Ở Tỉnh Đắk Lăk nói chung, Thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị Trung tâm vùng Tây nguyên giai đoạn 2010 – 20
Trang 1CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 8 34 04 03
Đắk Lắk – 2021
Trang 2CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH KHẮC TUẤN
Đắk Lắk – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Trong luận văn
đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau và có trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi cam đoan rằng toàn bộ nội dung và số liệu trong luận văn này do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện
TÁC GIẢ
H Hương Bkrông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban Giám đốc Học
viện Hành chính Quốc gia, các thầy giáo, cô giáo khoa sau đại học và các
phòng, ban, khoa của Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt, tôi rất cám ơn TS Đinh Khắc Tuấn người
hướng dẫn khoa học – công tác tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin cám ơn lãnh đạo, chuyên viên Phòng Lao động, việc làm và giáo
dục nghề nghiệp sở Lao động và Thương binh Xã hội tỉnh Đắk Lắk; Trường
Cao đẳng Công Nghệ Tây Nguyên; Phòng Lao động và Thương binh Xã hội
Thành phố, Văn phòng Ủy ban Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và các
đơn vị có liên quan của thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo điều kiện cho tôi
được nghiên cứu, tìm hiểu và chân thành cám ơn đồng nghiệp đã giúp đỡ,
phối hợp trong công tác nghiên cứu
Tác giả luận văn
H Hương Bkrông
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Phương pháp luận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
6.1 Ý nghĩa lý luận 7
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 8
1.1 Những khái niệm cơ bản 8
1.2 Tính cấp thiết của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số .17
Trang 61.3 Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu
số ….22
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 32
2.1 Điều kiện phát triển của Thành phố Buôn Ma Thuột 32
2.2 Thực trạng lao động Dân tộc thiểu số và đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số ở Thành phố Buôn Ma Thuột 37
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho Dân tộc thiểu số ở Thành phố Buôn Ma Thuột 48
2.4 Đánh giá chung 61
Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT .66
3.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột 66
3.2 Giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột 70
3.3 Kiến nghị, đề xuất đối với thành phố Buôn Ma Thuột về công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số 79
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
S
1 Bảng 2.1 Đơn vị hành chính, tổng dân số và dân số là người DTTS 21
xã phường trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột năm 2019 33
2 Bảng 2.2 Dân số phân theo độ tuổi lao động thành phố Buôn Ma
3 Bảng 2.3 Kết quả lao động DTTS trên địa bàn thành phố Buôn Ma
Thuột được tham gia học nghề giai đoạn 2014 – 2019 37
4 Bảng 2.4
Kết quả đào tạo nghề và giải quyết việc làm năm 2019 học viên có hộ khẩu thường trú tại thành phố Buôn Ma Thuột của trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên
40
5 Bảng 2.5 Tổng hợp đào tạo nghề tại các trường, cơ sở dạy nghề
6 Bảng 2.6 Bảng tổng hợp đào tạo nghề tại các trường, cơ sở dạy nghề
7 Bảng 2.7 Bảng tổng hợp số lao động giải quyết việc làm tại các
phường, xã
44
8 Bảng 2.8 Bảng kết quả người lao động có việc làm sau đào tạo nghề
tại thành phố Buôn Ma Thuột năm 2014 – 2019
47
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập vào thị trường quốc tế, Việt Nam có một thế mạnh lớn nhất và cũng trong tương quan với các nước khác là nguồn nhân lực dồi dào, có khả năng tiếp thu nhanh công nghệ Tuy nhiên, xét trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, năng suất lao động Việt Nam còn thấp Đó là một bài toán cần lời giải để đưa đất nước tiến nhanh vào hội nhập Vì vậy, đào tạo nguồn lực lao động đảm bảo trình độ chuyên môn và có tay nghề cao là nhiệm vụ cấp thiết hơn lúc nào hết Trong đó, khi mà Việt Nam với một quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và tỷ trọng lao động nông nghiệp đang còn chiếm khá cao thì công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung và lao động dân tộc thiểu số
lại càng quan trọng và cấp thiết hơn
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa của đất nước nói chung và trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng, một diện tích đáng kể đất nông nghiệp đã và đang được chuyển thành đất xây dựng nhà ở, thương mại, … Từ đó giảm dần người nông dân làm nông nghiệp
mà chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp Vì vậy việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là vấn đề cấp thiết, là một chủ trương lớn của Đảng
và nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta; nhằm chuyển dịch
cơ cấu lao động từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ, từng bước nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật Chính vì vậy công tác đào tạo nghề cho lao động là công tác cần được quan tâm chú trọng hơn lúc nào hết
Đào tạo nghề cho lao động nói chung và cho lao động dân tộc thiểu số nói riêng là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng góp phần tích cực
Trang 10trong giải pháp nâng cao tay nghề hướng tới việc đáp ứng nhu cầu về lao động có tay nghề trong tình hình hội nhập của đất nước
Trong thời gian qua, đào tạo nghề và đổi mới công tác đào tạo nghề là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao năng suất, chất lượng lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Vì vậy việc mở rộng quy mô đào tạo nghề cho người lao động, phục vụ có hiệu quả việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm có thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người lao động; giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông nghiệp, nông thôn đã được triển khai tích cực trên phạm vi toàn Thành phố
Ở Tỉnh Đắk Lăk nói chung, Thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị Trung tâm vùng Tây nguyên (giai đoạn 2010 – 2020) theo Kết luận số số 67-KL/TW ngày 16/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 thì công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số là một trong những yếu tố cấp thiết, quan trọng được Tỉnh, Thành phố chỉ đạo quyết liệt để đáp ứng trình độ chuyên môn, tay nghề của lực lượng lao động nông thôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong xây dựng kinh tế địa phương Thời gian qua, công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số ở các địa phương trên địa bàn Thành phố đã có những chuyển biến tích cực, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng
Nhìn chung công tác đào tạo nghề nói chung và lao động là người dân tộc thiểu số nói riêng trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột rất cần thiết cho việc nâng cao trình độ chuyên môn để đảm bảo trong việc phát triển nguồn nhân lực lao động xã hội đáp ứng yêu cầu chung, phù hợp tình hình thực tế
Trang 11địa phương Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng vẫn còn những vấn đề tồn tại hạn chế gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội chung của toàn Thành phố Vì vậy cần phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản
lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành
phố Buôn Ma Thuột Đây cũng là lý do mà học viên lựa chọn đề tài:“Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột” làm luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi lên hội nhập của đất nước nói chung và phát triển của thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng, công tác đào tạo và phát triển lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng đủ yêu cầu về chuyên môn, tay nghề là vấn đề rất quan trọng đối với sự phát triển của địa phương Vì thế mà từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực đào tạo nghề nói chung và đối với lao động dân tộc thiểu số nói riêng
Vì vậy, đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” chính
là sự kế thừa và phát triển công tác quản lý đào tạo nghề theo hướng phù hợp với địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó trong lĩnh vực này
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung và đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trong thời gian qua luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm Do đó, Đã có nhiều văn bản chính sách được ban hành nhằm tăng cường hiệu quả chất lượng đào tạo nguồn lực lao động Ngoài ra, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực đào
Trang 12tạo nghề cũng như đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số nói riêng, cụ thể là:
- Quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, tác giả H Kiều Oanh Bkrông, Luận văn thạc sỹ Quản lý Công năm 2015 Học viện hành chính Quốc gia Luận văn đã đi sâu phân tích, đánh giá tình hình hoạt động đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Nông Luận văn đã
đề xuất 1 số giải pháp có tính khả thi cho công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
- Quản lý Nhà nước về đào tạo nghề tại tỉnh Quảng Ngãi trong giai
đoạn hiện nay, tác giả Trần Văn Cảnh, Luận văn thạc sỹ Hành chính Công năm 2012, Học viện hành chính Quốc gia Nội dung làm rõ một số vấn đề lý luận về đào tạo nghề, thực tiễn trong quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại tỉnh Quảng Ngãi
- Quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk của tác giả Nguyễn Anh Tài, luận văn Thạc sỹ năm
2017, Học viện hành chính Quốc gia Luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Mặt khác, luận văn đã phân tích thực trạng thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Tác giả đã nêu và đề xuất các định hướng và kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước trên địa bàn
- Phan Thị Thu Hà (2012) Đào tạo lao động người dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Kon Tum, Luận văn thạc sỹ Kinh tế phát triển năm 2012, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu vai trò và tầm quan trọng của công tác đào tạo lao động người dân tộc thiểu số, tạo được nguồn nhân lực có chất lượng đóng góp cho sự phát triển của địa phương
Trang 13Các công trình nghiên cứu đã có những cách tiếp cận khác nhau đến các chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đào tạo nghề và giải quyết nhu cầu việc làm cho đối tượng lao động đặc thù như vùng nông thôn hay lao động dân tộc thiểu số Qua các công trình nghiên cứu đều thống nhất quan điểm chung là dù ở những quy mô cấp tỉnh, Thành phố hay ở thời điểm nào thì công tác đào tạo nghề cho lao động nói chung và đào tạo nghề cho các đối tượng lao động đặc thù như dân tộc thiểu số luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong
đó, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề đóng vai trò then chốt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân tồn tại của hoạt động đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, luận văn đề ra những kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào các vấn
Trang 14- Đề ra một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là hoạt động đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên Thành phố Buôn Ma Thuột
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019
- Địa bàn nghiên cứu: Thành phố Buôn Ma Thuột
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước ta
về công tác đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Là phương pháp nghiên
cứu các tài liệu có sẵn (sách, báo khoa học, luận văn, luận án, văn bản quản lý của nhà nước, các báo cáo ) liên quan đến công tác bồi dưỡng quản lý nhà nước cho lao động DTTS ở thành phố Buôn Ma Thuột
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng phương pháp này để xử lý và
trình bày kết quả nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu tham khảo: Quá
trình thu thập kiến thức từ các công trình nghiên cứu các tài liệu của các tác giả, tiến hành nghiên cứu các tài liệu
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Là công trình nghiên cứu bước đầu đã hệ thống hóa có chọn lọc và bổ sung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số ở Thành phố Buôn Ma Thuột
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phân tích, đánh giá được tình hình thực tiễn đối với công tác đào tạo nghề cho lao động Dân tộc thiểu số ở Thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay Từ đó có những đề xuất để nâng cao chất lượng đào tạo nghề nói chung
và đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiếu số nói riêng
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động DTTS ở Việt Nam nói chung Đặc biệt là đối với các đơn vị tham gia quản lý nhà nước lao động DTTS ở Thành phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk
Đồng thời, Luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập về chính sách công, quản lý công ở Học viện Hành chính Quốc gia và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng khác
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động Dân tộc thiểu số ở Thành phố Buôn Ma Thuột giai đoạn hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
Trang 16CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Người lao động và đặc điểm của người lao động
Qua quá trình phát triển của lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về lao động nhưng về cơ bản lao động được hiểu là hoạt động tác động của con người lên thế giới tự nhiên, chiếm giữ những vật chất trong thế giới tự nhiên
để biến những vật chất đó thành sản phẩm có ích cho con người Lao động có thể xem như là phương thức để tồn tại của con người
Theo Luật Lao động năm 2012: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước”
Khái niệm người lao động: Theo Bộ Luật Lao động thì Người lao động
là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động
Vậy người lao động là có đóng góp lao động và chuyên môn để tạo ra sản phẩm cho bản thân, người chủ và thường được thuê với hợp đồng làm việc để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng
Lực lượng lao động: Là bộ phận dân số trong độ tuổi có khả năng lao động được pháp luật quy định, thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp”.[12]
Trang 17Đặc điểm của người lao động:
Độ tuổi tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi
1.1.2 Dân tộc thiểu số và đặc điểm của dân tộc thiểu số
Có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về DTTS tùy vào mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ
Dân tộc thiểu số: Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so
với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam [3]
Hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống với tổng số dân là 96.208.984người, trong đó dân tộc Kinh (dân tộc đa số) là 82.085.826 người, chiếm 85,3% tổng dân số; 53 dân tộc còn lại là 14.123.158 người chiếm 14,7
% dân số là thuộc dân tộc thiểu số và dân tộc thiểu số ít người [16]
Đặc điểm dân tộc thiểu số: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống
nhất gồm 54 dân tộc, dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc đa số và có 53 dân tộc là dân tộc thiểu số Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là
sự cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và đã được thử thách trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc còn khác biệt, chênh lệch nhau
Tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần quan tâm nhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch đó để thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc ở nước
ta Nhiều vùng dân tộc thiểu số canh tác còn ở trình độ rất thấp, chủ yếu dựa
Trang 18vào khai thác tự nhiên Đời sống vật chất của bà con dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói kéo dài, thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn ở nhiều nơi Đường giao thông và phương tiện đi lại nhiều vùng rất khó khăn; điện, nước phục vụ cho sản xuất đời sống nhiều vùng còn rất thiếu; thông tin, bưu điện nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của đời sống, nhất là ở vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh
Cùng với nền văn hoá cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc riêng rất phong phú Bởi vì, bất cứ dân tộc nào, dù nhiều người hay ít người, đều có nền văn hoá riêng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần, niềm tự hào của dân tộc bằng những bản sắc độc đáo Đặc trưng của sắc thái văn hoá dân tộc bao gồm: ngôn ngữ tiếng nói, văn học, nghệ thuật, tình cảm dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia đình, dòng họ Một số dân tộc có chữ viết riêng (Khơme, Chăm, Thái, Mông, Giarai, Êđê ) Một số dân tộc thiểu số gắn với một vài tôn giáo truyền thống (Khơme – với đạo Phật; Chăm – với Islam, Bàlamôn); một vài dân tộc gắn với đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng bản sắc văn hoá riêng và tôn trọng
tự do tín ngưỡng của mỗi dân tộc Sự phát triển đa dạng mang bản sắc văn hoá của từng dân tộc càng làm phong phú thêm nền văn hoá của cả cộng đồng
Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm hơn 14% dân số cả nước nhưng lại
cư trú trên các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế, đó là các vùng biên giới, vùng rừng núi cao, hải đảo Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực
Trang 19Xuất phát từ tình hình, đặc trưng cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng
và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề chính sách dân tộc xem xét nó như là vấn đề xã hội - chính trị rộng lớn, toàn diện gắn liền với các mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh những nét riêng thì các dân tộc thiểu số tại Việt Nam có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
Thứ nhất, Về quy mô dân số: DTTS có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, sự chênh lệch khá lớn về điều kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và các vùng miền là khác nhau
Thứ hai, Về kinh tế: Nhìn chung, kinh tế tại các vùng đồng bào DTTS
có tốc độ phát triển chậm hơn so với các vùng khác Tình trạng du canh, du
cư và di dân tự do vẫn còn diễn ra thường xuyên và phức tạp Các điều kiện
về kết cấu hạ tầng ở khu vực vùng DTTS ( như điện, đường, trường, trạm) còn nhiều khó khăn và thiếu thốn
Thứ ba, Về phân bổ dân số: DTTS Việt Nam thường sinh sống phân tán hoặc tập trung theo các vùng có vị trí địa lý đồi núi, hoặc miền trung du tùy theo đặc điểm văn hóa của từng dân tộc DTTS ở Việt Nam thường sinh sống theo từng cộng đồng hoặc xen kẽ với các dân tộc khác nhau
Vùng dân tộc thiểu số: Là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng
sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đồng bào các DTTS thường tập trung vào các vùng núi và vùng sâu vùng xa Tuy nhiên họ cũng phân bố rải rác trên toàn lãnh thổ Việt Nam do chiến tranh và nhập cư Các DTTS sinh sống ở khu vực thành thị thường sung túc hơn các DTTS sống ở khu vực nông thôn Nhiều làng, xã có tới 3-4 DTTS khác nhau cùng sinh sống Vị trí địa lý đóng một vai trò quan trọng
Trang 20trong các tập tục văn hóa của các DTTS, song cũng đồng thời tạo ra những rào cản trong việc tiếp cận cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công như y tế và giáo dục
Đặc điểm về phong tục tập quán: DTTS có sự khác biệt với nhau về phong tục tập quán, rừng vẫn đóng vai trò quan trọng với phần lớn các DTTS Người Mông, Thái, Dao đỏ, Vân Kiều, Ja Rai, Ê Đê, và Ba Na sinh sống trên nhiều tỉnh thành trên cả nước vẫn nương tựa vào rừng cộng đồng Họ có những khu rừng thiêng phục vụ mục đích về tâm linh tín ngưỡng cũng như người Kinh có đền thờ và nhà thờ dòng họ Luật tục cũng quy định những khu rừng đầu nguồn, rừng nguồn nước nơi người dân thờ Thần Nước Ngoài ra còn có các khu rừng khai thác sản phẩm chung của cả làng bản, ví dụ như dược liệu, củi, và vật liệu để làm đồ thủ công
Đặc điểm về kinh tế xã hội: Các DTTS có trình độ dân trí, trình độ phát triển KT – XH không đồng đều nhau Các DTTS ở vùng đồng bằng Nam bộ với điạ hình đất đai màu mỡ, khí hậu, thời tiết ổn định, canh tác thuận lợi, đời sống kinh tế xã hội phát triển ổn định hơn các vùng khác Các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên với địa hình phức tạp, khí hậu đất đai khô cằn, đồi dốc gặp nhiều khó khăn hơn trong canh tác chăn nuôi trồng trọt,
do đó đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn hơn
1.1.3 Lao động dân tộc thiểu số và đặc điểm của lao động dân tộc thiểu số
Lao động dân tộc thiểu số: Từ định nghĩa về lao động nói chung và dân
tộc thiểu số tại Việt Nam thì ta có thể hiểu lao động dân tộc thiểu số là người DTTS làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương
và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động
Đặc điểm của lao động DTTS:
Trang 21Trình độ lao động của người DTTS thấp, hầu hết người DTTS còn hạn chế về tổ chức sản xuất, sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp hoặc làm thuê Trong thực tế thì những người trong độ tuổi lao động là người DTTS vẫn có trình độ về tay nghề thấp hơn những người lao động trong lĩnh vực khác
Một bộ phận không nhỏ lao động DTTS có ý thức hạn chế về việc học tập; lười học, không có ý thức tự vươn lên và khả năng tiếp thu chậm hơn so với dân tộc đa số Từ đó dẫn đến tình trạng trình độ văn hóa và chuyên môn
kỹ thuật của người DTTS thấp hơn, thái độ và tư tưởng học tập không nghiêm túc; khả năng chủ động cũng như sáng tạo trong công việc hầu như là rất ít
Người lao động DTTS thường phụ thuộc vào các công việc thiên về nông nghiệp thuần túy hơn là công nghiệp hay dịch vụ
Người lao động DTTS có thói quen làm những công việc đơn giản mang tính lao động chân tay và gần với gia đình Họ ngại đi xa lập nghiệp như các dân tộc khác
Khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật của lao động DTTS thường chậm hơn một chút so với dân tộc Kinh
1.1.4 Khái niệm đào tạo nghề
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đào tạo nghề, theo ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế): “Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm
vi một nghề hoặc 1 nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường đại học kinh tế quốc dân thì khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân
Trang 22công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định
Theo C Mac công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: Một
là giáo dục trí tuệ; hai là giáo dục thể lực như trong các trường Thể dục Thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; ba là dạy kĩ thuật nhằm giúp học sinh nắm được vững những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất (C.Mác Ph.ăng nghen, Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 trang 198)
Ở Việt Nam tồn tại 1 vài khái niệm sau:
Theo giáo trình KTLĐ của trường ĐH KTQD thì khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thực nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định” Theo tài liệu của bộ LĐ TB
và XH xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động nhừng kiến thức, kĩ năng
và thaí độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội”
Điều 3, chương I, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 lại đưa ra khái niệm: đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm phù hợp hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc nhằm nâng cao trình độ nghề nghiệp
Như vậy, đào tạo nghề có thể hiểu là hoạt động trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm
Trang 231.1.5 Đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số là hoạt động dạy nghề cho người dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở các vùng miền nhất định Những vùng còn khó khăn trên địa bàn một vùng dân cư
Công tác đào tạo nghề cho lao động DTTS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội đất nước Cụ thể
là trong công tác thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và xây dựng một thành phố Buôn Ma Thuột giàu đẹp văn minh hiện đại Tuy nhiên, vì đối tượng đào tạo nghề là người dân tộc thiểu số nên các hình thức triển khai tổ chức các lớp đào tạo nghề là hết sức quan trọng trong việc lựa chọn hình thức
Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động DTTS:
Về hình thức: Chủ yếu tập trung ở hai hình thức chính là tập trung tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (các trường dạy nghề, cao đẳng, …) hoặc triển khai tổ chức các lớp dạy nghề theo nhu cầu về tại các thôn, buôn, tổ dân phố
1.1.6 Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Quản lý là gì: Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý qua quá trình
lịch sử cũng như ở những góc độ tiếp cận khác nhau Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Tùy vào lĩnh vực quản lý khác nhau thì sẽ có những phương thức cũng như mục tiêu quản lý khác nhau
Quản lý nhà nước: Là dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền
lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ
Trang 24máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề: Là một dạng quản lý do cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan đến đào tạo nghề như: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức các hoạt động
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số: Là một dạng quản lý do các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, quyết định điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan đến đào tạo nghề cho thanh niên DTTS như: chính sách, chiến lược, quy hoạch, tổ chức hoạt động của các
cơ sở đào tạo nghề, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, giáo viên nhằm đảm bảo mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng trực tiếp nhu cầu về số lượng và chất lượng của đất nước trong quá trình hội nhập
Chủ thể quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động DTTS
Chủ thể quản lý nhà nước về đào tạo nghề là các cơ quan Nhà nước trong bộ máy hành chính Nhà nước được quy định từ trung ương tới địa phương theo pháp luật Việt Nam Ở Việt Nam, đào tạo nghề được Chính phủ thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước Các bộ và cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ LĐ, TB & XH thực hiện quản lý Nhà nước về đào tạo nghề theo thẩm quyền
Ủy ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề theo phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm đầu tư phát triển đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực thực tế của địa phương Đối với Ủy ban Nhân dân cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh giao lại cho Phòng LĐ – TB
& XH tham mưu và quản lý nhà nước về đào tạo nghề giúp cho Ủy ban nhân dân cấp đó
Trang 25Đối tượng quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động DTTS
Là mọi hoạt động liên quan đến đào tạo nghề bao gồm: tổ chức và hoạt động các cơ sở đào tạo nghề; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên; xây dựng
cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo nghề, thi, kiểm tra, cấp văn bằng chứng chỉ theo quy định của pháp luật; thành lập, sát nhập, chia tách giải thể cơ sở đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề
1.2 Vai trò và tầm quan trọng của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
1.2.1 Định hướng đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Nhằm rút ngắn khoảng cách giữa dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh về trình độ tay nghề lao động, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên các nguồn lực đầu tư cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS Trong đó phải kể đến: Nghị định 51, Chương trình 134, Chương trình 135, quyết định 1956, …
Sau một thời gian triển khai thực hiện thì đến nay các Chương trình dự
án này đã và đang tiếp tục được triển khai thực hiện có hiệu quả góp phần làm thay đổi tích cực đời sống xã hội của các thành phần DTTS nói riêng cũng như góp phần xây dựng và phát triển KTXH của đất nước ta nói chung
Chỉ thị số 1971/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ “ công tác dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc, huy động cao nhất mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và ổn định xã hội, nâng cao mức sống của đồng bào vùng dân tộc và miền núi thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập”
Trang 26Nghị định số: 05/2011/NĐ-CP về Công tác Dân tộc nêu rõ:
Về Chính sách đầu tư phát triển bền vững tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đặc biệt đối với dân tộc thiểu số rất ít người và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; chú trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập
ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng khác
Về Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo: Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016 của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến 2030 nói rõ mục tiểu: Nâng cao, phát triển toàn diện nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số về thể lực, trí lực và tác phong, kỷ luật, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu hợp lý, trong đó ưu tiên các dân tộc thiểu số có nguồn nhân lực còn hạn chế để từng bước thu hẹp khoảng cách với trình độ chung của quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhu cầu thị trường lao động hiện tại
và tương lai; xây dựng đội ngũ trí thức, doanh nhân, cán bộ người dân tộc thiểu số và lao động trực tiếp có chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh quốc gia và vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 27Sau một thời gian tập trung xây dựng và phát triển Nguồn nhân lực theo nhiều mặt thì đến nay NNL trong vùng đồng bào DTTS đã từng bước có những chuyển biến nâng cao về cả mặt số lượng và chất lượng Theo đó, trình độ dân trí, cũng như về trình độ tay nghề lao động của người DTTS đã
có những bước phát triển góp phần chung vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội đất nước nói chung
1.2.2 Điều chỉnh đào tạo nghề cho phù hợp với lao động dân tộc thiểu số
Việt Nam, từ một nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự thay đổi về nhận thức phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh
đó, đất nước ta đang có một nguồn lực to lớn về lực lượng lao động dồi dào, dân số vàng
Sau hơn 30 năm đổi mới, đến nay, nước ta là một trong những quốc gia
có tốc độ hàng đầu thế giới Tuy nhiên, tốc độ không đi cùng với quy mô Dù đứng ở top đầu về tốc độ tăng trưởng, nhưng nền kinh tế của Việt Nam có GDP khoảng 245 tỷ USD năm 2018, còn khiêm tốn so với các quốc gia trong khu vực Một trong những nhân tố quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn cần được quan tâm chú trọng đặc biệt là yếu tố nguồn
nhân lực Những thách thức về trình độ chuyên môn của lực lượng lao động
cũng đang là vấn đề được đặt ra Trong đó, chất lượng đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thành bại của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối đúng đắn trong việc xác định những biện pháp giải quyết việc làm cũng như đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động dân tộc thiểu số nói riêng
Trang 28Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, đứng 67/141 nền kinh tế Năng suất lao động được nâng lên rõ rệt Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2016 đến nay
là 5,8 % [27]
Qua đó, việc định hướng giải quyết việc làm tại Việt Nam lại cần có cơ
sở vững chắc, khoa học, biện pháp phải cụ thể, hiệu quả và phù hợp với thực
tế
Hiện nay, tình hình thiếu việc làm cho lao động DTTS đang là một vấn
đề đáng quan tâm Người lao động DTTS ngoài thời gian làm nông nghiệp theo vụ mùa, thì thời gian còn lại thiếu việc làm trầm trọng Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa của đất nước nói chung và trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng, một diện tích đáng kể đất nông nghiệp đã và đang được chuyển thành đất xây dựng nhà ở, thương mại,
… Từ đó, các tệ nạn xã hội cũng phát sinh nhiều gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội nói chung Đồng thời, tình trạng lao động DTTS thiếu việc làm do thiếu trình độ tay nghề cao diễn ra rất đáng lo ngại Từ đó thấy rằng việc đào tạo nghề cho lao động DTTS là việc làm rất quan trọng và cần có những giải pháp hiệu quả lâu dài Hình thức đào tạo nghề cũng cần có những cách thức linh hoạt phù hợp Những biện pháp đưa ra cần có hệ thống và song song với công tác xóa đói, giảm nghèo cho đối tượng DTTS Thông qua các chương trình đào tạo nghề, lao động DTTS có thể chủ động trong tìm kiếm việc làm
và từng bước tự tạo việc làm cho bản thân, gia đình Từ đó, từng bước giảm tỷ
lệ lao động DTTS thất nghiệp, góp phần vào việc ổn định đời sống xã hội vùng đồng bào DTTS
1.2.3 Phát huy vai trò của đào tạo nghề và nâng cao trình độ nghề
cho lao động DTTS
Trang 29Một quốc gia muốn có nền tăng trưởng kinh tế nhanh và đảm bảo thì phải dựa trên ba trụ cột chính đó là: áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ sở
hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất là chất lượng nguồn lực lao động, cụ thể hơn là nguồn lực lao động có kỹ năng tay nghề cao Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên có hạn
và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, thì nguồn lực con người là nhân tố quan trọng để đạt chiến thắng trong thương trường cạnh tranh của các nền kinh tế
Nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người được đào tạo bài bản có đầu tư về kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo Điều này chỉ có thể được thực hiện thông qua một nền giáo dục – đào tạo có chất lượng và tích lũy qua quá trình làm việc thực tế Qua đó, có thể thấy vai trò quyết định của giáo dục nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người
Bên cạnh đó, vai trò của chất lượng đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế Nhu cầu của nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi một nguồn lực lao động có chất lượng cao về mọi mặt như: kiến thức, kỹ năng tay nghề cao, khả năng làm chủ máy móc, làm chủ được công nghệ Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa dài hay ngắn, nhanh hay chậm thì ngoài các yếu tố khách quan hay cơ chế, chính sách thì yếu tố chất lượng nguồn lao động đóng vai trò quyết định
Chính vì thế, hơn lúc nào hết thì công tác đào tạo nghề cho lao động nói chung để trang bị các kiến thức, kỹ năng tay nghề chuyên môn kịp thời cho lao động DTTS nắm bắt những tiến bộ khoa học – kỹ thuật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề lao động và phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước
Trang 301.3 Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và nhiều cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa do Trung ương ban hành nhằm tạo môi trường thuận lợi để dạy nghề cho lao động nông thôn, trong đó có lao động là đồng bào DTTS
Mục tiêu của chính sách đào tạo nghề (ĐTN) đối với lao động vùng DTTS được xác định là: nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐTN, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động DTTS, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Một số ngành nghề tập trung dạy các nghề chủ yếu: trồng và khai thác rừng, giao bảo vệ rừng; sản xuất, kinh doanh cây giống lâm nghiệp; kỹ thuật nông lâm kết hợp; chăn nuôi gia súc, gia cầm; nuôi trồng thủy sản nước ngọt Trong lĩnh vực phi nông nghiệp sẽ tập trung dạy các nghề chủ yếu: sửa chữa
cơ khí, nguội lắp ráp cơ khí; sửa chữa máy bơm điện; quản lý điện nông thôn, điện dân dụng; mộc dân dụng, mộc mỹ nghệ…
Giải pháp của chính sách được đưa ra bao gồm: nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và xã hội, của cán bộ, công chức xã và lao động nông thôn, trong đó có lao động DTTS về vai trò của ĐTN đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạng lưới cơ sở ĐTN; phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề; phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy
Trang 31nghề thường xuyên; xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề; tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách
Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách ĐTN đối với lao động vùng DTTS là các cơ quan trong bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức Trong đó, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nội vụ và các sở, ngành
có liên quan hướng dẫn tổ chức thực hiện các chính sách, giải pháp, chủ trì các hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn Ngoài ra, còn các có cơ quan khác như UBND các cấp vùng DTTS; Ban Dân tộc tỉnh, các trường trung cấp nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp…
Đối tượng đối tượng chịu tác động trực tiếp chính sách ĐTN đối với lao động vùng DTTS của chính sách này là người lao động DTTS trên địa bàn Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, quá trình thực hiện chính sách ĐTN đối với lao động vùng DTTS đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do khung pháp lý hướng dẫn
thực hiện chính sách ĐTN cho lao động DTTS còn chưa hoàn thiện, dẫn tới lúng túng trong quá trình triển khai Bên cạnh đó, chưa có cán bộ, công chức chuyên trách về triển khai chính sách ĐTN cho lao động DTTS, do vậy, công tác chỉ đạo, tuyên truyền, vận động, điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề, tìm kiếm công ty, doanh nghiệp vừa dạy nghề và giải quyết việc làm cho người lao động DTTS sau ĐTN chưa thực sự tốt
Công tác đầu tư trang thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề vừa hạn chế về kinh phí, vừa thiếu, vừa yếu về chất lượng giáo viên dạy nghề cùng với nội dung, chương trình dạy nghề cho lao động DTTS chưa sát với yêu cầu của thị trường nên chưa thực sự phù hợp với lao động vùng DTTS
Trang 32Nghị quyết số 52/NQ-CP, ngày 15/6/2016 của Chính phủ đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2030 nêu rõ: Phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn
nhân lực các dân tộc thiểu số là một trong 3 khâu đột phá chiến lược của đất nước Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ những năm qua nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số đã có bước phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo vùng dân tộc và miền núi Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thành tựu đạt được, nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số còn bộc lộ nhiều hạn chế yếu kém: Lao động dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chủ yếu là lao động giản đơn
và chưa qua đào tạo; nhận thức, kỹ năng sống, khả năng thích ứng môi trường mới còn hạn chế; tác phong và kỷ luật lao động của nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập; số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ cán bộ
dân tộc thiểu số chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu thực tiễn
Bên cạnh đó, Luật Dạy nghề được ban hành năm 2006 và Luật Giáo dục nghề nghiệp ra đời năm 2014 đã bước đầu đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này được thực hiện theo đúng mục tiêu, đúng theo định hướng, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng
1.3.2 Điều tra khảo sát nhu cầu đào tạo và quy hoạch các cơ sở đào
tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Sau hơn 30 năm thực hiện đổi mới, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển KT-XH quan trọng, đóng góp vào thành công đó không thể không nhắc đến vai trò to lớn của các cơ sở ĐTN và các doanh nghiệp Với xu thế mở cửa, hội nhập hiện nay để tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường thì yêu cầu đầu tư vào công
Trang 33nghệ cũng như trang thiết bị hiện đại là yêu cầu tất yếu và đặc biệt quan trọng hơn đó là yêu cầu về sự chuyên nghiệp hay còn gọi là một đội ngũ lực lượng lao động chuyên môn cao Từ những yêu cầu đó, công tác đào tạo nghề giữ vị trí quyết định, không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp nói riêng
mà còn phục vụ việc xuất khẩu lao động, nâng cao hiệu quả của công tác xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Phát triển một hệ thống đào tạo nghề có khả năng cung ứng cho xã hội một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ tay nghề cao theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến đổi của môi trường có trình độ toàn cầu hóa ngày càng cao Có khả năng cập nhật những kiến thức
và kỹ năng cơ bản cần thiết cho lực lượng lao động của đất nước Đào tạo nghề là một bộ phận cực kỳ quan trọng cấu thành nên hệ thống đào tạo nguồn nhân lực “vừa hồng vừa chuyên” cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong những năm qua, dựa trên hệ thống mạng lưới đào tạo dược xây dựng và kiện toàn theo hướng đổi mới của đất nước Khi mà các cơ sở đào tạo nghề được phát triển quy hoạch theo hướng mở rộng bắt kịp xu hướng nhu cầu chung của xã hội thì hiệu quả của công tác đào tạo nghề cũng từng bước được nâng cao Nhiều chính sách, kế hoạch được xây dựng, bổ sung và quy hoạch với tầm nhìn vĩ mô và mang tính xuyên suốt cùng với quá trình phát triển của đất nước
1.3.3 Kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực Nguồn nhân lực có tác động trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội Đầu tư cho con người là đầu tư có
Trang 34tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực đã và đang trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách không phải chỉ ở cấp quốc gia mà còn là vấn đề của từng vùng, miền, dựa theo đặc điểm về địa lý, dân cư và yêu cầu định hướng phát triển kinh tế - xã hội
Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 của TW Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nêu rõ “Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” Đồng thời Nguyên nhân là do “Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức”
Từ đó, Nghị quyết đã đưa ra các giải pháp cần tập trung là “Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo” Đồng thời “Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam”.[1]
Trang 351.3.4 Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, giáo viên, giảng viên GDNN, Dự án Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đã xây dựng nhiều chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo dục nghề nghiệp theo năng lực theo 03 cấp trình độ (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng DTTS, miền núi đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo giảng viên, giáo viên cho từng trình độ, từng chuyên ngành, từng cấp học đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và nâng cao chất lượng để thực hiện nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục đại học
Trong xu thế hội nhập quốc tế, quá trình mở cửa thị trường tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các nước Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng nguồn lực lao động Do đó, phát triển năng lực đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cả về số lượng và chất lượng là điều cần được quan tâm chú trọng hàng đầu
1.3.5 Hỗ trợ về tài chính, trang thiết bị cho cơ sở đào tạo nghề cho lao động DTTS
Trong những năm qua, mặc dù ngân sách nhà nước còn khó khăn, nhưng các chính sách dân tộc đã được Đảng và Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế, với ngân sách địa phương nhằm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS
Thông tư 58/2017/TT-BTC hướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính cho tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu
số
Trang 36Trong số những chính sách liên quan đối với đồng bào DTTS, có tới bảy chính sách hỗ trợ thanh niên dân tộc, cũng như lao động DTTS học nghề
và nâng cao trình độ đào tạo từ bồi dưỡng, sơ cấp, trung cấp Các chính sách đưa ra đều phù hợp với từng nhu cầu theo giai đoạn của lao động DTTS như: sau khi học viên ra trường, có cơ chế vay vốn ưu đãi hay dạy nghề gắn với giải quyết việc làm
1.3.6 Hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát, khiếu nại tố cáo và xử
lý vi phạm pháp luật về công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số
Một ngành nghề, lĩnh vực phát triển và hoạt động hiệu quả hay không ngoài những điều kiện về nhân sự, con người, thể chế thì chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát và khiếu nại tổ cáo đóng vai trò quan trọng góp phần đảm bảo hiệu quả hoạt động của ngành đó Và đặc biệt, đối với hoạt động quản lý Nhà nước thì hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát và khiếu nại
tổ cáo càng quan trọng hơn
Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra về đào tạo nghề với mục đích phát hiện những thiếu sót, sai phạm trong quản lý, quá trình thực hiện chính sách pháp luật của cơ quan quản lý Nhà nước về đào tạo nghề để kịp thời có những kiến nghị sửa chữa trong và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
lý còn sơ hở
1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động DTTS tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk và thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
Giai đoạn 2014 – 2019, Thị xã Buôn Hồ đã đẩy mạnh công tác dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956; công tác tuyên truyền thông tin về lao động việc làm, xuất khẩu lao động, học nghề, có cơ hội tìm kiếm
Trang 37công việc và lựa chọn việc làm được đẩy mạnh qua việc liên hệ mời các đơn
vị, doanh nghiệp cần tuyển lao động trên địa bàn thị xã, trong và ngoài tỉnh, các đơn vị tuyển sinh, đào tạo nghề … Kết quả số lao động được tạo việc làm tăng thêm 3.597 người,; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% năm 2015 lên 55,62% năm 2018; đã đào tạo nghề cho 6.206 người, tham gia xuất khẩu lao động 110 người
Đồng thời, hoạt động của Trung tâm GDNN-GDTX được duy trì và đáp ứng được nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của đại bộ phận thanh niên trong
toàn thị xã, đặc biệt là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.[25]
Tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Xác định công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân tại các làng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với thực hiện Nghị quyết số 06 -NQ/TU ngày 08/8/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa XI Ngay từ đầu năm các địa phương đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm, điều tra khảo sát nhu cầu học nghề và đăng ký đào tạo nghề cho lao động nông thôn Từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lập kế hoạch phù hợp với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và chương trình xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương
Năm 2020, thành phố phối hợp với Trường Trung cấp Văn hóa - Nghệ thuật tỉnh Gia Lai, trường Cao đẳng nghề Gia Lai mở 04 lớp đào tạo nghề về trồng rau an toàn; trình diễn cồng chiêng tại các xã An Phú, Chư Ă, Tân Sơn cho 350 học viên đồng bào dân tộc thiểu số Hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện đúng chính sách, các lớp dạy nghề đúng đối tượng Chương trình dạy nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số được các cấp, ngành và nhân dân hưởng ứng; thông qua các lớp dạy nghề,
Trang 38người học được trang bị kiến thức về khoa học kỹ thuật phát triển sản xuất
kinh doanh để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, vươn lên làm giàu [26]
Qua kết quả tại hai địa phương trên có thể rút ra bài học kinh nghiệm đối với hoạt động quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động DTTS cần chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động phối hợp giữa Phòng LĐ TB & XH địa phương cấp huyện với các cơ sở ĐTN tại địa bàn Đồng thời, bám sát vào nhu cầu học nghề thực tế của lao động DTTS tại từng địa phương để tổ chức các lớp học nghề phù hợp gắn với đầu ra giải quyết việc làm cho lao động
Trang 39Kết quả nghiên cứu trong chương này cho thấy việc đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; là yêu cầu cấp thiết đối với công tác đào tạo một lực lượng lao động có trình độ, tay nghề chuyên môn cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước
Trên cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số, luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra các những ưu điểm, chỉ ra những mặt còn hạn chế, bất cập và khó khăn trong công tác quản
lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn
Ma Thuột; từ đó nêu ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc yêu cầu thực tiễn trong công tác này ở địa bàn thành phố Buôn
Ma Thuột
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA
THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Điều kiện phát triển của Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: Thành phố Buôn Ma Thuột có diện tích tự nhiên là
37.718 ha chiếm khoảng 2,87% diện tích tự nhiên tỉnh Đắk Lắk Phía Bắc giáp huyện CưM’gar Phía Nam giáp huyện Krông Ana, huyện CưKuin Phía Đông giáp huyện Krông Pắc Phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và Cư Jút (tỉnh Đắk Nông) Cao nguyên Buôn Ma Thuột có địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, gò đồi thấp, dốc thoải, bị chia cắt bởi các dòng suối đổ về sông Sêrêpôk Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 536m Thành phố nằm trong vùng cao nguyên trung phần, thời tiết vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên Mùa mưa và mùa khô được chia thành hai mùa rõ rệt trong năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung 90% lượng mưa cả năm, khí hậu ẩm
và dịu mát Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, khí hậu mát và lạnh, độ ẩm thấp Nhiệt độ bình quân là 23,50C
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa -
xã hội của Tỉnh Đắk Lắk
2.1.2 Về dân số và đơn vị hành chính lãnh thổ
Về dân số: Tổng dân số của thành phố Buôn Ma Thuột đến năm 2019 là
370.191 người Trong đó, có 40 dân tộc anh em cùng sinh sống với 58.000