NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ.NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ.NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ.NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ.NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ.NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐOÀN THỊ THÚY HẠNH
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã ngành : 9.22.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN ĐĂNG XUYỀN
Hà Nội - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Đăng Xuyền Các số liệu, kết quả
của luận án hoàn toàn khách quan, trung thực Các tài liệu tham khảo, tríchdẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiêncứu của mình
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Tác giả
Đoàn Thị Thúy Hạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng
dẫn khoa học: GS.TS Trần Đăng Xuyền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận án
Xin chân thành cảm ơn các thầy/cô giáo của Bộ môn Văn học ViệtNam, Khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo sau Đại học; Ban giám hiệu Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thờigian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và đồng nghiệp của Trungtâm Phát triển bền vững chất lượng Giáo dục Phổ thông Quốc gia, Ban lãnhđạo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam- nơi tôi công tác, đã tạo mọi điều kiện
về thời gian, công việc, giúp đỡ, khích lệ … tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện, độngviên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Tác giả
Đoàn Thị Thúy Hạnh
Trang 41.1 Gi
ới thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật 6
1.1.1 Ng ôn
ngữ nghệ thuật và một số thuật ngữ liên quan 6
hình nghiên cứu về Ngô Tất Tố và ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố
15
1.2.1 Ngh iên
cứu về Ngô Tất Tố 15
1.2.2 Ngh iên
cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất Tố 24
Tiểu kết 26
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NGÔ TẤT TỐ 28
2.1 Nhữ
Trang 5tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Ngô Tất Tố 43
2.2.1Phê phán sâu sắc thực trạng xã hội đương thời và những cái lỗi thời cổ
hủ
trên lập trường dân chủ và nhân đạo 43
2.2.2 Ngu yên tắc đối lập trên cơ sở thái độ yêu, ghét phân minh 49
Trang 62.2.3 Mô tả
chi tiết, tường tận, làm rõ bản chất đối tượng 59
Tiểu kết 67 CHƯƠNG III: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG
3.2.1 Ngô
n
ngữ uyên bác của nhà Nho 82
3.2.2 Ngôn ngữ của quần chúng nhân dân được “nâng lên mức nhuần
nhị” 91 3.2.3 Ngôn ngữ mang tính thời sự và giàu sức tố cáo 96
phương tiện nghệ thuật tiêu biểu 103
3.3.1 Từ láy
103
3.3.2 Từ tượng thanh 105
3.3.3 So sánh 108
3.3.4 Nhâ n
hóa 109
3.3.5 Bút pháp tả cảnh đặc sắc 110
Tiểu kết 113
TẤT TỐ 114
4.1 Ngôn
Trang 7ngữ đối thoại 117
n
ngữ đối thoại vừa mang bản chất xã hội, vừa được cá thể hóa 118
4.1.2Ngôn ngữ đối thoại giàu kịch tính, góp phần làm nổi bật mâu thuẫn, xung đột 128
4.1.3 Ngôn ngữ đối thoại chủ yếu là ngôn ngữ đời thường 135
4.1.4 Phư ơng thức tổ chức ngôn ngữ đối thoại 138
Trang 84.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 139
4.2.1 Độc thoại nội tâm theo dòng suy nghĩ đồng nhất 141
4.2.2 Phư ơng thức tổ chức ngôn ngữ độc thoại 144
Tiểu kết 149 KẾT LUẬN 150
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 153 TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
hiện thực phê phán và là một tác giả tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Namhiện đại nửa đầu thế kỉ XX Trong mấy chục năm cầm bút ông đã để lại mộtkhối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện kílịch sử, khảo cứu, dịch thuật, tiểu phẩm, báo chí…Ở thể loại nào ông cũng cónhững đóng góp riêng Sáng tác của Ngô Tất Tố góp phần không nhỏ tạo nên
sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của văn học nước nhà nửa đầu thế kỉ XX Mặtkhác Ngô Tất Tố là một trong những tác giả có vị trí quan trọng trong văn họcnhà trường Cuộc đời, sự nghiệp và các sáng tác đặc sắc của ông trở thànhnhững bài học, những chuyên đề nghiên cứu của văn học nhà trường từ bậcphổ thông đến cao đẳng, đại học Do vậy có thể khẳng định sự nghiệp văn họccủa Ngô Tất Tố xứng đáng được nghiên cứu trên nhiều phương diện
văn với nhà tư tưởng, nhà chính trị là nghệ thuật sử dụng ngôn từ Do vậynghiên cứu về nhà văn không thể không nghiên cứu về cách sử dụng ngônngữ nghệ thuật của họ Ngôn ngữ nghệ thuật góp phần tạo nên chỗ đứng vàphong cách độc đáo cho từng nhà văn Các công trình nghiên cứu về ngônngữ nghệ thuật giúp định hình rõ nét hơn phong cách nghệ thuật của từng nhàvăn và khẳng định vị trí của họ trên diễn đàn văn học Qua đó cũng giúpchúng ta tìm hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ văn học của từng thời kì
thể loại Đến nay các nghiên cứu về ông không ít: hàng trăm bài viết, hàng chụccông trình nghiên cứu lớn nhỏ đề cập đến nhiều khía cạnh về cuộc đời, sựnghiệp, phong cách nhà văn, Các nghiên cứu tập trung chủ yếu về nội dung tưtưởng, phương diện nghệ thuật , còn ngôn ngữ nghệ thuật Ngô Tất Tố là khoảngtrống chưa được đề cập đến Do vậy chúng tôi chọn vấn đề này nhằm nghiêncứu một cách toàn diện, hệ thống về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn
Trang 102 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
Luận án vận dụng lý thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật để khảo sát ngônngữ nghệ thuật của nhà văn Đối tượng nghiên cứu luận án là ngôn ngữ nghệthuật trong sáng tác tiêu biểu của Ngô Tất Tố
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Có thể nói ít có nhà văn nào dũng cảm thử sức viết của mình trên nhiềulĩnh vực như Ngô Tất Tố Ông không chỉ là nhà văn mà còn là nhà báo, nhàkhảo cứu, phê bình văn học Ông viết nhiều thể loại khác nhau Khối lượngtác phẩm mà ông để lại khá đồ sộ, có thể kể đến như: gần 1500 bài báo, 2
cuốn tiểu thuyết (Tắt đèn, Lều chõng), 2 tập phóng sự (Việc làng, Tập án cái đình), và rất nhiều các tác phẩm khác như truyện kí lịch sử, tác phẩm dịch
thuật thơ, truyện ngắn, truyện vừa Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của NgôTất Tố chúng tôi tập trung nghiên cứu những tác phẩm đặc sắc đã làm nênphong cách nghệ thuật, khẳng định vị trí của nhà văn Chúng tôi chọn khảosát, nghiên cứu và tập trung tìm hiểu phân tích ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô
Tất Tố trong các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự của nhà văn trước Cách mạng.
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong các sáng tác của Ngô Tất Tốnhằm chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, nêu bật những nétriêng độc đáo tạo nên phong cách nghệ thuật của ông, đồng thời cũng xácđịnh rõ vị trí và những đóng góp của nhà văn trong tiến trình phát triển củavăn xuôi hiện đại Việt Nam Bên cạnh đó, luận án cũng chỉ ra những hạn chế
về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
niệm ngôn ngữ nghệ thuật và một số khái niệm, thuật ngữ liên quan như:
Trang 11ngôn từ nghệ thuật, lời văn nghệ thuật; đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật và cácthành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật của văn xuôi
trên thế giới và Việt Nam, tình hình nghiên cứu về Ngô Tất Tố và ngôn ngữnghệ thuật của nhà văn
bao gồm các yếu tố về hoàn cảnh xã hội văn hóa, văn học đầu thế kỉ XX, hoàncảnh cá nhân nhà văn
Tố
phương diện: ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và một số phương tiệnnghệ thuật đặc sắc khác
giai đoạn văn học Từ đó, tìm ra những nét riêng và những đóng góp của tácgiả đối với tiến trình ngôn ngữ của văn xuôi Việt Nam
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu tác giả
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của một tác giả cần phải đặt đối tượngnghiên cứu trong mối quan hệ với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhàvăn Vì vậy chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu này trong toàn bộ quátrình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tât Tố
4.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Ngôn ngữ có cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống cấu trúcbao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy tất cả các vấn đề
cụ thể được triển khai nghiên cứu sẽ phải đặt trong mối quan hệ hệ thống.Trong luận án để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố chúngtôi đã tìm hiểu, đặt nó trong mối quan hệ logic chặt chẽ từ việc tìm hiểu hoàncảnh lịch sử xã hội, hoàn cảnh cá nhân, quan điểm sáng tác, nguyên tắc tưtưởng của tác giả, nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 124.3 Phương pháp thống kê phân loại
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phânloại các đối tượng nghiên cứu dựa trên các tác phẩm của nhà văn, giúp cho sựphân tích, đánh giá có căn cứ xác thực Trong luận án chúng tôi đã khảo sátcác vấn đề sau: khảo sát các tác phẩm của Ngô Tất Tố về: ngôn ngữ đối thoại,độc thoại, số lượng sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, từ láy, từ tượng thanh…;khảo sát các tác phẩm của các nhà văn hiện thực khác như Vũ Trọng Phụng,Nguyên Hồng, Nam Cao… Qua đó thu thập số liệu thống kê, phân tích cácđối tượng tương đồng nhằm thấy rõ những điểm chung và những điểm khácbiệt của nhà văn Ngô Tất Tố với các nhà văn khác
4.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp này sử dụng nhằm tìm ra nét riêng biệt, đặc điểm của ngônngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố Trong quá trình tìm hiểu và phân tích từng tácphẩm của Ngô Tất Tố, từng khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn,chúng tôi luôn đặt trong sự so sánh, đối chiếu với các nhà văn khác, đặc biệtcác nhà văn cùng thời với Ngô Tất Tố nhằm tìm ra những nét riêng, độc đáocủa nhà văn về cách tổ chức lời văn nghệ thuật, về phong cách nhà văn
4.5 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này dùng phân tích một cách kĩ lưỡng các tác phẩm củaNgô Tất Tố, sau đó tổng hợp khái quát chỉ ra những đặc điểm riêng về ngônngữ nghệ thuật của nhà văn Phương pháp này được chúng tôi sử dụng thườngxuyên trong quá trình triển khai luận án
4.6 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Ngôn ngữ nghệ thuật có liên quan đến các lĩnh vực khác như: văn học,ngôn ngữ học, văn hóa, thi pháp học, phong cách học Do vậy chúng tôi vậndụng phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học liên quan để bổ sung,
hỗ trợ làm rõ vấn đề nghiên cứu Mỗi một đặc điểm, nhận định về ngôn ngữnghệ thuật của nhà văn đều được đặt trong trường liên tưởng về bối cảnh vănhóa trước đó và hiện nay và được phân tích trong khung lý thuyết của khoahọc cơ bản như ngôn ngữ học, thi pháp học
Trang 13Luận án góp phần nghiên cứu sâu hơn về phong cách nghệ thuật của NgôTất Tố, khẳng định vị trí của nhà văn, bổ sung và làm dầy thêm các công trìnhnghiên cứu về ông.
Qua đó, luận án góp phần tìm hiểu thêm về đặc điểm, tiến trình vận độngcủa ngôn ngữ nghệ thuật văn xuôi Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX
5.2 Luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các giáo viên, họcsinh, sinh viên khi tìm hiểu, giảng dạy về Ngô Tất Tố
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài các phần: phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục; luận án gồm 4 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Những yếu tố tiền đề và nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố
Chương 3: Ngôn ngữ trần thuật và một số phương tiện nghệ thuật tiêu biểu trong sáng tác của Ngô Tất Tố
Chương 4: Ngôn ngữ nhân vật trong sáng tác của Ngô Tất Tố
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và một số thuật ngữ liên quan
Ngôn ngữ nghệ thuật “là một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật Người ta có thể nói đến ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của sáng tác văn học trên cấp độ đó” [154, tr187] Thuật ngữ ngôn ngữ nghệ
thuật rất gần nghĩa với các thuật ngữ ngôn ngữ, ngôn ngữ văn học, ngôn từnghệ thuật, lời văn nghệ thuật…Đây là những thuật ngữ có nét nghĩa tươngđồng nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau nên cần phân biệt
Ngôn ngữ là gì? Có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về
ngôn ngữ hay ngôn ngữ tự nhiên Ở đây chúng tôi hiểu theo quan niệm củaLại Nguyên Ân trong cuốn “ 150 thuật ngữ văn học” (NXB Đại học QuốcGia, năm 1999) Theo đó, ngôn ngữ là hệ thống phức tạp con người sử dụng
để liên lạc hay giao tiếp với nhau Là hệ thống thông tin liên lạc được sử dụngbởi một cộng đồng hoặc quốc gia cụ thể Ngôn ngữ là phương tiện để bảo lưu
và truyền thông tin, là một trong những phương tiện điều chỉnh hành vi conngười Ngôn ngữ tồn tại dưới dạng nói và dạng viết Ngôn ngữ thường đượchiểu là ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ quốc gia Ngôn ngữ dân tộc là phươngtiện giao tiếp bằng lời nói và chữ viết của một cộng đồng dân tộc Ngôn ngữdân tộc là ngôn ngữ toàn dân, nó bao gồm toàn bộ các biến thức về phươngngữ, ngôn ngữ thông tục, ngôn ngữ văn học; các biến thức này được thốngnhất bởi có chung một vốn từ cơ bản, một hệ thống ngữ pháp và (ở mức độnhất định) một hệ thống ngữ âm Như vậy, ngôn ngữ mới chỉ là chất liệu của
Trang 15tác phẩm văn học, để biến ngôn ngữ đó thành ngôn ngữ nghệ thuật cần mộtquá trình lao động công phu, gian khổ của nhà văn.
Ngôn ngữ văn học là thuật ngữ dùng để “chỉ một cách khái quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản Nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn hóa, văn học và khoa học” [159, tr149] Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được dùng
trong các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình,xuất bản phẩm), nhà trường, sân khấu, khoa học, văn học, giấy tờ quanphương, sự vụ Ngôn ngữ văn học đối lập với ngôn ngữ thông tục, cácphương ngữ khu vực, các phương ngữ xã hội Các chuẩn mực ngôn ngữ vănhọc là các chuẩn mực toàn dân, nhằm mục đích chính là để toàn dân hiểuđược Theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được dùng trong các tácphẩm văn học Đó là ngôn ngữ đời sống được nhà văn chọn lọc, sử dụngtrong tác phẩm để xây dựng hình tượng nhân vật, phản ánh những vấn đề củacuộc sống, thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống, về con
người Ngôn ngữ văn học là phương tiện thông tin của văn học ( xem 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân)
Ngôn từ nghệ thuật và lời văn nghệ thuật: Ngôn từ trong sáng tác văn học là ngôn từ “có tính văn học, có cách tổ chức, kết hợp đặc biệt để gây chú
ý vào bản thân nó và do đó tăng cường hiệu quả biểu đạt nghệ thuật” [53, tr 105] Còn ngôn từ nghệ thuật “là ngôn từ được sáng tạo nhằm mục đích nghệ thuật, gắn liền với sáng tạo hình tượng nghệ thuật” [53, tr 108] Thuật ngữ lời văn nghệ thuật được hiểu là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học” [155, tr141].
Như vậy thuật ngữ ngôn ngữ nghệ thuật có phạm vi hẹp hơn các thuật
Trang 16ngữ ngôn ngữ, ngôn ngữ văn học nhưng rộng hơn so với thuật ngữ ngôn từnghệ thuật và lời văn nghệ thuật Các thuật ngữ này có nét nghĩa trùng nhaunên trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học hay tácgiả văn học, người ta thường đồng nhất chúng với nhau Tuy nhiên cần khẳngđịnh thuật ngữ lời văn nghệ thuật chỉ dùng trong tác phẩm văn học, khôngdùng trong các tác phẩm thuộc loại hình khác Song việc cần phân biệt ở đây
là tính toàn vẹn, cụ thể, sinh động, giá trị thẩm mĩ, tính sáng tạo độc đáo củangôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn học chứ không phải ngôn ngữtrong các hoạt động giao tiếp hay ngôn ngữ ở dạng chất liệu sáng tác nóichung
Ngôn ngữ nghệ thuật là dạng ngôn ngữ được dùng để biểu đạt nội dung
hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (sáng tác lời truyền miệng vàvăn học viết) Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tácphẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhucầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp đặt, lựa chọn,tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt giá trị nghệ thuật- thẩm mĩ “
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ mẫu mực đã được chuẩn hóa phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa người với người, và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy, phát triển tâm lý, trí tuệ và toàn bộ các hoạt động tinh thần của con người” [155, tr172] Xét về chất liệu, ngôn ngữ
nghệ thuật có thể sử dụng là ngôn ngữ toàn dân, hay kể cả các phương ngữ,biệt ngữ, văn xuôi sự vụ, văn xuôi khoa học Nhưng điểm khác biệt là ngônngữ nghệ thuật mang cá tính sáng tạo của nhà văn Nhà văn có thể sử dụngngôn ngữ toàn dân làm chất liệu để dệt nên những tác phẩm văn học củamình Và qua lăng kính chủ quan của họ, đặt trong ý đồ sáng tạo các tácphẩm nghệ thuật của họ, biến ngôn ngữ toàn dân đó trở nên sống động, đầythẩm mĩ và hướng tới chủ đích của nhà văn M Bakhtin cho rằng nghệ sĩ
Trang 17không chỉ coi ngôn ngữ như là ngôn ngữ (đó là nhiệm vụ của các nhà ngônngữ học), họ đã gia công ngôn ngữ, khắc phục ngôn ngữ như là ngôn ngữ đểbiến nó thành phương tiện biểu hiện nghệ thuật Còn nhà phê bình cấu trúcluận R.Barthes cho rằng, nó không giống như những viên gạch xây nhà, màchúng sinh sôi trong nhau, tạo sinh nghĩa mới trong trường ngữ nghĩa màchúng đi vào do sự lựa chọn và kết hợp của người sáng tạo Nó không giống
các kí hiệu thông thường Trần Đình Sử khẳng định dứt khoát: “Do vậy khi nói văn học là nghệ thuật ngôn từ, ta chỉ nói tới một loại hình của nghệ thuật đó- tức là loại hình sử dụng ngôn từ để sáng tạo ra thế giới nghệ thuật, vì mục đích nghệ thuật.” [175, tr 98] Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ mang đậm
cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, nó còn bị chi phối bởi thể loại văn học,khuynh hướng, trào lưu sáng tác
Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật: Mỗi một nhà ngôn ngữ học khi bàn
về đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật đều đưa ra quan điểm riêng và lý giảiquan điểm đó Đinh Trọng Lạc chỉ ra 4 tính chất: tính cấu trúc, tính hình
tượng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa (Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt,
1993) Một số khác bổ sung thêm tính biểu cảm, tính truyền cảm, tính thẩmmĩ Trong luận án này chúng tôi tạm thời phân tích kĩ 3 đặc trưng cơ bản củangôn ngữ nghệ thuật mà theo chúng tôi mang nét đặc trưng của ngôn ngữ
nghệ thuật và ngôn ngữ văn xuôi Đó là: tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể Trong đó: tính hình tượng tạo nên sự khác biệt của ngôn ngữ nghệ
thuật văn học Hình tượng trong văn học không thể nhìn một cách trực quan
mà thông qua kí hiệu ngôn từ, ý đồ sáng tạo của nhà văn và người đọc hìnhdung, tưởng tượng Ngôn ngữ có tính hình tượng không chỉ miêu tả sự vật,hiện tượng mà còn gợi cho người nghe, người đọc những liên tưởng, tưởng
tượng phong phú Tính truyền cảm hay tính biểu cảm: ngôn ngữ văn học có
khả năng gây ấn tượng mạnh, truyền cảm xúc, lay động tình cảm…với người
Trang 18nghe, người đọc Tính cá thể là dấu ấn riêng của mỗi người, lặp đi, lặp lại qua
nhiều trang viết, tạo nên phong cách nghệ thuật của tác giả Tính cá thể hóacủa ngôn ngữ còn thể hiện trong lời nói nhân vật của tác phẩm Tính cá thểgiúp bạn đọc hình dung phong cách ngôn ngữ của từng nhà văn, từng tácphẩm văn học Mỗi nhà văn có phong cách ngôn ngữ riêng Phong cách đótạo nên bởi nhiều yếu tố: vốn văn hóa, vốn sống, vốn hiểu biết, hoàn cảnhsống, cá tính sáng tạo của từng nhà văn…
1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật của văn xuôi
Phân biệt ngôn ngữ thơ và văn xuôi: Mỗi thể loại thơ và văn xuôi đều có
lối tổ chức ngôn từ nghệ thuật theo cách thức riêng, làm nên sự khác biệt.Ngôn ngữ thơ tuân theo các lề luật, ngôn ngữ văn xuôi thể hiện một cấu trúcngữ pháp, gần với ngôn ngữ tự nhiên Dòng ngôn từ trong thơ phân chia theongữ đoạn, trong văn xuôi chia theo quy tắc cú pháp Dòng ngôn từ văn xuôiđược chia thành những câu, đoạn vốn có trong lời nói thường ngày nhưng đãđược tu chỉnh, sắp xếp lại Samuel Taylor Coleridge định nghĩa một cách ngắn
gọn: “ Văn xuôi là các từ được sắp xếp hay nhất Thơ là các từ hay nhất được sắp xếp theo cách hay nhất” ( Webster’s Unabridged Dictionary, 1913 University of Chicago)
Đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn xuôi: M.M Bakhtin đã chỉ ra tính chất đặc biệt của văn xuôi nghệ thuật khi ông tuyên bố rằng: “ Nhà tiểu thuyết viết văn xuôi ( và nói chung, mọi người viết văn xuôi) không cần phải tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chí và giọng điệu của người khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trong chúng, không gạt bỏ những gương mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng ( những nhân vật kể chuyện tiềm năng) lấp ló đằng sau các từ ngữ và hình thức ngôn ngữ, nhưng anh ta xếp đặt tất cả những từ ngữ và hình thức ấy ở những khoảng cách khác nhau so với cái hạt nhân hàm nghĩa cuối cùng của tác phẩm mình, cái trung tâm ý chí
Trang 19của chính mình” [ 13, tr111] Ngôn ngữ văn xuôi mang đậm hơi thở của cuộc
sống, của thời đại Nhìn nhận lại chặng đường phát triển của văn học chúng ta
có thể nhận thấy đặc điểm riêng của ngôn ngữ văn xuôi nói riêng ( ngôn ngữvăn học nói chung) từng thời kì Văn học dân gian ngôn từ mang tính rậpkhuôn, tính cộng đồng, đồng nhất phù hợp với chức năng truyền miệng, dễthuộc, dễ nhớ Văn học trung đại là ngôn ngữ giàu tính ước lệ, tượng trưng,ngôn ngữ hoa mĩ, sách vở… Văn học hiện đại (đặc biệt dòng văn học hiệnthực phê phán) là ngôn ngữ đời sống: đa dạng, phong phú, phức tạp, gai góc,
tự nhiên như đời sống
Ngôn ngữ nghệ thuật văn xuôi bao gồm các thành phần cơ bản: ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm văn
học tự sự là lời của tác giả, của người trần thuật, hoặc của người kể chuyện,tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ lời nói trực tiếp của nhân vật.Trần thuật bao gồm việc kể và miêu tả các hành động và các biến cố trongthời gian; mô tả chân dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh ; bàn luận;
lời nói bán trực tiếp của các nhân vật Ngôn ngữ trần thuật bao gồm: lời tả, lời kể, lời trữ tình ngoại đề Do vậy trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu
tạo tác phẩm tự sự Ngôn ngữ nhân vật là lời nói, lời đối thoại trực tiếp củanhân vật trong tác phẩm Ngôn ngữ nhân vật phản ánh tính cách của nhân vật,
nó vừa mang tính cá thể hóa, vừa mang tính khái quát Tính cá thể hóa thểhiện trong ngôn ngữ, giọng điệu, lời nói riêng của từng nhân vật tạo nênnhững biểu hiện độc đáo, cá tính của nhân vật đó Đồng thời ngôn ngữ nhânvật là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ đời sống mà mỗi nhânvật đại diện cho từng lớp người trong xã hội Ngôn ngữ nhân vật cũng mangđậm cá tính sáng tạo của nhà văn Nhà văn không thể bê nguyên si các câu nóingoài cuộc đời vào văn học mà xây dựng hình tượng ngôn ngữ của từng nhânvật Mỗi nhân vật thường có một giọng điệu riêng, hay dùng một số từ ngữriêng
Trang 20Trong đó ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ đối đáp trực tiếp của các nhân vậttrong tác phẩm Nó gắn với các hành vi ngôn ngữ, tình huống giao tiếp cụ thể.Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ độc thoại nội tâm của nhân vật Đóchính là lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện quá trìnhdiễn biến tâm lý của nhân vật, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật.
Trên thế giới, trong những năm đại chiến thế giới lần thứ 1, trước Cáchmạng tháng Mười, nhóm nghiên cứu chuyên đề Puskin của giáo sư Vengerov
đã nghiên cứu ngôn ngữ thơ, nhịp điệu vần và cấu trúc thơ Cùng thời gian đó
là sự ra đời của Opojaz, sau này là trường phái hình thức Nga vào đầu thế kỉ
XX với các tác phẩm nghiên cứu về ngôn ngữ như: Hợp tuyển các bài nghiên cứu về lý luận ngôn ngữ thơ (1916 – 1917) Năm 1919, Opojaz xuất bản hợp tuyển đầu tiên của loạt bài nghiên cứu mang tên Thi pháp Hợp tuyển này cho
thấy quan điểm cơ bản của các nhà hình thức chủ nghĩa về thơ Các tác giả đã
cố gắng xác định vai trò của ngôn ngữ trong tác phẩm như là yếu tố đặc biệttạo điều kiện cho sự tồn tại của tác phẩm văn học Những thành tựu của ngônngữ học hiện đại đã đóng vai trò to lớn trong việc hình thành lý luận văn họccủa các nhà hình thức chủ nghĩa Nga Từ những năm 20 trở đi đã có sự thayđổi cơ bản về phương pháp của trường phái này Họ quan niệm tác phẩm vănhọc là một chỉnh thể thống nhất, sinh động và có kết cấu Với những luậnđiểm đó, lý luận văn học của trường phái hình thức Nga đã đạt đến trình độmới trong quan niệm về tính nội tại của văn học Sau này, những năm 90, xuhướng nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong mối quan hệ với phong cáchnhà văn bắt đầu được quan tâm đến Các nhà nghiên cứu Xô Viết khi tìm hiểu
về phong cách của nhà văn đã khẳng định vai trò không nhỏ của ngôn ngữ
nghệ thuật M.Bakhtin đã nêu lập trường của mình một cách rõ ràng: “Nói chung, nếu vẫn đứng trong giới hạn của phong cách học ngôn ngữ học thì không thể khảo sát được nhiệm vụ thực sự của phong cách Không có một
Trang 21cách định nghĩa hình thức ngôn ngữ học nào về lời văn mà không che đậy mất chức năng nghệ thuật của nó trong tác phẩm Các nhân tố cấu tạo phong cách thực sự vẫn còn nằm ngoài trường nhìn của phong cách ngôn ngữ học”[12, tr128] Cùng quan điểm này Turin cho rằng: “Phong cách- đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” [106, tr 260] V.V.Vinogradov còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: “Chiếm vị trí trung tâm trong phong cách văn học là những quan sát và nghiên cứu trong lĩnh vực các quy luật hình thành
và phát triển của các hệ thống biểu hiện ngôn từ nghệ thuật” Như vậy, việc
nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học đã được đặt ra và quan tâm
từ rất lâu trên thế giới Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy vai trò đặc biệt củangôn ngữ trong mối quan hệ nội tại với các thành phần cấu trúc của văn bảnnghệ thuật và thông tin giao tiếp với bạn đọc cũng như góp phần hình thànhphong cách nhà văn
Ở Việt Nam, nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật cũng đã bắt đầu manhnha từ những năm 90 của thế kỉ trước Nhưng đó chỉ là những nghiên cứu đơn
lẻ chứ chưa thành một quan điểm tiếp nhận văn chương hay một xu hướngnghiên cứu văn học Những công trình nghiên cứu mang dấu ấn cá nhân,mang tính dự cảm nhiều hơn Đầu tiên phải kể đến một vài công trình nghiên
cứu về lý thuyết như: Những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết (Phan Cự Đệ, 1974), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại và Dẫn luận thi pháp học (Trần Đình Sử, 1998) Sau này xuất hiện một số công trình ứng
dụng lý thuyết ngôn ngữ vào nghiên cứu tác giả như: Phan Ngọc với công
trình “Tìm hiểu phong cách Nguyến Du qua Truyện Kiều” ( 1985), Đỗ Lai Thúy “Con mắt thơ” (1992) sau đổi thành “Mắt thơ” (2000) Có thể nói,
những công trình nghiên cứu này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới:nghiên cứu tác giả không chỉ nghiên cứu về cuộc đời, con người, hoàn cảnh
Trang 22xã hội mà từ chính tác phẩm của họ Khi xuất phát từ chính tác phẩm- con
đẻ tinh thần của nhà văn thì các nhà nghiên cứu bắt đầu nhận thấy tầm quantrọng của ngôn ngữ nghệ thuật Nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền đã dànhmột chương viết về ngôn ngữ nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực trong cuốn
sách “Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX” Trong
đó tác giả đã phân tích những khuynh hướng và đặc điểm ngôn ngữ nghệthuật của chủ nghĩa hiện thực Tác giả phân tích, lý giải những đặc điểm ngôn
ngữ nghệ thuật nổi bật của một số nhà văn hiện thực, mà ông gọi là “ những bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật” như: Nguyễn Công Hoan, Vũ
Trọng Phụng, Nam Cao Qua kể tên một số công trình tiêu biểu nêu trên,chúng tôi nhận thấy: các nhà nghiên cứu đã phân tích rõ tầm quan trọng củangôn ngữ trong việc tạo ra giá trị và dấu ấn riêng cho tác phẩm văn học Ngôn
ngữ là chất liệu tạo nên tác phẩm Hơn thế “ Ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, cái vỏ chứa tư tưởng mà còn sản sinh ra tư tưởng” [194, tr 123- 124] Với các sáng tác văn học, ngôn ngữ tạo nên những nét riêng, mang đến sức cuốn hút, hấp dẫn cho mỗi tác phẩm Tuocghenhep cho rằng: “Cái quan trọng trong tài năng văn học( ) cũng có thể trong bất kì một tài năng nào, là cái tôi muốn gọi là giọng nói của mình ( ) Quan trọng là những giọng nói riêng biệt, sống động của mình, cái mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác Chính ở chỗ đó là điểm khác biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo, sống động” [105, tr 116] Những năm gần đây, với sự
gia tăng về số lượng các luận án nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật tạitrường Đại học Sư phạm Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác cũng cho thấy đây
là hướng nghiên cứu đúng và ngày càng được quan tâm Chúng tôi kể đến
một số luận án tiêu biểu như: Đặc điểm lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng trước 1945 (Lê Hồng My), Ngôn ngữ nghệ thuật của Nam Cao trong sáng tác trước Cách mạng tháng Tám- 1945 (Lê Hải Anh), Ngôn ngữ nghệ thuật Vũ Trọng Phụng trong tiểu thuyết và phóng sự (Nguyễn Văn Phượng), Lời văn
Trang 23nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp ( Nguyễn Văn Đông), Lời văn nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu (Phạm Thị Thanh Nga), Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Đinh Thị Thu Hà), Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài (Vũ Thúy Nga), Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi của Ma Văn Kháng (Đoàn Tiến Dũng)
Sơ lược tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật củanhà văn, chúng tôi nhận thấy: ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò đặc biệt quantrọng, nó là “chìa khóa” để mở cánh cửa bước vào tác phẩm văn học để từ đókhám phá, tìm hiểu thế giới hình tượng, nội dung, tư tưởng của tác phẩm.Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện trực tiếp để tìm hiểu tác phẩm nhưngcũng là yếu tố quan trọng hình thành phong cách nhà văn
1.2 Tình hình nghiên cứu về Ngô Tất Tố và ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố
1.2.1 Nghiên cứu về Ngô Tất Tố
Ngô Tất Tố mất năm 1954 Cho đến nay hơn một thế kỉ đã trôi qua,nhưng các công trình nghiên cứu về ông vẫn ngày càng dày thêm, phong phúthêm Các công trình nghiên cứu bao gồm: các giáo trình dạy học, các sáchchuyên khảo, các bài viết, bài phê bình đăng trên báo, tạp chí Các công trình
tiêu biểu như: Bước đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố
của Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ, đây là công trình nghiên cứu đầu tiênđánh giá về chặng đường phát triển sự nghiệp của tác giả Công trình nghiêncứu này đã mô tả, khái quát toàn diện về cây bút Ngô Tất Tố với những nhậnđịnh chính xác về con người và sự nghiệp viết báo, làm văn của ông Cuốnsách đưa ra những luận điểm xác đáng và chứng minh thuyết phục cho nhữngluận điểm đó như: “Ngô Tất Tố- một nhà nho nghèo tiến bộ”, “Một cây bútchiến đấu sắc bén trong làng báo thời Pháp thuộc”, “Nghệ thuật viết tiểu
phẩm độc đáo”, “Tắt đèn- một tác phẩm hiện thực xuất sắc” Sau đó, kỉ
niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn (1893- 1993) với sự ra đời của hai cuốn
Trang 24sách: Ngô Tất Tố, nhà văn hóa lớn của Hoài Việt sưu tầm và biên soạn (NXB Văn hóa 1993) , Ngô Tất Tố với chúng ta của Mai Hương sưu tầm và biên
soạn (NXB Hội nhà văn, 1993) đã giúp ích rất nhiều cho giới nghiên cứu khitìm hiểu về nhà văn Hai cuốn sách trên đã sưu tầm, thống kê, phân loại toàn
bộ các bài viết đơn lẻ về Ngô Tất Tố trên các báo, tạp chí từ trước đó giúpngười đọc dễ dàng tra cứu, tìm hiểu.Mỗi cuốn sách mang đến cho người đọc
những cảm nhận thú vị về tác giả Ngô Tất Tố với chúng ta là những hồi ức
đẹp đẽ của những người bạn văn về Ngô Tất Tố Con người, cuộc sống, quanđiểm viết văn của ông hiện lên sống động qua những trang viết của ĐỗNgọc Toại, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân
Ngô Tất Tố, nhà văn hóa lớn lại mang đến cho người đọc những nhận định
mới mẻ về sự nghiệp văn học Ngô Tất Tố với giá trị văn hóa mà các tác phẩmcủa ông đề cập đến Những công trình trên xuất hiện những năm 90 của thế kỉtrước Sau này (sau năm 2000) cũng có thêm một số công trình nghiên cứu
toàn diện về tác giả như: Di sản báo chí Ngô Tất Tố, ý nghĩa lý luận và thực tiễn (Phan Cự Đệ chủ biên), Ngô Tất Tố, về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác giả), Ngô Tất Tố một sự nghiệp lớn về văn học và báo chí (Trần Thị Phương
Lan) Ngoài ra còn một loạt các bài nghiên cứu khái quát về tác giả trong các
giáo trình giảng dạy như Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Phan Cự Đề chủ biên ( 2004), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 1, Trần Đăng Suyền chủ
biên ( 2015) Với khuôn khổ của luận án này chúng tôi không thể kể hết cáccông trình nghiên cứu đó Do vậy chúng tôi chọn cách tổng hợp các côngtrình nghiên cứu và phân loại chúng theo vấn đề nghiên cứu Khi tìm hiểu cácbài viết, các công trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố chúng tôi nhận thấy cácsáng tác của nhà văn được giới nghiên cứu phê bình văn học bàn bạc, trao đổi
và làm sáng tỏ trên nhiều phương diện Chúng tôi tạm thời chia các vấn đề đãđược giới nghiên cứu đề cập đến như sau:
sáng tác của nhà văn.
Trang 25Tác giả của nhóm bài viết này là các nhà nghiên cứu phê bình đã trựctiếp gặp gỡ, tiếp xúc với Ngô Tất Tố, là đồng nghiệp, bạn bè của nhà vănnhư Đỗ Ngọc Toại, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nguyên Hồng,
Vũ Ngọc Phan, Hoàng Trung Thông, Kim Lân, Đinh Gia Viễn,
Các bài viết tập trung khắc họa bức chân dung Ngô Tất Tố rất chân thực,gần gũi và vô cùng xúc động Ngô Tất Tố hiện lên qua những trang viếtnày là một nhà nho có đời sống thanh bạch, được học hành bài bản Cònvới tư cách một nhà văn mọi người đều nhìn thấy ở ông một cây bút sắc sảo,bản lĩnh, quan điểm nhất quán, rõ ràng
Đầu tiên phải kể đến những hồi ức của Đỗ Ngọc Toại về người bạn thân
Ngô Tất Tố Bài báo “ Nhớ người bạn khuất núi” của Đỗ Ngọc Toại đăng trên
Báo văn nghệ 5/4/1974 sau 20 năm ngày mất của Ngô Tất Tố đã kể về quãngđời thi cử lận đận, cuộc sống nghèo khó của nhà văn Bên cạnh đó là những câuchuyện thú vị của hai người bạn về quan điểm văn chương Đỗ Ngọc Toại nhận
xét: “ Cũng vì sống chung với nông dân, thông cảm với nỗi đau khổ của nông dân mà văn của anh thường có quan điểm nhân dân, quan điểm hiện thực chủ nghĩa Anh ghét lối văn phù phiếm, không thiết thực, anh cho những lối văn ấy không có ích gì cho ai, không đáng gọi là văn” [98, tr 27]
Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan, thế hệ đàn em so với Ngô Tất Tố
cũng có những mô tả chân thực về nhà văn khi mới gặp: “ Tôi ngạc nhiên: “ Sao con người lầm lỳ, ít nói, mà đến khi viết lại hăng như vậy!” Anh ít nói như để dành lời đanh thép trút lên trang giấy Tuy nét mặt anh cương nghị, nhưng anh thường nheo mắt cười một vẻ rất hiền ” “ Hình như lúc nào anh cũng kìm lại mọi ý nghĩ và tình cảm, đúc kết lại trong trí não để đưa vào tác phẩm Anh ăn mặc xuyềnh xoàng, quanh năm chỉ cái áo the thâm, cái quần trúc bâu, đôi giầy bạ” [161, tr 36] Bài viết của nhà văn Nguyễn Công Hoan
có cách đánh giá khác về việc ảnh hưởng của vốn sống, vốn văn hóa đến sáng
tác của nhà văn: “Ông là một nhà nho thuần túy, không biết một tiếng Pháp
Trang 26nào Thế thì hẳn là ông gần văn học Trung Quốc hơn văn học Pháp, và khi viết truyện, hẳn là ông chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc hơn tiểu thuyết Tây Thế mà trái lại, nhiều đoạn ở trong Tắt đèn chẳng hạn, ta thấy từ cách hành văn cũng như cách tả cảnh, Ngô Tất Tố đã gần tiểu thuyết Tây hơn tiểu thuyết Trung Quốc.” [98, tr 52] Nhà văn Nguyên Hồng, sau mấy tháng khi Ngô Tất Tố mất, đã xúc động viết “ Ngô Tất Tố với chúng ta” (tạp chí Văn nghệ tháng 8/ 1954), trong đó có đoạn: “Cái hình ảnh Ngô Tất Tố dứt khoát với thù địch , không đội giời với thù địch, cái hình ảnh đôi mắt kính vằng vặc say mê cúi xuống những giòng chữ rắn rỏi rõ ràng miết lên những trang giấy vàng ngà trên mặt bàn tre làm việc, hình ảnh đó chúng ta luôn tưởng nhớ, xót xa, thương tiếc.”
Sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn,phóng sự, tiểu phẩm Bàn về sự nghiệp văn chương của ông là chủ đề được nóiđến nhiều nhất trong giới nghiên cứu phê bình văn học Phần lớn các bài viết, cáccông trình nghiên cứu đều đánh giá cao sự đóng góp của ông với văn học Trongluận án này chúng tôi chọn cách thống kê theo mảng vấn đề nghiên cứu Cáchlàm này giúp chúng tôi tổng hợp, khái quát, chọn lọc được các mảng nghiên cứu
đã được bàn bạc và xác định được vấn đề còn bỏ trống, chưa đề cập tới
Nghiên cứu kĩ các tài liệu chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu, phê bìnhvăn học có những điểm chung khi đánh giá về nhà văn Ngô Tất Tố như sau:
Thứ nhất:Các nghiên cứu đều khẳng định: Ngô Tất Tố là nhà văn hàng
đầu của trào lưu hiện thực phê phán, nhà văn của người nông dân
Tắt đèn là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố Ngay từ khi mới ra
đời, nó đã được các nhà văn đương thời ca tụng Nhà văn Vũ Trọng Phụng
từng khen ngợi Tắt đèn “ là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy,
mà lại của một tác giả được cái may hơn nhiều nhà văn khác là được sống ở
Trang 27nhiều thôn quê Đọc quyển “Tắt đèn” này những độc giả khó tính sẽ cũng phải chịu rằng óc quan sát của Ngô Tất Tố về những cảnh làm ruộng, thu thuế, chè chén, xôi thịt, hà lạm, ức hiếp, bán vợ đợ con của đám dân quê quả
là một thứ óc quan sát rất tinh tường, rất chu đáo” [98, tr 58- 59].
Còn Nguyễn Công Hoan thì lý giải sức mạnh tố cáo của tiểu thuyết Tắt đèn bằng tình yêu với người nông dân của Ngô Tất Tố Trong bài “Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố”, ông viết: “Là cuốn tiểu thuyết in bằng giấy trắng mực đen, nhưng đồng thời nó là tâm hồn của tác giả tha thiết yêu nông dân, tố cáo một chế độ cần phải đạp đổ, từ tầng trên là bọn đế quốc thống trị, đến tầng giữa là bọn quan lại tay sai, cho đến tầng dưới của nó là bọn Tổng Lý cường hào gà què ăn lẩn cối.” [ 210, tr 94]
Cùng bàn về Tắt đèn tác giả Trần Đăng Suyền đã khẳng định vị trí đặc biệt của tiểu thuyết này trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố: “Thành tựu văn học của Ngô Tất Tố chủ yếu được kết tinh ở tiểu thuyết “ Tắt đèn” (1939) Cuốn tiểu thuyết xuất sắc này đã khẳng định dứt khoát Ngô Tất Tố xứng đáng với danh hiệu nhà văn của nông thôn và người nông dân, xác định vị trí đầy vinh dự của ông trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại” [183, tr 290]
Việc làng đánh dấu sự thành công của Ngô Tất Tố ở một thể loại
khác-thể loại phóng sự Với phóng sự này, Ngô Tất Tố đã ghi lại trung thực, sốngđộng hủ tục phổ biến ở nông thôn Việt Nam thời trước Cách mạng tháng tám
Vì vậy với Việc làng, nhà văn khẳng định chắc chắn vị trí đầy danh dự của
ông trong làng văn học hiện thực phê phán Việt Nam bấy giờ, nhà văn củangười nông dân, của vùng nông thôn Việt Nam trước Cách mạng
Phan Cự Đệ sau khi phân tích giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tập phóng
sự Việc làng, khẳng định: “Viết Việc làng, chẳng những Ngô Tất Tố đã tỏ ra
là một nhà văn cương trực, có tính chiến đấu mà còn tỏ ra là một nhà văn hiểu biết sâu sắc về nông thôn Không phải Ngô Tất Tố chỉ thông thạo các “
Trang 28việc làng” mà Ngô Tất Tố còn hiểu rất rõ con người ở nông thôn Chẳng những Ngô Tất Tố có con mắt quan sát tỉ mỉ và ngòi bút miêu tả tinh tế mà cái chính là Ngô Tất Tố rất thông hiểu tư tưởng, tình cảm, tâm lý của những người ở nông thôn Những ai đã có dịp sống lâu ở nông thôn, khi xem Việc làng đều phải nhận rằng, nếu không phải là một người đã từng sinh trưởng ở nông thôn, lăn lộn trong cuộc sống thực tế ở nông thôn thì không thể nào viết được như vậy” [44, tr 145, 146]
Phong Lê cho rằng Việc làng phản ánh “tận chiều sâu những cội rễ của
cả hai mặt phong tục và hủ tục, nó tồn tại dai dẳng đến thế, không chỉ đến thời Ngô Tất Tố viết Việc làng, mà cho cả đến hôm nay” (tạp chí Sông
Hương, tháng 12, năm 2003)
Có thể khẳng định rằng, các nhà nghiên cứu phê bình văn học đã dànhnhững lời ngợi ca cao nhất nhưng cũng vô cùng chính xác về những đóng gópcủa Ngô Tất Tố với khuynh hướng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945nói riêng và văn học hiện đại nói chung Ông đã mang đến một tiếng nói chânthực, sống động, một nét vẽ độc đáo và đặc sắc cho bức tranh xã hội ViệtNam những năm đầu thế kỉ - mảng nông thôn Việt Nam Nghĩ đến ông, điềuđầu tiên chúng ta khắc ghi: Ngô Tất Tố là nhà văn của nông dân, nông thônViệt Nam
Thứ hai: Các nghiên cứu đề cập đến sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, sự thíchứng thời cuộc trong một số sáng tác của Ngô Tất Tố
Ngô Tất Tố là một nhà Nho cho nên nền văn hóa cũ thấm sâu vào ông.Ông từng mang lều chõng đi thi, từng đỗ đạt Ông thuộc thế hệ những nhàNho cuối mùa như Nguyễn Trọng Thuật, Mai Đăng Đệ, Phạm Quế Lâm,Nguyễn Khắc Hiếu Nhưng khác với những nhà Nho cùng thời, ông đã “đổimới tư duy” trở thành một nhà Nho yêu nước, một nhà văn của giai cấp công
Trang 29nhân, một Đảng viên cộng sản “Vì ở Ngô Tất Tố, cái khăn đen áo the chỉ là
cái vỏ bề ngoài che đậy một tâm hồn mới mẻ” [98, tr 66] Tác phẩm của ông
thể hiện rõ sự chuyển biến tư tưởng này Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận
xét: “ Trong khi về mặt tính cách, người ta thấy Ngô Tất Tố gắn liền với lớp người trưởng thành từ đầu thế kỉ XX như Phan Kế Bính, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn thì tác phẩm của ông lại được xếp cạnh các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng ( nghĩa là thuộc về giai đoạn chín đẹp của thế kỉ này, những năm 30 huy hoàng)”.
Quan điểm hiện đại, thích ứng với thời cuộc của Ngô Tất Tố thể hiện rõ
nét trong tác phẩm Lều chõng Trong lời giới thiệu Lều chõng, Vương Trí Nhàn viết: “Tác phẩm của Ngô Tất Tố như một lời cải chính, hơn thế, một bản tố cáo chế độ khoa cử lỗi thời và thấp thoáng sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ cười chế giễu, có khi là tiếng cười ra nước mắt” Đọc “Lều chõng” người ta cũng nhận thấy “cái nhìn lưu luyến quá khứ” của Ngô Tất
Tố Và hơn thế nữa, nó cho thấy “sự cắt đứt của Ngô Tất Tố, mà cũng là của nhiều người đương thời với quá khứ, sự thích ứng với hoàn cảnh mới, là quyết liệt, song cũng có tình, có lý đến như thế nào” [202, 5].
Sự thích ứng của Ngô Tất Tố đã mang đến những kết quả rõ rệt trên conđường văn nghiệp của ông Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét về sự thay
đổi ở Ngô Tất Tố: “Ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn học Âu Tây và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán, có tư tưởng mới” [161]
Có thể nói ở Ngô Tất Tố có sự kết hợp giữa Đông Tây, kim cổ, mộtphong cách hòa quyện nhuần nhuyễn giữa những cái hiện đại phương Tây vớicái thâm trầm, kín đáo của phương Đông Và vì vậy, đọc văn Ngô Tất Tố thấyông lột tả hiện thực trước mắt người đọc sắc sảo nhưng không lạnh lùng phánxét, phê phán đến tàn nhẫn, trần trụi mà chỉ kín đáo bày tỏ thái độ Điều nàytạo nên nét riêng biệt độc đáo của ngòi bút hiện thực phê phán Ngô Tất Tố
Trang 30Ngô Tất Tố nhà văn- nhà nho- nhà báo mang phong cách riêng biệt không thểtrộn lẫn với nhà văn, nhà báo nào khác.
Thứ ba: Các nghiên cứu tập trung bàn về một số phương diện nghệ thuật
trong các sáng tác của Ngô Tất Tố
Về nghệ thuật xây dựng cốt truyện
Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài “Trước đèn đọc đoản thiên Ngô Tất Tố”đã mượn lời một độc giả để ca ngợi Ngô Tất Tố: “Cốt truyện là xương sống mà tình tiết là các dẻ sườn, là các đốt xương, là thịt, là da mà ở mặt này, vốn sống đã đầy ắp cùng với con mắt tinh tế đã góp phần làm nên cái đặc sắc của tác phẩm Từ Tắt đèn đến Lều chõng ngoài cái ngồn ngộn của chất liệu còn là cách dẫn truyện với mạch văn được kết dính bởi các chi tiết gắn bó đã tạo nên thế vững chắc của tác phẩm trong trường kì thời gian”.[98, tr78]
Cùng bàn về nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Ngô Tất Tố, bình về tác
phẩm Tắt đèn, Phan Cự Đệ viết: “Nghệ thuật của Tắt đèn là một thứ nghệ thuật đi vào chiều sâu, vào cái tinh túy, bản chất Tắt đèn học được ở văn học dân gian, đặc biệt ở tục ngữ, phương ngôn, cái nghệ thuật tập trung cô đúc, càng nén lại thì càng gây nên vụ nổ lớn, càng có sức vang xa, rộng trong không gian Chỉ trong vòng hơn 100 trang mà các sự kiện dồn dập, các mâu thuẫn cọ xát nhau đến nảy lửa” [45, tr 182]
Trần Đăng Suyền trong “ Nhà văn, hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo” đã dành gần chục trang viết với những nhận xét sắc sảo về nghệ thuật của tiểu thuyết Tắt đèn Trong đó, tác giả đánh giá về nghệ thuật xây dựng cốt truyện như sau: “Ngô Tất Tố đã tổ chức một cốt truyện hấp dẫn, căng thẳng, đầy kịch tính Một cốt truyện gọn gàng, chặt chẽ, liền mạch, tập trung làm nổi bật mâu thuẫn xã hội, và qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ chân thực, sinh động”.[181, tr 87]
Nghệ thuật xây dựng cốt truyện với cách sắp xếp tình tiết truyện dồn nén vềkhông gian, thời gian tạo nên sức hấp dẫn riêng cho sáng tác của Ngô Tất Tố.Đó
Trang 31là phát hiện trùng khớp của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học.
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật
Không chỉ thành công ở nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tác phẩm của NgôTất Tố (đặc biệt tiểu thuyết) đạt đến trình độ cao ở nghệ thuật xây dựng nhânvật Và cũng chính bởi sự thành công này, giới phê bình đã đưa ra những nhậnđịnh mới về tính hiện đại trong các tác phẩm của ông Ông là một nhà văn nhohọc, đậm chất Á đông nhưng lại viết tiểu thuyết khá hiện đại ảnh hưởng của vănhọc phương Tây Về các nhân vật điển hình của ông, các nhà nghiên cứu từtrước đến nay đã dành không ít trang viết để nói về họ Hầu như khi nhắc đếntác phẩm của ông là không thể không nhắc đến nhân vật tiêu biểu mà ông đã
xây dựng lên như: chị Dậu, Nghị Quế ( Tắt đèn), Vân Hạc ( Lều chõng)
Phan Cự Đệ lý giải những thành công của Ngô Tất Tố trên hai bìnhdiện: nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật xây dựng nhân vật Ông cho rằng: “
Tuy là một nhà nho làm báo, lần đầu mới bước qua địa hạt tiểu thuyết, nhưng trong Tắt đèn, ta thấy nghệ thuật tả cảnh, nghệ thuật xây dựng nhân vật của Ngô Tất Tố có những nét độc đáo và thành công” [44, tr 110] Nguyễn Tuân
đi sâu phân tích, đánh giá nhân vật chị Dậu- nhân vật thể hiện tài năng của
Ngô Tất Tố trong việc dựng hình tượng như sau: “ Ngô Tất Tố đã đưa ra, đã dám đưa ra một nhân vật đàn bà nông thôn khỏe khoắn lành mạnh như chị Dậu, tôi cho đó là cái bằng chứng có giá trị mà Ngô Tất Tố đã góp được vào viện bảo tàng con người Việt Nam tiến lên, tiến lên dưới cờ Đảng” Và “ Trên cái tối giời, tối đất của đồng lúa ngày xưa, hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu” [210, tr 39] Ở đây Nguyễn Tuân đánh giá rất cao ngòi
bút xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình của nhà văn trongviệc dựng hình tượng nhân vật chị Dậu Sau này nhà nghiên cứu Trần Đăng
Suyền cho rằng : “ Thành công về nghệ thuật của Tắt đèn thể hiện rõ nhất ở phương diện xây dựng nhân vật”.[ 183, tr 294]
Như vậy, có thể thấy rằng nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật
Trang 32xây dựng nhân vật đã thể hiện thành công của Ngô Tất Tố trong các tác phẩmvăn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Chính những điều này khẳng định
“ nghệ thuật tự sự già dặn” của Ngô Tất Tố
1.2.2 Các nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của
Ngô Tất Tố
Các ý kiến bàn về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn không nhiều, khôngtập trung nhưng chúng tôi có thể kể đến một vài ý kiến như sau:
Đầu tiên phải kể đến những nhận định sắc sảo của hai nhà nghiên cứu
Nguyễn Đức Đàn và Phan Cự Đệ: “ Ngô Tât Tố sử dụng thứ ngôn ngữ chính xác, giàu tính chất luận lý và hình tượng sinh động Đặc biệt ông hay sử dụng ca dao, tục ngữ Văn ông đượm hơi thở mạnh khỏe của những người lao động”.[44, tr 54] Nhận định này cho thấy những đặc
điểm nổi bật về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Từ những nhận địnhchung như vậy, khi đi sâu phân tích từng tác phẩm, các nhà nghiên cứu đã
đưa ra những nhận xét tinh tế Về ngôn ngữ trong tiểu thuyết Tắt đèn, Phan
Cự Đệ cho rằng: “ Khai thác vốn ngôn ngữ của quần chúng, chú ý tiếp thu truyền thống văn học dân tộc, đó là ưu điểm nổi bật ở Ngô Tất Tố” [44, tr 105] “ Ngô Tất Tố là người có tài châm biếm và có một óc quan sát tinh vi Lối châm biếm của ông rất kín đáo, sâu sắc, tế nhị Ông để sự việc tự nói lên,
ít khi tham gia bình phẩm”.[44, tr 105] Nếu như tiểu thuyết Tắt đèn các nhà
nghiên cứu đánh giá cao ở lối viết giản dị, gần ngôn ngữ quần chúng thì đến
Việc làng họ tìm thấy đặc điểm riêng của một nhà Nho viết văn với vốn ngôn ngữ Hán học sâu sắc Về ngôn ngữ trong phóng sự Việc làng, các nhà nghiên cứu khẳng định: “ Ngô Tất Tố xuất thân từ nho học Nhưng đối với một thể loại mới mẻ như thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố đã không tỏ vẻ bỡ ngỡ chút nào Trái lại, ngòi bút của ông khi nào cũng vững vàng, chắc chắn, lời văn bao giờ cũng bình dị, sáng sủa và cô đúc.”[44, tr 105] Còn Phan Cự Đệ lý
giải những đóng góp của Ngô Tất Tố về phương diện ngôn từ bằng óc quan
sát và vốn sống của nhà văn: “Nhưng nói chung Việc làng đã thu hút người
Trang 33đọc bằng khả năng lý giải vấn đề một cách sâu sắc, bằng óc quan sát và nghệ thuật miêu tả tinh tế của một nhà văn sống lâu đời ở nông thôn” [44, tr 189]
Hoài Việt trong bài viết “ Ngô Tất Tố, nhà văn hóa lỗi lạc” có nhận xét: “
Phương pháp đặc tả hiện thực nổi trội đã đành mà cách phân tích tâm lý nhân vật cũng kĩ không kém Văn bác Tố khỏe, tránh được cái rườm rà, tối nghĩa, đôi lúc, đôi chỗ còn pha chút dí dỏm, trào lộng Đặc biệt lối văn bút chiến của bác thường chặt chẽ, đanh thép, đầy sức thuyết phục Chúng ta biết bác Tố chịu ảnh hưởng nhiều của sách truyện Tầu nhưng lối kết cấu trong tác phẩm của bác không mấy có hơi hướng đó” [210, tr 20]
Nguyễn Đức Bính lại đánh giá cao ở lối viết mới mẻ của Ngô Tất Tố: “
Ngô Tất Tố có một lối viết mới, độc đáo nữa là khác, không chút gì nhắc lại lối văn biền ngẫu của các cụ đồ, giọng văn khi đậm đà, duyên dáng, nhưng đặc biệt là dí dỏm; câu văn sắc cạnh, trong sáng, ngắn gọn, chữ dùng thường mạnh dạn và ý nhị” [98, tr 67]
Trần Đăng Suyền có những lý giải riêng về ngôn ngữ phong phú, đa
dạng của Ngô Tất Tố khi cho rằng: “ Ngòi bút Ngô Tất Tố đã kết hợp khá nhuần nhị giữa hoạt động dịch thuật, phê bình khảo cứu với hoạt động báo chí, văn học, văn hóa”[183, tr 299] Ở một bài viết khác, khi bàn về ngôn ngữ
nghệ thuật của các nhà văn hiện thực, tác giả đưa ra những nhận xét tinh tế,
sắc sảo: “ Lịch sử các thể loại văn xuôi nước nhà, chưa từng có một trào lưu văn học nào như trào lưu hiện thực chủ nghĩa, chỉ trong khoảng 15 năm, lại xuất hiện nhiều tiếng nói, giọng nói riêng độc đáo như thế Ấy là giọng hài hước, châm chọc tinh quái của Nguyễn Công Hoan; giọng cay độc, căm phẫn, uất ức, châm biếm chua cay của Vũ Trọng Phụng; giọng yêu thương, thâm trầm mà quyết liệt của Ngô Tất Tố; giọng “ rên rỉ” cảm thương thống thiết của Nguyên Hồng; giọng buồn thương chua chát, dửng dưng lạnh lùng
mà đầy cảm thông, đằm thắm yêu thương của Nam Cao ” [184, tr 362]
Lê Thị Đức Hạnh nhận xét về lối viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố như
Trang 34sau: “Lối viết của ông giản dị, tự nhiên Ông nói lí lẽ trực tiếp với cuộc sống, nhưng không rơi vào công thức và khái niệm trừu tượng khô khan.” “ Nhiều khi Ngô Tất Tố vận dụng cả tục ngữ, ca dao, giai thoại văn học, truyện cổ tích, câu đối, văn tế để đánh vào những cái xấu xa đê hèn một cách tự nhiên
Vũ Duy Thanh đã tập trung nghiên cứu về cách thức tổ chức lời văn, cácthành phần cơ bản, phương tiện đặc trưng của lời văn nghệ thuật trong tiểuthuyết của nhà văn Luận văn của Bế Hùng Hậu tập trung phân tích một sốđặc điểm về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn như: ngôn ngữ đậm vùng nôngBắc Bộ, ngôn ngữ còn mang dấu vết Nho gia, ngôn ngữ giàu tính chiến đấu
Có thể nói, những ý kiến đánh giá và một số công trình nghiên cứu về ngônngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất Tố nêu trên là những gợi ý xácđáng cho chúng tôi khi tiến hành triển khai luận án này
Tiểu kết
trở thành xu hướng nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Hướng nghiêncứu này nhằm đánh giá sâu về tác phẩm và tác giả trên chính chất liệu quantrọng của nó - ngôn ngữ Mặt khác, thông qua nghiên cứu sâu về ngôn ngữnghệ thuật góp phần định hình rõ nét hơn về phong cách nghệ thuật nhà văn
thấy các ý kiến đều thống nhất, ca ngợi, đánh giá cao về ngòi bút hiện thực
Trang 35phê phán sắc sảo, thẫm đẫm tinh thần nhân văn của ông Mặt khác các nhànghiên cứu cũng phát hiện khá sắc bén về tính linh động, chuyển hóa, nắmbắt nhanh với thời cuộc của Ngô Tất Tố, sự dung hòa tương thích giữa nềnvăn hóa cũ, mới Chính những phát hiện nghiên cứu này giúp định hướngcho chúng tôi khi tìm hiểu nghệ thuật ngôn từ của Ngô Tất Tố.
3 Chúng tôi cũng nhận thấy ở một số bài viết, một số công trình nghiêncứu đã bàn đến một số phương diện nghệ thuật trong sáng tác của Ngô Tất
Tố như: nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xâydựng nhân vật điển hình Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về lờivăn nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật của Ngô Tất Tố Chúng tôi cho rằng đâycũng là nét riêng, độc đáo tạo nên phong cách nghệ thuật Ngô Tất Tố nên cầnđược nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn
Trang 36CHƯƠNG II NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA NGÔ TẤT TỐ
“Xã hội thế nào thì văn nghệ thế ấy”, câu nói ấy của Hồ Chí Minh chothấy mối quan hệ khăng khít giữa hoàn cảnh xã hội và văn học Xét cho cùngvăn học là con đẻ của thời đại Do vậy khi xem xét một dòng văn học, một tácgia văn học, một tác phẩm văn học người ta luôn đặt nó, lý giải nó trongnhững hoàn cảnh cụ thể Hoàn cảnh đó bao gồm: “ hoàn cảnh lớn” tức là hoàncảnh lịch sử xã hội, văn hóa chung của thời đại, “ hoàn cảnh nhỏ” là hoàncảnh cá nhân nhà văn “Hoàn cảnh lớn” thường có tác động đến tư tưởng, tìnhcảm của nhiều nhà văn Khi tìm hiểu về Ngô Tất Tố chúng tôi cũng đặt sựnghiệp sáng tác của ông trong mối quan hệ với những hoàn cảnh đó
2.1 Những yếu tố tiền đề
2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa và văn học
2.1.1.1 Về hoàn cảnh lịch sử xã hội
Đêm 31/8/1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Từ đó Pháp thiết lập
sự thống trị, khai thác thuộc địa trên toàn đất nước Xã hội Việt Nam biến đổinhanh chóng về mọi mặt:
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông
Dương Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dânchủ, đàn áp, khủng bố mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chianước ta thành 3 kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau Thực dân Pháp duy trìtriều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp dịa chủ làm công cụ tay sai để
áp bức về chính trị và bóc lột kinh tế Nhân dân ta mất nước trở thành nô lệ,
bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống vô cùng khổ cực
Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương
lần thứ nhất (1897 – 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929), trong
đó Việt Nam là trọng điểm Tư bản Pháp bỏ vốn nhiếu nhất vào nông nghiệp (lập
Trang 37các đồn điền cao su, cà phê, chè…), xây dựng ngành giao thông vận tải đường
bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoạithương Ngân hàng Đông Dương Pháp độc quyền về tài chính, đặt ra hàng trămthứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi.Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển ở mức độ nào đó theo hướng tưbản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp
Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm cho xã hội ViệtNam có những biến đổi sâu sắc Việt Nam từ một xã hội phong kiến trở thành
xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Giai cấp địa chủ đa số là tay sai, chỗ dựa củathực dân Pháp, thực thi các chính sách bóc lột cho chúng Giai cấp nông dânchiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ phóng kiến bóc lột, cuộc sống khổcực nên rất tích cực chống đế quốc, phong kiến Giai cấp tư sản Việt Nam ra đờitrong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp Một bộ phận tư sảnmại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai cho chúng Bộ phận tư sảncòn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngoài chèn ép nên có tinh thần dântộc, dân chủ, có thể đi với cách mạng Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trongcuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914) Giai cấpcông nhân vừa lớn lên đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, rất kiên quyết cáchmạng và đã nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập Công nhân ViệtNam đa số xuất thân từ nông dân, bị bần cùng hóa nên có quan hệ gần gũi vớinông dân, rất thuận lợi cho liên minh công nông
Xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thểdân tộc Việt Nam với thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủphong kiến Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời phảigiải quyết Bên cạnh đó một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị, thị trấnmọc lên ở nhiều nơi Những giai cấp, tầng lớp xã hội mới xuất hiện: tư sản, tiểu
tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị… Ở nông thôn, nạn đói, nạn sưu thuế trởthành tại họa khủng khiếp đối với dân chúng Người nông dân Việt Nam lầmthan, cực khổ, phải chịu hai ách thống trị: thực dân, phong kiến
Trang 38Ngô Tất Tố sinh ra khi đất nước đã ở trong hoàn cảnh lịch sử như vậy.Tuổi thơ của ông cũng trải qua những năm tháng đói rách, nghèo khổ Ônglớn lên phải chứng kiến tất cả cảnh khốn cùng của người dân quê ông Ôngcũng thấu hiểu nguyên nhân gây nên những nỗi thống khổ đó là do sự đàn ápbóc lột của thực dân Pháp và tầng lớp phong kiến thống trị Đó là nhữngnguồn tư liệu quý để ông đưa vào các tác phẩm của mình sau này.
Trước khi Pháp đô hộ, Việt Nam tồn tại và phát triển nền văn hóa nôngnghiệp với những nét đặc trưng của văn hóa phương Đông Đó là nền văn hóalấy gia tộc làm gốc; lấy tình cảm làm trọng; trông vào con cháu duy trì nòigiống và nối nghiệp tổ tiên; coi trọng tính trường tồn; ưa chuộng hòa bình, an
cư lạc nghiệp
Từ đầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng củavăn hóa phương Đông (văn hóa Trung Hoa), bắt đầu tiếp xúc với văn hóaphương Tây (chủ yếu văn hóa Pháp) Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớptrí thức Tây học ngày càng thấm sâu vào ý thức, tâm hồn của dân chúng Với
cách tư duy mới, người Việt Nam đã tin “hoàn toàn có thể học hỏi để nắm bắt
tư duy Tây Âu, một khi có ý mệnh về văn hóa và văn học, nghệ thuật Pháp và Tây Âu, người mình hoàn toàn có đủ năng lực để sáng tạo được một nền văn học và một nền văn hóa dân tộc hiện đại” [187, tr 76] Chữ Quốc ngữ đã dần
thay thế chữ Hán, chữ Nôm Chữ Quốc ngữ thành quốc tự - chữ viết phổthông của dân tộc Việc du nhập thêm các chữ phiên âm tiếng nước ngoài đểdiễn tả những khái niệm mới đã làm phong phú thêm tiếng Việt Kho tàngchữ Quốc ngữ ngày càng phong phú hơn bởi các trước tác của lực lượngnghiên cứu và sáng tác mới những thập niên đầu thế kỉ XX Người Việt coi:
“ Chữ Quốc ngữ là hồn của nước Phải đem ra tính trước dân ta Sách Âu Mỹ, sách China Chữ kia chữ nọ dịch ra cho tường”.
Trang 39Nhờ chữ Quốc ngữ, Việt Nam đã xây dựng một nền văn chương đẹp đẽ,độc đáo bằng tiếng mẹ đẻ gồm các thể loại báo chí, văn học (thơ mới, truyệnngắn, tiểu thuyết, kịch nói…).
Hệ giá trị thẩm mĩ mới dần thay thế giá trị thẩm mĩ cũ với tư tưởng giảiphóng cá nhân mạnh mẽ Trước đây quan niệm về cái đẹp là con người phụctùng, phục tùng gia đình, phục tùng xã hội với những giáo lý đè nặng, với giátrị đạo đức phong kiến Đến thời này, quan niệm đó thay đổi: coi trọng conngười bản năng, con người tự nhiên, tự do, con người cá thể Cá nhân từ chỗ
bị chìm trong quan hệ gia tộc, làng xóm đã trở thành cá thể độc lập, là bản vịcủa xã hội có nghĩa vụ và lợi ích độc lập Cách nhìn nhận phong tục tập quán
đã khác trước Một mặt tôn vinh bản sắc tinh tế của văn hóa dân tộc qua các lễhội, sinh hoạt gia đình, tình làng nghĩa xóm, đạo thầy trò, nghĩa cha con, vợchồng, đề cao sự khoáng đạt bao dung, thủy chung nhân hậu của văn hóatruyền thống Mặt khác phê phán nhẹ nhàng những hủ tục lạc hậu Vừa thấycái hay, cái mạnh của Nho giáo, “ giúp con người tu dưỡng đạo đức cá nhân”,vừa thấy cái yếu “ dễ nhu nhược”…
Có thể nói Ngô Tất Tố sinh ra, lớn lên và dựng nghiệp trong hoàn cảnhlịch sử đặc biệt của xã hội và đất nước những năm đầu thế kỉ trước Hoàncảnh đó tác động mạnh đến nhà văn Ngô Tất Tố nhạy cảm trước mọi biếnđộng xã hội, không ngần ngại phơi trần những vấn đề gai góc, những xungđột nổi cộm trong đời sống tinh thần, văn hóa của xã hội Việt Nam nửa đầuthế kỉ trước
Đây cũng là giai đoạn sôi động nhất trong lịch sử văn học Việt Nam.Văn học chuyển mình theo hướng hiện đại hóa Hiện đại hóa là yêu cầukhách quan của thời đại, nhu cầu tự thân của nền văn học đáp ứng yêu cầumới của xã hội Điều đó được chứng minh qua các vấn đề sau:
Những cách tân về thể loại: trước đây chủ yếu là thơ, với các thể thơ
Nôm Đường luật… Nay là sự ra đời của nhiều thể loại mới: truyện ngắn, kịch
Trang 40nói, thơ mới (thơ tự do), đặc biệt là sự ra đời của tiểu thuyết, phóng sự, phê
bình văn học… Báo chí Tiếng Việt xuất hiện, tiêu biểu là các báo: Gia Định báo ( 1865 – 1910), Nam Phong tạp chí (1917), Đông Dương tạp chí ( 1913), Trung Bắc tân văn (1913), Công luận báo (1916), Thực nghiệp dân báo (1920), Nam Kỳ kinh tế ( 1920), Thanh Niên (1925), Tiếng Dân (1927)…Các
tạp chí, nhà xuất bản sách Tiếng Việt ra đời: Tạp chí Hữu Thanh, Nam ĐồngThư xã, Cường học thư xã, Quan Hải tùng thư… Các tác phẩm dịch thuật rađời: dịch truyện Pháp, Trung Quốc, từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ… Sự ra đời,xuất hiện của báo chí và các thể loại văn học mới đã ảnh hưởng to lớn đến sựphát triển của văn học giai đoạn này Nhiều nhà văn thành công từ làm báo,trong đó có Ngô Tất Tố
Lực lượng sáng tác tân học đã mô phỏng các tác phẩm nước ngoài đểsáng tác văn học hiện đại Từ các bài tường thuật, phóng sự, du kí, kể chuyện,
họ đã viết truyện ngắn, tiểu thuyết… đến sự bùng nổ của dòng thơ mới vớicác nhà thơ nổi tiếng: Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Tú Mỡ…Bên cạnh đó vẫn có lực lượng sáng tác vốn là các nhà Nho, chịu ảnh hưởngcủa văn hóa phương Đông, trong đó có Ngô Tất Tố Họ cũng có những đónggóp riêng cho sự phát triển của văn học thời kì này
Sự thay đổi về quan niệm văn chương: thời kì trung đại nhiệm vụ chính
của văn học để truyền bá đạo lý, lẽ sống “ văn dĩ tải đạo” Nay văn học nhưmột hoạt động nghệ thuật đi tìm và phản ánh cái đẹp Từ văn chương răn đờisang văn chương hiểu đời Từ mang nặng đạo lý sang phản ánh mọi mặt đờisống với khuynh hướng sáng tác hiện đại đáp ứng nhu cầu thị hiếu của đôngđảo độc giả Văn học thời kì này tách ra hoạt động khác không hòa lẫn văn
sử triết như trước Văn học thoát khỏi quan niệm thẩm mĩ của văn học trungđại: tính chất ước lệ, quy phạm chặt chẽ, hoài cổ
Quá trình hiện đại hóa văn học cũng dẫn tới sự thay đổi kiểu nhà văn: từcác nhà nho sang kiểu nhà văn nghệ sĩ mang tính chuyên nghiệp Công chúngthưởng thức văn học rộng rãi hơn: trước đây là các nho sĩ (người có học trong