LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp của các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” là công t
Trang 1NGUYỄN THỊ TRANG
VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CÁC GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ TẠI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp của các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu độc lập do tác giả
thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thị Nga Luận văn chưa
được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận văn thạc sĩ
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chặng đường 2 năm qua được học tập dưới mái trường Đại học Công Đoàn, tôi vô cùng biết ơn cô giáo hướng dẫn Luận văn của tôi PGS.TS Hoàng Thị Nga Từ khi lựa chọn ý tưởng nghiên cứu, trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình, tôi được cô tận tình, chỉ bảo, giúp đỡ, động viên Xin gửi đến cô lời biết ơn chân thành về những gì cô đã dạy tôi, trao cho tôi niềm tin, tình yêu, lòng say mê và giúp tôi khám phá và hiểu được biết bao nhiêu điều hấp dẫn của ngành xã hội học
Công trình nghiên cứu này là kết quả tích lũy kiến thức, kinh nghiệm
mà tôi may mắn được học hỏi từ các thầy cô giáo của khoa Xã hội học - trường Đại học Công Đoàn, nơi đã dạy dỗ tôi suốt những năm đại học, và cũng là nơi tôi học bậc Thạc sỹ Đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Lê Ngọc Văn là thầy giáo đã giảng dạy tôi bộ môn Biến đổi gia đình trong quá trình phát triển, thầy đã tận tình, hướng dẫn và giúp tôi có được những bước đi đầu tiên, để tôi tự tin lựa chọn chủ đề nghiên cứu trong Luận văn của mình
Tôi trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu luận văn và có nhiều ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn của tôi được hoàn thiện Đặc biệt tôi vô cùng biết ơn Ban chấp hành Hội doanh nghiệp làng nghề truyền thống xã La Phù, Ban chấp hành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã La Phù, các bậc cha
mẹ, các em học sinh tại làng nghề xã đã tham gia vào các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, trả lời bảng hỏi Chính họ đã chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng, suy nghĩ, cách định hướng về nghề nghiệp cho giới trẻ tại làng nghề hiện nay để tôi có được những hiểu biết hữu ích cho Luận văn này
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp cùng cơ quan công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài đặc biệt trong quá trình
Trang 4thực hiện điều tra bảng hỏi Họ động viên, chia sẻ và theo dõi từng bước tiến triển của tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, nhưng là những người tôi luôn thầm cảm ơn mỗi ngày, đó chính là gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi thực hiện tốt Luận văn
Trân trọng cảm ơn và tri ân tất cả!
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, hộp
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 13
7 Câu hỏi nghiên cứu, Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Khung phân tích 14
9 Kết cấu của luận văn 15
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON 16
1.1 Các khái niệm công cụ 16
1.1.1 Khái niệm vai trò 16
1.1.2 Khái niệm gia đình, gia đình làng nghề 17
1.1.3 Khái niệm định hướng 18
1.1.4 Khái niệm nghề nghiệp 18
1.1.5 Khái niệm định hướng nghề nghiệp 18
1.1.6 Khái niệm vai trò của cha mẹ trong việc định huớng nghề nghiệp cho con 19
1.2 Các lý thuyết vận dụng 20
1.2.1 Lý thuyết vai trò 20
1.2.2 Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý của GeorgeHomans 21
Trang 61.2.3 Lý thuyết xã hội hóa 23
1.2.4 Lý thuyết tương tác 25
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và phát triển làng nghề 26
1.3.2 Công tác giáo dục và hướng nghiệp tại làng nghề 30
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON CỦA CÁC GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ TẠI XÃ LA PHÙ, HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33
2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 33
2.2 Vai trò định hướng nghề nghiệp của cha mẹ cho con ở các gia đình làng nghề xã La Phù 36
2.2.1 Quan điểm của cha mẹ về sự cần thiết của việc định hướng nghề nghiệp36 2.2.2 Hành động hướng nghiệp cho con của các bậc cha mẹ tại làng nghề La Phù 41
2.2.3 Định hướng bậc học, khu vực làm việc và nghề nghiệp của con trong tương lai 54
2.3 Một số thuận lợi và khó khăn của các bậc cha mẹ trong quá trình định hướng nghề nghiệp cho con 65
2.3.1 Những thuận lợi trong việc định hướng nghề nghiệp cho con 65
2.3.2 Những khó khăn trong việc định hướng nghề nghiệp cho con 68
2.4 Đánh giá vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp cho con tại các gia đình làng nghề 71
Tiểu kết Chương 2 76
Chương 3 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON CỦA CÁC GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ TẠI XÃ LA PHÙ, HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 77
Trang 73.1 Một số yếu tố tác động đến vai trò của cha mẹ trong việc định hướng
nghề nghiệp cho con của các gia đình làng nghề 77
3.1.1 Trình độ học vấn của cha mẹ 77
3.1.2 Điều kiện kinh tế, mức sống của gia đình 82
3.1.3 Cấu trúc gia đình, độ tuổi của cha mẹ 89
3.1.4 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội làng nghề 98
3.2 Xu hướng biến đổi vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp của các gia đình làng nghề xã La Phù 102
3.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp tại các gia đình làng nghề trong thời gian tới 107
Tiểu kết Chương 3 110
ẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng
Bảng 2.1: Mô tả mẫu nghiên cứu (n=120) 33
Bảng 2.2: Quan niệm về việc định hướng nghề nghiệp cho con của các bậc cha mẹ 36
Bảng 2.3: Trao đổi với con cái về định hướng nghề nghiệp 50
Bảng 2.4: Thái độ của con cái khi bố mẹ định hướng nghề nghiệp 52
Bảng 2.5: Định hướng bậc học cho con của các bậc cha mẹ 55
Bảng 2.6: Số năm làm nghề truyền thống của các gia đình 57
Bảng 2.7: Mong muốn con cái theo nghề truyền thống 59
Bảng 2.8: Dự định khu vực làm việc cho con sau khi học xong 61
Bảng 2.9: Dự định nghề nghiệp cho con trong tương lai 62
Bảng 2.10: Nâng cao sự hiểu biết khi định hướng cho con 67
Bảng 2.11: Khó khăn khi định hướng nghề nghiệp cho con 68
Bảng 3.1: Tương quan giữa học vấn của cha mẹ đối với việc định hướng nghề nghiệp 78
Bảng 3.2: Tương quan giữa học vấn của cha mẹ đối với việc định hướng cho con theo nghề truyền thống 80
Bảng 3.3: Tương quan giữa thu nhập hàng tháng của cha mẹ đối với việc định hướng nghề nghiệp 85
Bảng 3.4: Tương quan giữa thu nhập của cha mẹ đối với việc định hướng cho con theo nghề truyền thống 86
Bảng 3.5: Tương quan giữa thu nhập của cha mẹ đối với quan niệm của cha mẹ về vấn đề định hướng nghề nghiệp cho con 88
Bảng 3.6: Số thế hệ chung sống trong gia đình làng nghề 90
Bảng 3.7: Tương quan giữa số thế hệ cùng chung sống trong gia đình đối với việc định hướng nghề nghiệp 92
Bảng 3.8: Tương quan giữa số thế hệ cùng chung sống trong gia đình đối với việc định hướng cho con theo nghề truyền thống 94
Bảng 3.9: Tương quan giữa nhóm tuổi của cha mẹ với việc định hướng nghề nghiệp 96
Trang 10nghiệp 105
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội loài người, gia đình chính là nơi con người được sinh ra, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để lớn lên thành những công dân có ích cho
xã hội Gia đình chính là thiết chế giáo dục đầu tiên, là môi trường xã hội hóa đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành nhân cách và có ảnh hưởng lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người Với tư cách là một thiết chế, là một đơn
vị cơ sở của xã hội, gia đình có chức năng giáo dục - xã hội hóa trẻ em Định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) cho con cái là một trong những nội dung của chức năng này Hơn bất kỳ ai, các bậc cha mẹ là người hiểu rõ năng lực, phẩm chất, năng khiếu của con em mình, chính vì thế sự tham gia của cha mẹ trong việc ĐHNN cho con không những giúp cho con phát huy được năng lực mà còn giúp cho xã hội có được nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.Trong luận văn này, gia đình được xem xét, phân tích dưới góc nhìn
về khả năng thực tế đã làm được gì, đóng góp những gì cho quá trình ĐHNN cho thanh thiếu niên tại các làng nghề hiện nay ĐHNN cho con không nên nhìn từ góc độ mong muốn con sẽ làm nghề gì sau này, mà hơn thế ĐHNN cần được nhìn là một quá trình trao đổi, tương tác có ý nghĩa giữa cha mẹ và con cái về vấn đề chọn nghề nghiệp sao cho nó thật phù hợp với các em Song song với sự biến đổi của nền kinh tế thị trường chính là sự thay đổi về định hướng giá trị của người Việt Nam nói chung và của lứa tuổi thanh niên nói riêng Đặc biệt trong bối cảnh một số ngành nghề truyền thống tại các làng nghề đang có nguy cơ mai một dần, cũng từ đó tư tưởng chỉ cần học xong bậc Trung học phổ thông (THPT) là về làm nghề với gia đình sau đó lấy vợ, lấy chồng của các bậc cha mẹ đã thay đổi Các bậc cha mẹ đã quan tâm hơn, họ rất băn khoăn, lo lắng không biết con mình khi học xong sẽ làm nghề gì cho phù hợp Mặt khác chính là quan điểm tiêu cực của đời sống xã hội nảy sinh đã ảnh hưởng rất lớn đến việc định hướng ngành, nghề cho con trong các gia đình tại các làng nghề Hiện nay, đặc biệt tình trạng không nhỏ
Trang 12những thanh thiếu niên chưa định hướng rõ mình học cái gì, học ngành gì cho phù hợp với năng lực của bản thân Trên thực tế đã xảy ra tình trạng, việc ĐHNN mang tính xu thế và dựa vào kỳ vọng của cha mẹ, thầy cô hoặc chạy theo đám đông nên nhiều sinh viên ra trường không có việc làm hoặc phải đào tạo lại, tình trạng “ngồi nhầm” đại học (ĐH) xảy ra đối với nhiều sinh viên Những cử nhân, kỹ sư thất nghiệp quay về quê làm nghề, hoặc quay lại học Trung cấp để mong tìm được việc làm diễn ra phổ biến và trở thành vấn
đề đáng được quan tâm hiện nay
La Phù là một trong những xã có làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Hoài Đức, từ đó đòi hỏi cần phải có nguồn nhân lực có chất lượng với
số lượng lớn Trong kế hoạch phát triển các ngành kinh tế trọng điểm nói riêng hay phát triển xã hội nói chung thì lực lượng lao động kế thừa có chuyên môn cao với đầy đủ năng lực phẩm chất và kỹ năng nghề nghiệp là vô cùng cần thiết Bên cạnh đó thì các làng nghề có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Thể hiện ở việc góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa; tăng giá trị sản phẩm hàng hóa; góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế việc di dân
tự do, thúc đẩy quá trình đô thị hóa Từ nhận thức thực tiễn cũng như lý luận, tôi nhận thấy việc nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN cho con tại các gia đình làng nghề hiện nay là rất cần thiết Đây là một trong những mảng đề tài rất cần xã hội học quan tâm nghiên cứu, từ đó chúng ta tìm ra được những giải pháp giúp các bậc cha mẹ thực hiện vai trò ĐHNN hiệu quả, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội trong thời đại toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng khốc liệt, thách thức mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi quốc gia Thực tế được trải qua 10 năm công tác tại ủa ban nhân dân (UBND) xã
La Phù, huyện Hoài Đức trực tiếp phụ trách công tác công thương, phát triển làng nghề cũng là lý do thôi thúc tôi chọn nghiên cứu vấn đề trên, qua tiếp xúc với các bậc cha mẹ tại làng nghề, tôi nhận thấy nhiều thay đổi, biến động trong xã hội làng nghề, các bậc cha mẹ tại đây họ băn khoăn, lo lắng không
Trang 13biết ĐHNN cho con như thế nào? Định hướng cho con theo nghề gì, có theo nghề truyền thống của địa phương hay không?
Với tất cả những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp của các gia đình làng nghề tại
xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” cho luận văn của mình
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
ĐHNN có lịch sử ra đời và phát triển trên dưới 100 năm trên thế giới, thực tế hiện nay ĐHNN đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và chính sách được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, dịch vụ và chính sách của nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới
Trong hệ thống giáo dục, giáo dục bậc THPT chính là giai đoạn học tập chính quy cuối cùng của đa phần thanh thiếu niên học sinh Giáo dục THPT không chỉ có mục tiêu là chuẩn bị nguồn cho giáo dục ĐH mà cần phải chuẩn
bị cho học sinh - những con người trưởng thành - bước vào cuộc sống vốn kiến thức về nghề nghiệp trong tương lai Họ cần phải được trang bị những tri thức khoa học, kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng lao động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trên thực tế, các lĩnh vực khoa học - kĩ thuật liên tục phát triển và thay đổi, đặc biệt là trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, người lao động thường không có khả năng để thích ứng kịp thời nếu như không được trang bị khối lượng kiến thức đầy đủ Trong khi đó, một số học sinh THPT khi rời ghế nhà trường với vốn kiến thức
“văn hoá chay” không có cơ sở và khả năng hội nhập vào cuộc sống lao động
- xã hội Xuất phát từ thực tiễn như vậy, trong xã hội có giai cấp, đã có các nhà tư tưởng và giáo dục học tiến bộ đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp
Giữa thế kỉ XIX, tại Pháp xuất bản cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng các ngành nghề do sự phát triển của quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH,
Trang 14HĐH) Từ đó, người ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi Đến những năm 1975, nước Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hướng: Họ sẽ tăng cường giáo dục các môn học tự nhiên
và toán học, trong đó sẽ tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp
Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hướng tới thế kỉ 21” của tác giả Magumi Nishino (Xuất bản năm 1995, Viện nghiên cứu giáo
dục Nhật Bản) [13] tác phầm này đã nghiên cứu và đi vào phân tích sâu sắc vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kĩ năng cơ bản của các ngành nghề cần thiết cho học sinh THPT Theo tác giả, học sinh THPT phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” Từ lâu, giáo dục tại Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông Trong 30 năm từ năm 1952 - 1982 các cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành tại đất nước mặt trời mọc, nhằm mục đích để đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước Từ đó, nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường tiểu học và THCS
Tại Đức, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đặc biệt là lao động nghề nghiệp, cũng được đặc biệt quan tâm, tại đây các trường đã tổ chức cho học sinh THPT thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ
Trang 15Các nước ASEAN trong những năm qua đã và đang tăng cường công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT, cụ thể:
- Tại Philippin: Mục tiêu của giáo dục phổ thông chính là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể tự lựa chọn nghề Chính vì vậy mà từ cấp II các trường học đã thực hiện việc giáo dục nghề nghiệp, và tiêu chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề Sang cấp III sẽ tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp - dạy nghề
- Tại Thái Lan: Từ khi học sinh học bậc Tiểu học, các trường học đã trang bị cho các em học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số nghề như nông nghiệp và nghề thủ công Sang tới cấp II đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề
- Tại Việt Nam, trước hết chúng ta phải kể đến quan điểm mang tính định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh Theo Người, một nhà trường vì nhu cầu “học, làm, sống tốt” của xã hội học tập là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”,“Học đi với lao động Lý luận đi với thực hành Cần cù đi với tiết kiệm”, học tốt (học đi với lao động, với thực hành), làm tốt (lao động, thực hành đi với học), sống tốt (cần, kiệm)
Trong Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX [14] đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” Sang đến Đại hội X và XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện công tác giáo dục - đào tạo, yêu cầu các trường học dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT
Trang 16trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ trung học cơ sở (THCS) Đây cũng là cơ sở mở đường cho công tác nghiên cứu và hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề phổ thông hiện nay
“Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển các Trung tâm Kĩ thuật - Hướng nghiệp - Dạy nghề”
(Bộ Giáo dục và Đào tạo Trung tâm lao động - hướng nghiệp, Hà Nội, 1992) của tác giả Phạm Tất Dong Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy “Trong
số những người không kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên Trong tổng
số thanh niên đứng ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề” Trên cơ sở
đó, tác giả xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”
Tác phẩm “Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam”, của tác giả Đặng
Danh Ánh (2010) [2] Đây là tác phẩm tập hợp lại các bài giảng, bài viết về hướng nghiệp đã công bố ở trong nước hoặc số ít chưa công bố của tác tác giả, đồng thời bàn luận một số vấn đề mới như: Sự nảy sinh các ngành nghề trong
ba nền kinh tế đó là: Nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế tri thức; phân loại và
mô tả các đặc điểm hoạt động nghề nghiệp; cơ sở pháp lý hình thành hệ thống hướng nghiệp và các loại hình hướng nghiệp ở Việt Nam; hướng nghiệp với vấn đề phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân…
Nói về thời điểm hướng nghiệp: Đáng chú ý phải kể đến bài viết “Tư vấn nghề nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông sau trung học” (Tham
luận tại Hội thảo về Tư vấn nghề do ĐH quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 1/2005) của tác giả Đặng Danh Ánh (2005) [1] Trong tham luận này, tác giả
đã đưa ra những quan điểm mới trong việc tổ chức các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh như: Hướng nghiệp không chỉ được tiến hành ở tất cả các loại trường học mà còn cần phải thực hiện ở các cơ quan, các cơ sở sản xuất
Trang 17kinh doanh; không chỉ tiến hành với thế hệ trẻ mà còn tiến hành với người lớn tuổi không có nghề hoặc vì lý do nào đó phải thay đổi nghề, lúc đó phải hướng nghiệp lần thứ hai, thứ ba
Tác phẩm “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa”(Nhà xuất
bản giáo dục, 1996) của tác giả Lê Ngọc Văn [28], trong tác phẩm này tác giả
đã đề cập đến vai trò thực hiện chức năng xã hội hóa giáo dục cho các thành viên của gia đình Tác phẩm đã hệ thống hóa những nội dung quan trọng về gia đình và biến đổi gia đình, được cập nhật trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang chuyển đổi hiện nay Nội dung chính đề cập đến những vấn đề lý luận
về gia đình và biến đổi gia đình gồm những khái niệm then chốt trong nghiên cứu gia đình, cấu trúc gia đình, chức năng gia đình, thiết kế gia đình, văn hóa gia đình và biến đổi gia đình Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại (Hồ Ngọc Đại, 1990); và từ “gia đình” có lẽ là từ sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hằng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong nghiên cứu về gia đình Ngày nay, chúng ta vừa biết nhiều hơn lại vừa biết ít hơn về gia đình, bởi sự biến đổi và đa dạng của gia đình
Cuốn sách “Gia đình học” của hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị
Quý (2007) [9], đây chính là công trình nghiên cứu khoa học về gia đình Việt Nam Trong tác phẩm, hai tác giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu về vị trí, vai trò, chức năng của gia đình và cho rằng “Gia đình có thể biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng, về các hình thức và chuẩn mực trong các mối quan hệ, nhưng vị trí, vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội thì vẫn không thay đổi” Đặc biệt, khi nghiên cứu về giáo dục gia đình và xã hội hóa
cá nhân, các tác giả viết: “Giáo dục gia đình là phương thức dạy dỗ cho con trẻ lớn lên có được những kiến thức cần thiết để mưu sinh, lao động, sản xuất
và ứng xử với đời”
Tác giả Lê Thi với bài “Mối quan hệ ứng xử giữa cha mẹ và con cái”
(Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới, 2011) [20] khi tìm hiểu và phân tích số liệu từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 tác giả đi đến kết luận
Trang 18cha mẹ hiện nay đã có những cách ứng xử phù hợp dựa trên việc giảng dạy khi con mắc lỗi Tuy nhiên khó khăn chính của cha mẹ hiện nay vẫn tiếp tục
là thiếu thời gian chăm sóc con do áp lực kiếm sống Tác giả kết luận rằng mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái đang là xu hướng của nhiều gia đình hiện nay
Năm 2004, tác giả Lê Ngọc Văn chủ biên cuốn “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay” [30], cuốn sách này là công
trình phân tích các tài liệu nghiên cứu và điều tra về gia đình Việt Nam được tiến hành trong 15 năm (1990 - 2004) Tác phẩm được kết cấu chia làm 3 phần với các nội dung: Thực trạng cấu trúc gia đình Việt Nam, thực trạng chức năng gia đình, dự báo xu hướng biến đổi gia đình và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã nêu mối quan hệ mật thiết trong gia đình chính là mối quan hệ giữa cha mẹ - con, tình cảm tạo ra sự kết dính mạnh mẽ giữa con với người chăm sóc, giáo dục đó là cha mẹ, vấn đề giáo dục con trong gia đình đã được ông đưa ra đối với gia đình Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Tác phẩm: “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam” (Nhà xuất bản
khoa học giáo dục, 2011) của tác giả Lê Ngọc Văn [29], tác phẩm này đã đề cập tới những nhân tố ảnh hưởng đến biến đổi gia đình trong giáo dục con cái, ông cho rằng nội dung giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống gồm có: Giáo dục đạo đức, giáo dục lao động - nghề nghiệp, giáo dục giới tính Trong giáo dục lao động nghề nghiệp trước hết là giáo dục thói quen lao động, đức tính siêng năng, cần củ, chăm chỉ, chịu khó lao động đi đôi với ý thức tiết kiệm trong tiêu dùng và tích trữ… Đặc biệt trong tác phẩm này tác giả đưa ra các quan điểm lý thuyết tiếp cận nghiên cứu gia đình như lý thuyết tương tác biểu trưng, tiếp cận về cấu trúc chức năng Bên cạnh đó ông còn để lại nhiều hướng tiếp cận nghiên cứu về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái…trong quá trình biến đổi gia đình thời hiện đại
Trang 19Luận án tiến sỹ xã hội học“Định hướng giáo dục cho con trong các gia đình nông thôn ngày nay” năm 2014 của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương
[17] đã tập trung làm rõ các vai trò và sự tương tác trong gia đình liên quan đến việc giáo dục con cái Chỉ ra làm thế nào gia đình chuyển giao cho trẻ các giá trị học tập, các chuẩn mực và biểu trưng giáo dục của xã hội nhằm thúc đẩy việc học tập của trẻ
Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ở trong nước và ngoài nước, những quan điểm, những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, của Nhà nước rất có giá trị về phương pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện luận văn này Các nghiên cứu trên được các tác giả thực hiện với quy mô rộng lớn cả về nội dung nghiên cứu cũng như phạm vi nghiên cứu đó chính là vai trò của giáo dục gia đình nói chung trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam Thông qua các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước, việc nghiên cứu về vai trò của gia đình đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và công bố các tài liệu hết sức đầy đủ và hoàn chỉnh, riêng nghiên cứu này chỉ tập trung hướng tới một khía cạnh trong nghiên cứu
việc ĐHNN của các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Đề tài góp phần làm cụ thể và chi tiết hơn về việc ĐHNN, vai trò
của gia đình và xu hướng chọn ngành nghề của giới trẻ tại làng nghề hiện nay, thông qua đó có được một mô hình nhằm xây dựng hệ thống giáo dục mang tính thực tế, phù hợp hơn ở từng địa phương cụ thể trên cả nước
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN từ đó làm cơ sở để phân tích thực trạng vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN tại các gia đình làng nghề và chỉ ra một số yếu tố tác động và xu hướng biến đổi vai trò của của cha mẹ
- Từ những phân tích trên đưa ra một số kết luận và khuyến nghị cụ thể
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ:
Trang 20- Tổng quan tình hình nghiên cứu nhằm đánh giá về những thành tựu cũng như hạn chế của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; từ đó xác định mục tiêu, nội dung, câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và lựa chọn lý thuyết vận dụng nghiên cứu đề tài
- Tiến hành điều tra thực nghiệm, thu thập thông tin thực tế
- Phân tích các số liệu điều tra để nhận diện vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN cho con tại các gia đình làng nghề hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN tại các gia đình làng nghề hiện nay
4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN của các gia đình làng nghề tại xã
La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Vấn đề nghiên cứu của đề tài được giải thích và chứng minh dựa trên
cơ sở của một số quan điểm lý thuyết sau:
5.1.1 Quan điểm lịch sử
Đề tài nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN được đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể cả về thời gian và không gian, gắn liền với nền văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Trang 21Nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN được đặt trong thực tại các nghề truyền thống tại làng nghề xã La Phù hiện nay đang có nguy cơ mai một dần Đồng thời xem xét đến các yếu tố có ảnh hưởng đến việc ĐHNN của các bậc cha mẹ
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
5.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài nghiên cứu tiến hành điều tra bằng bảng hỏi 120 người (người cha, người mẹ) có con đang học bậc THPT trên địa bàn xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Cách tiến hành:
Bước 1: Xây dựng mẫu phiếu điều tra (bảng hỏi) gồm 25 câu trong đó
có cả câu hỏi đóng và mở nhằm điều tra về vai trò của cha mẹ trong vấn đề định hướng nghề nghiệp cho con
Bước 2: Tiến hành điều tra thử trên 15 người nhằm tìm hiểu sơ bộ về nhận thức của các bậc cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp cho con Đồng thời biết được những điểm được và chưa được để tiến hành chỉnh sửa phiếu phù hợp với mục đích, đối tượng điều tra, nhằm đạt được kết quả tốt nhất cho đề tài
Bước 3: Tiến hành phát phiếu điều tra
Dự kiến sẽ có những phiếu điều tra không hợp lệ nên chúng tôi đã phát
dư 20 phiếu Tổng số phiếu thu về là 140 phiếu trong đó có 120 phiếu hợp lệ Trong phiếu có 65 nam và 55 nữ
Trang 22Bước 4: Tiến hành xử lý phiếu
Kết quả điều tra bằng bảng hỏi được xử lý trên máy vi tính theo chương trình SPSS nhằm xác lập tương quan giữa các dữ liệu được tìm hiểu
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng phương pháp PVS đối với 6 bậc cha mẹ đang có con học bậc THPT (03 nam, 03 nữ); 02 cựu sinh viên đã tốt nghiệp ĐH và đi làm (01 nam, 01 nữ) và 02 em học sinh đang học bậc học THPT (01 nam, 01 nữ);
01 lãnh đạo UBND xã La Phù; 01 cán bộ phụ trách công tác công thương, phát triển làng nghề xã La Phù dưới hình thức trò chuyện, xoay quanh vấn đề ĐHNN cho con cái tại các gia đình làng nghề Kết quả của các cuộc PVS được phân tích định tính trong Luận văn
Các cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 60 phút Sau khi phỏng vấn, việc ghi chép tóm tắt lại các cuộc phỏng vấn được tác giả thực hiện, các ý kiến trao đổi được ghi chép, sau đó đánh dấu và có thể đặt thêm các câu hỏi theo chiều sau để tiếp tục tìm kiếm trong những cuộc phỏng vấn sau đó
5.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm
Tiến hành 02 cuộc thảo luận nhóm để khai thác thông tin được đa dạng cũng như đem lại hiểu biết chi tiết và toàn cảnh hơn về địa bàn nghiên cứu
01 thảo luận nhóm cha mẹ học sinh do Hội doanh nghiệp làng nghề truyền thống xã La Phù chủ trì tổ chức
01 thảo luận nhóm giữa các thế hệ Đoàn viên thanh niên với các em học sinh đang học bậc học THPT do Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã La Phù chủ trì tổ chức
5.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các bài viết trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu về ĐHNN của các bậc cha
mẹ Đồng thời, qua đó có sự so sánh, đối chiếu làm phong phú nội dung đang tiến hành tìm hiểu Các thông tin thu thập được tác giả kế thừa và sử dụng
Trang 23một cách có chọn lọc, sáng tạo, từ đó áp dụng vào nghiên cứu ĐHNN của cha
mẹ đối với con cái tại các gia đình làng nghề
5.2.5 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được tác giải áp dụng để quan sát thái độ của người được phỏng vấn trong quá trình phỏng vấn, nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin mà người đó trả lời
6 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của cha
mẹ trong việc ĐHNN, nêu lên thực trạng, đưa ra các yếu tố tác động đến việc ĐHNN của các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố
Hà Nội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài sẽ tập trung làm rõ việc ĐHNN của các bậc cha mẹ tại các gia đình làng nghề xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Đề tài góp phần chỉ ra những nhân tố chủ quan, khách quan, giúp cho các nhà quản lý, Đảng ủy, chính quyền địa phương và các cấp, các ngành nên có những chính sách và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của cha mẹ để các bậc cha mẹ thực hiện tốt vai trò của mình Nghiên cứu này còn giúp các gia đình, các bậc cha mẹ có những định hướng đúng đắn để đi đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp cho con một cách hợp lý
7 Câu hỏi nghiên cứu, Giả thuyết nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả đặt ra hai câu hỏi xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đó là:
Câu hỏi 1: Cha mẹ có vai trò như thế nào đối với việc định hướng nghề
nghiệp cho con ở các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà nội?
Trang 24Câu hỏi 2: Việc ĐHNN cho con ở các gia đình làng nghề có sự khác
biệt giữa cha và mẹ, trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế, mức sống của gia đình, cấu trúc gia đình, đặc điểm nhân khẩu học của cha mẹ không?
7.2 Giả thuyết nghiên cứu
Tương ứng với hai câu hỏi nghiên cứu là hai giả thuyết nghiên cứu giả định trả lời cho câu hỏi nghiên cứu trong đề tài, nội dung cụ thể của từng giả thuyết như sau:
Giả thuyết 1: Trong các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội, cha mẹ là người có vai trò rất quan trọng trong việc ĐHNN cho con
Giả thuyết 2: Trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế, mức sống
của gia đình, cấu trúc gia đình, đặc điểm nhân khẩu học của cha mẹ… là những yếu tố có tác động đến vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN cho con của các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Quan điểm của cha
mẹ về việc định hướng nghề nghiệp cho con;
Định hướng bậc học, khu vực làm việc và nghề nghiệp của con
Hành động hướng nghiệp: Đầu tư cho con học tập, dành thời gian cho việc học tập và định hướng nghề nghiệp của con…;
Trang 25Khung phân tích trên được tạo dựng trên cơ sở mô hình lý thuyết vai trò nhằm mục đích lý giải vấn đề nghiên cứu và mối liên hệ giữa các biến số (là mối liên hệ giữa nguyên nhân - kết quả) và nó tuân theo quy tắc logic nhất định Vấn đề nghiên cứu chính là vai trò của các bậc cha mẹ trong việc ĐHNN cho con Xét trong điều kiện nhất định là bối cảnh kinh tế - xã hội của làng nghề xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đang trong quá trình CNH - HĐH
- Biến độc lập: Trình độ học vấn của cha mẹ; Điều kiện kinh tế, mức
sống của gia đình; Cấu trúc gia đình, Đặc điểm nhân khẩu học của bố mẹ
- Biến phụ thuộc: Vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN cho con của
các gia đình làng nghề
- Biến can thiệp: Đặc điểm kinh tế xã hội của làng nghề xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của cha mẹ trong việc
định hướng nghề nghiệp cho con
Chương 2 Thực trạng vai trò của cha mẹ trong việc định hướng nghề
nghiệp cho con của các gia đình làng nghề tại xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Chương 3 Một số yếu tố tác động và xu hướng biến đổi vai trò của cha
mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp cho con của các gia đình làng nghề tại
xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Trang 26Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm vai trò
Tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định chúng ta gọi đó là vai trò Khái niệm vai trò được bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu Các vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải đóng vai những nhân vật được đạo diễn phân công Từ đó có thể thấy vai trò xã hội hoàn toàn không có tính chất tưởng tượng, bắt chước Các hành vi thực tế của một người nhờ học hỏi được từ các kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhiệm hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đồng thời họ cũng sẽ nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ Các cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ
xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội
“Vai trò xã hội là mô hình hành vi, tức là trong cùng điều kiện, hàn cảnh xã hội nhất định, những cá nhân có cùng vị thế xã hội giống nhau đều phải thực hiện những hành vi giống nhau, ví dụ, vai trò người giáo viên là giảng dạy, do đó tất cả những tác nhân có cùng vai trò xã hội này đều phải thực hiện một mô hình hành vi giống nhau đó là lên lớp giảng bài cho học sinh” [4, tr.37]
Vai trò xã hội không có tính cách tưởng tượng và nhất thời, nó được học trong diễn tiến xã hội hóa thực hiện trong những đoàn thể khác nhau mà con người tham gia vào và nó đã trở thành một phần nhân cách của con người Khi có một số những khuôn mẫu tác phong trong tình trạng hỗ tương, tương quan với nhau được tập trung quanh một nhiệm vụ xã hội thì chúng ta gọi sự phối hợp này là một vai trò xã hội Chẳng hạn có một số khuôn mẫu tác
Trang 27phong, có những hành động và thái độ, những bổn phận và đặc quyền mà người ta chờ đợi mỗi người trong gia đình Trong sự thi hành tác phong ấy người đó (người cha, người mẹ) làm đầy đủ vai trò của mình là dạy dỗ và giáo dục con cái Vai trò điển hình của bất kỳ ai người cha, người mẹ, người thầy giáo, cô giáo đều có thể nhận thấy trong số những người xung quanh ta trong
xã hội Vai trò xã hội cho ta biết con người làm gì Đó chính là một khái niệm mang tính sống động liên quan tới “thành tích” xã hội mà cá nhân đạt được trong xã hội
1.1.2 Khái niệm gia đình, gia đình làng nghề
Theo điều 3, luật Hôn nhân và gia đình: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này”
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù một nhóm xã hội nhỏ và các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hóa, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cùng để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người
Trong cuốn “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội [29, tr.31] của tác giả Lê Ngọc Văn:
“Gia đình là sự chung sống giữa các cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm lý, tình dục và các nhu cầu sinh hoạt cá nhân khác”
Trong nghiên cứu này, gia đình là một nhóm xã hội hai hay nhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi, vừa đáp ứng nhu cầu riêng, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội và tái sản xuất dân cư theo nghĩa thể xác và tinh thần
Trang 28Gia đình làng nghề là những gia đình trong đó có vợ, chồng hoặc cả hai
vợ chồng đều sinh sống tại làng nghề
1.1.3 Khái niệm định hướng
Định hướng là việc hoạch định trước một phương pháp, một mục tiêu
để thực hiện nếu không có gì thay đổi Sự định hướng này có sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định Mục đích cuối cùng của sự định hướng có đạt
được hay không còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan
1.1.4 Khái niệm nghề nghiệp
“Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội Nghề nghiệp là nghề nói chung, là sự trau dồi đạo đức, lương tâm đối với
công việc đang làm” [33, tr.51]
Trong luận văn này: Nghề nghiệp là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội, là công việc mà một người sẽ phải cố gắng để hoàn thành tốt sao cho phù hợp với khả năng, trình độ, lòng đam mê đối với nghề Là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
1.1.5 Khái niệm định hướng nghề nghiệp
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong “ĐHNN” là lựa chọn một công việc thật sự phù hợp với bản thân, mang lại thu nhập và niềm yêu thích khi thực hiện công việc đó.Việc định hướng và lựa chọn nghề nghiệp cho mình trong tương lai rất quan trọng ảnh hưởng đến
sự thành công hay thất bại của mỗi cá nhân chọn nghề Nếu định hướng sai sẽ gây cho cá nhân rất nhiều khó khăn bất lợi trong cuộc sống
Tại Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một
Trang 29thứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình
độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm,
Nói tóm lại, vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN cho con được xem là
cả một quá trình, do vậy khái niệm này ta có thể thao tác hóa và đo lường qua các biến số như sau:
- Nhận thức của cha mẹ về việc ĐHNN cho con
- Hành động hướng nghiệp: Đầu tư cho con học tập, dành thời gian cho việc học tập và ĐHNN của con…
- Định hướng bậc học, khu vực làm việc và nghề nghiệp của con
Trang 30Một vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và nghĩa vụ được gán cho một địa vụ cụ thể Nhưng mong đợi này xác định hành vi của con người, được xem như là phù hợp hay không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị
Một vai trò hay một địa vị thường được xem xét trên một mối quan hệ nhất định Vai trò do ý nghĩa mà nó được gán mang tính xã hội và trên một phương diện nhất định nó cũng là một biểu trưng trong quá trình tương tác của con người
Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Để cá nhân có thể thực hiện tốt vai trò thì: Một mặt đòi hỏi chuẩn mực do xã hội đặt
ra phải rõ ràng, mặt khác, cá nhân phải học hỏi về các vai trò trong quá trình
xã hội hóa
Trong gia đình mỗi một cá nhân phải tự xác định cho mình một chỗ đứng và tương ứng với vị trí đó thì anh thực hiện những vai trò và nhiệm vụ nhất định Các vai trò trong gia đình luôn luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Vai trò của người bố hay người mẹ luôn được ấn định bởi sự mong đợi của xã hội Tuy nhiên, khi nghiên cứu gia đình thì chúng ta không thể không nghiên cứu mối quan hệ bên trong gia đình, điều đó nói lên mọi vai trò trong
Trang 31gia đình đều có liên quan chặt chẽ với nhau Mỗi khi các thành viên trong gia đình có sự thay đổi vai trò của mình, nó sẽ ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình và qua đó chúng ta thấy được sự vận động và biến đổi các định hướng giá trị trong gia đình
Khi phân tích vai trò của cha mẹ dưới góc độ lý thuyết vai trò cần đặt chúng trong những quan hệ liên cá nhân, liên nhóm cụ thể Việc thể hiện vai trò của cha mẹ phải được phân tích trong những hoạt động sống nhất định của
họ Trong phạm vi gia đình thì cha mẹ có những vai trò nhất định đối với con cái như vai trò ĐHNN Đối với con cái thì cha mẹ có vai trò vừa là người thầy vừa là người vạch đường đi cho chúng Do vậy, mỗi bậc cha mẹ phải làm đúng vai trò của mình trong việc giúp đỡ con học tập, lựa chọn nghề nghiệp, tạo dựng cho con một bước khởi đầu vững chắc
Theo cách tiếp cận lý thuyết này chúng ta đi sâu nghiên cứu các vai trò của cha mẹ trong việc ĐHNN đối với con cái Một mặt, cha mẹ đầu tư những
gì cho con trong quá trình học tập cũng như dự định nghề nghiệp cho con Hai
là cấu trúc xã hội vĩ mô trong đó các nhóm tương tác với nhau thông qua cơ chế trao đổi xã hội và hệ các giá trị, chuẩn mực, thiết chế xã hội; để xem xét các nhân tố trong gia đình và môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến dự định, mong muốn nghề nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹ tại làng nghề Phương tiện trung gian làm cầu nối giữa hai cấp độ này là các mối tương tác, trao đổi xã hội và hệ các giá trị, chuẩn mực, các tiêu chuẩn được các cá nhân và nhóm nhất trí chia sẻ Qua đây cũng tìm hiểu xem, cha
mẹ mong muốn nhận được cái gì sau khi đã đầu tư cho con cái học tập và định hướng nghề nghiệp cho con
1.2.2 Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý của GeorgeHomans
Tác giả George Homans (1910-1989) là nhà xã hội học người Mỹ, là một trong các tác giả nổi tiếng của lý thuyết trao đổi xã hội Khi nghiên cứu
về hành vi xã hội, G.Homans đã đưa ra khái niệm “hành vi xã hội sơ đẳng” được hiểu là những hành vi mà con người lặp đi lặp lại không phụ thuộc vào
Trang 32việc nó có được hoạch định trước hay là không Hành vi xã hội sơ đẳng diễn
ra dưới nhiều hình thức, từ phản xạ có điều kiện, đến kỹ năng, kỹ xảo đến thói quen Theo G.Homans, hành vi sơ đẳng là cơ sở của sự trao đổi giữa hai hay nhiều người
George Homans chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội Một là, hiện thực hóa - hành vi phải được thực hiện trên thực tế chứ không phải trong
ý niệm Hai là, hành vi đó được khen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác Ba là, người khác ở đây phải là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải là nhân vật trung gian của một cấu trúc xã hội nào đó
Khi nghiên cứu về hành vi, Homans đã đưa ra sáu định đề của hành vi duy lý bao gồm: (1) định đề phần thưởng (hành động nào hay được khen thưởng thì càng có khả năng được lặp lại); (2) định đề kích thích (nếu một kích thích nào đó đã từng khiến một hành động được khen thưởng thì một kích thích mới càng giống kích thích đó bao nhiêu thì càng có nhiều khả năng làm cho hành động tương tự như trước đây lặp lại bấy nhiêu); (3) định đề giá trị (giá trị của hành động càng cao thì chủ thể càng có xu hướng lặp lại hành động đó bấy nhiêu); (4) định đề duy lý (cá nhân sẽ lựa chọn những hành động
mà giá trị hoặc khả năng đạt kết quả là lớn nhất); (5) định đề giá trị suy giảm (giá trị của phần thưởng sẽ giảm nếu thường xuyên nhận được phần thưởng đó); và (6) định đề mong đợi (chủ thể hành động sẽ hài lòng nếu mong đợi
của họ được thực hiện và ngược lại)
Từ các định đề trên, Homans chỉ ra rằng hành vi lựa chọn nghề nghiệp của con người đều có tính quy luật, tức là chịu sự chi phối có tính tất yếu bên trong của mỗi thành phần và mỗi kiểu loại nghề nghiệp khác nhau Vì các hoạt động nghề nghiệp của con người được thúc đẩy bởi khát vọng để đạt được những phần thưởng và tránh các chi phí vô ích, đồng thời kích thích nghề nghiệp phát triển theo hướng vi mô và nâng cao giá trị nghề nghiệp trong xã hội Nếu trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người thực hiện một cách có khoa học, mang tính chuyên môn hóa cao và nhiệt tình với nghề
Trang 33nghiệp thì kết quả hoạt động nghề nghiệp của con người sẽ được nâng cao hơn, từ đó giúp con người hòa nhập vào các quan hệ xã hội thuận lợi hơn,đâylà sự mong đợi của con người trong thực hiện nghề nghiệp mà họ đã chọn và không muốn phải biến đổi Tuy nhiên, với sự tương tác của con người trong các quan hệ xã hội, nếu hoạt động nghề nghiệp bị suy giảm giá trị, gây thiệt thòi cho người lao động và không đem lại lợi ích tối ưu cho họ thì chủ thể có xu hướng thay đổi nghề nghiệp Đây là một hành vi lựa chọn hiện thực trên thực tế chứ không phải trên ý niệm, vì bản chất của con người luôn có
xu hướng nhân bội giá trị kết quả hành động của mình thông qua hoạt động nghề
nghiệp” [8, tr.112]
Từ đó ta có thể thấy lý thuyết sự lựa chọn hợp lý được vận dụng trong ĐHNN của cha mẹ để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, những điều kiện sẵn có, cha mẹ sẽ phải suy nghĩ và tính toán sao cho sự lựa chọn của mình là tốt nhất, phù hợp với năng lực và nguyện vọng của cha mẹ cũng như con cái Cha mẹ bỏ ra “chi phí” là “sự đầu tư tiền bạc, sự tìm hiểu và định hướng, các mối quan hệ” của mình, họ mong chờ nhận được những “cái lợi” trong công
việc, nghề nghiệp của con cái sau này
1.2.3 Lý thuyết xã hội hóa
Lý thuyết xã hội hóa là một trong các lý thuyết lớn của xã hội học Theo quan điểm của các nhà lý thuyết xã hội học thì xã hội hóa là một quá trình qua đó chúng ta học hỏi để trở thành thành viên của xã hội, không chỉ thông qua việc tiếp thu những chuẩn mực và giá trị xã hội, mà còn bằng việc chúng ta học đóng những vai trò xã hội của mình (người cha, người mẹ, người con…)
Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa các cá nhân và xã hội (tập thể) trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ năng và những phương thức cần thiết để hội nhập xã hội Nhưng xã hội hóa không chỉ mang nội dung tiêu cực (cá nhân chịu sự tác động của xã hội) Nó bao gồm ba mặt: thứ nhất, sự học tập (chú ý học và tập) của cá nhân về cách thức (các
Trang 34“mã”, các “khẩu lệnh”) để tham gia một nhóm xã hội, để được chấp nhận vào đó; thứ hai, sự phát triển những năng lực cá nhân để tham gia sinh hoạt của nhóm và trở thành một yếu tố của nhóm; thứ ba, sự thích nghi của nhóm xã hội khác nhau với những hình thức tiến hóa của xã hội [32, tr.332]
Theo tác giả Nguyễn Quý Thanh, (2001), có rất nhiều cách hiểu khác
nhau về xã hội hóa Neil Smelser (nhà xã hội học Mỹ) đã viết: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình, để phục vụ tốt cho việc thực hiện mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình, để phục vụ tốt cho việc thực hiện mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình” Theo định
nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực Chúng chưa đề cập tới khả năng cá nhân có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực xã hội
để học theo Như vậy, dường như cá tính của con người bị tan biến vào những đặc điểm xã hội mà cá nhân tiếp thu được Một nhà xã hội học khác của Mỹ là
Fichter đã xem: “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó” Như vậy, Fichter đã chú ý
tới tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hóa
Định nghĩa của nhà khoa học người Nga G.Andreeva đã nêu được cả hai mặt của quá trình xã hội hóa Bà cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội” (Andreeva, 1988) Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng
Trang 35trong xã hội Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của môi trường tới con người Mặt thứ hai của quá trình này thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình [4, tr.259]
Môi trường xã hội hóa chính là nơi cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm
xã hội Dù có bản chất xã hội và tiền đề tự nhiên phù hợp, con người có thể không trở thành một nhân cách hoàn thiện nếu không đặt trong một môi trường thích hợp Một trong những môi trường xã hội hóa quan trọng đầu tiên của mỗi chúng ta đó chính là gia đình Đây là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của các cá nhân bởi hầu hết mỗi cá nhân đều sinh ra và lớn lên, được nuôi dưỡng, dạy dỗ trong gia đình Mỗi gia đình đều có một nền văn hóa riêng, nền văn hóa này được xây dựng trên nền tảng của văn hóa chung nhưng với đặc thù riêng của từng gia đình: Nền tảng văn hóa gia đình, truyền thống gia đình, lối sống của gia đình… Các cá nhân trong gia đình sẽ tiếp nhận các đặc điểm của các tiểu văn hóa này Kinh nghiệm sống, các quy tắc ứng xử, các giá trị đầu tiên con người sẽ được nhận từ chính các thành viên trong gia đình đó chính là bố, mẹ, ông, bà, anh, chị
1.2.4 Lý thuyết tương tác
Lý thuyết tương tác bắt nguồn từ George Herbert Mead (1863 - 1931)
và Charles Horton Cooley (1864 - 1929) Các cá nhân được xem là kết quả của sự kiến tạo xã hội, của quá trình dàn xếp các ý nghĩa, của các mối quan hệ bên trong các lực lượng và cấu trúc xã hội và là kết quả của quá trình thương lượng, sự năng động của các tác nhân hơn là các sản phẩm tất yếu của cấu trúc xã hội Luận điểm quan trọng của các nhà tương tác, xã hội là những tương tác đang móc nối với nhau dựa trên nhận thức của chủ thể và sự mong đợi lần nhau Bản chất của thế giới xã hội tùy thuộc vào những định nghĩa chung về các vai trò và những đặc tính được xây dựng thông qua sự tương tác Quan điểm tương tác nhấn mạnh tính đa dạng của các vai trò xã hội và
Trang 36các nền văn hóa nhỏ Các quy luật xã hội, các đặc tính xã hội được các chủ thể xây dựng thông qua sự trao đổi ý nghĩa qua lại giữa họ với nhau Quan điểm tương tác nhấn mạnh đến sự sáng tạo của các chủ thể hành động và sự
đa dạng của đời sống xã hội Con người được xem là chủ thể có ý thức Họ không đơn giản bị hướng dẫn bởi “lập trình” bẩm sinh hay những gì được dạy
dỗ Một trong những khái niệm cơ bản của quan điểm tương tác là vai trò Vai trò là những quy tắc hành vi đối với mỗi vị trí mà chủ thể đảm nhiệm Các thành viên đảm nhiệm những vai trò xác định Khi thực hiện các quy tắc hành
vi các chủ thể kiến tạo các khuynh hướng của hành động mà vai trò mình đảm nhiệm Hành vi chỉ có thể hiểu trong bối cảnh mà các cá nhân đảm nhiệm vai trò của mình Các nhà tương tác cho rằng hiểu hành vi xã hội phải nắm bắt được các ý nghĩa mà những người hành động quy gán cho tình huống và hành động Các ý nghĩa của hành động không đơn giản là các yếu tố tâm lý của mỗi
cá nhân Chính hành động của những người khác xác định các ý nghĩa cho hành động của chúng ta Khi quá trình tương tác diễn ra, các thành viên tham gia vào cuộc giao tiếp, họ tạo ra các sự việc có ý nghĩa và biết phải phản ứng như nào
Tác giả vận dụng lý thuyết tương tác trong đề tài nhằm làm rõ mối quan
hệ giữa cha mẹ và con cái trong các gia đình làng nghề hiện nay, sự tương tác giữa các thành viên trong gia đình với nhau trong quá trình trao đổi, ĐHNN…
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và phát triển làng nghề
Xã La Phù nằm ở phía Nam huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, phía Tây, phía Bắc giáp xã An Khánh, phía Đông giáp phường Dương Nội - Quận
Hà Đông, phía Nam giáp xã Đông La, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 14 km
về phía Đông, cách trung tâm huyện Hoài Đức 13 km
Tổng diện tích tự nhiên: 346,39 ha.Trong đó: Đất nông nghiệp: 210,53 ha; Đất phi nông nghiệp: 135.22 ha Dân số toàn xã có 11.368 người với 2.844 hộ Toàn xã có 11 khu dân cư phân bổ ở 11 thôn
Trang 37Năm 2001 theo Quyết định số: 351 QĐ/UB ngày 27/3/2001 của UBND tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội) làng nghề xã La Phù, huyện Hoài Đức được công nhận danh hiệu “Làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Tỉnh Hà Tây”
Nhân dân xã La Phù tập trung sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh thương mại dịch vụ ở hai ngành nghề chính là bánh kẹo và hàng dệt kim, cơ cấu kinh tế: Công nghiệp- thương mại dịch vụ chiếm 98,4%; Nông nghiệp chiếm 1,6%, thu thập bình quân đầu người năm 2019 là 58.900.000đ/người/năm tăng 9.200.000đ so với năm 2018 [25]
Mỗi ngành nghề đều có lịch sử hình thành và phát triển riêng Làng nghề dệt kim và bánh kẹo xã La Phù theo các cụ cao niên trong làng kể lại, xưa kia đất của làng là một khu đồi nằm giữa vùng sình lầy nhưng con người
ở đây thì siêng năng, cần cù, chịu khó Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (trước năm 1858), cư dân La Phù chủ yếu canh tác lúa nước và dệt vải (the, đũi, lụa…) Còn chính xác nghề dệt có từ bao giờ thì sử sách cũng không thấy ghi chép lại Các cụ cao niên trong làng chỉ nhớ rằng: Khi họ sinh ra thì
đã có nghề dệt Tuy vậy trong một năm, công việc thủ công chỉ diễn ra trong vài tháng và thu nhập từ công việc này rất ít ỏi, nên các hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn là nguồn sống chính cho dân làng La Phù, việc dệt vải trước kia chỉ mang tính chất tận dụng thời gian nông nhàn của người phụ nữ trong làng nhằm bổ sung thêm nguồn thu nhập cho gia đình, trang trải những nhu cầu nhỏ của họ Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với chính sách vơ vét nguồn nguyên liệu (đặc biệt là tơ, lụa) ở thuộc địa mang về chính quốc, điều này xét ở một khía cạnh nào đó, nó có tác dụng kích thích nghề dệt ở La Phù phát triển mạnh, về dệt the lụa có gia đình ông Cả Hiển (xóm Đoàn Kết), ông
Ba Tao (xóm Thắng Lợi), gia đình ông Phó Thịnh (xóm Hoa Thám)…các hộ gia đình này có từ 5 đến 7 khung dệt và số thợ làm thuê lúc cao điểm lên tới
10 - 20 người Kỹ thuật dệt lúc đó còn đơn sơ, chủ yếu là khung cửi dệt bằng thoi lao tay và dật dây Khung dệt có hai loại: Khổ đồng (khung có 4 chân
Trang 38đòn, 4 lá go) và khổ nam (khung có 2 chân đòn, 2 lá go) Từ năm 1938 người dân La Phù bắt đầu sử dụng máy jaka để dệt, sản phẩm ngoài lụa, the còn có
sa, đoạn, đũi….Tới những năm 1942, 1943 nghề dệt vải bị đình đốn do nguồn sợi từ Nam Định không đưa được về La Phù nên nghề dệt tất và dệt len có điều kiện phát triển nhanh chóng Ban đầu chỉ có những hộ gia đình có vốn lớn mới mua được máy dệt vì giá máy dệt len lúc đó rất đắt (khoảng gần một mẫu ruộng mới mua được 1 máy dệt len)… Vào thời kỳ đầu làng có 9 máy dệt, 4 máy xén và 4 máy khẩu của các chủ hộ sau: Gia đình cụ Phó Định (xóm Đoàn Kết) có 3 máy dệt và 1 máy khâu, 1 máy xén; Gia đình ông Nguyễn Quang Thi (xóm Đoàn Kết) có 3 máy dệt len, 1 máy khâu và 1 máy xén; Gia đình ông Nguyễn Văn Mùi (xóm Quyết Tiến) có 2 máy dệt, 1 máy xén, 1 máy khâu; Gia đình ông Nguyễn Hữu Ca (xóm Đoàn Kết) có 1 máy dệt len, 1 máy xén, 1 máy khâu Sau đó người dân La Phù rất thông minh, sáng tạo đã chế tạo ra máy dệt giá rẻ của La Phù (do cụ Tạ Tương Bằng và cụ Tạ Tương Uy)
và nghề dệt len do không có đối thủ cạnh tranh nên phát triển khá mạnh từ đó, len thì mua tại Hà Nội, chủ yếu là len Pháp, sản phẩm làm ra cũng được tiêu thụ tại Hà Nội Những năm 1942- 1943 đã có cửa hàng đại lý kinh doanh và xưởng sản xuất len của người La Phù ở Hà Nội, điển hình là cửa hàng của ông Nguyễn Văn Toàn (49 Hàng Bông), của ông Nguyễn Viết Miên (56 Hàng Ngang), xưởng dệt len của ông Nguyễn Văn Toàn (số 8 Hàng Gà) Số lượng người làm ở mỗi cửa hàng từ 10 đến 20 người Sau cách mạng tháng tám nghề dệt len ở La Phù phát triển mạnh số chủ dệt đã lên tới hàng trăm hộ
Song song ngành dệt len của xã là ngành sản xuất bánh kẹo Sơ khai xã
La Phù có nghề nấu mạnh nha để cung cấp cho các cơ sở bánh kẹo Hà Nội
Từ đó nghề nấu nha được người dân La Phù vận dụng khéo léo với việc sản xuất kẹo và đã phát triển rất nhanh và lan rộng trên toàn địa bàn xã Đến nay Làng nghề dệt kim và bánh kẹo La Phù phát triển rất mạnh mẽ đã trở thành ngành mũi nhọn của huyện Hoài đức và không những được thị trường trong nước tiếp nhận mà còn xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, đã giải quyết
Trang 39nhiều việc làm cho lao động địa phương và thu hút nhiều lao động ở các địa phương khác, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 9%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt
Tuy nhiên những năm gần đây các ngành nghề truyền thống cụ thể là dệt kim và sản xuất bánh kẹo tại xã La Phù có nguy cơ mai một dần nguyên nhân là do các yếu tố sau tác động:
Tình hình kinh tế thế giới và khu vực trong bối cảnh nền kinh tế đang phục hồi và trên đà tăng trưởng nhưng tốc độ còn chậm, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng cao
Do hội nhập kinh tế quốc tế nên tính cạnh tranh cao Các sản phẩm của làng nghề truyền thống trước dây chủ yếu sản xuất thủ công, cần nhiều nhân lực, giá thành lại cao không cạnh tranh được với các mặt hàng dệt kim và bánh kẹo xuất xứ từ các địa phương khác và từ Trung Quốc Nhân dân trên địa bàn xã chuyển hướng sang kinh doanh dịch vụ chủ yếu là buôn bán các loại bánh kẹo, hàng dệt kim chứ không còn tự sản xuất như trước kia [23]
Tình hình kinh tế trong nước sau khi dịch Covid-19 lan rộng trên khắp các tình thành, đang có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn còn không ít khó khăn thách thức, nhất là tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cả nước nói chung và các doanh nghiệp tại xã La Phù nói riêng
Quá trình quy hoạch, thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các dự án đô thị,
Dự án Điểm Công nghiệp Khu A, khu B và dự án Điểm Công nghiệp mở rộng thực hiện chậm dẫn đến mặt bằng sản xuất cho các công tu, doanh nghiệp còn thiếu Một số công ty, doanh nghiệp lớn tại làng nghề xã La Phù đã di chuyển công ty đến thuê đất để xây dựng xưởng, nhà máy tại các khu công nghiệp ở Hưng Yên, Chương Mỹ, Quốc Oai Điển hình như Công ty TNHH Việt Thái, Công ty TNHH Đức Hạnh, Công ty TNHH Dệt len Hà Nội… [23]
Trang 401.3.2 Công tác giáo dục và hướng nghiệp tại làng nghề
La Phù đã từng nằm trong vùng “Tứ quý danh hương” (Mỗ - La - Canh
- Cót), nổi tiếng với truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt cao Từ xưa, người dân La Phù đã rất quan tâm tới việc học Theo lời các cụ trong làng, ngay sau khi được phép lập làng, những người sáng lập làng đã xây dựng học hiệu để dạy cho con em trong làng Người dân trong làng quan niệm rằng việc học rất quan trọng trong việc dạy dỗ con em trở thành con người có bản tính thuần thục, có nề nếp thuần phong mỹ tục và là những người có ích cho xã hội Những người cao tuổi trong làng cũng cho rằng từ xưa La Phù đã
có nhiều người đỗ đạt cao như Tạ Tử Điền, người xã Ỷ La, huyện Từ Liêm, nay là thôn Ỷ La thuộc xã Dương Nội, thành phố Hà Đông Sau ông dời nhà đến xã La Phù, huyện Hoài Đức Ông đã đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa 6 (1448) đời Lê Nhân Tông Tạ Tử Điền
đã được vua cử đi xứ nhà Minh, làm quan đến chức Tham chính Họ Tạ ở xã
La Phù đều là hậu duệ của ông Trong nền nho học xưa, hàng chục người La Phù
đã đỗ các học vị cao như nho sinh và làm các chức quan ở địa phương…[5]
Với truyền thống hiếu học từ xưa Đảng ủy, Chính quyền địa phương luôn quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục và ĐHNN trên địa bàn xã Hội khuyến học xã La Phù, Hội đồng giáo dục xã La Phù được thành lập và kiện toàn với mục đích là đầu mối trong việc phối hợp với các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cơ sở giáo dục chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp khuyến học khuyến tài của địa phương Trên địa bàn xã La Phù hiện
có 3 cấp học với 3 trường: Trường Mầm non, Trường Tiểu học, Trường THCS Trong đó Trường Tiểu học và Trường THCS đã được công nhận Trường đạt chuẩn Quốc gia Chất lượng giáo dục tại các nhà trường được quan
tâm Hàng năm có nhiều giáo viên và học sinh giỏi đạt các giải cao trong các
kỳ thi từ cấp huyện, Thành phố, Quốc gia Số lượng học sinh vào học các trường ĐH tăng hàng năm cụ thể: Năm học 2015- 2016: 54 học sinh thi đỗ vào các trường ĐH; Năm học 2016- 2017: 74 học sinh thi đỗ vào các trường ĐH;