1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG điều KIỆN làm VIỆC và đề XUẤT GIẢI PHÁP AN TOÀN vệ SINH LAO ĐỘNG tại dự án xây DỰNG KHU NHÀ ở cán bộ CHIẾN sĩ cục CẢNH sát bảo vệ và hỗ TRỢ tư PHÁP – bộ CÔNG AN

92 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng giống như hầu hết các dự án xây dựng khác ở Việt Nam, mặc dù điều kiện lao động tại dự án xây dựng Khu nhà ở cho cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an đ

Trang 1

TRẦN ĐÀO LINH TRANG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI

DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ

Trang 2

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Đánh giá thực trạng điều kiện

làm việc và đề xuất giải pháp an toàn vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an” là công trình nghiên cứu độc lập do tác giả thực hiện dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Tạ Thị Tuyết Bình Luận văn chưa được công bố

trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận văn thạc sĩ

Tác giả

Trần Đào Linh Trang

Trang 3

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn tới:

Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy, cô giáo Trường Đại học Công Đoàn, đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo cùng các thầy cô giáo khoa Sau Đại học và khoa Bảo hộ lao động đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

Cô giáo PGS TS Tạ Thị Tuyết Bình đã luôn tận tình định hướng, hướng dẫn tôi làm luận văn và luôn dộng viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới

Lãnh đạo Công ty Cổ phần CDC Hà Nội

Ông Nguyễn Thanh Bình – Giám đốc điều hành dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Cùng toàn thể cán bộ công nhân viên công ty nói chung, dự án nói riêng

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục bảng biểu, sơ đồ

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 3

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC Ở CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 5

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng 7

1.1.1 Tại Mỹ 10

1.1.2 Tại Ấn Độ 11

1.1.3 Tại Malaysia 11

1.1.4 Tại Hàn Quốc 12

1.1.5 Tại các nước EU 14

1.2 Tổng quan các nghiên cứu của Việt Nam về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng 16

Tiểu kết chương 1 19

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI DỰ ÁN KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP – BỘ CÔNG AN 20

2.1 Giới thiệu về dự án 20

2.2 Đặc điểm lao động tại dự án 22

Trang 5

2.2.2 Độ tuổi lao động 22

2.3 Thực trạng điều kiện làm việc tại dự án 23

2.3.1 Thời gian làm việc 24

2.3.2 Kết quả quan trắc môi trường lao động 25

2.3.3 Thực trạng tâm sinh lý của người lao động tại dự án 27

2.3.4 Thực trạng sức khỏe người lao động 27

2.3.5 Thực trạng máy thiết bị, vật tư tại dự án 30

2.3.6 Thực trạng cấp phát và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân 30

2.3.7 Tình hình tai nạn lao động 31

2.4 Đánh giá điều kiện làm việc trong các hoạt động thi công chính 36

2.4.1 Phương pháp nhận diện mối nguy và đánh giá rủi ro 36

2.4.2 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công cốt thép 40

2.4.3 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công coppha 42

2.4.4 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công đổ bê tông 44

2.4.5 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công xây trong và trát mặt ngoài 46

2.4.6 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công lắp đặt thiết bị máy 47

2.5 Đánh giá ưu điểm và những tồn tại về điều kiện lao động tại dự án 48

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG NHẰM CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI DỰ ÁN KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP – BỘ CÔNG AN 52

3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, huấn luyện an toàn lao động 52

3.2 Nâng cao vai trò của mạng lưới an toàn vệ sinh viên 52

3.3 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát 53

3.4 Cải thiện tình hình tổ chức lao động tại dự án 54

Trang 6

3.6 Giải pháp về y tế, sức khỏe 74

3.7 Cải thiện công tác cấp phát của phương tiện bảo vệ cá nhân 74

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC

Trang 7

AT An toàn ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động ATVSV An toàn vệ sinh viên BNN Bệnh nghề nghiệp CBAT Cán bộ an toàn

CN Công nhân ĐKLĐ Điều kiện lao động ĐKLV Điều kiện làm việc

DM Danh mục NLĐ Người lao động PCCC Phòng cháy chữa cháy PTBVCN Phương tiện bảo vệ cá nhân TNLĐ Tai nạn lao động

Trang 8

Bảng 2.1 Độ tuổi người lao động làm việc tại dự án 23

Bảng 2.2 Thống kê giờ làm việc trong ngày của người lao động 25

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường lao động năm 2020 25

Bảng 2.4 Khảo sát về tình trạng cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân 31

Bảng 2.5: Thống kê sự cố tai nạn lao động tại dự án 32

Bảng 2.6 Nguyên nhân khiến điều kiện làm việc mất an toàn tại tự án 35

Bảng 2.7 Khả năng xảy ra rủi ro 38

Bảng 2.8 Thang điểm đánh giá hậu quả 38

Bảng 2.9: Bảng đánh giá mức độ rủi ro 39

Bảng 2.10: Thang điểm khả năng nhận biết mối nguy hại 39

Bảng 2.11: Quy định mức độ rủi ro 40

Bảng 2.12: Nhận diện mối nguy và ánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công cốt thép 41

Bảng 2.13: Nhận diện mối nguy và đánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công coppha 43

Bảng 2.14: Nhận diện mối nguy và đánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công đổ bê tông 45

Bảng 2.15: Nhận diện mối nguy và đánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công xây trong và trát mặt ngoài 46

Bảng 3.1: Biện pháp kiểm soát và giảm thiểu rủi ro 58

Trang 9

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ về độ tuổi người lao động tại dự án 23

Biểu đồ 2.2: % người lao động báo cáo phơi nhiễm với yếu tố có hại 29

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ về tình hình sức khỏe của người lao động tại dự án 29

Hình 2.1: Vị trí dự án 20

Hình 2.2: Tổng quan dự án 21

Sơ đồ 2.1 Phương pháp nhận diện mối nguy 37

Sơ đồ 3.1: Các bước nhận diện mối nguy và đánh giá rủi ro 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điều kiện lao động (ĐKLĐ) nắm giữ một vai trò quan trọng, có tác động không nhỏ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường cũng như sự phát triển bền vững của một quốc gia ĐKLĐ bất lợi là nguyên nhân gây tổn thương, suy giảm khả năng làm việc của rất nhiều người lao động ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của con người, cũng là một trong những nguyên nhân làm rất nhiều người phải nghỉ hưu trước tuổi

do thương tật, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Theo ước tính chung của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), ĐKLĐ không an toàn, kém vệ sinh làm cho 160 triệu người mắc bệnh nghề nghiệp, 270 triệu vụ tai nạn lao động trong đó có khoảng gần 310.000 người chết do những tổn thương liên quan đến lao động

và 146.000 người chết vì bệnh ung thư liên quan đến lao động mỗi năm, làm thiệt hại khoảng 4% GDP của toàn thế giới gây ảnh hưởng không nhỏ đến cộng đồng xã hội

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có tốc độ phát triển nhanh và vững chắc, đồng thời cũng làm tăng tính linh hoạt, đa dạng của nền sản xuất hàng hóa Điều này góp phần ảnh hưởng đến việc làm và điều kiện làm việc của người lao động trong các doanh nghiệp, các khu công nghiệp

Xây dựng dân dụng- một ngành kỹ thuật lâu đời của ngành xây dựng, bao gồm xây dựng nhà ở (nhà chung cư, nhà riêng lẻ) và các công trình công cộng (công trình văn hóa, công trình giáo dục, công trình y tế ) đã có những thành tựu rất quan trọng, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị của đất nước Lĩnh vực xây dựng hiện nay chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân Việc xây dựng các nhà máy, các doanh nghiệp cũng như các công trình tổ hợp, các công trình dân dụng có xu hướng gia tăng, đa dạng về số lượng và chủng loại đã ảnh hưởng thu hút hàng trăm ngàn người lao động trong nước và quốc tế Lực lượng lao động trong lĩnh vực này

Trang 11

có trình độ rất khác nhau, công nhân chủ yếu có trình độ thấp, làm việc với các thiết bị thủ công, điều kiện lao động nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại gây bất lợi cho người lao động

Cũng giống như hầu hết các dự án xây dựng khác ở Việt Nam, mặc dù điều kiện lao động tại dự án xây dựng Khu nhà ở cho cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an đã được quan tâm đầu tư xong vẫn tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại liên quan đến môi trường lao động, điều kiện tâm sinh lý, điều kiện đời sống, sinh hoạt của người lao động… Với mục tiêu đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động, giảm thiểu các rủi ro cho người lao động trong quá trình làm việc tại chính

đơn vị đang công tác, tôi xin thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng điều kiện

làm việc và đề xuất giải pháp an toàn vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an” làm luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc của người lao động tại dự án

- Đề xuất các giải pháp an toàn vệ sinh lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động tại dự án

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Hồi cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung của đề tài Sử dụng số liệu thống kê điều tra về an toàn vệ sinh lao động của công ty nhằm xem xét các yếu tố của điều kiện lao động ảnh hưởng đến người lao động

Điều tra, khảo sát: Lập 01 bảng khảo sát và điều tra các thông tin về an toàn, vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Số phiếu khảo sát: 100 phiếu

Trang 12

- Phỏng vấn: Phỏng vấn người sử dụng lao động và người lao động về điều kiện lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

- Phân tích, đánh giá: Thực hiện phân tích, đánh giá các yếu tố liên quan đến điều kiện lao động của người lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán

bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Điều kiện lao động và người lao động tại dự án

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đề cập đến nội dung điều kiện lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng tại dự án Đầu tư xây dựng khu nhà

ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Địa chỉ: Lô N02, ô đất D12 khu đô thị mới Cầu Giấy, Phường Dịch Vong, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng của Việt Nam và trên thế giới

- Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc tại dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

- Đề xuất các giải pháp an toàn vệ sinh lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động tại dự án

5 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng điều kiện làm việc tại dự án Khu nhà ở cán

bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an nhằm góp phần làm rõ nét thêm bức tranh về điều kiện lao động tại các công trình xây dựng nhà ở cao tầng của Việt Nam

- Giúp các cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo các giải pháp đảm bảo

an toàn vệ sinh lao động, phòng chống TNLĐ, BNN và đảm bảo an toàn cho người lao động; Là tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác ATVSLĐ trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam

Trang 13

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương chính:

Chương 1: Tổng quan về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng Chương 2: Thực trạng điều kiện làm việc tại dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Chương 3: Đề xuất các giải pháp an toàn vệ sinh lao động nhằm cải

thiện điều kiện làm việc cho người lao động tại dự án

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC

Ở CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Điều kiện làm việc là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh

tế, xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc Điều kiện làm việc thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất

Các yếu tố của điều kiện làm việc rất đa dạng, phong phú, có thể kể đến:

- Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động: máy, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, đối tượng lao động, người sử dụng lao động

- Các yếu tố liên quan đến lao động: các yếu tố tự nhiên có liên quan đến nơi làm việc, các yếu tố kinh tế, xã hội, quan hệ, đời sống hoàn cảnh gia đình liên quan đến người lao động, quan hệ đồng nghiệp - đồng nghiệp, quan hệ của cấp dưới với cấp trên, chế độ thưởng - phạt, sự hài lòng với công việc

- Tính chất của quá trình lao động: lao động thể lực hay trí óc, lao động thủ công, cơ giới, tự động

- Các yếu tố về tổ chức bố trí lao động: bố trí vị trí lao động, phương pháp hoạt động, thao tác, chế độ lao động nghỉ ngơi, chế độ ca kíp, thời gian lao động

- Yếu tố tâm - sinh lý lao động: gánh nặng thể lực, căng thẳng thần kinh

- tâm lý, thần kinh - giác quan

- Đặc điểm của lao động: cường độ lao động, chế độ lao động, tư thế lao động không thuận lợi và đơn điệu trong lao động không phù hợp với hoạt động tâm sinh lý bình thường và nhân trắc của cơ thể người lao động trong lao động…

Trang 15

Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò

bó trong thời gian dài, ngửa người, vẹo người, treo người trên cao, mang vác nặng, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ hoặc với trách nhiệm cao gây căng thẳng về thần kinh tâm lý Điều kiện lao động trên gây nên những hạn chế cho hoạt động bình thường, gây trì trệ phát triển, gây hiện tượng tâm lý mệt mỏi, chán nản dẫn tới những biến đổi ức chế thần kinh Cuối cùng gây bệnh tâm lý mệt mỏi uể oải, suy nhược thần kinh, đau mỏi cơ xương, làm giảm năng suất

và chất lượng lao động, có khi dẫn đến tai nạn lao động

- Các yếu tố môi trường lao động: vi khí hậu, tiếng ồn và rung động, bức

xạ và phóng xạ, chiếu sáng không hợp lý, bụi, các hoá chất độc, các yếu tố vi

sinh vật có hại… Các yếu tố vi khí hậu: bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm,

bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về

hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh Độ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, cơ thể khó bài tiết qua mồ hôi Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật và giảm khả năng lao động của con người Tiếng ồn, rung động: Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn và rung sóc quá giới hạn cho phép dễ gây các bệnh nghề nghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, rối loạn phát dục, tổn thương về xương khớp và cơ; hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh Tình trạng trên dễ dẫn đến tai nạn lao động Nguồn bức

Trang 16

xạ: Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại Lò thép hồ quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Phóng xạ

là dạng đặc biệt của bức xạ Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng iôn hoá vật chất Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính; rối loạn chức năng của thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp

đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong Chiếu sáng: Trong đời sống và lao động, con mắt người đòi hỏi điều kiện ánh sáng thích hợp Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi, tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động Khi cường độ và kỹ thuật chiếu sáng không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, (thường

là quá thấp) ngoài tác hại làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động về mặt kỹ thuật an toàn còn thấy rõ: khả năng gây tai nạn lao động tăng lên do không nhìn rõ hoặc chưa đủ thời gian để mắt nhận biết sự vật (thiếu ánh sáng); do lóa mắt (ánh sáng chói quá) [15]

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng

Các nghiên cứu về điều kiện lao động trên các công trường xây dựng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận điều kiện làm việc đặc thù, khó khăn, phức tạp, nguy hiểm và độc hại, người lao động phải làm việc ngoài trời, trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, địa bàn lao động luôn thay đổi có nhiều yếu tố rủi ro gây chấn thương và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Người lao động làm việc trên công trường xây dựng thường phải đối mặt với điều kiện làm việc khắc nghiệt như làm việc trên cao, trong các hố sâu, không gian kín dẫn đến các nguy cơ rủi ro về ngã cao, vật rơi, đổ, sập, thiếu khí hoặc làm việc ngoài trời với điều kiện thời tiết khắc nghiệt như nắng nóng

Trang 17

hoặc lạnh buốt; làm việc với các máy thiết bị lớn có nguy cơ bị cán, kẹp cuốn,

va chạm Đồng thời, người lao động còn phải thường xuyên tiếp xúc với điện gây rủi ro điện giật, điện phóng; các yếu tố tiếng ồn lớn, hàm lượng bụi, hơi khí độc hại vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, ánh sáng không đảm bảo là những yếu tố của điều kiện làm việc gây ra các rủi ro đối với người lao động trên công trường xây dựng

Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động Mỹ (USDL), người lao động trong ngành xây dựng thường xuyên phải làm việc ở điều kiện trên cao, trong nhiều năm (từ 1995- 2015), ngã cao là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong ngành xây dựng Trung bình có 362 vụ ngã chết người xảy ra mỗi năm, với xu hướng gia tăng Những nguy cơ gây ra nhiều chấn thương liên quan đến ngã cao nhất có thể kể đến: các mặt không được bảo vệ, khe hở trên tường và lỗ trên sàn, xây dựng giàn che không đúng cách, các thanh thép nhô

ra không được bảo vệ, sử dụng sai thang di động [16]

Báo cáo của Khoa Môi trường và sức khỏe nghề nghiệp, đại học Washington (Mỹ) cho thấy, người lao động làm việc trên các công trình xây dựng thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ trung bình là 115dB, trong khi đó, giới hạn cường độ tiếng ồn cho làm việc 8 tiếng là 85dB Nghiên cứu của Joseph A.Lamonica và cộng sự cũng cho kết quả tương tự về cường

độ tiếng ồn tại vị trí máy khoan bằng khí nén trong hầm: 112 – 121 dBA; Xe vận chuyển chạy dầu Diesel: 88 – 100 dBA; Gầu xúc chạy dầu Diesel 91 –

107 dBA; Xe tải (trọng tải 15 tấn) 89 – 101 dBA

Phơi nhiễm tiếng ồn đủ lớn và đủ lâu có thể làm tổn thương các dây thần kinh ở tai trong, gây ra vĩnh viễn và không thể phục hồi mất thính lực Thiệt hại này có thể do tiếp xúc nhiều lần với các mức trên 85 dBA (chẳng hạn như nhiều năm làm việc xung quanh tiếng ồn xây dựng không có thiết bị bảo vệ thính giác), hoặc chỉ từ một lần tiếp xúc ở trên 140 dBA Người lao động bị khiếm thính thường trở nên xã hội bị cô lập vì họ không thể giao tiếp dễ dàng với người khác Họ cũng có thể không nghe thấy tín hiệu cảnh báo, có thể dẫn

Trang 18

đến tai nạn và chấn thương Các kết quả đo cho thấy rằng hầu hết các nhiệm

vụ xây dựng và các công cụ tạo ra mức độ tiếng ồn yêu cầu sử dụng thiết bị bảo vệ thính giác Tuy nhiên, trong nhiều tình huống người lao động hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng thiết bị bảo vệ thính giác [17]

Tam et al (2004), Haslam và cộng sự (2005), Aksorn và Hadikusumo (2008), Cheng và cộng sự (2010), Ismail và cộng sự (2012), và Leung et al (2012) đã phân nhóm và phân loại nguyên nhân dẫn đến các rủi ro tai nạn trong lĩnh vực xây dựng bao gồm:

- Hành vi không an toàn của người lao động

- Điều kiện làm việc không an toàn

- Người lao động tiếp xúc với các nguồn thương tích nguy hiểm

Theo Heinrich, tai nạn dẫn đến thương tích trên công trường xây dựng khi người lao động thực hiện các hành vi không an toàn hoặc có các nguy cơ trực tiếp về cơ học hoặc vật lý liên quan đến công việc Ông cho rằng các hành vi và điều kiện không an toàn có thể được quản lý bởi các hỗ trợ của tổ chức và xã hội như đào tạo về an toàn, và số vụ tai nạn có thể được giảm thiểu bằng cách nhận thức và loại bỏ các hành vi không an toàn (ví dụ các yếu tố liên quan đến con người) và các điều kiện không an toàn (ví dụ: môi trường -các yếu tố liên quan) Dựa trên sự công nhận này, đã có nhiều nghiên cứu đáng kể khám phá các yếu tố con người, môi trường và cơ học góp phần gây

ra tai nạn xây dựng Hinze và cộng sự (1998) nhấn mạnh rằng bước đầu tiên

để phòng ngừa tai nạn là sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ góp phần gây ra tai nạn, phân tích sự phân bố của các trường hợp tử vong chính bao gồm ngã,

va chạm, điện giật và cán, kẹp, cuốn, đổ sập công trình, vùi lấp

Choudhry và Fang (2008) điều tra lý do tại sao công nhân xây dựng tham gia vào hành vi không an toàn trong ngành xây dựng và xác định các lý

do khác nhau dẫn đến hành vi không an toàn của người lao động thông qua một loạt các cuộc phỏng vấn Các yếu tố được xác định bao gồm sự thiếu hiểu biết và thiếu kiến thức về an toàn, không tuân thủ các quy trình an toàn và thái

Trang 19

độ đối với an toàn bao gồm không trang bị bảo hộ cá nhân (PPE), điều kiện làm việc không an toàn, thiếu kỹ năng hoặc đào tạo an toàn và người lao động không nhận biết được tình trạng mất an toàn trong quá trình làm việc

Garrett và Teizer (2009) đã nghiên cứu tương tự về các yếu tố tổ chức và giám sát của con người cũng như tình trạng tinh thần và thể chất của người lao động mà cuối cùng dẫn đến lỗi của con người trên công trường, đề xuất một khuôn khổ đào tạo nhận thức lỗi của con người và thảo luận về tiềm năng kiểm soát an toàn tại công trường

Suraji và cộng sự (2001) nhấn mạnh sự tương tác phức tạp của các yếu

tố trong nguyên nhân tai nạn và đề xuất một mô hình nhân quả tai nạn thực nghiệm Họ đã xác định các nhóm yếu tố lân cận khác nhau và đặc điểm sự kiện trong nguyên nhân tai nạn, bao gồm quy hoạch xây dựng không phù hợp, vận hành hoặc kiểm soát xây dựng không phù hợp, điều kiện địa điểm không phù hợp, điều kiện mặt bằng không phù hợp, môi trường ồn ào hoặc đông đúc không thể chấp nhận được và hành động vận hành không phù hợp Tầm quan trọng của PPE và các thiết bị an toàn, kiểm tra địa điểm thích hợp, môi trường làm việc an toàn, văn hóa an toàn, đào tạo an toàn và giám sát cũng đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu

Điều kiện làm việc của người lao động trên các công trình xây dựng ở mỗi quốc gia có đặc điểm khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố về quy định pháp luật, quản lý và sự tuân thủ

1.1.1 Tại Mỹ

Mỹ thành lập Cục quản lý sức khỏe và an toàn lao động (OHSA) để quản lý về An toàn vè sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động OSHA liên bang có 10 văn phòng khu vực và 85 văn phòng khu vực địa phương Về quản

lý an toàn trên các công trình xây dựng, họ có khoảng 2.100 thanh tra viên chịu trách nhiệm về sức khỏe và an toàn của 130 triệu công nhân, làm việc tại hơn 8 triệu công trường trên toàn quốc - tức là cứ 59.000 công nhân thì có khoảng một thanh tra viên Điều kiện lao động khắc nghiệt trên các công trình

Trang 20

xây dựng là yếu tố cơ bản đưa lĩnh vực này là một trong những lĩnh vực có tỉ lệ tai nạn lao động cao chiếm 21,1% tổng số vụ tai nạn lao động năm 2018 Các yếu tố gây chấn thương cao nhất có thể kể đến là ngã cao (33,5%), điện giật (8,5%), va đập (11,1%) và cuốn, cán hoặc thiết bị, vật liệu đổ sập (5,5%) [19]

1.1.2 Tại Ấn Độ

Nhiều lĩnh vực công nghiệp xây dựng ở Ấn Độ đang gặp phải các vấn

đề kinh niên như quản lý lực lượng lao động kém, điều kiện lao động, công cụ

và phương pháp làm việc không phù hợp Nhiều nhà nghiên cứu đã xác định những vấn đề này là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất xây dựng và hiệu suất làm việc tổng thể của công nhân Một nghiên cứu xác định mức độ ảnh hưởng của 30 yếu tố đến hiệu suất công việc xây dựng ở Ấn Độ đã được triển khai thực hiên và được phân loại theo ba cách phân loại chính sau: (a) các yếu tố liên quan đến con người / lao động; (b) các yếu tố liên quan đến nhiệm vụ; và (c) các yếu tố liên quan đến thiết bị / dụng cụ dựa trên các nhóm tuổi và nghề nghiệp khác nhau của công nhân xây dựng từ đó phát triển các hệ thống nhằm nâng cao và cải thiện sức khỏe, an toàn cho công nhân xây dựng nhằm quản

lý hiệu quả lực lượng lao động xây dựng và đạt được mức chất lượng cạnh tranh và một dự án hiệu quả về chi phí [18]

1.1.3 Tại Malaysia

A Ayob và các công sự trong một nghiên cứu về Chấn thương nghề nghiệp gây tử vong trong ngành xây dựng đã nhận định lĩnh vực xây dựng có nhiều tai nạn và thương tích chết người Những vụ tai nạn lao động này do nhiều yếu tố gây ra, chẳng hạn như thiếu sự giám sát; thiếu tuân thủ kỹ thuật làm việc an toàn; không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; và không tuân thủ việc sử dụng an toàn các công cụ, phương tiện và máy móc Các tác giả đã

sử dụng dữ liệu thứ cấp 2013–2016 từ Cục An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp

và Tổ chức An sinh Xã hội, nghiên cứu này đã thực hiện một cuộc khảo sát thăm dò mô tả để xác định các thương tích nghề nghiệp gây tử vong phổ biến liên quan đến lĩnh vực xây dựng Malaysia, cũng như các nguyên nhân và tác

Trang 21

nhân ngẫu nhiên của chúng Kết quả chỉ ra rằng xây dựng, tiếp theo là sản xuất, nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác gỗ và ngư nghiệp, là những ngành nghề rủi ro nhất ở Malaysia Tỷ lệ thương vong nghề nghiệp cao nhất được báo cáo ở Sarawak, Johor và Selangor Các bang này chiếm khoảng 13,33% đến 18,18% tổng số vụ tai nạn lao động chết người Ở những bang này, việc thiếu các quy định về an toàn và sức khỏe và việc thực hiện quản lý rủi ro kém đã làm tăng nguy cơ tai nạn lao động Ngã từ độ cao chiếm 46,28% số ca chấn thương nghề nghiệp chết người Hơn nữa, bị đè bởi các đồ vật, vật liệu hoặc phương tiện giao thông chiếm từ 9,09% đến 17,36% các trường hợp thương tích nghề nghiệp chết người

Thực tiễn xây dựng hiện tại trong ngành xây dựng Malaysia đóng một vai trò quan trọng trong thành công của các dự án Các thách thức thường xảy

ra trong lĩnh vực năng suất, hiệu quả, chất lượng và việc phân phối công việc, việc thiết lập quy hoạch tổng thể ngành xây dựng (CIMP) đã dẫn đến các sáng kiến trong việc thực hiện cách tiếp cận sáng tạo thông qua Hệ thống Tòa nhà Công nghiệp hóa (IBS) hướng tới môi trường xây dựng bền vững Theo Isnin

và cộng sự, (2012), môi trường xây dựng bền vững đòi hỏi trình độ cao về kỹ năng và kỹ thuật kỹ thuật Vì vậy, IBS là một chiến lược chuyển đổi ngành xây dựng thành một ngành công nghiệp hóa liên quan đến các cấu kiện đúc sẵn với các kỹ năng và kỹ thuật cao Điều này đòi hỏi cần phải cải thiện điều kiện lao động và hiện đại hóa máy thiết bị cũng như nâng cao trình độ, sự hiểu biết của người lao động

1.1.4 Tại Hàn Quốc

Trong những thống kê mới đây, tỷ lệ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nói chung ở Hàn Quốc đang giảm, điều này có mối liên hệ đáng kể với việc quốc gia này triển khai các hoạt động nghiên cứu cải thiện ĐKLV để phòng chống các rủi ro nghề nghiệp

Năm 2015, Seokho Chi và các cộng sự đã nói rằng Các hành vi không

an toàn của người lao động (ví dụ: đánh giá sai, vận hành không phù hợp) trở

Trang 22

thành nguyên nhân chính gây ra tai nạn xây dựng khi họ kết hợp với điều kiện làm việc không an toàn (ví dụ có các mối nguy cháy, nổ, thời tiết,…) trên công trường Mục tiêu bao quát của nghiên cứu được trình bày trong bài báo này là khám phá các cách để ngăn chặn các hành vi mất an toàn của người lao động và giảm thiểu khả năng xảy ra tai nạn xây dựng Nghiên cứu đặc biệt nhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố rủi ro liên quan đến hành vi của con người và điều kiện lao động, xác định các yếu tố hành vi và tình trạng đáng kể và tác động của chúng đối với các loại tai nạn lao động các tác giả đã phân tích tác động của các điều kiện lao động khác nhau và hành vi của người lao động đối với loại tai nạn và mức độ thương tích hầu hết các yếu tố nguy cơ có liên quan đến loại tai nạn và mức độ thương tích Các giá trị này được sử dụng để lọc ra các yếu tố rủi ro ít quan trọng hơn không liên quan đến loại tai nạn và mức độ nghiêm trọng của thương tích Hành động làm việc bắt buộc, các vật thể hoặc cấu trúc xung quanh, các công cụ hoặc thiết bị cần thiết, PTBVCN hoặc thiết bị an toàn, hoạt động và kiểm tra có liên quan chặt chẽ đến cả loại tai nạn và mức độ thương tích Các yếu tố này

có các đặc điểm cụ thể về hoạt động (ví dụ: công việc lợp mái và công việc điện có các hành động làm việc khác nhau, điều kiện làm việc, các công cụ và thiết bị cần thiết và quy trình kiểm tra) và do đó có thể liên quan chặt chẽ đến loại tai nạn và mức độ thương tích Ví dụ, công việc lợp mái có thể liên quan đến nhiều cú ngã do tai nạn độ cao và công việc điện có thể liên quan đến nhiều cú sốc điện hơn Công việc điện có thể có khả năng tử vong cao hơn so với ngã do tai nạn trên cùng độ cao do điện áp cao dẫn đến tử vong Thứ hai, các điều kiện làm việc bên dưới môi trường làm việc, bao gồm tiếp xúc với khí / lỏng / rắn, nhiệt độ / áp suất / mức độ tiếng ồn và thời tiết hoặc ánh sáng,

có mối liên hệ chặt chẽ với loại tai nạn vì những yếu tố này có thể liên quan chặt chẽ hơn đến các tai nạn liên quan đến sức khỏe con người, chẳng hạn như các vấn đề về đường hô hấp, nuốt hoặc hấp thụ; suy hô hấp; và đốt cháy Phán đoán hoặc nhận thức của con người cũng được xác định là một yếu tố

Trang 23

rủi ro chính góp phần vào các loại tai nạn khác nhau, có lẽ do đặc tính của nó quyết định hành vi và quy trình làm việc Tuy nhiên, phân tích thống kê không cho thấy mối quan hệ của nó với mức độ nghiêm trọng của chấn thương Ngược lại, thông tin phân công nhiệm vụ là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến mức độ thương tật chứ không phải loại tai nạn Những nhân viên làm những công việc được giao không thường xuyên có xu hướng bị thương nặng hơn những công nhân làm những công việc thường xuyên (miễn là những công nhân đó không đánh giá thấp những mối nguy hiểm trong môi trường làm việc xung quanh)

1.1.5 Tại các nước EU

Khái niệm điều kiện làm việc đã được mở rộng khi một số khía cạnh của cuộc sống lao động trở nên rõ ràng hơn, được loại bỏ khỏi “tính tự nhiên của công việc” và được xem xét Các nước Châu Âu có cam kết mạnh mẽ đối với cải thiện ĐKLV đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng Các hoạt động cải thiện tập trung vào các ĐKLĐ có tác động tiêu cực đến sức khỏe, an toàn, sự hài lòng trong công việc, các điều kiện hỗ trợ cho việc tạo lập một công việc tốt, chất lượng cao cũng được quan tâm ĐKLV và chất lượng công việc được đề cao trong chương trình nghị sự chính sách của Châu Âu Hiệp ước về chức năng của Liên minh Châu Âu (TFEU) nhấn mạnh các mục tiêu “Thúc đẩy việc làm, cải thiện điều kiện sống và làm việc” Các chính sách về sức khỏe

và an toàn của các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu từ lâu đã tìm cách loại bỏ hoàn toàn hoặc thay thế những rủi ro, đặc biệt là những rủi ro về vật

lý, hóa học có khả năng gây hại đến sức khỏe NLĐ Tuy nhiên những tiến bộ

về kĩ thuật và công nghệ mới đã không loại bỏ được những rủi ro này khỏi môi trường làm việc

Theo nghiên cứu của hiệp hội cải thiện điều kiện sống và làm việc (EUROFOUND) năm 2016, trong 10 năm tỉ lệ người lao động mắc các chứng rối loạn cơ xương khớp tăng cao, giờ đây chúng ảnh hưởng đến hàng triệu NLĐ và tiêu tốn của NSDLĐ hàng tỷ euro Trong nghiên cứu có thống kê

Trang 24

khoảng một nửa số nhà quản lý, chuyên gia và kỹ thuật viên (Phân loại nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế ISCO) nói rằng họ thực hiện các công tác lặp

đi lặp lại với bàn tay hoặc cánh tay trong ít nhất một phần tư thời gian làm việc ngoài ra hơn 25% trong số họ nói rằng phải chấp nhận những vị trí đau đớn hoặc mệt mỏi trong ¼ thời gian làm việc Trong khi đó, NLĐ trong lĩnh vực dịch vụ có mức độ tương đương hoặc cao hơn trung bình ở châu Âu Nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự gia tăng khối lượng công việc và đặc biệt là cường độ làm việc Đặc biệt trong thời gian dài, những ràng buộc mới này có những hậu quả bất lợi cho sức khỏe và tinh thần của người lao động Theo khảo sát của EWCS, 37% nhân viên làm việc 'đúng thời hạn' và 34% làm việc 'với tốc độ cao' trong hơn 3/4 thời gian làm việc của họ (con số không giảm kể

từ năm 2005) Ngoài ra, nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng những người lao động phải làm việc với cường độ cao có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe (bệnh tim mạch, rối loạn cơ xương khớp, trầm cảm, v.v.), đặc biệt là khi họ phải đáp ứng nhiều nhu cầu trong khi khả năng tự chủ hạn chế và ít được hỗ trợ

Tại Anh, một điều tra chỉ ra mức độ nhận biết của NLĐ về mối nguy hiện tại trên ba dự án xây dựng của Vương quốc Anh Chỉ tối đa 6,7% các tuyên bố phương pháp được phân tích trong các dự án này được quản lý để xác định tất cả các mối nguy đáng lẽ đã được xác định, dựa trên kiến thức hiện tại Mức độ nhận dạng nguy hiểm tối đa được tìm thấy là 0,899 89,9% đối với dự án xây dựng trong ngành công nghiệp hạt nhân, 0,728 72,8% đối với dự án trong ngành đường sắt và 0,665 66,5% đối với dự án trong cả ngành đường sắt và ngành xây dựng nói chung Kết quả chỉ ra rằng mức độ nhận biết mối nguy còn xa lý tưởng Một cuộc thảo luận về lý do của mức độ nhận dạng nguy cơ thấp chỉ ra các rào cản chính Điều này dẫn đến việc trình bày một công cụ CNTT Công nghệ thông tin để quản lý an toàn dự án xây dựng Total-Safety và đặc biệt, một mô-đun trong Total-Safety được thiết kế để giúp nhân viên xây dựng phát triển các tuyên bố phương pháp với mức độ nhận dạng mối nguy được cải thiện

Trang 25

Tại Đức, nhiều nghiên cứu chỉ ra những tương tác phức tạp giữa điều kiện lao động và việc làm và sức khỏe Căng thẳng về thể chất và tâm lý tại nơi làm việc có liên quan mật thiết với sự xuất hiện của bệnh tật, tai nạn tại nơi làm việc, mất khả năng lao động nghỉ hưu sớm, và cũng có thể là nguyên nhân gây

tử vong Vì hậu quả sức khỏe của họ mà nghỉ tại nơi làm việc và các chi phí kinh tế liên quan, việc cải thiện điều kiện lao động trong khuôn khổ an toàn và

vệ sinh lao động quản lý sức khỏe nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng

Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy trong số 115 triệu người lao động của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hằng năm Số người chết vì tai nạn lao động là hơn 8000 người/năm Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm Ở Đức, ĐKLĐ xấu gây tổn thất trị giá 52 tỉ đê mác/năm Ở Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4-8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp Anh

Như vậy, các nghiên cứu về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng trên thế giới đã được triển khai thực hiện Nhìn chung, hầu hết điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng có nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại có thể gây rủi ro cho người lao động

1.2 Tổng quan các nghiên cứu của Việt Nam về điều kiện làm việc

ở các công trình xây dựng

Năm 2012, nghiên cứu “Thực trạng điều kiện lao động, tình hình sức

khỏe và dịch vụ Y tế lao động trong ngành Xây dựng dân dụng 2012” được

tiến hành bởi Viện khoa học An toàn và vệ sinh lao động đã đưa ra nhiều kết quả ý nghĩa phục vụ cho việc định hướng, lập kế hoạch, xây dựng chính sách nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khỏe cho người lao động ngành xây dựng dân dụng (XDDD) Kết quả nghiên cứu cho thấy: Phần lớn người lao động ngành XDDD có sức khỏe loại II và III, tuy nhiên vẫn còn 0,7-1,5% loại V Trong đó các bệnh đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (viêm mũi họng, thanh quản mãn 41,3-54,9%), bệnh mắt (30-48%), dạ dày (20-

Trang 26

27%), cơ xương (14-19%), bệnh bụi phổi silic (0,9%), điếc nghề nghiệp (0,3%) Tai nạn lao động (TNLĐ) trong nghề thi công xây lắp chiếm 4,8-6,3% Mức độ tổn thương chung loại rất nhẹ chiếm cao nhất 40-80%, mức

độ rất nặng có tỷ lệ 8,3-11,1% [9]

Theo khảo sát của Viện Khoa học An toàn và vệ sinh lao động về tình hình sức khỏe và bệnh nghề nghiệp (BNN) của 550 CN tại 28 công trường xây dựng ở 3 miền Bắc, Trung và Nam, kết quả cho thấy: Dù thời gian làm việc trung bình 8,19 giờ/người/ngày, nhưng có đến 24,5% CN cảm thấy căng thẳng trong giờ làm việc Các triệu chứng đau mỏi thường gặp trong khi làm việc là mỏi mệt (40,79%), đau đầu (28,57%), đau thắt lưng (19,25%) và chóng mặt (17,06%) Tỉ lệ CN cảm thấy mệt mỏi sau giờ làm việc chiếm 23,96% CN, đặc biệt có 23,03% cảm thấy nhanh mệt hơn so với vài năm trước Các triệu chứng trên không chỉ bắt nguồn từ cường độ làm việc căng thẳng, mà còn do CN cùng lúc phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại như: bụi (70,3%), tiếng ồn (70,1%) và nóng (66,2%), chưa kể các yếu tố khác như phóng xạ, hóa chất

Nghiên cứu của Trần Như Phong và cộng sự (2017) đã nhận định ngành xây dựng là ngành có ĐKLĐ đặc thù, khó khăn, phức tạp, nguy hiểm

và độc hại, người lao động phải làm việc trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, địa bàn lao động luôn thay đổi Đó là nguyên nhân gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động, đặc biệt gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động, ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả lao động Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn; hồi cứu tổng hợp và phân tích số liệu 23 cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng và thi công xây lắp trên

6 tỉnh và thành phố để đánh giá được thực trạng điều kiện lao động ngành xây dựng dân dụng Kết quả cho thấy các cơ sở có tỷ lệ mẫu đo môi trường lao động vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) khá cao Các mẫu đo vi khí hậu đều vượt TCCP với tỷ lệ trung bình như sau: Nhiệt độ 0,5-1,5%, độ ẩm 8,7-33,3%

và tốc độ gió 25-38,7% Tư thế lao động gò bó, đơn điệu cộng thêm sự nặng

Trang 27

nhọc, căng thẳng trong công việc khiến cho NLĐ cảm thấy mệt mỏi, đau nhức

cơ, gây giảm năng suất lao động, ảnh hưởng tới sức khỏe

Năm 2018, Nguyễn Anh Tuấn cùng các cộng sự đã nghiên cứu và xây

dựng “Bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn

lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng” để đáp ứng những đổi mới

trong công tác xây dựng nhà cao tầng ở Việt Nam ngày nay Nhìn chung công tác quản lý ATVSLĐ nói chung, kiểm soát ĐKLĐ nói riêng tại các cơ sở sản xuất cũng như các công trường xây dựng còn nhiều bất cập Việc xây dựng được phương pháp nhận dạng và đánh giá nguy cơ tai nạn lao động còn nhiều hạn chế Áp dụng công nghệ kết hợp với những kết quả nghiên cứu thông qua phương pháp phù hợp điều kiện thực tế đã góp phần vào công cuộc bảo vệ sức khỏe, an toàn cho NLĐ, góp phần ổn định và phát triển hoạt động sản xuất [4]

Trang 28

Tiểu kết chương 1

Các nghiên cứu về điều kiện làm việc trên các công trường xây dựng đã được nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, điều kiện làm việc của người lao động trên các công trình xây dựng rất khó khăn, phức tạp, nguy hiểm và độc hại và đặc thù Người lao động phải làm việc ngoài trời, trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, địa bàn lao động luôn thay đổi có nhiều yếu tố rủi ro gây chấn thương và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Các điều kiện làm việc khắc nghiệt như làm việc trên cao, trong các hố sâu, không gian kín, làm việc ngoài trời, làm việc với các máy thiết bị lớn, tiếng ồn cao, độ rung lớn, ánh sáng không đảm bảo, nồng độ bụi và hơi khí độc luôn lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là những đặc trưng của ngành xây dựng Do vậy, tai nạn lao động trong lĩnh vực xây dựng luôn chiếm tỉ lệ cao nhất trong các lĩnh vực

Mỗi quốc gia có đặc trưng riêng về điều kiện làm việc trong ngành xây dựng Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia đều hướng tới việc cải thiện thiện điều kiện lao động trong lĩnh vực xây dựng để giảm thiểu các rủi ro tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI DỰ ÁN KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP

– BỘ CÔNG AN 2.1 Giới thiệu về dự án

Dự án “Khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp -Bộ Công an” với tên thương mại là “Dự án The Park Home” ở địa chỉ ô đất D12 Khu đô thị mới Cầu Giấy, Phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội Chủ đầu tư dự án là công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội số 52 – Handico 52 Tổng diện tích dự án khoảng 4.073m2 Dự

án có quy mô gồm tòa căn hộ chung cư 29 tầng (2 tầng thương mại + 27 tầng căn hộ) với 2 tầng hầm

Hình 2.1: Vị trí dự án

(Nguồn: [1])

Trang 30

Hình 2.2: Tổng quan dự án

(Nguồn: [1])

Sản phẩm của dự án là công trình xây dựng nhà cao tầng nên hầu hết kết cấu trên mặt đất được cấu tạo bằng thép Các cấu kiện vật tư được gia công tại nhà máy và vận chuyển đến dự án để thi công và lắp đặt Trong phạm

vi nghiên cứu cứu luận văn, tác giả chỉ đánh giá công tác thi công Bê tông cốt thép phần thân thô và trát mặt ngoài, hạng mục chính của quá trình xây dựng này bao gồm:

1 Thi công coppha

Trang 31

Thời điểm hiện tại dự án đang đi vào giai đoạn thi công cao điểm để kịp tiến độ bàn giao cho chủ đầu tư đúng thời hạn Tổng số NLĐ làm việc tại

dự án khoảng 200 người Công việc được tiến hành chủ yếu vào ban ngày từ 6h sáng đến 17h hàng ngày

2.2 Đặc điểm lao động tại dự án

2.2.1 Lực lượng lao động

Tại dự án hiện có khoảng 200 công nhân làm việc trên công trường bao gồm cả nam và nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau Trong đó, nam giới chiếm 73%

và nữ giới chiếm 27% Công việc chủ yếu cho lao động nữ chủ yếu là dọn dẹp

vệ sinh, sắp xếp vật tư, một số công việc liên quan đến gia công, gia công lắp dựng thép xây dựng Tuy nhiên dự án hiện đang có xu hướng gia tăng số lượng lao động nữ, họ còn được phân công làm các công việc cho nam giới Các công việc này có độ khó cao hơn và cần nhiều kĩ năng hơn như làm việc trên cao, làm việc các khu vực mép biên sàn thao tác, thường tiếp xúc với hóa chất công nghiệp độc hại… Điều này không hề tốt cho sức khỏe và còn ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ

2.2.2 Độ tuổi lao động

Độ tuổi của người lao động làm việc tại dự án nằm trong khoảng từ 18-

60 tuổi chiếm 69% Dự án có sử dụng một số lao động cao tuổi (trên 60 tuổi) chiếm 5% Tuy nhiên, qua điều tra, tại dự án có sử dụng lao động vị thành niên (lao động chưa đủ 18 tuổi) chiếm 10% Đây là việc làm sai quy định của Pháp luật Tuy biết rõ là làm trái pháp luật nhưng NSDLĐ lại bỏ qua vì lúc tiến độ khi được đẩy lên cao, nhân sự là hết sức cần thiết Mặt khác NLĐ cũng muốn được làm việc nên đã tự nguyện, sẵn sàng cam kết bằng lời nói với NSDLĐ mà không cần đến hợp đồng lao động Chính điều này đã dẫn đến người lao động không có được ĐKLV phù hợp sức khỏe, thể trạng, không được hưởng những quyền lợi đáng có

Trang 32

Bảng 2.1 Độ tuổi người lao động làm việc tại dự án

Dưới độ tuổi lao động T<18 1/100 10

Trong độ tuổi lao động đối với

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ về độ tuổi người lao động tại dự án

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

2.3 Thực trạng điều kiện làm việc tại dự án

Các dự án xây dựng nói chung và dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an nói riêng đều có điều kiện làm việc khắc nghiệt Lực lượng trực tiếp tham gia làm việc và tạo ra sản phẩm là công nhân Điều kiện làm việc mà tác giả đề cập đến trong luận văn dành cho người lao động, cụ thể là công nhân là chính

Trang 33

Trên công trường dự án có rất nhiều hạng mục công việc khác nhau Vì mỗi công việc lại có tính chất và vị trí làm việc riêng nên NLĐ được trang bị các công cụ và phương tiện lao động cho phù hợp Đó có thể là các công cụ cầm tay (búa, xẻng, đuôi chuột, máy cắt cầm tay, máy khoan, máy mài ) đến các máy móc hạng nặng, từ thô sơ đến phức tạp (Máy dập, máy uốn sắt, máy cán tôn, máy cắt sắt ) Hầu hết các loại máy dùng tại dự án thường là máy mua lại cũ, được sửa chữa nhiều lần nhằm mục đích hạn chế chi phí cho sản xuất nên đã được tân dụng tối đa Ở các máy thiết bị có mối nguy hiểm từ bộ phận truyền động, chuyển động Bên cạnh đó còn có mối nguy đến từ dòng điện khi làm việc với máy, thiết bị sử dụng điện, hóa chất công nghiệp độc hại (Chất tẩy rửa – CN vệ sinh công nghiệp), vật liệu gây cháy nổ (oxy, khí gas ) Các mối nguy hiểm còn đến từ vật rơi, lỗ mở, hố sâu, sàn trơn trượt… Đối với NLĐ như lắp dựng coppha, lắp đặt kết cấu thép, lắp đặt vận hành máy, thiết bị phải làm việc trên cao có không gian chật hẹp, tư thế làm việc bất lợi NLĐ làm việc liên quan đến cơ khí, vận hành máy thiết bị hạng nặng chịu sức ép về tiếng ồn lớn thường xuyên Công việc của NLĐ chủ yếu diễn

ra ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điều kiện khí hậu có đặc điểm nắng nóng nhiệt độ cao vào mùa hè và buốt lạnh mưa phùn mùa đông

Vấn đề tâm sinh lý của NLĐ cũng là yếu tố của điều kiện lao động cần

được quan tâm

2.3.1 Thời gian làm việc

Tiến độ thi công của công trường rất gấp rút vậy nên luôn có sự thúc ép các nhà thầu phụ, tổ đội làm việc nhằm đạt được tiến độ theo kế hoạch Vậy nên việc tăng ca tối, tăng ca đêm, tăng cường độ làm việc và giảm khả năng giám sát ATVSLĐ để đạt tiến hộ của một số hạng mục đã tạo nên khó khăn cho các yêu cầu phải đảm bảo ATVSLĐ trong công việc Đồng nghĩa đó, đẩy người lao động vào điều kiện làm việc bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, sức khỏe Trong 100 người được khảo sát, chỉ có 23 người (23%) xác nhận là làm việc 8 tiếng 1 ngày Đa phần đều làm trên 9 tiếng và có những

Trang 34

người phải làm đến 12 tiếng cho những ngày đổ bê tông, còn thời gian trung bình phần đa số công nhân phải làm là 10 tiếng/ngày

Bảng 2.2 Thống kê giờ làm việc trong ngày của người lao động

Thời gian làm việc trung bình trong ngày

(Số phiếu khảo sát: 100)

Số lượng 23 57 20

Tỷ lệ (%) 23 57 20

(Nguồn: Điều tra của tác giả)

2.3.2 Kết quả quan trắc môi trường lao động

Do NLĐ làm việc tại dự án phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố

có hại trong quá trình làm việc nên hằng năm dự án đều tổ chức quan trắc môi trường lao động (sau đây sẽ viết tắt là ĐTMLĐ) để định kì đo kiểm các yếu tố

có hại phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất Kết quả được thể hiện ở Bảng 2.3:

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường lao động năm 2020

trắc

Giới hạn cho phép

Tổng số mẫu

Số mẫu đạt giới hạn cho phép

Số mẫu không đạt giới hạn cho phép

Trang 35

STT Yếu tố quan

trắc

Giới hạn cho phép

Tổng số mẫu

Số mẫu đạt giới hạn cho phép

Số mẫu không đạt giới hạn cho phép

Trang 36

hiện triệt để Rất nhiều người lao động gặp các vấn đề về sức khỏe sau một thời gian làm việc

2.3.3 Thực trạng tâm sinh lý của người lao động tại dự án

Tác giả đã tiến hành khảo sát 100 NLĐ làm việc tại dự án về tình hình tâm lý, sức khỏe NLĐ Kết quả cho thấy yếu tố tâm lý, sức khỏe NLĐ khi thường xuyên phải làm việc tăng ca cũng không tốt Có đến 58% NLĐ được phỏng vấn nói rằng luôn cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, thao tác công việc cũng kém chính xác đẫn đến một số lần gây chấn thương phần mềm như đứt tay, va quệt, một số trường hợp ngất xỉu do làm việc quá sức Bên cạnh đó hầu hết công việc của NLĐ là làm ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điều kiện khí hậu Với đặc điểm khí hậu của miền bắc là nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hè, rất lạnh và khô, thường có mưa phùn vào mùa đông do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, NLĐ sẽ cảm thấy mệt mỏi khi làm việc nhiều giờ liền Tuy đã bố trí cho NLĐ có thời gian nghỉ giữa ca nhưng thời gian không đáng

kể và NLĐ cũng không được phụ cấp tăng ca Người lao động làm việc nặng nhọc độc hại như lái cẩu tháp, thợ hàn chưa được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật (không được khám sức khỏe định kì, bồi dưỡng hiện vật,…) Các sổ sách ghi chép hiện tại chỉ mang tính chất phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng nhưng không được làm trong thực tế

2.3.4 Thực trạng sức khỏe người lao động

Theo kết quả khảo sát, có đến 1/3 NLĐ cho rằng mình không được bố trí công việc phù hợp với khả năng và sức khỏe Chỉ vì cần việc làm nên họ chấp nhận làm những công việc được giao Chỉ có 83% NLĐ được khám sức khỏe đầu vào, những NLĐ còn lại không tham gia khám vì không biết công trường dự án tổ chức hoặc cảm thấy việc này không cần thiết Tại dự án hiện nay, công nhân trước khi vào làm việc được dự án tổ chức khám sức khỏe Công tác khám sức khỏe đầu vào tiến hành muộn do nhiều thủ tục công ty yêu cầu cần thông qua, thường khi công nhân vào được 10-15 ngày mới được khám Công tác tổ chức không sát sao, chỉ mang tính hình thức Số lượng

Trang 37

người khám đông và thời gian eo hẹp, điều kiện cơ sở vật chất không đầy đủ nên NLĐ chỉ được khám lâm sàng một cách sơ sài Bên cạnh đó, khi tổ chức khám có rất nhiều người không đến và ban chỉ huy không quản lý được hết Vậy nên việc tầm soát những người đủ sức khỏe mới được cho vào công trường làm việc không hiệu quả Trên thực tế có nhiều công nhân sức khỏe không tốt vẫn làm việc trên công trường Và phân công lao động cũng không đạt hiệu quả cao

Trong cuộc khảo sát, đa số NLĐ cho biết họ phải thực hiện lặp đi lặp lại chuyển động tay (56%), thường xuyên phải mang vác vật nặng (45%), đẩy hoặc kéo phải dùng nhiều lực (64%), làm việc với tư thế cơ thể cúi về phía trước và ngồi xổm hoặc quỳ trong khi làm việc ở mọi lúc mọi nơi (58%) NLĐ cũng cho biết họ thường xuyên mệt mỏi, 1/3 trong số đó báo cáo đau lưng hoặc cổ, đau vai hoặc cánh tay, cổ tay hoặc bàn tay, đau ở hông, chân, đầu gối hoặc ở bàn chân của họ

18/100 người lao động phải tiếp xúc thường xuyên với hóa chất (33%) Các loại hóa chất đó bao gồm chất khử trùng và dung dịch kháng khuẩn, xi măng, chất tẩy rửa, chất tẩy dầu mỡ, sơn và dung môi

Tiếp xúc với nguy cơ gây bệnh phổ biến nhất là các nguy cơ từ không khí (69%) Các tác nhân nguy hiểm trong không khí bao gồm bụi (66% - bụi từ máy móc, bụi nhôm, bụi gạch, bụi bê tông, bụi bẩn, thạch cao, cát) và khí, hơi hoặc khói (24% - khói thải, khói sơn, khói xăng/ dầu diesel)

Tiếng ồn lớn cũng là nguy cơ gây bệnh phổ biến Độ ồn trong dự án thường xuyên vượt quá yêu cầu cho phép, nguồn là từ máy móc vận hành, hoạt động tháo dỡ lắp dựng coppha 53/100 người cảm thấy khó chịu với tiếng ồn khi làm việc tại dự án và 9% người trong số đó đã gặp các vấn đề liên quan đến thính giác

Theo khảo sát thực tế về tình hình phơi nhiễm hiện tại trên dự án, NLĐ cho biết họ phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố có hại: Rung động – 15; Tiếng ồn - 53; Hóa chất – 18, Vi khí hậu – 55; Gánh nặng lao động – 56;

Trang 38

Ánh sáng yếu – 34; Bụi – 35 Con số thống kê cụ thể được tác giả trình bày ở Biểu đồ 2.2

Biểu đồ 2.2: % người lao động báo cáo phơi nhiễm với yếu tố có hại

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

Tác giả đã tiến hành khảo sát trên 100 NLĐ tại dự án về tình trạng sức khỏe gặp phải sau một thời gian làm việc đã có một số ghi nhận, kết quả được thể hiện ở Biểu đồ 2.3:

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ về tình hình sức khỏe của người lao động tại dự án

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

Trang 39

2.3.5 Thực trạng máy thiết bị, vật tư tại dự án

Ngoài việc phải chịu tác động của các yếu tố có hại, NLĐ cũng chịu sự tác động bởi ĐKLV tiềm ẩn các mối nguy hiểm mà nguyên nhân lại đên từ con người (67%), từ máy móc thiết bị (37%)

Tại dự án sử dụng rất nhiều các loại vật tư, thiết bị Trong đó các các loại máy được xếp vào loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt (cần trục tháp, vận thăng, máy nén khí, máy hàn) Để tiết kiệm chi phí, dự án sử dụng một số loại máy đã quá hạn sử dụng, có tuổi đời lên đến gần 20 năm, không

có đầy đủ hồ sơ Máy nén khí là hàng trôi nổi trên thị trường không có nguồn gốc xuất xứ, không có giấy tờ hợp pháp Vận thăng lồng được kiểm định không chính xác, nhà sản xuất niêm yết trọng tải 1800kg, tuy nhiên bên kiểm định lại dán kiểm định với trọng tải 2000kg Đã có sự cố chở gạch quá tải theo kiểm định khiến vận thăng rung lắc, vận hành không bình thường, rất may không có hậu quả đáng tiếc xảy ra Các máy, thiết bị cầm tay không sử dụng dây điện công nghiệp, dây điện chằng chịt mối nối và không thay mới, NLĐ thường xuyên ngâm dây dưới nước mà không treo nên móc mà dự án cung cấp Khi sử dụng máy hàn không trang bị bình chữa cháy kèm theo

Hiện nay tại dự án chưa triển khai được mạng lưới an toàn vệ sinh viên

để có thể triển khai các nội dung ATVSLĐ, nhận diện đánh giá rủi ro ngay từ bên trong tổ đội

2.3.6 Thực trạng cấp phát và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân

Công tác cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân do bộ phận an toàn phụ trách cũng chưa đạt hiệu mong đợi Trong dự án có nhiều hạng mục công việc khác nhau nên đối với công nhân từng tổ đội việc cấp phát PTBVCN là tùy vị trí và tính chất công việc Trong 100 người tham gia khảo sát về vấn đề cấp phát PTBVCN thì có tới 52 NLĐ có kiến nghị về việc cấp phát bảo hộ không phù hợp kích thước - 23, phương tiện cũ -12, chất lượng kém - 07; Khi hỏng không được thay thế -10 (Có những NLĐ có 02 đề xuất, kiến nghị) Số liệu điều tra được tổng hợp trong Bảng 2.4

Trang 40

Bảng 2.4 Khảo sát về tình trạng cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân Tổng hợp hảo sát về tình trạng cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân

(Số phiếu khảo sát n=30)

PTBVCN có kích thước không phù

hơp

PTBVCN cũ

Chất lượng PTBVCN kém

Khi hỏng không được thay thế

Số lượng 23 12 07 10

Tỷ lệ (%) 44 23 13 20

(Nguồn: Điều tra của tác giả)

Theo khảo sát thực tế, cứ 10 NLĐ lại có 2 người không sử dụng PTBVCN, 3 người sử dụng không đúng cách, 5/10 người cảm thấy đồ bảo hộ làm họ cảm thấy vướng víu, nóng bức và không cần thiết

Các kiến nghị người lao động đề ra đã cho thấy lỗi hoàn toàn không phải do NLĐ NLĐ đã không tuyên truyền, huấn luyện người NLĐ nhân thức được vai trò quan trọng của PTBVCN Và trách nhiệm phần nhiều nằm ở NSDLĐ tại dự án xem nhẹ các phương pháp phòng tránh các mối nguy và rủi

ro, trang cấp PTBVCN cho người lao động không đúng chủng loại, kích thước, không hướng dẫn việc thực hiện NSDLĐ đã vô hình chung khiến ĐKLV đã nghèo nàn còn trở nên nghèo nàn hơn đối với NLĐ PTBVCN sẽ phát huy được vai trò nếu được sử dụng đúng, đủ và nó cũng góp phần giúp bảo vệ người lao động dưới tác động của ĐKLĐ không tốt

2.3.7 Tình hình tai nạn lao động

Tại công trường, đã xảy ra hiện tượng vật rơi từ trên cao Do sự thiếu hiểu biết và bất cẩn của NLĐ trong quá trình làm việc (tung ném vật tư cho nhau, trượt tay, để vật tư khu vực mép biên, gác hộp) đã vô tình tạo nên ĐKLV thiếu an toàn cho người khác Đã có trường hợp một cây hộp dài 6m rơi từ tầng 26 xuống tầng 1 đập xuống đất sau đó đập ngược trở lại vào vai của một công nhân đang làm việc Hoặc có một trường hợp là khi tháo coppha công nhân thuộc tổ đội này đã trượt tay làm rơi dụng cụ đuôi chuột từ tầng 22 xuống giữa bãi gia công thép mà hiện ở bãi có khoàng 30 người đang làm

Ngày đăng: 07/04/2021, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an (2020), Báo cáo quan trắc môi trường lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc môi trường lao động
Tác giả: Dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an
Năm: 2020
3. Nguyễn Anh Tuấn (2017), “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng”, Đề tài nghiên cứu cấp bộ mã số 217/06/TLĐ, Viện khoa học An toàn và Vệ sinh lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng”
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2017
4. Lê Vân Trình (2018), Giáo trình Quản lý an toàn vệ sinh lao động, Trường Đại học Công Đoàn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý an toàn vệ sinh lao động
Tác giả: Lê Vân Trình
Năm: 2018
6. TCVN 7301 -1: 2008: An toàn máy – Đánh giá rủi ro – Phần 1: Nguyên tắc 7. TCVN 7301-2:2008: An toàn máy - Đánh giá rủi ro - Phần 2: Hướngdẫn thực hành và các ví dụ về các phương pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn máy – Đánh giá rủi ro – Phần 1: Nguyên tắc" 7. TCVN 7301-2:2008: "An toàn máy - Đánh giá rủi ro - Phần 2: Hướng
8. Thủ tướng chính phủ (2012), Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng cường tăng trưởng xanh thời kì 2011/2020 và tầm nhìn đến 2050” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng cường tăng trưởng xanh thời kì 2011/2020 và tầm nhìn đến 2050
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2012
9. Viện Khoa học an toàn và vệ sinh lao động (2012), ‘‘Thực trạng điều kiện lao động, tình hình sức khỏe và dịch vụ Y tế lao động trong ngành Xây dựng dân dụng 2012”.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘Thực trạng điều kiện lao động, tình hình sức khỏe và dịch vụ Y tế lao động trong ngành Xây dựng dân dụng 2012”
Tác giả: Viện Khoa học an toàn và vệ sinh lao động
Năm: 2012
12. Rafiq M. Choudhry, Dongping Fang (2008), “Why operatives engage in unsafe work behavior: Investigating factors on construction sites”, Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why operatives engage in unsafe work behavior: Investigating factors on construction sites”
Tác giả: Rafiq M. Choudhry, Dongping Fang
Năm: 2008
14. A Ayob, A A Shaari, M F M Zaki, M A C Munaaim (2018), “Fatal occupational injuries in the Malaysian construction sector– causes and accidental agents”, IOP Conference Series: Earth and Environmental Science.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Ayob, A A Shaari, M F M Zaki, M A C Munaaim (2018)," “"Fatal occupational injuries in the Malaysian construction sector– causes and accidental agents”, "IOP Conference Series: Earth and Environmental Science
Tác giả: A Ayob, A A Shaari, M F M Zaki, M A C Munaaim
Năm: 2018
16. https://www.osha.gov/SLTC/etools/construction/falls/mainpage.html 17. http://depts.washington.edu/occnoise/content/generaltradesIDweb.pdf18. RatriParida, Pradip KumarRay. (2015), Factors Influencing ConstructionErgonomic Performance in India Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors Influencing Construction
Tác giả: https://www.osha.gov/SLTC/etools/construction/falls/mainpage.html 17. http://depts.washington.edu/occnoise/content/generaltradesIDweb.pdf18. RatriParida, Pradip KumarRay
Năm: 2015
1. Công ty Cổ phần CDC Hà Nội (2019), Kế hoạch an toàn, môi trường Dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an Khác
10. ILO (2020), Promoting employment and decent work in changing landscape Khác
11. Gregory Carter, Simon D.Smith (2006), “Safety Hazard Identification on Construction Projects’’ Khác
13. Seokho Chi, Sangwon Han, Dea Young Kim, Yoonjung Shin (2015), ‘‘Accident risk identification and its impact analyses for strategic construction safety management’’, Journal of civil engineering and management Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w