khăn
Trang 2617
- Sự khó khăn vất vả trong hôn nhân: Do những định kiến của mọi người trong xã hội nên NKT rất sợ kết hôn và sự e ngại về cơ thể khiếm khuyết của mình, khả năng chăm lo gia đình bị hạn chế nên NKT thường có tâm lý mặc cảm về hình thể, sức khỏe của bản thân và sợ dư luận xã hội nên họ đánh mất
đi khả năng tìm kiếm bạn đồng hành cùng mình rất lớn Những số liệu thống
kê cho thấy NKT nam thường có tỷ lệ kết hôn cao hơn NKT là nữ
Những NKT còn bị xã hội xa lánh và chưa được chấp nhận cũng như đối
xử công bằng trong mọi tình huống Đặc biệt, rất nhiều người hiện nay có thái
độ khinh thường, chê bai NKT làm họ bị tổn thương về mặt tinh thần rất cao
1.1.1.4 Phân loại dạng tật và mức độ khuyết tật
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ
Tại Điều 3 Luật Người khuyết tật 2010 quy định về Dạng tật và mức độ khuyết tật Điều 2 và Điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật đã giải thích rõ ràng
và chi tiết về các dạng tật và mức độ khuyết tật Dạng tật bao gồm: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác Nhiều người có thể bị khuyết tật tại những
bộ phận khác nhau, có thể là bị ảnh hưởng về trí tuệ hoặc tay chân, mặt mũi,… Tuy nhiên, có thể phân loại khuyết tật theo những nhóm cụ thể:
* Khuyết tật về thị giác: Những người bị khuyết tật về thị giác thường được gọi là người khiếm thị Họ có thể không nhìn thấy hoặc là nhìn thấy nhưng
Trang 2718
rất mờ và cần đến sự trợ giúp của các phương tiện khác để hỗ trợ trong cuộc sống hàng ngày Dựa vào độ khuyết tật của thị giác, người ta chia khuyết tật thị giác thành hai loại, đó là: Nhìn kém và mù
* Khuyết tật về thính giác: Những người không nghe được là những người khiếm thính Đây là những người bị suy giảm chức năng nghe ở các mức độ với tần suất khác nhau Tùy theo khả năng nghe của người khiếm thính, người
ta chia khuyết tật thính giác thành các mức độ khác nhau và áp dụng các biện pháp trợ nghe như dùng máy trợ thính để những người khuyết tật có thể nghe
rõ hơn đối với những trường hợp nghe không rõ
* Khuyết tật về ngôn ngữ: Những người không nói được, có thể bị câm hoặc nói ngọng, nói lắp, nói không rõ, nói một cách rất khó khăn mà người khác nghe không hiểu ý người đó đang muốn nói gì thì đượcgọi là khuyết tật ngôn ngữ Nếu như người nói không kèm các vấn đề như bị bại não, đao, thiểu năng trí tuệ thị họ có thể chỉ bị khuyết tật về ngôn ngữ mà không bị vấn đề gì
về thần kinh cơ thể
* Khuyết tật về trí tuệ: Những người bị khuyết tật về mặt trí tuệ ở dưới mức trung bình thường có IQ nhỏ hơn 70 Họ có thể bị hạn chế về mặt kiến thức cũng như năng lực và trình độ đối với việc học và làm việc Khả năng tiếp thu kém, đồng thời không có hành vi nhận thức và tự phục vụ bản thân Có thể
bị ngớ ngẩn hoặc những vấn đề về thần kinh hay không tiếp thu được các kiến thức mà mọi người đã truyền đạt Hiện tượng khuyết tật về trí tuệ thường xuất hiện trước 18 tuổi
Để nhận diện những người bị khuyết tật trí tuệ, có thể căn cứ vào những biểu hiện, đó là: Những người khó tiếp thu được nội dung các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt họ có thể có chứng chậm hiểu, không nhớ những gì giáo viên đang nói; Ngôn ngữ nghèo nàn, thông thường ngữ pháp đang sử dụng còn kém, những yếu tố tiếp thu kiến thức trên lớp và đời sống
Trang 2819
hầu như không làm được; Khó thiết lập và nhận biết các hoạt động, các sự vật hiện tượng, bên cạnh đó, những người khuyết tật trí tuệ còn khó kiểm soát được hành vi của bản thân Một số người khuyết tật trí tuệ cơ thể còn có thể không được giống như người bình thường hoặc có hình dáng đặc biệt
Căn cứ mức độ của khuyết tật, có thể chia khuyết tật thành 3 loại:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn
- Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại người khuyết tật đặc biệt và người khuyết tật nặng
Như vậy, dựa vào những trường hợp người khuyết tật, chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với họ bằng nhiều phương tiện khác nhau, đem lại cho NKT một cuộc sống tốt đẹp và nhiều niềm vui trong cuộc sống
1.1.2 Chính sách giải quyết việc làm đối với người khuyết tật
1.1.2.1 Khái niệm việc làm và phân loại việc làm
* Khái niệm việc làm
Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Bất kỳ nghề nào, việc gì cần thiết cho xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động để nuôi sống bản thân và gia đình, không bị pháp luật ngăn cấm, đó là việc làm” [40]
Trang 2920
Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, Điều 33 của Bộ luật Lao động Việt Nam đã chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm” [8] Theo khái niệm này, việc làm được thể hiện dưới các dạng sau:
Thứ nhất, việc làm phải là hoạt động tạo ra thu nhập một cách trực tiếp
cho cá nhân người lao động hoặc tạo ra thu nhập gián tiếp cho gia đình và xã hội Ngày nay, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì quan niệm về việc làm có sự thay đổi về căn bản, việc làm không chỉ tồn tại trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, mà nó còn ngay tại gia đình, do chính bản thân người lao động tạo ra để có thu nhập
Thứ hai, việc làm phải là hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm Điều
này cho thấy tính pháp lý của việc làm, được pháp luật bảo hộ Nó cũng cho thấy một sự thay đổi nữa, đó là giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp và của toàn xã hội
Với các khái niệm việc làm trên thì nội dung của việc làm đã được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người, cụ thể: Thị trường việc làm đã được mở rộng rất lớn gồm tất cả các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân, hợp tác xã…), mọi hình thức và cấp độ sản xuất kinh doanh (kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ hợp…) và sự đan xen giữa chúng, không bị hạn chế về mặt không gian; Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự do thuê mướn lao động theo luật pháp và sự hướng dẫn của nhà nước để tạo việc làm cho mình
và thu hút thêm lao động xã hội theo quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường lao động
Tổng hợp lại, tác giả hiểu việc làm là các hoạt động mang lại thu nhập cho người lao động, không bị pháp luật ngăn cấm, bao gồm: các công việc được trả
Trang 3021
công dưới dạng bằng tiền mặt hoặc hiện vật; các công việc tự làm để tạo thu nhập cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền mặt hoặc hiện vật) cho công việc đó
Điều 33 Luật Người khuyết tật quy định việc làm đối với người khuyết tật: Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe
và đặc điểm của người khuyết tật
* Phân loại việc làm
- Phân loại theo mức độ sử dụng lao động
+ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác
+ Việc làm phụ là những công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính
+ Việc làm hợp lý là những công việc tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm phù hợp với năng lực sở trường của người lao động
+ Việc làm hiệu quả là việc làm với năng suất chất lượng cao Đối với tầm
vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao động tức là tiết kiệm chi phí lao động, tăng năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử dụng hết nguồn nhân lực
- Phân loại theo thời gian làm việc của người lao động
+ Việc làm tạm thời là việc làm được tạo ra trong thời gian người lao động đang tìm một công việc thích hợp với chuyên môn và sở trường của họ
+ Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ luật
Trang 3122
định (độ dài thời gian lao động hiện nay ở Việt Nam là 8 giờ/ngày) và không
có nhu cầu làm thêm
+ Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài
ý muốn của người lao động họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống muốn tìm thêm việc làm bổ sung Theo tổ chức lao động quốc tế ILO thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng: Thiếu việc làm hữu hình chỉ hiện tượng lao động làm việc thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm việc làm thêm
và sẵn sàng làm việc; Thiếu việc làm vô hình là trạng thái những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống và có nhu cầu muốn làm việc thêm để
có thu nhập
1.1.2.2 Giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật
Khái niệm về NKT cũng như việc phân loại dạng tật và mức độ khuyết tật
có vai trò quan trọng đối với giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật Dựa trên những đặc điểm cũng như cách phân loại đó, Nhà nước đưa ra định hướng trong việc hoạch định chính sách pháp luật cũng như các biện pháp hỗ trợ người lao động khuyết tật trong thực tiễn
Trong suốt một thời gian dài, người ta vẫn cho rằng tình trạng thất nghiệp
và thiếu việc làm của NKT có mối liên quan chặt chẽ và trên thực tế là hậu quả không tránh khỏi của sự sút kém về tinh thần và thể chất của NKT Ngày nay, hầu hết mọi người đều thừa nhận rằng, nguyên nhân chính của những bất lợi
mà NKT đang phải đối mặt cũng như việc họ thường xuyên bị tách biệt khỏi
xã hội không phải do tình trạng khuyết tật của từng cá nhân mà chính là hậu quả của những phản ứng tiêu cực từ xã hội đối với NKT
Trang 3223
NKT có thể tự mình tạo ra việc làm hoặc tham gia vào các quan hệ lao động khác để có việc làm Có thể hiểu, việc làm đối với người lao động khuyết tật là những hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật ngăn cấm Như vậy, việc làm đối với người lao động khuyết tật cũng tương tự như những người lao động khác trong quan hệ lao động
Công ước 159 yêu cầu các nước đã phê chuẩn Công ước này phải xây dựng các chính sách quốc gia dựa trên nguyên tắc cơ hội bình đẳng giữa người lao động khuyết tật và người lao động nói chung, tôn trọng sự bình đẳng về cơ hội, đối xử bình đẳng giữa NKT nam và nữ Việc đề cao sự tham gia toàn diện của NKT được thể hiện thông qua khái niệm về phục hồi chức năng gắn với việc làm “Tạo cho NKT tìm được một việc làm phù hợp, lâu dài và thăng tiến, nhờ đó thúc đẩy hòa nhập hoặc tái hòa nhập của cá nhân đó vào xã hội” [36, Khoản 2 Điều 1] Người lao động khuyết tật cần được nhìn nhận như là một bên chủ thể trong mối quan hệ lao động, được hưởng đầy đủ các quyền của mình kể cả quyền có việc làm chứ không phải từ góc độ là đối tượng của phúc lợi xã hội
Theo tác giả, giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường đảm bảo cho người lao động khuyết tật trong độ tuổi lao động, đang có nhu cầu làm việc sẽ có cơ hội việc làm Giải quyết việc làm cho NKT đòi hỏi sự kết hợp của tất cả các yếu tố: vốn, công nghệ, bản thân người lao động khuyết tật, hệ thống thông tin thị trường lao động, … và đặc biệt là không thể thiếu yếu tố cơ chế, các chính sách, quy định của pháp luật Chính sách, pháp luật là điều kiện thuận lợi cho các mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho người lao động khuyết tật Người sử dụng lao động là người góp phần giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật được hiệu quả
1.1.2.3 Chính sách công, chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
Trang 3324
Ngày nay, thuật ngữ “chính sách” và “chính sách công” được sử dụng khá rộng rãi trên sách báo, phương tiện thông tin đại chúng và đời sống xã hội Nghiên cứu về chính sách công, một số học giả định nghĩa: “Chính sách công
là một hành động nào đó mà Nhà nước lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện” [26]; “Chính sách công là những hành động, ứng xử của nhà nước với các vấn đề phát sinh trong cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” (22, tr.20]; “Chính sách kinh tế - xã hội (chính sách công) là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà Nhà nước
sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết những vấn
đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước” [21]
Cho dù có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công, nhưng tác giả rút ra những điểm cơ bản về chính sách công như sau: Chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do nhà nước ban hành và bao hàm các quyết định của nhà nước; Chính sách công bao gồm một tập hợp các quyết định diễn ra qua một giai đoạn dài và kéo dài vượt ra ngoài quá trình hoạch định chính sách ban đầu; Chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấn
đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội; Chính sách công hướng tới việc thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng; Chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu
và giải pháp chính sách; Các chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, vì những quyết định sau có những điều chỉnh tăng dần so với các quyết định trước
đó, hoặc do những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu
Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả hiểu rằng, “Chính sách công là một
tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định”
Trang 3425
Trong quản lý xã hội, chính sách công là công cụ được nhà nước dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý Tuỳ theo yêu cầu quản lý xã hội ở từng thời kỳ, nhà nước chủ động ban hành các chính sách công để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần trong xã hội theo định hướng Hay có thể nói, mỗi một chính sách công được xây dựng và thực hiện đều nhằm mục tiêu giải quyết một vấn đề gây bức xúc trong xã hội cần sự can thiệp của nhà nước mà mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông qua quá trình thực thi chính sách
Tác giả quan niệm: “Chính sách việc làm là một tập hợp các văn bản quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành bao gồm các mục tiêu và giải pháp được thực thi nhằm tạo nhiều việc làm trong xã hội, góp phần ổn định cuộc sống của người dân, đảm bảo an ninh xã hội, phát triển kinh tế bền vững”
Trên cơ sở lý luận về người khuyết tật và chính sách việc làm, tác giả cho rằng:
Chính sách giải quyết việc làm cho NKT là một tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành bao gồm các mục tiêu và giải pháp hỗ trợ NKT nhằm đáp ứng nhu cầu tìm việc làm của NKT, đồng thời tạo cơ hội việc làm cho NKT, góp phần bảo vệ, chăm sóc và giúp đỡ NKT sống độc lập, hòa nhập cộng đồng, tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội”
1.1.2.4 Nội dung chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
- Tư vấn, giới thiệu việc làm
Đối với những NKT có khả năng học nghề và làm việc thì giải pháp bảo đảm các quyền tốt nhất cho họ là tạo cơ hội để họ được trang bị kiến thức nghề nghiệp nhất định, tư vấn cho họ có việc làm phù hợp nhất, có thu nhập tự nuôi sống bản thân và các thành viên khác trong gia đình, hòa nhập xã hội Có nghề,
có việc làm, nhất là việc làm tại các cơ quan, đơn vị không phải chuyên dành cho NKT có thể là biểu hiện sinh động nhất của hoạt động hòa nhập cộng đồng của NKT
Trang 3526
Điều 32 Luật Người khuyết tật năm 2010, Nhà nước Việt Nam bảo đảm
để NKT được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác; cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho NKT phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho NKT và được hưởng chính sách
ưu đãi theo quy định của pháp luật; NKT học nghề, giáo viên dạy nghề cho NKT được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật Nhà nước tạo điều kiện để NKT phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của NKT
- Đào tạo nghề cho người khuyết tật
Để có cơ hội và có thể tham gia vào quan hệ lao động nhằm tìm kiếm việc làm cũng như tự tạo việc làm, con người cần phải được học tập, rèn luyện
và tích lũy Học nghề là một trong những hướng đi giúp con người có thể lĩnh hội được kiến thức cũng như đạt được trình đọ nghề nhất định
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau hoàn thành khóa học Dạy nghề cho NKT nhằm giúp
họ có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm đực việc làm ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Đặc biệt đối với NKT thì việc dạy nghề càng có ý nghĩa quan trọng Dạy nghề không chỉ giúp cho NKT lĩnh hội được kiến thức nghề nghiệp để tìm kiếm việc làm, tham gia vào quan hệ lao động mà còn giúp họ hòa nhập vào cộng đồng, tự vươn lên trong cuộc sống Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của việc dạy nghề đối với NKT bởi nó tránh được tình trạng kỳ thị hay phân biệt đối xử của các thành viên trong xã hội, của cộng đồng đối với NKT
- Hỗ trợ cho NKT tự tạo việc làm
Hỗ trợ tạo việc làm, nhằm tìm cho người khuyết tật một công việc phù hợp không chỉ giúp nhóm lao động này tự tin vượt lên hoàn cảnh, hòa nhập
Trang 3627
cộng đồng, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội… mà còn khẳng định vai trò của họ, giúp họ tham gia đóng góp vào các hoạt động xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng phát triển đất nước Chính vì vậy, cần phát huy hơn nữa vai trò của các trung tâm đào tạo nghề, cùng với đó các cơ quan chức năng xây dựng cơ sở dữ liệu về người khuyết tật để có những phân tích, đánh giá nhu cầu học nghề, việc làm của từng nhóm đối tượng, từ đó có chính sách hỗ trợ phù hợp, hiệu quả
1.2 Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
1.2.1.1 Khái niệm
Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn
Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước) Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước Kết quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) trong thực hiện chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách Tác giả đồng quan điểm với các tác giả Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa, cho
Trang 3728
rằng: “ Thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công” [35, 97].
Trên cơ sở khái niệm chính sách công, chính sách giải quyết việc làm,
thực hiện chính sách công, tác giả hiểu được: “Thực hiện chính sách giải quyết
việc làm cho NKT là quá trình đưa chính sách giải quyết việc làm cho NKT vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước và tổ chức thực hiện các văn bản
đó nhằm đạt mục tiêu của Chính sách này”
Để thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho NKT, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến NKT nhằm giúp NKT hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, mục tiêu của chính sách này chỉ đạt được khi nó được triển khai thực hiện trong đời sống xã hội Như vậy, có thể hiểu việc tổ chức thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho NKT là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm thực hiện nội dung của chính sách một cách hiệu quả Tổ chức thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho NKT
là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng giai đoạn này thi chu trình chính sách không thể tồn tại Đây là khâu trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống
1.2.1.2 Mục tiêu
Chính sách giải quyết việc làm cho NKT được triển khai thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội sẽ đạt được các mục tiêu:
- Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập, ổn định cuộc sống
Việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động bởi nó giúp
họ có được thu nhập, ổn định đời sống Đối với NKT, việc làm càng có ý nghĩa hơn Từ xưa đến nay, theo quan niệm truyền thống và đạo đức, người ta thường
Trang 3829
nhìn nhận NKT như là một đối tượng yếu thế cần phải có sự trợ giúp Xã hội, cộng đồng cũng như gia đình cần phải trợ giúp và chăm lo cho họ NKT sống chủ yếu dựa vào gia đình, xã hội và cộng đồng nên đời sống vật chất tinh thần của họ còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, NKT đôi khi bị tâm lý chán nản
vì cho rằng mình là người “ăn bám” gia đình và xã hội Do đó, nếu NKT có việc làm, đời sống vật chất cũng như tinh thần của NKT sẽ được nâng cao Họ
sẽ có thu nhập để nuôi sống chính bản thân mình, không cần phải sống dựa vào
sự giúp đỡ của người khác, thâm chí họ có thể hỗ trợ gia đình và đóng góp cho
xã hội theo nhiều hình thức khác nhau Quan niệm, cũng như cách nhìn nhận
về NKT vì vậy sẽ có sự thay đổi Từ quan điểm nhìn nhận NKT dưới góc độ đạo đức, đó là đối tượng cần trợ giúp sẽ chuyển sang góc độ tiếp cận quyền của NKT, đó là quyền được làm việc, được cống hiến sức lao động của mình để tạo
ra thu nhập cho mình và xã hội
- Việc làm giúp NKT hòa nhập cộng đồng và tự tin hơn trong cuộc sống
Việc làm không chỉ giúp NKT có thu nhập ổn định đời sống mà quan trọng hơn là nó giúp NKT có thể hòa nhập vào cộng đồng và tự tin hơn trong cuộc sống Nhiều người mặc dù bị khuyết tật nhưng vẫn ý thức được vai trò và vị trí của họ trong xã hội, tự mình vươn lên trong cuộc sống học tập và lao động như những người bình thường, nhưng cũng có một bộ phận NKT luôn luôn trong trạng thái tự ti, mặc cảm với số phận kém may mắn và phó mặc số phận cho trời quyết định và chỉ biết sống dựa vào gia đình và sự trợ giúp của Nhà nước,
do vậy, họ ngại hòa nhập vào cộng đồng Đây chính là những rào cản khiến
họ trở nên không tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại, ngại giao tiếp Việc làm sẽ là điều kiện và cơ hội tốt nhất để NKT trở nên tự tin trong cuộc sống và tái hòa nhập cộng đồng Môi trường lao động là môi trường có sự tham gia của nhiều người, hoạt động lao động bao giờ cũng là hoạt động mang tính tập thể Bởi vậy, khi NKT có việc làm, họ sẽ được tiếp xúc với nhiều người và làm việc
Trang 3930
trong môi trường tập thể Điều đó sẽ nhanh chóng giúp họ tái hòa nhập vào cộng đồng Mặt khác, việc làm tạo ra thu nhập cho NKT nên họ sẽ cảm thấy tự tin hơn trong cuộc sống khi thấy mình cũng làm việc và cũng có ích như những người khác Đồng thời, nó cũng xây dựng nên lòng tự tin và tạo ra các kênh tương tác xã hội, từ đó mang lại lòng tự hào và nhân phẩm cho NKT
- Giải quyết việc làm cho NKT với phát triển nguồn nhân lực xã hội
Người khuyết tật là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời,
họ cũng có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng
và đóng góp công sức của mình vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và cũng có quyền được hưởng đầy đủ những thành quả phát triển của nhân loại NKT là những người bị suy giảm về thể chất, trí tuệ, tâm thần hoặc giác quan được biểu hiện dưới dạng khuyết tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn và cản trở sự tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội Nhưng nếu họ được tạo điều kiện cần thiết và tự mình vươn lên thì NKT có thể sống, hoạt động và đóng góp cho xã hội theo sức khỏe và năng lực như những người không khuyết tật Vì vậy, NKT cũng sẽ là lực lượng lao động của xã hội, là nguồn nhân lực của xã hội Giải quyết việc làm cho NKT cũng sẽ góp phần giải phóng và phát huy nguồn nhân lực cho xã hội NKT
sẽ cùng với những người không khuyết tật khác phát huy hết khả năng và nguồn lực của mình cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thực tế cho thấy, NKT cũng đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế của đất nước
1.2.1.3 Nguyên tắc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật
- Người khuyết tật được pháp luật bảo đảm thực hiện các quyền như: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ
Trang 4031
giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; Các quyền khác theo quy định của pháp luật Do đó, nguyên tắc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho NKT cũng được thực hiện dựa trên quyền của NKT
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm Người khuyết tật cũng là con người nên họ cũng có quyền được đối xử bình đẳng và công bằng như những người khác ở mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực việc làm NKT là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hay chức năng nên có được việc làm đối với họ là vấn đề rất khó khăn Người sử dụng lao động thường không muốn nhận người lao động là NKT, bởi họ cho rằng năng suất lao động của NKT không cao, thấp hơn so với người không khuyết tật Hơn nữa, trong một số trường hợp, người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất cũng như điều kiện lao động cho NKT hơn những người lao động không khuyết tật Dó đó, việc phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm là vấn đề khó tránh khỏi trong thực tiễn sử dụng lao động Nguyên tắc này cũng đã được tổ chức lao động quốc tế ILO quy định trong Công ước
số 111- Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm nghề nghiệp
Phân biệt đối xử bao gồm: phân biệt đối xử trực tiếp và phân biệt đối xử gián tiếp Phân biệt đối xử trực tiếp là khi có sự phân biệt đối xử không công bằng giữa những người lao động khuyết tật và những người lao động không khuyết tật được quy định trong luật pháp hoặc các thông lệ thực tiễn gây nên
sự khác biệt rõ ràng giữa những người lao động này Phân biệt đối xử gián tiếp
là những quy định hoặc thông lệ thực tiễn có vẻ trung lập nhưng thực tế lại dẫn đến việc triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng về cơ may hoặc đối xử giữa những người lao động khuyết tật và không khuyết tật Tuy nhiên, những cách thức đặc biệt nhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa những người