Ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật... Các yếu tố tác động đến việc bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT-
TỪ THỰC TIỂN TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT-
TỪ THỰC TIỂN TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Văn Khánh, xin cam đoan rằng:
- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, ngày 15 tháng 01 năm 2021
Học viên
Lê Văn Khánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tập thể và cá nhân đó
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Thị
Thu Hà, người trực tiếp hướng dẫn, đã hết lòng tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp
đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia, những người đã giảng dạy, động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè đã chia
sẻ cùng tôi những khó khăn, động viên và khích lệ tôi trong học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Do giới hạn về mặt thời gian và trình độ còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của các thầy, cô giáo để luận văn này được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lê Văn Khánh
Trang 5MỤC LỤC Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 9
1.1 Khái niệm chung 9
1.1.1 Khái niệm bảo đảm 9
1.1.2 Khái niệm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân 10
1.1.3 Khái niệm nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 15
1.1.4 Khái niệm bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 18
1.2 Nội dung nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 21
1.2.1 Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập 21
1.2.2 Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật 26
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm 31
1.3 Ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 38
1.3.1 Ý nghĩa về pháp lý 38
1.3.2 Ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội 39
Trang 61.3.3 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 40
1.4 Các yêu cầu, điều kiện bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 41
1.4.1 Yêu cầu bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 41
1.4.2 Điều kiện bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 42
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 45
2.1 Các yếu tố tác động đến việc bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 45
2.1.1 Yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của thị xã Quảng Trị 45
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị 48
2.2 Thực tiễn bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại TAND thị xã Quảng Trị 53
2.2.1 Thực tiễn bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử 53
2.2.2 Bảo đảm việc chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 56
2.3 Đánh giá chung 67
2.3.1 Kết quả đạt được 67
2.3.2 Hạn chế 68
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 72
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ
Trang 7TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 82
3.1 Quan điểm bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 82
3.2 Giải pháp bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 86
3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện thể chế 87
3.2.2 Giải pháp trong tổ chức thực hiện 94
KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số liệu các loại án đã giải quyết, xét xử từ năm 2015-2019 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trong Nhà nước pháp quyền, tính độc lập của tư pháp là một trong những đặc trưng cơ bản Tầm quan trọng của tư pháp độc lập từ lâu đã được ghi nhận tại Điều 10 Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 (UDHR) ghi nhận, mọi người đều có “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan” Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) thì mọi người có “quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, công minh được thiết lập theo pháp luật” Ở nước ta, tính độc lập khi xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm từ lâu đã là một nguyên tắc Hiến định (được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013), được cụ thể hóa trong các đạo luật quan trọng như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
Tòa án là cơ quan có chức năng đặc biệt trong bộ máy nhà nước Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và chỉ Tòa án mới có quyền phán quyết một người có tội hay không có tội Tòa
án xét xử và giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản,
tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bằng chính hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ý
Trang 11thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác Để bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng chức năng của mình, Hiến pháp cùng nhiều văn bản luật có quy định những nguyên tắc cơ bản cho cơ quan đặc biệt này
Nguyên tắc "Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" là một trong những nguyên tắc cơ bản để Tòa án thực hiện nhiệm
vụ xét xử, thể hiện quan điểm của Nhà nước trong hoạt động xét xử, Hội thẩm
và Thẩm phán có quyền đưa ra phán quyết trên cơ sở quyết định của pháp luật
để giải quyết vụ án một cách khách quan và chính xác mà không phải phụ thuộc vào bất cứ sự tác động nào khác
Mặc dù được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản luật khác nhưng trên thực tế việc bảo đảm nguyên tắc này còn nhiều bất cập, chưa thực
sự đem lại hiệu quả thiết thực trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong hoạt động xét xử, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách pháp luật, đề ra phương hướng, mục tiêu cụ thể về hoạt động xét xử của Tòa án, đặc biệt theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 thì việc đi sâu nghiên cứu việc bảo đảm “Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân xét xử dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” từ thực tiễn tại Tòa
án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị là vấn đề có ý nghĩa thiết thực góp phần làm rỏ về mặt lý luận và thực tiễn, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo đảm
“Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, các bài viết về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ
Trang 12tuân theo pháp luật.Trong điều kiện của bản thân, học viên đã tham khảo các tài liệu sau:
- Luận văn Thạc sỹ về “Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo luật tố tụng dân sự” của Phan
Bá Bảy, Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2015
Luận văn này mới chỉ khái quát về cơ sở lý luận của nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; phần thực tiễn chỉ đưa ra một số thực tiễn mà chưa đánh giá hết việc thực hiện áp dụng nguyên tắc này cũng như chưa chỉ rõ những hạn chế chủ quan
và khách quan; các giải pháp còn chung chung
- Luận văn Thạc sỹ về “Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của Vũ Thị Bích Diệp, Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2007
Luận văn này cơ bản khái quát cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của nguyên tắc, phần thực tiễn chỉ nêu lên một số thực tiễn trong quá trình xét xử
và áp dụng nguyên tắc Tuy nhiên, phần đánh giá thực tiễn chưa đề cập sâu đến thực trạng, năng lực, phẩm chất của Thẩm phán, Hội thẩm, các tác động ảnh hưởng đến nguyên tắc; thiếu một số giải pháp trong việc hoàn thiện cơ chế, công tác đào tạo bồi dưỡng, các yếu tố đảm bảo nguyên tắc
- Luận văn “Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự”, của Trần Thị Nhung San, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1995
Luận văn này về phần cơ sở lý luận thì đã dựa trên Hiến pháp, các luật chưa được sửa đổi, phần đánh giá thực tiễn giai đoạn này nền kinh tế thị trường mới phát triển, tính chất các vụ án chưa phức tạp như giai đoạn ngày nay, phần giải pháp có nội dung không còn phù hợp với giai đoạn hiện nay
Trang 13- Khóa luận tốt nghiệp: “Khi xét xử thẩm phán, hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, của Hàn Mạnh Thắng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997;
- Bài viết “Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của tòa án”, của Đỗ Thị Phương, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao;
- Bài viết “Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, của Trần Văn Kiểm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp năm 2011;
Tình hình nghiên cứu đề tài Bảo đảm “Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không còn là vấn đề mới, trong thời gian qua đã có rất nhiều những bài viết, những công trình nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này Hầu hết các đề tài và các bài viết đều nêu lên các cơ sở lý luận, một số thực tiển và một số giải pháp chung, chưa đi sâu thực tiễn việc bảo đảm nguyên tắc này, chưa tìm ra hết những hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế từ khách quan, chủ quan để từ đó đưa ra các giải pháp đồng bộ, toàn diện cho việc bảo đảm nguyên tắc có hiệu quả hơn trong thực tế Trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp những đề tài, bài viết trước, cùng với sự tìm tòi, và quá trình nghiên cứu của mình gắn với thực tiễn, tác giả đi sâu vào phân tích cơ sở lý luận của việc bảo đảm “ Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”,đưa ra những khái niệm, nội dung của nguyên tắc, mối quan hệ, ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc
Phần thực trạng việc bảo đảm nguyên tắc luận văn đã phân tích nêu lên các yếu tố kinh tế xã hội, cơ chế chính sách và các điều kiện đảm bảo để thực hiện nguyên tắc ở cơ sở Mặt khác đã khắc phục các luận văn trước nêu
rõ thực trạng và hạn chế của việc thực hiện nguyên tắc này tại Tòa án Thị xã
Trang 14nói riêng cũng như Tòa án các cấp nói chung trong giai đoạn hiện nay, để thấy rằng, việc bảo đảm nguyên tắc này thực tế vẫn còn nhiều bất cập và đưa
ra những quan điểm, giải pháp thích hợp, đồng bộ, toàn diện khắc phục các luận văn trước Luận văn này đưa ra hai nhóm giải pháp đó là: nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế và nhóm giải pháp tổ chức thực hiện Qua đó nhằm góp phần bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật được thực hiện có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay cũng như mục đích khẳng định đường lối chủ trương của Đảng trong cải cách tư pháp là đúng đắn, kịp thời và cần được thống nhất thực hiện trên phạm vi cả nước
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng trị, luận văn đưa ra các giải pháp góp phần bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
3.2 Nhiệm vụ
+ Phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Tòa án nhân dân;
+ Làm rõ thực trạng bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế;
+ Đưa ra được các giải pháp góp phần bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật từ thực
Trang 15tiễn Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu việc bảo đảm “Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
- Về thời gian: Đề tài lấy số liệu nghiên cứu trong thời gian từ năm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên hệ thống quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng trong phần cơ sở lý luận, thực tiễn và làm cơ sở để đưa ra các giải pháp
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: sử dụng trong phần cơ sở thực tiễn và làm cơ sở để đưa ra các giải pháp
Trang 16- Phương pháp so sánh: sử dụng trong phần cơ sở thực tiễn và làm cơ
và chỉ tuân theo pháp luật Làm rõ nội dung nguyên tắc, mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử Khẳng định vai trò, vị trí của cơ quan Tòa án trong hệ thống cơ quan nhà nước, chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật, không một cá nhân nào được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án Từ đó, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của Tòa án nói riêng và cơ quan tiến hành
tố tụng nói chung
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tế việc bảo đảm nguyên tắc trong hoạt động xét xử của Tòa án, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp đồng bộ, khả thi, phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp Đảm bảo hoạt động xét xử vô tư, khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, bảo vệ công lý còn góp phần tích cực vào tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân và sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước
Trang 177 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Chương 2: Thực trạng bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC
THẨM PHÁN, HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP
VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm bảo đảm
Có nhiều quan niệm khác nhau về bảo đảm Theo Từ điển Tiếng Việt, bảo đảm nghĩa là chăm sóc, giữ gìn nhiệm vụ, nghĩa rộng hơn là đoán chắc về điều gì đó Cũng có thể hiểu bảo đảm là gánh vác hoặc có nhiệm vụ giữ gìn, chăm sóc một đối tượng nhất định
Bảo đảm cũng có thể được hiểu là tạo điều kiện để chăm sóc, giữ gìn hoặc thực hiện một nhiệm vụ, yêu cầu nhất định Trong thực tiễn của đời sống
xã hội, chúng ta thường đề cập đến các vấn đề như bảo đảm, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội…
Bảo đảm cũng có thể được hiểu là việc tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật, đạt được các mục tiêu và điều kiện đề ra Ý nghĩa của từ bảo đảm ở đây còn mang tính quyền lực nhà nước, thể hiện trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức trong việc bảo đảm tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật
Ở một nghĩa khác, bảo đảm còn gắn với tính chịu trách nhiệm về những cam kết của mình, bảo đảm cho những cam kết đó được thực hiện Khi khái niệm bảo đảm gắn với trách nhiệm thường bao gồm cả những chế tài nếu không thực hiện những cam kết đó Như vậy, khái niệm bảo đảm sẽ gắn liền với trách nhiệm ở cách hiểu này và khi các bảo đảm không thực hiện được, sẽ kèm theo là các trách nhiệm, chế tài pháp lý
Từ những khái niệm bảo đảm trên, có thể rút ra khái niệm bảo đảm là tất cả các biện pháp, phương hướng để bảo đảm cho quyền lợi và nghĩa vụ
Trang 19thực hiện một cách đúng đắn, đầy đủ Các biện pháp pháp lý có thể bao gồm các chế định, qui định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, kế hoạch, quy định của pháp luật được thực hiện thông suốt và bảo đảm việc xử lý các trường hợp vi phạm theo qui định của pháp luật
1.1.2 Khái niệm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
Đảm bảo sự tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội nói chung và công tác xét xử của Tòa án nói riêng là yêu cầu quan trọng trong một nhà nước tiến bộ Ở các nước theo hệ thống thông luật, có chế định
về Bồi thẩm đoàn Ở những nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, Hội đồng xét xử có thể bao gồm Thẩm phán chuyên nghiệp và Thẩm phán không chuyên nghiệp hoặc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nói chung, hình thức thể hiện việc nhân dân tham gia công tác xét xử của Tòa án cũng có
sự khác nhau ở mỗi nước
Ở nước ta, việc nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án được thể hiện tập trung nhất thông qua chế định về Hội thẩm nhân dân Chế định Hội thẩm là sự bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể hiện bản chất nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Đây là một chế định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm
1946 đến Hiến pháp năm 2013
Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi
Trang 20phạm pháp luật khác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật
Tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1.Việc xét xử sơ thẩm
của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn 2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm…4 Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo
đa số…” Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia, Điều 8 Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân năm 2014 (viết tắc Luật TCTAND), quy định: “Việc
xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.” Và khoản 1 Điều 9 của Luật
này quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”
Ngoài ra, Điều 85 Luật TCTAND có quy định về tiêu chuẩn Hội thẩm như sau:
“1 Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm
và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực
2 Có kiến thức pháp luật
3 Có hiểu biết xã hội
4 Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao”; Riêng về
thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm; nhiệm kỳ của Hội thẩm; trách nhiệm của Hội thẩm được quy định tại các điều 85, 87, 89 Luật TCTAND
Trang 21Là một nguyên tắc Hiến định nên nếu việc xét xử của Tòa án mà không
có Hội thẩm tham gia thì sẽ không chỉ là vi hiến mà còn vi phạm nghiêm trọng phạm pháp luật tố tụng Ngay cả khi Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bảo đảm đủ số lượng 03 thành viên (01 Thẩm phán, 02 Hội thẩm), nhưng một trong hai Hội thẩm đó không phải là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, khi bị cáo trong vụ án đó là người chưa thành niên thì cũng bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và chắc chắn rằng bản án, quyết định của Hội đồng xét xử vụ án đó bị hủy để xét xử lại Bởi việc tham gia và tham gia đúng thành phần của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm, họ hoàn toàn không tách khỏi môi trường công tác, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu (đối với Hội thẩm quân nhân); hoạt động tại cơ quan, lao động sản xuất tại doanh nghiệp (đối với Hội thẩm nhân dân) và với vốn hiểu biết thực tế, trải nghiệm trong cuộc sống, với
sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để từ đó Hội đồng xét xử có cơ sở đưa ra phán quyết đúng pháp luật, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ
Cùng với Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm khi được phân công tham gia xét xử vụ án, thì Hội thẩm được xác định là một trong những người tiến hành tố tụng tại Tòa án Khi được phân công giải quyết vụ án thì Hội thẩm có các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; tham gia xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm (riêng đối với vụ án hình sự thì Hội thẩm có thể tham gia xét xử theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp cần thiết); tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những hành vi và quyết định của mình Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
Trang 22quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm Với các quy định nêu trên thì Hội thẩm có vai trò rất quan trọng trong công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm chiếm đa số trong Hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết các vấn đề nghị bàn khi Hội đồng xét xử nghị án, mà không có bất kỳ sự lệ thuộc nào Nếu như, khi nghị án ý kiến biểu quyết của các Hội thẩm là giống nhau và khác với ý kiến của Thẩm phán thì quyết định của Hội đồng xét xử phải theo ý kiến của đa số, dù Thẩm phán là người đã từng làm công tác xét
xử lâu năm, có nhiều kinh nghiệm, đạt đến trình độ chuyên nghiệp thì cũng chỉ có quyền bảo lưu ý kiến của mình trong Biên bản nghị án, sau đó báo cáo lại Chánh án nơi Tòa án mình đang công tác, đề nghị Tòa án cấp trên xem xét
TAND ở địa phương đó gọi là Hội thẩm nhân dân; Hội thẩm được Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân khu và tương đương cử theo đề nghị của các đơn vị thuộc quyền trên địa bàn gọi là Hội thẩm quân nhân cấp Khu vực, Hội thẩm được Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cử theo đề nghị của cơ quan chính trị cấp quân khu và tương đương gọi là Hội thẩm quân nhân cấp Quân khu Hội thẩm nhân dân là các công chức, viên chức nhà nước kiêm nhiệm hoặc đã nghỉ hưu; Hội thẩm quân nhân là cán bộ, sĩ quan công tác tại các cơ quan đơn vị đóng quân trên địa bàn, mà Tòa án quân sự đó đảm nhiệm
Từ những cơ sở trên ta có khái niệm Hội thẩm như sau: Hội thẩm nhân dân là Người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án
Hội thẩm dân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, đồng thời, cũng do
Trang 23Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp
Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp
Trong khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán và độc lập, chỉ tuân theo pháp luật
- Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ượng, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực
Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của pháp luật, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và
bổ nhiệm thẩm phán
Trang 24Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của chánh án Khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan,
tổ chức hay cá nhân nào và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình
Theo quy định tại Điều 64 Luật TCTAND, để được bổ nhiệm làm Thẩm phán, thì nhiều tiêu chuẩn Thẩm phán phải có, đó là: Trình độ từ cử nhân luật trở lên; được đào tạo nghiệp vụ xét xử; có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật;… Theo quy định tại Điều 66 Luật TCTAND, các ngạch Thẩm phán, gồm: Thẩm phán TANDTC; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp Điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp theo quy định tại Điều 68 Luật TCTAND hết sức chặt chẽ, ví dụ: Để được bổ nhiệm Thẩm phán sơ cấp, ngoài các tiêu chuẩn quy định tại Điều 66 Luật TCTAND, đòi hỏi có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên, trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp; tương tự để bổ nhiệm Thẩm phán trung cấp ngoài các tiêu chuẩn quy định tại Điều 66 Luật TCTAND, đòi hỏi đã là Thẩm phán sơ cấp từ đủ 05 năm trở lên, trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch Thẩm phán trung cấp
Từ những vấn đề nêu trên ta có khái niệm Thẩm phán như sau: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét
xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án
Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của chánh án Khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan,
tổ chức hay cá nhân nào và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình
1.1.3 Khái niệm nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định là một nguyên tắc hiến định và được ghi nhận trong các bản
Trang 25Hiến pháp cũng như được thể chế trong các đạo luật về tổ chức Tòa án - cơ quan xét xử, cũng như các đạo luật về tố tụng của Nhà nước Việt Nam
Có thể khẳng định rằng, sự ra đời của Tòa án gắn liền với hoạt động xét
xử và xét xử là đặc điểm quan trọng nhất khi nói đến Tòa án Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014)
đã khẳng định Tòa án - với chức năng xét xử - là cơ quan thực hiện quyền tư
pháp Hoạt động xét xử của Tòa án là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực
tư pháp Kết quả xét xử thể hiện nền công lý, sự đối xử bình đẳng, công bằng trong tất cả các mối quan hệ và cũng là thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp Xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà Tòa
án là trung tâm của việc thực hiện và xét xử là hoạt động trọng tâm, đòi hỏi việc xét xử phải bảo đảm tính độc lập Chính vì vậy, nguyên tắc độc lập xét xử được coi là tiền đề nền tảng của hoạt động tư pháp trong nhà nước pháp quyền,
là bảo đảm quan trọng cho việc xét xử được bình đẳng, dân chủ, khách quan
Xuất phát từ nguyên tắc tổ chức, phân công quyền lực nhà nước ở Việt Nam Tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Vì vậy, tính độc lập của Tòa
án là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà Tòa án nhân danh công
lí và dựa vào công lí mà Tòa án phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào, chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật thì Tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo vệ công
lí Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản kết thúc quá trình xét xử một vụ
án Do vậy, có thể nói bản án chính là tuyên ngôn công lí mà Tòa án thay mặt nhà nước ban hành thông qua quá trình tố tụng tại phiên tòa Hơn nữa, bản án
Trang 26đúng đắn sẽ mang lại sự công bằng cho xã hội, bảo vệ công lí và quyền con người Vì lẽ đó mà bản án, quyết định của Tòa án cần phải đảm bảo chính xác tuyệt đối, đảm bảo đúng pháp luật Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những người nhân danh nhà nước ra bản án, quyết định nên đòi hỏi ở họ bản lĩnh vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, lương tâm nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức trong sáng để độc lập xét xử theo pháp luật
Như vậy, nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong suốt quá trình hình thành và phát triển đã khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hoạt động xét xử Thẩm phán độc lập không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động từ bên ngoài cũng như từ bên trong ngành Tòa án, đồng thời độc lập với các chủ thể tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ và đưa ra các nhận định, phán quyết của mình về vụ án Kể cả khi vụ việc được xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Thẩm phán cũng không bị lệ thuộc bởi các nhận định, những phán quyết của Toà án cấp dưới
Mặt khác, tính độc lập trong xét xử không có nghĩa là xét xử tùy tiện
mà phải độc lập trong khuôn khổ pháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở
không thể thiếu để Thẩm phán độc lập khi xét xử Nó vừa là quyền vừa là
nghĩa vụ của Thẩm phán Là quyền nó đảm bảo cho sự độc lập xét xử của họ
Là nghĩa vụ nó đặt ra yêu cầu buộc Thẩm phán phải luôn trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như bản lĩnh nghề nghiệp để tránh những tác động tiêu cực từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án Nội dung độc lập khi xét xử và nội dung chỉ tuân theo pháp luật có mối liên hệ rất chặt chẽ và bổ sung cho nhau Đó là những tư tưởng chủ đạo, định hướng trở thành
xử sự bắt buộc chung đối với Thẩm phán khi được phân công xét xử vụ án
Từ những vấn đề nêu trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: “Nguyên
tắc Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc cơ bản
Trang 27trong hoạt động tố tụng của Tòa án Việt Nam, thể hiện tư tưởng pháp lý khi xét xử các vụ án, Thẩm phán phải tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về bản
án và quyết định của mình mà không bị phụ thuộc vào quan điểm ý kiến của bất kì cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau
và chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để xem xét và quyết định về từng vấn đề của vụ án”
1.1.4 Khái niệm bảo đảm nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể: "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm" Như vậy, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập xét xử là độc lập trong mọi hoạt động của mình theo quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc phiên tòa xét
xử, chứ không chỉ giới hạn bởi "khi xét xử" Cụm từ "nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm" trong công tác xét xử cũng là bảo đảm cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn xét xử Điều đặc biệt quan trọng để đạt được mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam là phải nhận thức một cách toàn diện về quyền tư pháp, nâng cao vị thế của quyền tư pháp, của Tòa án, của Thẩm phán Có như vậy, thì nguyên tắc “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” mới có ý nghĩa và được bảo đảm một cách đích thực
Các nguyên tắc như xét xử có Hội thẩm tham gia, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, nguyên tắc xét xử công khai, xét xử tập thể, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được tiếp tục ghi nhận và phát triển ở mức cao hơn, chính xác hơn
Trang 28Quan trọng nhất, việc Hiến pháp quy định nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm là một bảo đảm hiến định quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử Trong quy định các nguyên tắc này, Hiến pháp năm 2013 có quy định các trường hợp ngoại lệ đối với một số nguyên tắc để bảo đảm việc áp dụng mềm dẻo, linh hoạt và có hiệu quả trên thực tế Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số nguyên tắc mới thể hiện tinh thần đổi mới trong cải cách tư pháp ở nước ta, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là một bảo đảm quan trọng giúp cho việc xét xử toàn diện, khách quan, bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng, hạn chế thấp nhất các trường hợp oan sai trong hoạt động tố tụng tư pháp nói chung, trong xét xử của Tòa án nói riêng Mặt khác
để bảo đảm nguyên tắc thì cần phải bảo đảm các yêu cầu sau:
Thứ nhất, bảo đảm quyền tư pháp được phân công, phân nhiệm rõ ràng Cần nghiên cứu và thay đổi nhiều quy định pháp luật về tổ chức bộ máy, quy chế hoạt động, quan hệ với các cơ quan nhà nước khác của hệ thống tòa án
để giảm thiểu sự can thiệp, tác động, cả trực tiếp và gián tiếp, của các chủ thể bên ngoài, qua đó bảo đảm tính độc lập thực sự của các tòa án
Thứ hai, cần mở rộng đối tượng xét xử của tư pháp Trong nhà nước pháp quyền với cơ chế phân quyền, Quốc hội và Chính phủ cũng phải hoạt động trong phạm vi khuôn khổ của Hiến pháp Cần thay đổi nhận thức hay cách tiếp cận về tòa án, cần xem đó là cơ quan bảo vệ công lý thay bằng, hay đồng thời với việc coi đó là cơ quan xét xử
Thứ ba, cần chuyển mạnh phương thức xét xử từ tố tụng buộc tội sang
tố tụng tranh tụng Điều này không chỉ liên quan đến những thay đổi về pháp luật tố tụng, mà còn đến việc giáo dục, chuyển đổi nhận thức và thái độ của các Thẩm phán, Hội thẩm và thư ký tòa án Ngoài ra, thay đổi về vấn đề này
Trang 29còn cần gắn với việc mở rộng vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng Thêm vào đó, cần có những giải pháp hiệu quả về kinh phí hoạt động của hệ thống tòa án nhằm bảo đảm các tòa án không phụ thuộc vào bất cứ cơ quan nào, kể cả vào các tòa án cấp trên, về kinh phí hoạt động
Thứ tư, mặc dù là độc lập để đảm bảo phán xử công bằng, nhưng tòa án vẫn phải chịu sự giám sát Hoạt động giám sát của người dân cũng như của nhiều tổ chức xã hội cũng như trong bản thân của cơ cấu nhà nước đối với hoạt động của cơ quan nhà nước là biểu hiện của dân chủ cũng như là sự văn minh của nhân loại Với nguyên tắc này, hoạt động xét xử của tòa án cũng phải chịu sự giám sát của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội Tuy nhiên, việc giám sát các hoạt động xét xử của tòa án phải khác với việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác ở điểm không được tự tiện thay đổi các quyết định án đã được xét xử của tòa án Việc thay đổi các quyết định án phải tuân theo thủ tục tố tụng các cấp xét xử của hệ thống tòa án: án sơ thẩm phải được kiện lên phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Nhưng trong trường hợp
có quá nhiều án phải xử đi xử lại, thì phải xem xét lại chất lượng của việc bổ nhiệm thẩm phán của các cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán
Thứ năm, giải thích Hiến pháp và luật phải là một trong những biểu hiện thẩm quyền của quyền tư pháp Theo quy định của Hiến pháp, UBTVQH
có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật Nhưng cho đến nay, UBTVQH không thực hiện được chức năng này, bởi lẽ, về nguyên tắc đó là
cơ quan lập pháp chứ không phải là cơ quan áp dụng luật Lập pháp là chức năng của Quốc hội và thông qua pháp lệnh cũng thuộc chức năng của UBTVQH Muốn giải thích được các điều luật một cách chính xác thì phải trăn trở với nó, vì vậy buộc phải đặt việc giải thích trong một vụ việc cụ thể, gắn với các sự kiện pháp lý cụ thể Chỉ có Tòa án với nguyên tắc nghĩa vụ phải xét xử của thẩm phán mới có điều kiện cũng như nghĩa vụ giải thích các
Trang 30điều luật Điều này có nghĩa là giải thích điều luật phải gắn với một trường hợp cụ thể mà không thể là giải thích chung chung, rơi vào tình trạng của việc giải thích trừu tượng Việc trao quyền này cho UBTVQH tức là không phân biệt rõ và thậm chí còn là nhầm lẫn giữa lập pháp và tư pháp
Có thể khẳng định, việc đặt ra yêu cầu tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính là một chủ trương đúng đắn
và để bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án Độc lập xét xử là một yêu cầu cao nhất thuộc quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Từ những yếu tố trên ta có khái niệm như sau: Bảo đảm nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là việc bảo đảm tính tối cao của pháp luật, đảm bảo sự cân bằng, kiểm soát các quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người đảm bảo cho tòa án độc lập chính
là đảm bảo cho thẩm phán, hội thẩm độc lập Sự độc lập của tòa án không chỉ giản đơn có trong giai đoạn xét xử bằng một tuyên bố của Hiến pháp, mà còn cần phải mở rộng sự độc lập này ra khỏi phạm vi xét xử và cả những cơ chế chính sách khác kèm theo
1.2 Nội dung nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.2.1 Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập
Thứ nhất, tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm còn thể hiện ở chỉ
đạo của cấp ủy Đảng đối với Tòa án
Xuất phát từ Điều 4 Hiến pháp 2013, Đảng lãnh đạo cơ quan tư pháp, trong đó có Tòa án thông qua cấp ủy Đó là quan hệ chính trị giữa tổ chức Đảng với cơ quan trong bộ máy nhà nước Đảng không chỉ đạo, xét xử từng
vụ án cụ thể mà đối với hoạt động của Tòa án nhân dân, Đảng có chủ trương
là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Sự chỉ đạo của cấp ủy trong
Trang 31cơ quan xét xử nhằm bảo đảm cho hoạt động xét xử thực hiện đúng tính nghiêm minh, không ảnh hưởng đến việc xét xử độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm Ý kiến của cấp ủy Đảng trong việc bổ nhiệm và tái bổ nhiệm Thẩm phán cũng dựa trên những quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm và tái bổ nhiệm Thẩm phán chứ không phải là yếu tố quy định Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng không mâu thuẫn với sự độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm Tuy nhiên, chế độ đảng lãnh đạo Nhà nước, trong đó có các cơ quan, đơn vị, vị trí của cấp ủy Đảng trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến sự độc lập của Thẩm phán khi có sự tác động của cấp ủy Đảng Chính vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm phải nhận thức đúng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp để đảm bảo sự độc lập xét xử
Thứ hai, tính độc lập thể hiện giữa các chủ thể tham gia với Tòa án
Mối quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm và nội bộ ngành Tòa án được thể hiện ở mối quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án và các đồng nghiệp cùng Tòa án, quan hệ giữa Hội thẩm và Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm tham gia xét xử… Chánh án là người đứng đầu cơ quan, vừa sử dụng cán bộ đồng thời cũng là người quản lý cán bộ trong đơn vị mình Trong đó Hội thẩm và Thẩm phán lại là người chịu sự quản lý của Chánh án và Tòa án cấp trên Thông qua công tác tổ chức, kiểm tra, xét xử như họp bàn bàn án trước khi xét xử, phân công Thẩm phán và Hội thẩm xét xử vụ án, Chánh án có tác động đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm Mặc dù pháp luật đã quy định khi hủy bản án để xét xử sơ thẩm lại, Tòa án cấp phúc thẩm không được quy định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc bác bỏ cũng như không quy định trước về điều khoản BLHS và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng những việc Tòa cấp trên hủy án Tòa cấp dưới, cũng ảnh hưởng tới tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm Chính vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm
Trang 32của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy định của pháp luật, đảm bảo việc xét
xử công bằng, khách quan Khi án bị hủy án xét xử sơ thẩm lại, hội đồng xét
xử cũng cần phải xem xét một cách khách quan nguyên nhân mà Tòa án cấp trên hủy, xem xét toàn diện các chứng cứ, thông tin có phù hợp với thực tế khách quan hay không để xét xử lại đúng pháp luật, không phụ thuộc vào kết quả bản án bị hủy Nếu cấp trên hủy đúng cần xem xét để xét xử lại cho chính xác, nếu cấp trên hủy sai thì phải bảo vệ chính kiến, quan điểm của hội đồng xét xử, miễn sao bản án, quyết định phải có căn cứ và hợp pháp
Chẳng hạn, trong quá trình xét xử, khi Thẩm phán điều khiển phiên tòa trong việc xét hỏi, tranh luận, nghị án để đảm bảo hoạt động xét xử đi đúng trọng tâm, xác định những việc cần làm để chứng minh tội phạm và không được hạn chế việc xét hỏi của Hội thẩm nếu những câu hỏi đó nhằm làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án Theo Điều 222 Bộ luật tố tụng Dân
sự thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân có quyền hỏi tất cả các vấn đề mà mình cho là cần thiết để giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào Thẩm phán Để đảm bảo cho Thẩm phán
và Hội thẩm độc lập với nhau khi xét xử, Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều Điều 236 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án… Như vậy, rõ ràng là mỗi cá nhân Thẩm phán và Hội thẩm đều phải tự chủ và có chính kiến riêng của mình, dù đó là ý kiến thiểu số hay
đa số đều được ghi nhận Chứ không phải trong trường hợp là ý kiến thiểu số thì sẽ bị che lấp bởi quyết định của đa số Quy định này góp phần khuyến
Trang 33khích sự tự chủ và độc lập của mỗi thành viên Hội đồng xét xử Thêm vào đó, Thẩm phán và Hội thẩm phải chịu trách nhiệm cá nhân về những quyết định của riêng mình Chính trách nhiệm cá nhân này càng thực sự là một đảm bảo cho Thẩm phán và Hội thẩm mạnh dạn có những quyết định độc lập Cá nhân của mỗi người khi tin tưởng ý kiến của mình, cho dù là thiểu số, là đúng pháp luật thì mạnh dạn quyết định, không phải lệ thuộc vào ý kiến của đa số những người khác Bởi vì, nếu ý kiến của riêng mình là đúng thì không có lý do gì phải e sợ trách nhiệm, cho dù bản án hoặc quyết định cuối cùng là theo ý kiến của đa số Những quy định trên đã loại trừ việc Thẩm phán lạm quyền, tác động đến hoạt động xét xử của Hội thẩm
Thứ ba, độc lập với yêu cầu của những người tham gia tố tụng
Với dư luận và với cơ quan báo chí: Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là mâu thuẫn lợi ích giữa bị cáo và người bị hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội Ai cũng mong muốn kết quả xét xử phải đưa lại quyền lợi tối ưu cho họ hoặc chí ít ra cũng tước bỏ tối thiểu quyền và lợi ích của họ Sau phán quyết của Tòa có rất nhiều ý kiến khác nhau như từ dư luận quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí, rằng xử đúng, xử sai, công bằng hay không công bằng, nặng hay nhẹ, đặc biệt là đối với các vụ án bị cấp trên hủy xử lại và những vụ án xét xử lưu động
Những vấn đề này đều tác động khá mạnh mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử Xử theo đúng pháp luật hay
xử theo xu hướng của dư luận, báo chí yêu cầu, hay xử vì lợi ích của người bị hại? Xử đúng chưa chắc được dư luận đồng tình, lại có thể đảm bảo theo yêu cầu của một số người tham gia tố tụng Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với báo chí, với dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ dựa trên những chứng cứ, những quy định của pháp luật,
Trang 34không phụ thuộc vào yêu cầu của những người nói trên Điều đó cũng đồng nghĩa với việc không ai được phép tác động đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm
Thứ tư, độc lập đối với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án
Là việc Thẩm phán và Hội thẩm trên cơ sở đánh giá tính chính xác của các thông tin, kiểm tra lại tính xác thực, đúng đắn của kết quả điều tra, quyết định truy tố, từ đó đưa ra quan điểm chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử, các tình tiết, thông tin thu thập phải phù hợp với hiện thực khách quan Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chỉ là mô hình để Hội đồng xét xử triển khai hoạt động xét xử tại phiên tòa thông qua việc kiểm tra và đánh giá chứng cứ, đánh giá tính xác thực của các thông tin tài liệu đó Độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có nghĩa là thoát ly khỏi các thông tin đó mà nhiệm
vụ của Hội đồng xét xử là nghiên cứu và đánh giá xem các thông tin đó đúng hay sai, giữa các tài liệu trong hồ sơ có mối quan hệ với nhau như thế nào, có
mô tả đúng những hành vi đã xảy ra trên thực tế hay không để đưa ra kết luận chính xác
Nếu thoát ly khỏi Kết luận điều tra và Cáo trạng, Hội đồng xét xử sẽ không tận dụng được tối đa kết quả của quá trình điều tra và Viện kiểm sát tổng hợp đưa ra kết luận Tuy nhiên, khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét
xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào Kết luận điều tra của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát Quá trình nghiên cứu hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng
cứ tại phiên tòa Bản án của Tòa án chỉ căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa
Trang 35Khoản 3 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”
Tóm lại, độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nghĩa là: Thẩm phán và Hội thẩm phải trực tiếp xem xét các chứng cứ của vụ án chứ không chỉ căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hay các chứng cứ mà Viện kiểm sát đã đưa ra trong bản Cáo trạng Bản án của Tòa chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, đối chiếu với những quy định của pháp luật để xử lý vụ án và có quyền kết luận khác với ý kiến của cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát
1.2.2 Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật
Một trong những nội dung không kém phần quan trọng của nguyên tắc,
đó là việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật Điều này có nghĩa là, khi xét xử, Tòa án không có cấp trên, cấp trên của Hội đồng xét xử chính là pháp luật Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của ai
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử để ép họ phải xét xử vụ án theo ý chủ quan của mình Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào đều làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và đều bị coi là bất hợp pháp Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân theo pháp luật, có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, của bất kỳ ai và phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án Do đó, đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không tha thứ cho bất kỳ một hành vi vi phạm
Trang 36pháp luật nào Đây là quy định có tính chất bắt buộc đối với Thẩm phán và Hội thẩm
Như vậy, có thể nói “hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm luôn phải trên cơ sở pháp luật” Việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm chỉ dựa trên những quy định của pháp luật và pháp luật là căn cứ duy nhất để quyết định các vấn đề giải quyết vụ án
Nội dung Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật biểu hiện ở những vấn đề sau:
- Sự tuân theo pháp luật hình sự: Pháp luật hình sự nói chung thường bao gồm luật thực định (Bộ luật hình sự) và khoa học về luật hình sự, chúng
có sự bổ trợ lẫn nhau Bộ luật hình sự có hai phần: Phần chung và phần các tội phạm Phần chung quy định về phạm vi áp dụng, các trường hợp phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, tổng hợp hình phạt, tuổi chịu trách nhiệm hình sự… Phần các tội phạm quy định cụ thể các hình vi như thế nào thì bị coi là tội phạm và các khung hình phạt, mức hình phạt tương ứng với các trường hợp phạm tội
Tuy nhiên, muốn áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự buộc Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về định tội danh, về quyết định hình phạt và khoa học luật hình sự thể hiện ý nghĩa của mình ở chỗ đó
- Sự tuân theo pháp luật tố tụng hình sự: Có thể chia hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm thành hai giai đoạn: Thứ nhất là từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước ngày mở phiên tòa và thứ hai là tại phiên tòa Giai đoạn trước khi mở phiên tòa là giai đoạn Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ
để xem xét lại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ đó xây dựng kế hoạch xét hỏi và những tình huống xảy ra tại phiên tòa để có kế hoạch ứng phó thích hợp và những công việc khác cần thiết cho phiên tòa Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần phải nắm chắc các quy định của bộ luật tố tụng hình sự từ thủ tục
Trang 37bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét hỏi, tranh luận và nghị án
Trong phần xét hỏi, về phạm vi và trình tự hỏi đã được quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng việc và từng tội trong vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiếm sát viên và người bào chữa,… Về nội dung hỏi, pháp luật không quy định hỏi cụ thể như thế nào nhưng mục đích của hoạt động xét hỏi nhằm làm sáng tỏ các vấn đề được quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự Đó là phải làm rõ
có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị cáo Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Đối với các đối tượng cụ thể cần có cách hỏi phù hợp, đảm bảo khách quan, không được dùng các câu hỏi có tính chất “mớm cung” để buộc những người tham gia tố tụng khai theo làm mất tính khách quan trong việc khai báo của họ Đối với bị cáo được khai nhận thực hiện hành vi phạm tội có thể có nhiều động cơ khác nhau nên đồng thời với việc hỏi bị cáo cần phải kết hợp với việc hỏi những người khác, xem xét vật chứng cụ thể xác định phù hợp hay không phù hợp với lời nhận tội của bị cáo “Chỉ có thể kết luận bị cáo phạm tội khi lời nhận tội của họ phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án Không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”, bởi vì có nhiều trường hợp, bị cáo nhận tội chỉ là do quá sợ hãi, hoặc do có người chỉ đạo, xúi giục, và thậm chí là nhận tội thay Việc xét hỏi phải mang tính toàn diện, khách quan, không được có định kiến trước là bị cáo có tội
Trang 38Trong phần tranh luận, Hội đồng xét xử phải xác định mục đích của tranh luận, chủ thể thực hiện việc tranh luận Chủ thể tranh luận là Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Mục đích tranh luận là làm sáng tỏ các vấn đề có tội hay không có tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự…
Chủ tọa là người điều khiển phần tranh luận cho phép ai được phát biểu, ai không, phát biểu ở giới hạn nào, Hội đồng xét xử không tham gia tranh luận Khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội, Hội đồng xét xử phải chú
ý lắng nghe, ghi chép để nắm bắt những điểm chính thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát, quan điểm đó dựa trên những tài liệu, chứng
cứ nào Hội đồng xét xử cũng phải lắng nghe lời trình bày ý kiến của những người tham gia tố tụng khác, phần nào họ đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên, phần nào không đồng ý và nếu không đồng ý thì dựa trên những lập luận nào, chứng cứ nào
Vì thế, tranh tụng tại phiên tòa có ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định, ra bản án nên Hội đồng xét xử, do đó Thẩm phán và Hội thẩm cần nắm
rõ những quy định về tranh luận để điều khiển việc tranh luận có hiệu quả, tránh trường hợp Hội đồng xét xử tranh luận với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác như một số trường hợp xảy ra trong thực tiễn xét xử
Khi nghị án, Hội đồng xét xử cần nghiêm túc tuân thủ những quy định
về thủ tục nghị án, nội dung nghị án và việc biểu quyết Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Thẩm phán giải quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội
Trang 39Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Khi nghị án phải lập biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử Biên bản nghị án phải được tất cả các thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án
Nghị án là giai đoạn mà tính độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm được biểu hiện một cách rõ ràng và tập trung nhất Vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm cần phát huy những quyền năng của mình để giải quyết các vấn đề của vụ án một cách khách quan, chính xác trên cơ sở những quy định của pháp luật Thẩm phán không được tác động đến quá trình tư duy của Hội thẩm khi họ thực hiện việc chứng minh tội phạm cũng như khi quyết định các vấn đề khác của vụ án Hội thẩm cũng phải ý thức được việc phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được quy định thành một nguyên tắc cơ bản
- Sự tuân theo các văn bản pháp luật khác có liên quan:
+ Pháp luật dân sự: Khi giải quyết vụ án hình sự, cùng với việc quyết định vấn đề tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử còn phải giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự, chủ yếu là giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Yêu cầu giải quyết những vấn đề trên đòi hỏi Hội đồng xét xử phải nắm rõ những quy định của các văn bản pháp luật dân sự về căn cứ bồi thường, mức bồi thường, nguyên tắc bồi thường Các quyết định này phải dựa vào luật dân sự và các văn bản hướng dẫn trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, không được phép quyết định theo cảm tính, chủ quan, dựa vào tình cảm cá nhân để ấn định mức bồi thường
+ Pháp luật chuyên ngành khác: Hoạt động định tội danh là một hoạt động khá phức tạp đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có kiến thức
Trang 40tổng hợp về pháp luật chứ không đơn thuần là chỉ hiểu biết các quy định của luật hình sự Một số tội danh không được mô tả trực tiếp tại điều luật của Bộ luật hình sự mà hành vi cụ thể được quy định tại các luật, văn bản pháp luật chuyên ngành như nhiều tội trong chương “Các tội phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”, các tội xâm phạm liên quan đến những lĩnh vực cụ thể như
y tế, xây dựng… Muốn định tội danh đều phải nắm rõ các quy định của văn bản pháp luật chuyên ngành Nếu không am hiểu phải trưng cầu ý kiến của chuyên gia về các lĩnh vực cụ thể Ngoài ra, Thẩm phán và Hội thẩm cũng phải nắm chắc các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, các thông
tư liên ngành để giải quyết chính xác từng trường hợp cụ thể
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm
Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật Thẩm phán và Hội thẩm xét
xử độc lập là một phần nội dung của nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau, độc lập với các yếu tố khác Độc lập trong xét xử không những được quy định thành nguyên tắc của bộ luật tố tụng hình sự, được ghi nhận trong Hiến pháp, luật tổ chức Tòa án mà nó còn được thể hiện ở những điều luật quan trọng khác của luật Tố tụng Hình sự, Tố tụng Dân sự, Tố tụng Hành chính như các điều luật về nghị án, về giới hạn xét xử, về giám đốc thẩm Nếu Thẩm phán
và Hội thẩm xét xử độc lập, không chịu bất cứ sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, quyết định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật
Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập chính là biểu hiện và bảo đảm của việc tuân theo pháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử Tuân nghĩa là nghe theo và làm theo Xét khía cạnh