Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015.Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015.Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015.Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015.Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015.
Trang 4sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ Các số liệu, bảng biểu, hình ảnh được sử dụng trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng và được dẫn nguồn khi trích dẫn Các kết quả nghiên cứu được công bố trong luận án chưa từng đượccông bố trong một công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Ngọc Mạnh
Trang 52 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận án 9
6 Kết cấu của luận án 10
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài 11
1.1.1 Những công trình nghiên cứu ASXH ở nước ngoài 11
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 15
1.1.3 Những công trình nghiên cứu ở Hải Phòng 25
1.2 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa 28
1.3 Những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu 30
Chương 2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 31
2.1 Những vấn đề chung về chính sách an sinh xã hội 31
2.1.1 Khái niệm, trụ cột và chức năng của chính sách an sinh xã hội 31
2.1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về an sinh xã hội 37
2.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tác động đến quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng 41
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43
2.2.3 Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng sau 15 năm đầu đổi mới (1986 - 2000) 48
Tiểu kết chương 2 50
Trang 6chính sách an sinh xã hội 52
3.1.1 Bối cảnh lịch sử 52
3.1.2 Chủ trương của thành phố Hải Phòng 54
3.2 Thành phố Hải Phòng triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2001 - 2010 56
3.2.1 Giải quyết việc làm 56
3.2.3 Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 68
3.2.4 Trợ giúp xã hội 73
3.2.5 Đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản 75
Tiểu kết Chương 3 86
Chương 4 ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 88
4.1 Bối cảnh lịch sử mới và chủ trương của thành phố Hải Phòng trong chỉ đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội 88
4.1.1 Bối cảnh lịch sử mới 88
4.1.2 Chủ trương của thành phố Hải Phòng 90
4.2 Những chuyển biến trong thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015 93
4.2.1 Giải quyết việc làm 93
4.2.2 Xóa đói giảm nghèo 101
4.2.3 Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 105
4.2.4 Trợ giúp xã hội 110
4.2.5 Đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản 115
Tiểu kết chương 4 123
Chương 5 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 126
Trang 75.1.2 Quá trình thực hiện chính sách ASXH có sự tham gia của cả hệ thống
chính trị 127
5.1.3 Quá trình thực hiện chính sách ASXH đã huy động có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội và các thành phần kinh tế 130
5.1.4 Quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng có nhiều tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực, giai đoạn sau phát triển hơn giai đoạn trước và so mới mặt bằng chung của cả nước 131
5.2 Tác động 135
5.2.1 Tác động về kinh tế 135
5.2.2 Đối với xã hội 137
5.3 Những vấn đề đặt ra 141
5.3.1 Những hạn chế và tồn tại 141
5.3.2 Nguyên nhân 144
Tiểu kết chương 5 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
Trang 8BHXH Bảo hiểm xã hội
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các cơ quan tham gia hiện chính sách ASXH ở Việt Nam 36
Trang 9(2000 - 2009) 57Bảng 3.2: Sử dụng Quỹ quốc gia giải quyết việc làm (2001 - 2010) 58Bảng 3.3: Số cơ sở và số lao động Hải Phòng đi xuất khẩu lao động ở nước
ngoài (2001 - 2009) 60Bảng 3.4: Số cơ sở dạy nghề ở Hải Phòng (2001 - 2010) 61Bảng 3.5: Cơ sở vật chất và nguồn nhân lực Y tế Hải Phòng (2002 - 2010) 79Bảng 3.6: Các chỉ tiêu về y tế tại Hải Phòng (2001 - 2010) 81Bảng 4.1: Cơ cấu lao động thành phố Hải Phòng (2011 - 2015) 93Bảng 4.2: Kết quả của Quỹ quốc gia về Việc làm của Hải Phòng (2011-2015) 95Bảng 4.3: Số lao động đi làm việc ở nước ngoài thành phố Hải Phòng
(2011 - 2015) 95Bảng 4.4: Hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm Hải Phòng (2011 - 2015) 96Bảng 4.5: Hoạt động của Sàn giao dịch việc làm Hải Phòng (2011 - 2015)
97Bảng 4.6: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Hải Phòng (2011- 2015) 100Bảng 4.7: Số người tham gia BHXH, BHTN (2011 - 2015) 106Bảng 5.1: Cơ cấu nguồn chi cho một số lĩnh vực ASXH của thành phố Hải
Phòng ( 2000 - 2015) 126Bảng 5.2: Các chỉ tiêu về y tế của thành phố Hải Phòng (2006 - 2015) 134Bảng 5.3: Chỉ tiêu về lao động, việc làm thành phố Hải Phòng từ năm 2011
đến năm 2015 136Bảng 5.4: Thu nhập bình quân đầu người/tháng của Hải Phòng so với cả nước
và các tỉnh/thành phố thuộc Đồng bằng sông Hồng (2010- 2014) .138Bảng 5.5: Mức độ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm, các vùng 139
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang 10Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị ở Hải Phòng (2001 - 2010) .60
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ hộ nghèo thành phố Hải Phòng trong (2001 - 2010) 66
Biểu đồ 3.3: Số người tham gia bảo hiểm xã hội (2002 - 2010) 69
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ dân số Hải Phòng tham gia BHYT (2002 - 2010) 72
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (2011 - 2015) 98
Biểu đồ 4.2: Số người tham gia BHYT ở Hải Phòng (2011 - 2015) 108
Biểu đồ 5.1: So sánh tỷ lệ lao động qua đào tạo của Hải Phòng với cả nước, ĐBSH và một số địa phương (2015) 132
Trang 11Đối với Việt Nam, ASXH không chỉ là thực hiện các cam kết quốc tế, những hoạt động về mặt ngoại giao hay xây dựng hình ảnh quốc gia mà còn là một vấn đề thuộc về bản chất của nhà nước - nhà của dân do dân và vì dân, gắnvới mục tiêu cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang phấn đấu thực hiện Do đó, ngay từ khi ra đời năm 1945, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định mục tiêu theo đuổi nhất quán là: “độc lập - tự do - hạnh phúc” Trong điều kiện “thù trong, giặc ngoài” đe dọa đến sự tồn tại của chính quyền non trẻ nhưng những vấn đề về an sinh như: “diệt gặc đói”, “diệt giặc dốt” - xóa nạn mù chữ, mở mang trường học, tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống của người dân đã được đề ra và từng bước thực hiện Điều này đã tạo được niềm tin sự ủng hộ của người dân đối với chế độ mới và là cơ sở để chínhquyền đứng vững, vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” Bước vào haicuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mục tiêu hàng đầu là hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, nhưng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn quan tâm chăm lo đến đời sống của người dân ở hậu phương, thực hiện phát triển giáo dục, y tế, chăm lo cho các gia đình chính sách… Điều đó đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn kỷ cương và an ninh
xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn Đồng thời, thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hộivới điều kiện chiến tranh kéo dài
Trang 12Bước vào thời kỳ đổi mới, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội do phạm phải sai lầm trong việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý kế hoạch tập trungbao cấp, Đảng và Nhà nước Việt Nam quyết tâm đổi mới, trong đó, đổi mới kinh tế là trọng tâm kết hợp đổi mới các vấn đề về xã hội Từ đó, nhận thức của Đảng và Nhà nước về ASXH ngày càng rõ ràng cụ thể hơn ASXH vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển bền vững, một trong những yếu tố thể hiện tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Do đó, Nghị
quyết số 15, Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 của Ban
Chấp hành Trung ương khóa XI đặt ra yêu cầu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân; bảo đảm người dân có việclàm, thu nhập tối thiểu, tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm hỗ trợ những người
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch
vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân Tuy nhiên, để hiện thực hóa được yêu cầu đó, Việt Nam phải đối diện với nhiều khó khăn và thử thách như: sự biến động bất lợi từ nền kinh tế thế giới; các khoản vay ưu đãi,các khoản viện trợ quốc tế bị cắt giảm; chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu;
xu hướng già hóa dân số diễn ra nhanh; cách thức và kết quả thực hiện chính sách ASXH đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế. Xu t phát ấ t nh ng y u t đó, ừ ữ ế ố tìm hi u nghiên c u ASXH Vi t Nam trong đi u ki n m i là m t v n đ c p ể ứ ở ệ ề ệ ớ ộ ấ ề ấ thi t đ t ra cho các cá nhân, c quan và t ch c khoa h c ế ặ ơ ổ ứ ọ
Thành phố Hải Phòng từ khi thành lập (năm 1888) đã có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của Việt Nam Vai trò chiến lược của thành phố càng được thể hiện và khẳng định trong giai đoạn phát triển hiện nay khi là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại I (lớn thứ 2 miền Bắc và thứ 3 Việt Nam) Trong tương lai, Hải Phòng được định hướng phát triển là: “Một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế động lực phía Bắc; một trọng điểm phát triển kinh tế biển;
Trang 13một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại lớn của cả nước và trungtâm dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ; một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng - an ninh, đời sống Nhân dân ngày một nâng cao” [45] Bởi vậy, đi liền với việc phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề về ASXH, bảo đảm thu nhập và các yêu cầu thiết yếu của người dân cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa những mục tiêu và định hướng trên Đồng thời, phần khơi dậy những nghĩa cử
cao đẹp trong các tầng lớp nhân dân với mục đích, ý nghĩa tốt đẹp “chung tay
vì cộng đồng” và “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Từ những vấn đề trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn: "Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015" làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Làm sáng tỏ quá trình thực hiện chính sách ASXH từ năm 2001 đến năm 2015 tại Thành phố Hải Phòng Từ đó, rút ra những đặc điểm, đánh giá tác động của quá trình thực hiện chính sách đối với vấn đề kinh tế và xã hội trên địa bàn thành phố
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Trình bày có hệ thống những vấn đề lý luận về ASXH Trong thời
gian gần đây, vấn đề ASXH nhận được sự quan tâm nghiên cứu và làm rõ ở nhiều góc độ khác nhau Bởi vậy, thông qua việc khảo cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu tác giả hệ thống, khái quát góp phần làm rõ thêm những vấn
đề lý luận về ASXH như: vai trò, chức năng, các trụ cột cơ bản cùng với các quan điểm, chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ASXH
- Phân tích những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng Quá trình thực thi chính sách phụ thuộc vào nhiều
Trang 14yếu tố, trong đó điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội là yếu tố cơ bản và tác động thường xuyên nhất Do đó, luận án có nhiệm vụ chỉ ra những đặc điểm nổi bật về tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hải Phòng từ đó làm rõ những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách
- Tái hiện tiến trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách ASXH của Đảng bộ và Chính quyền thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015 Từ hiện thực lịch sử và các nguồn tư liệu, sử liệu, số liệu thống kê
và các nhân vật cụ thể, luận án tái hiện quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách ASXH qua các giai đoạn và làm rõ những kết quả đạt được cũng như hạn chế, yếu kém trong các giai đoạn đó
- Rút ra những đặc điểm, đánh giá những tác động của quá trình thực thi chính sách Luận án không chỉ mô tả, tái hiện tiến trình thực hiện chính
sách ASXH mà còn có nhiệm vụ rút ra những đặc điểm, đánh giá những tác động của quá trình thực thi đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra
- Tham quan thực tế, phỏng vấn Tác giả luận án sẽ tiến hành các hoạt
động tham quan thực tế tại cơ sở; phỏng vấn, tìm hiểu ý kiến đánh giá của người dân để có thêm những căn cứ, chứng cứ cụ thể phục vụ cho việc rút ra những kết luận của luận án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015
Chính sách ASXH là một trong những công cụ cơ bản để Đảng và Nhà nước thể hiện vai trò lãnh đạo và thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các vấn đề xã hội Chính sách ASXH được thể hiện trong Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, được thể chế hóa bằng những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cùng với các chương trình, đề án cụ thể Do đó, quá trình
Trang 15thực hiện chính sách ASXH ở Hải Phòng được hiểu là việc các cơ quan, tổ chức của thành phố quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước trên địa bàn thành phố Đó là một quá trình vừa mang tính chấp hành vừa mang tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo dựa trên những điều kiện cụ thể của địa phương.
Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian
Luận án lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2015.Năm 2001, tại Đại hội IX (2001), lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam
chính thức sử dụng khái niệm “an sinh xã hội” trong văn kiện Đây là dấu
mốc quan trọng trong quá trình đổi mới về tư duy nhận thức của Đảng về ASXH Từ đó, ASXH được chú trọng hơn và dần trở thành một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam
Nghiên cứu về ASXH ở thành phố Hải Phòng, tác giả luận án chia làm
2 giai đoạn:
Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, đây là giai đoạn đầu tiên thành
phố Hải Phòng và cả nước thực hiện chính sách ASXH gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 với quan điểm cơ bản là: “Phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [41, tr.25]
Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, 5 năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, là giai đoạn đẩy mạnh thực hiện các
mục tiêu về kinh tế - xã hội để tiến tới tổng kết 30 năm đổi mới
Trang 16- Về nội dung
Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành trung ương khóa XI, ngày
01/6/2012 đã ra Nghị quyết số 15-NQ/TW, Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020, theo đó các nội dung chính trong chính sách
ASXH gồm: 1) Chính sách giải quyết việc làm; 2) Chính sách xóa đói, giảm nghèo; 3) Chính sách bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; 4) Chính sách trợ giúp
xã hội; 5) Chính sách đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục; y tế; nhà ở; nước sạch; thông tin), đây là cơ sở để nghiên cứu sinh xác định nội dung nghiên cứu trong luận án
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng các nguồn tài liệu chính sau đây:
- Tài liệu lưu trữ
Đây là nguồn tài liệu được tác giả nghiên cứu để làm rõ đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam và của thành phố Hải Phòng về ASXH Bao gồm: Cương lĩnh, văn kiện đại hội, văn kiện hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và các chỉ thị, kết luận của Đảng chủ yếu từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XII (2016) Các văn bản pháp quy của Quốc hội như: Hiến pháp, luật, pháp lệnh; nghị quyết Các nghị định, thông tư, quyết định, chương trình, đề án của Chính phủ và bộ ngành có liên quan đến chính sách ASXH Bên cạnh đó là các văn kiện, nghị quyết, quyết định, đề án, chương trình… của Đảng bộ, HĐND, UBND thành phố Hải Phòng
- Tài liệu báo cáo, thống kê
Nhóm tài liệu bày bao gồm: Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của UBND thành phố; Báo cáo tổng kết, sơ kết của Sở Lao động - Thương binh
và Xã hội, Bảo hiểm xã hội thành phố, Sở Y tế, Sở Giáo dục và đào tạo v.v…
Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Niên giám thống kê
Trang 17thành phố Hải Phòng của Cục Thống kê thành phố Đây là những ấn phẩm
được xuất bản hằng năm để giới thiệu số liệu về đơn vị hành chính, dân số, lao động, tài khoản quốc gia, ngân sách nhà nước, đầu tư, doanh nghiệp, bưu chính viễn thông, giáo dục, y tế v.v… Nhóm tài liệu này là một trong những nguồn chính cung cấp số liệu được sử dụng trong đề tài
- Tài liệu tham khảo
Gồm có các công trình nghiên cứu (chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh) có liên quan trực tiếp đến chính sách ASXH, bao gồm: sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài viết đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, luận án của các nghiên cứu sinh Đây là nguồn tài liệu cung cấp cho nghiên cứu sinh những tri thức chung nhất về ASXH như khái niệm, nguồn gốc, chứcnăng, vai trò; cho thấy sự khác nhau trong mô hình, cách thức thực hiện ASXH giữa các quốc gia cũng như thực trạng và phương hướng, giải pháp thực hiện ASXH ở Việt Nam
- Tài liệu điền dã
Tài liệu này có được thông qua hoạt động tham quan thực tế, phỏng vấntrực tiếp các đối tượng có liên quan, từ đó tác giả luận án thu được những thông tin về nhận xét, đánh giá và thái độ của người dân đối với quá trình thực hiện ASXH Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả đối chiếu, so sánh với các nguồn tài liệu khác và có cách nhìn trực quan về quá trình thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Hải Phòng
- Tài liệu từ Internet
Với việc phát triển mạnh mẽ của Internet và ứng dụng công nghệ thôngtin trong quản lý nhà nước mà chính sách, hệ thống văn bản pháp luật, thủ tục hành chính, các số liệu thống kê, báo cáo được công bố công khai trên các cổng thông tin điện tử của các cơ quan và tổ chức Nguồn tài liệu này vừa
Trang 18phong phú, đa dạng vừa mang tính chính thống được nghiên cứu sinh sử dụng
bổ trợ cho nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của Triết học Mác-Lênin Đồng thời, vận dụng phương pháp luận sử học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác nghiên lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
Cũng như các công trình khoa học lịch sử khác, trong luận án, tác giả
sử dụng hai phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Với phương pháp lịch sử, tác giả tái hiện quá trình tổ chức thực hiện
chính sách ASXH theo một trình tự liên tục về mặt thời gian trong không gian
cụ thể, làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển và kết quả đạt được; làm sáng tỏ sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương
3, Chương 4 gắn với quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015 Phương pháp logic, tác giả sử dụng để rút
ra các đặc điểm, khuynh hướng vận động và chỉ ra những vấn đề về bản chất của chính sách ASXH Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 5
để làm rõ các đặc điểm, đánh giá tác động của quá trình thực hiện chính sách ASXH đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả vận dụng kết hợp các phươngpháp khác như: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh Các phương pháp trên góp phần đánh giá chi tiết những chuyển biến, thay đổi qua các giai đoạn trong quá trình thực hiện chính sách ASXH ở Hải Phòng
Trang 19Bên cạnh đó, tác giả luận án tiến hành hoạt động điền dã, thực tế tại một
số xã, phường, thị trấn kết hợp với phỏng vấn, trao đổi với cán bộ và người dân Phương pháp này giúp tác giả kiểm chứng, đối chiếu giữa chủ trương, chính sách với thực tiễn, từ đó làm cho luận án thêm phần cụ thể, sinh động
5 Đóng góp của luận án
Là công trình đầu tiên nghiên cứu về ASXH ở Hải Phòng một cách toàndiện trong thời gian tương đối dài (15 năm), do đó, luận án có những đóng góp nhất định về khoa học và thực tiễn:
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ASXH, khẳng định tính đúng đắn, phù hợp của quan điểm phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế gắnvới tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển của Việt Nam
- Luận án góp phần làm rõ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội tác động đến quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hải Phòng Từ đó khẳng định, Hải Phòng là một trong số ít địa phương hội tụ đầy đủ những yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để hiện thực hóa các mục tiêu về ASXH
- Từ việc tái hiện quá trình Đảng bộ và chính quyền thành phố tổ chức thực hiện và những kết quả đạt được trên các trụ cột của ASXH, luận án làm
rõ vai trò chủ động, sáng tạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân, các thành phần kinh tế trong việc thực hiện cácchủ trương, chính sách của Trung ương và đề ra những chính sách mang tính đặc thù của địa phương Mặt khác, từ những hạn chế tồn tại và nguyên nhân, luận án chỉ ra những điểm nghẽn, những trở ngại mà thành phố Hải Phòng cầnphải vượt qua trong những giai đoạn phát triển tiếp theo
- Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc hoạch định chính sách
an sinh xã hội và trong công tác nghiên cứu, học tập lịch sử địa phương
Trang 206 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia làm 5 chương
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015
Chương 3 Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố HảiPhòng từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 4 Đẩy mạnh thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến năm 2015
Chương 5 Nhận xét quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2015
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đề đề tài
1.1.1 Những công trình nghiên cứu ASXH ở nước ngoài
Ngày nay ASXH đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, là một tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển quốc gia trong cộng đồng quốc tế
Do đó, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ASHX ở nước ngoài sẽ góp
phần nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vấn đề này
Cuốn “An sinh xã hội ở các nước đang phát triển” (Social security in
Developing Countries) [150] của các tác giả Ehtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills và Amartya Sen, năm 1991 Công trình nhấn mạnh đến sự cần thiếtcủa hệ thống ASXH, cho rằng đó là một vấn đề mang tính phổ quát, là mong muốn của con người trong bất kỳ một xã hội nào, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Bởi vì, các nước đang phát triển tỷ lệ dân số và mức độ thiếu hụt các điều kiện sống nghiêm trọng hơn (so với các nước phát triển), mức độ phát triển thấp của các hệ thống an sinh xã hội, đối tượng hỗ trợ ít hoặc khôngphù hợp, sự thiếu hụt các nguồn lực và sự bất lực của người nghèo - những đối tượng dễ bị tổn thương bởi những tác động bất lợi của hoàn cảnh Từ đó, các tác giả đã đề cập đến sự cần thiết can thiệp của Nhà nước trong việc thực hiện ASXH Điều đó được lý giải là do sự thất bại của thị trường, thị trường không thể tự điều tiết tốt các vấn đề của ASXH, mặt khác nhà nước với các công cụ quan trọng (pháp luật, chính sách) và các nguồn lực (tài chính) mới
có thể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của ASXH Tuy nhiên, chỉ duy nhất Nhà nước thực hiện là “điều không khả thi và không nên như thế”, mà cần có
sự chia sẻ từ gia đình, cộng đồng, công ty, nhóm tôn giáo,… có vai trò hỗ trợ
và sự bổ sung cho nhà nước
Tác giả Peter A.Diamond và Peter R.Orszag, hai trong số các nhà kinh
tế hàng đầu của Mỹ với cuốn “Tiết kiệm an sinh xã hội: Một cách tiếp cận
Trang 22cân bằng” (Saving Social Security: A Balanced Approach), năm 2005 [156]
Thông qua công trình này, một vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự
thành công của ASXH ở nước Mỹ là tiết kiệm tài chính Tác giả và các cộng
sự khẳng định tầm quan trọng của tiết kiệm, yếu tố giúp cho con người vượt qua được những biến cố, những cú sốc về việc bị mất thu nhập, giúp họ duy trì
và đảm bảo được cuộc sống trước những biến cố đó Và theo các tác giả, thì yếu tố quan trọng nhất là chính phủ phải tạo điều kiện cho họ có việc làm, có nguồn thu nhập ổn định thì mới có tiết kiệm Đi liền với vấn đề đó, cần đa dạng hóa các hình thức tiết kiệm, các loại hình bảo hiểm, sự linh hoạt trọng các gói tài chính và đảm bảo sự chi trả đúng hạn của các tổ chức tài chính… điều đó, sẽ giúp cho vấn đề tiết kiệm được trở nên dễ dàng hơn, do đó, sẽ giảmđược những gánh nặng cho ngân sánh khi có những biến cố xảy ra
Cuốn ‘Các chương trình an sinh xã hội và hưu trí trên toàn thế giới” (Social Security Programs and Retirement around the World) của nhóm tác giả Jonathan Gruber và David A Wise có các phần: Phần 1 “Ý nghĩa của cải cách tài chính” (Fiscal implications of reform), năm 2007 [153] và phần 2
“Mối quan hệ với việc làm của thanh niên” (The relationship to youth
employment), năm 2010 [154] Công trình tập hợp nhiều bài nghiên đến từ
nhiều quốc gia khác nhau (chủ yếu các quốc gia phát triển như: Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Ý, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Mỹ…) Trong phần 1, các tác giả đã chỉ ra rằng, hệ thống tài chính của ASXH ở các nước này đang thực sự gặp khó khăn khi mức chi trả ngày một lớn dẫn đến mất cân bằng giữa thu và chi Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do sự gia tăng người lao động nghỉ hưu và nhận những trợ cấp hợp pháp Trong phần 2, các tác giả
đã chỉ ra mối quan hệ giữa việc nghỉ hưu với việc khéo dài thời gian lao động của cao tuổi; những tác động của cải cách an sinh xã hội với tỷ lệ làm việc của người lao động cao tuổi; mở rộng lực lượng lao động với chi phí an sinh
xã hội… Từ đó, cuốn sách đi đến bác bỏ giả thuyết: sử dụng lao động lớn
Trang 23tuổi sẽ lấy mất việc làm của người trẻ và khẳng định đây là một biện pháp gópphần đảm bảo cho quỹ ASXH được duy trì
Cuốn “An sinh xã hội: Kinh tế và phát triển (Social Security, the
Economy and development) của tác giả James Midgley, năm 2008 [151]
Thông qua phân tích về quá trình thực hiện ASXH của các nước như: Anh, Chile, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Na Uy, Singapore, Nam Phi và Hoa Kỳ… cuốn sách góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ASXH và phát triển kinh tế: An sinh xã hội góp phần tích cực vào phát triển kinh tế bằng cách thúc đẩy những khoản đầu tư xã hội Đồng thời, tăng trưởng kinh tế góp phần tăng cường phúc lợi xã hội Ngoài ra, tác giả James Midgley còn có cuốn
(cộng tác với Mitsuhiko Hosaka) “Cơ sở an sinh xã hội ở châu Á: Hỗ trợ lẫn nhau, bảo hiểm vi mô và an sinh xã hội” (Basis of social security in Asia: mutual aid, micro-insurance and social security), năm 2012 [152] Tác giả chỉ
ra và chứng minh rằng, cơ sở của an sinh châu Á bao gồm ba yếu tố: Thứ nhất
là sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các tổ chức trong phạm vi quốc gia và thế giới; Thứ hai là mô hình bảo hiểm vi mô và việc phát huy hiệu quả của mô hình bảo hiểm này; Thứ ba là xây dựng chiến lược ASXH toàn diện đóng góp rõ rệt
cho mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống
Cuốn “Sự bảo vệ: Một nguyên tắc chung của luật an sinh xã hội ở châu Âu” (Security: A General Princeple of Social Security Law in Europe) của
nhóm tác giả Ulrich Becker, Danny Pieters, Friso Ross, Paul Schoukens, năm
2010 [157] Các tác giả một mặt cho rằng, hệ thống an sinh xã hội đang trải qua sự thay đổi sâu sắc trên toàn châu Âu do các nguyên nhân từ thay đổi trong xã hội, trong thị trường lao động và các tác động của toàn cầu hóa Mặt khác, đã luận giải mối quan hệ giữa an sinh đối với quá trình lập pháp, trong
đó khẳng định vai trò quan trọng của việc xây dựng hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, xem đó là yếu tố hiệu quả nhất trong việc thực hiện các mục tiêu
về ASXH Bởi vì, luật pháp về ASXH không chỉ cung cấp thông tin cho người
Trang 24dân mà nó còn là một công cụ pháp lý mang tính bắt buộc trong thực tế và vì xét cho cùng, “đó là yếu tố cốt lõi của quốc gia để bảo vệ các thành viên trong
xã hội mà không thể dựa vào tôn giáo hay sự trợ giúp nhân đạo của các nhóm
xã hội”
Cuốn “An sinh xã hội, chăm sóc y tế và nhà ở xã hội” (Social Security, Medicare & Government Pensions), của Joseph Matthews Attorney, Dorothy
Matthews Berman, năm 2013 [155] đã làm rõ các vấn đề: ASXH, chăm sóc y
tế, nhà ở xã hội Từ việc phân tích những lợi ích của hệ thống BHYT, cách thức
để đảm bảo BHYT tốt nhất và nhà ở xã hội, tác giả đi đến khẳng định: Chăm sóc y tế và đảm bảo nhà ở xã hội là yếu tố quan trọng, cốt lõi của chính sách ASXH
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu trong nước đã tìm hiểu hệ thống ASXH ở nước ngoài và rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam Tác giả ĐinhCông Tuấn với một loạt các công trình chuyên nghiên cứu về an sinh xã hội
của các nước Châu Âu như: “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2008) [127]; “An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, năm 2013) [128]; “Hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu”
(Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2013) [129] Thông qua các công trình trình trên, tác giả đã cung cấp những vấn đề mang tính tổng quan về hệ thống an sinh xã hội của các nước thuộc khối EU Trong đó có đi sâu tìm hiểu mô hình
hệ thống an sinh xã hội của một số quốc gia điển hình như Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Đức Tác giả đã làm rõ sự tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến hệ thống an sinh xã hội và sự điều chỉnh trong thực hiện chính sách an sinh xã hội của các quốc gia này Từ những những thành công, hạn chế, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam: Thứ nhất, bài học về việc lựa chọn các mục tiêu giải quyết ASXH
Trang 25trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu Cụ thể là thực hiện các chương trình về cứu trợ xã hội nhằm đảm bảo an toàn cho các thành viên trong xã hội như người già, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người nghèo, người có thu
nhập thấp Thứ hai, bài học về cơ chế đóng góp tài chính và trách nhiệm của
các chủ thể tham gia hệ thống an sinh xã hội Trong đó, sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động là yếu tố chính đảm bảo cho quỹ
ASXH được an toàn và ổn định Thứ ba, bài học về phát triển thị trường lao
động tích cực như làm việc bán thời gian, tăng tuổi lao động, giảm trợ cập đối
người có khả năng lao động…; Thứ tư, bài học về mức độ phổ quát và chất lượng của hệ thống an sinh xã hội Thứ năm, bài học cần tránh về khiếm
khuyết của một số mô hình an sinh xã hội, đó là: mức đóng góp của người dânthông qua thuế quá cao hoặc để thị trường tự điều tiết hoặc chí phủ chi quá nhiều nhưng ở mức thấp với đối tượng quá lớn
Như vậy, các công trình nghiên cứu ASXH ở nước ngoài cho thấy vấn
đề tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau và đã làm rõ những vấn đề cơ bản như vai trò, chức năng của ASXH; những nguy cơ, thách thức đang đặt ra đối với quá trình thực thi ASXH; vai trò của nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong đảm bảo ASXH Mặt khác, các nhà nghiên cứu đã rõ một số vấn đề cụ thể của ASXH như bảo hiểm, lương hưu, nhà ở, y tế… đó là mối quan tâm thường trực và đặt ra nhiều áp lực cho chính phủ và người dân các nước Từ
đó, những lời khuyên hay khuyến cáo cho chính phủ và người dân được đưa
ra để chủ động giải quyết tốt các vấn đề trên
1.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ASXH đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan, tổ chức, các công trình ra đời góp phần làm rõ những vấn
đề liên quan đến lĩnh vực quan trọng này Cụ thể:
Cuốn “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam”
của tác giả Mai Ngọc Cường (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2009) [25] Cuốn
Trang 26sách là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam đi sâu nghiên cứu về vấn đề ASXH trên quy mô toàn diện, rộng lớn Theo tác giả, để nhận thức rõ
hơn bản chất ASXH, cần phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng: “ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống
trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập; được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tại nạn, tuổi già” [25, tr.20]
Theo nghĩa hẹp: “ASXH là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh
sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, những người nghèo khổ
và những người bị thiên tai, địch họa” [25, tr.20] Bên cạnh đó, công trình tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản nhứ: sự cần thiết của hệ thống an sinh; kháiquát hệ thống ASXH của Việt Nam qua các thời kỳ phát triển và hệ thống chính sách ASXH hiện hành ở Việt Nam Từ việc phân tích thực trạng chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân, tác giả đã đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2015
Cuốn “ASXH ở Việt Nam hướng tới năm 2020” của Vũ Văn Phúc
(Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2012) [85] Cuốn sách tập hợp các bài viết của các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực liên quan đến vấn đề ASXH Mỗi bài viết được tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau của vấn đề ASXH nhưng đều khẳng định đảm bảo ASXH sẽ góp phầnnâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước
Để có thêm tư liệu và cách nhìn đa chiều về ASXH, nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, các cuộc tham vấn có sự tham gia của các tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài được tổ chức ở Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Trang 27“Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, năm 2013 của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động -
Thương binh & Xã hội) kết hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổ chức tại Hà Nội [144] Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm sàn ASXH và nhấn mạnh tầm quan trọng của sàn ASXH Sàn ASXH là cơ sở xây dựng một cách toàn diện về hệ thống ASXH với vai trò là một hợp phần của chiến lược phát triển quốc gia Việt Nam xây dựng sàn ASXH để tối đa hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm vì mục tiêu giảm nghèo và đảm bảo ASXH Sàn ASXH không chỉ
hỗ trợ người nghèo và các đối tượng yếu thế vượt qua các rủi ro hiện tại mà
nó còn giữ vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vững
Cuốn “Chính sách ASXH - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Lê
Quốc Lý (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2014) [73] Cuốn sách được biên soạntrên cơ sở các tư liệu nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay Nội dung của cuốn sách tập trung vàonhững vấn đề chính như: Cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH; Những trở ngại trong thực thi các chính sách ASXH ở Việt Nam gần đây qua đánh giá của nhóm cán bộ thực thi và đối tượng thụ hưởng chính sách; Mục tiêu, quan điểm và giải pháp thực thi hiệu quả chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020
Cuốn “Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam trong thời gian tới” của tác giả Doãn Mậu Diệp ( Nxb Lao động Xã hội, năm 2015)
[29] Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam, đánh giá thực trạng sàn ASXH ở nước ta giai đoạn 2006 -
2012 và những dự báo, đề xuất mô hình và đưa ra những giải pháp xây dựng sàn ASXH giai đoạn 2012 - 2020
Luận án “Đảm bảo ASXH gắn với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của
nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm, năm 2015 [91] Bằng lý luận và thực tiễn,
Trang 28tác giả luận án đã góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ASXH và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Theo tác giả, việc thực hiện mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bản thân nó đã hàm ý là phải chú trọng đến vấn đề công bằng xã hội mà việc thực hiện nó chủ yếu thông qua hệ thống hay mạng lưới ASXH Tuy nhiên, không phải lúc nào Việt Nam cũng thực hiện tốt mối quan hệ này Trong những năm 1990 và đầu những nămg 2000, tăng trưởng kinh tế đạt ở mức 7,5%, trong khi đó vấn đề ASXH chưa được đầu tư thỏa đáng Hệ thống ASXH phát triển chưa đáp ứng nhu cầucủa người dân, số người hưởng lợi từ chính sách ASXH còn hạn chế, một bộ phận người dân chưa được hưởng thành quả của tăng trưởng kinh tế một cách công bằng Trong giai đoạn hiện nay, khi Nhà nước chú trọng nhiều hơn đến ASXH, thì nền kinh tế đứng trước những thách thức lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, áp lực cạnh tranh cao, năng suất lao động thấp… điều này đãhạn chế đến việc đảm bảo ASXH cho người dân
Luận án “Vai trò của ASXH đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam hiện nay”
của nghiên cứu sinh Nguyễn Tiến Hùng, 2016 [64] Thông qua luận án mối quan hệ biện chứng giữa ASXH với tiến bộ xã hội được làm rõ dưới góc nhìn Triết học Tác giả nhấn mạnh: ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải phóng người lao động, tạo thế ổn định về chính trị, văn hóa - xã hội; thực hiện quyền con người; góp phần hoàn thiện chức năng xã hội của nhà nước theo hướng tiến bộ xã hội Ngược lại, tiến bộ xã hội (trong đó có tiến bộ về kinh tế) tạo ra tiền đề để thực hiện tốt hệ thống ASXH và góp phần đảm bảo công bằng trong thực hiện ASXH Tác giả cũng chỉ ra thực trạng của vai trò ASXH đối với tiến bộ xã hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay Bên cạnh những tác động tích cực, tác giả còn chỉ ra khó khăn, thách thức cần được giải quyết như: Hệ thống ASXH chưa đồng bộ, mức độ bao phủ thấp; thể chế về ASXH có mặt còn bất cập; nguồn lực tài chính còn hạn chế cản trở thực hiện vai trò của ASXH đối với tiến bộ xã hội Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp như: Đổi
Trang 29mới nhận thức về ASXH; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; phát triển hệ thống ASXH đa dạng, đa tầng để thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Bên cạnh nghiên cứu một cách tổng quát về ASXH nêu trên, thì có
những công trình lựa chọn một vấn đề cụ thể của ASXH để nghiên cứu Đề
cập vai trò của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với chính sách ASXH, có:
Luận án “Chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Chiều, năm
2013 [14] và Luận án “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện ASXH từ năm 2001 đến năm 2011” của nghiên cứu sinh Nguyễn Mai Phương, năm
2014 [87] Hai công trình đã cho thấy được vai trò mỗi chủ thể trong quá trìnhthực hiện ASXH ở Việt Nam Luận án của Nguyễn Văn Chiều, từ góc độ triết học đã luận giải tính tất yếu và vai trò của nhà nước trong việc đề ra các chínhsách cũng như tổ chức thực hiện các chương trình của ASXH; cung cấp một cách chi tiết, cụ thể hệ thống chính sách ASXH của Việt Nam Thông qua đó, nhấn mạnh bản chất tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam là luôn quan tâm chăm lođến đời sống của người dân, đảm bảo cho tất cả mọi người dân có cơ hội đượctiếp cận các dịch vụ hỗ trợ để ổn định cuộc sống của mình Trong khi đó, côngtrình của nghiên cứu sinh Nguyễn Mai Phương đã làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc thực hiện đảm bảo ASXH, làm rõ quá trình phát triển nhận thức của Đảng về ASXH vừa phù hợp với đặc điểm của Việt Nam và phù hợp với xu thế trên thế giới về cách tiếp cận và giải quyết vấn đề ASXH
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, đa phần dân cư tập trung ở nông thôn và tỷ lệ nông dân chiếm đa số trong cơ cấu dân số do đó, một số
công trình đã dành sự quan tâm đến đối tượng này Cuốn “ASXH đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Mai Ngọc Anh (Nxb Chính trị quốc gia, năm 2010) [2]; Luận án “Vai trò của nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Phan Thị Kim Oanh, năm
Trang 302014 [84] Các công trình trên cho thấy, nông dân là đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi các yếu tố bất lợi về kinh tế, xã hội và tự nhiên Với những cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã tập trung phân tích các giải pháp để đảmbảo ASXH cho người nông dân Trong đó, nghiên cứu sinh Phan Thị Kim Oanh làm rõ vai trò của Nhà nước như: xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách; tổ chức, phối hợp thực hiện chính sách ASXH với các chính sách kinh tế- xã hội khác; tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát nhằm thiết lập và tạo các điều kiện thực thi của hệ thống ASXH đối với nông dân Đồng thời luận án cũng chỉ rõ 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước về ASXH đối với nông dân là 1) Quan điểm của nhà nước về ASXH đối với nông dân; 2) Khả năng tài chính của nhà nước và thu nhập của nông dân; 3) Năng lực hệ thống quản lý ASXH đối với nông dân và 4) Nhận thức xã hội về ASXH đối với nông dân
ASXH là một chính sách chung vừa có tính đặc thù của địa phương, mỗi địa phương có những nét riêng về tự nhiên và xã hội do đó, quá trình thựchiện cũng có sự khác biệt Điều này được thể hiện ở một số công trình như:
Cuốn “Lý thuyết và mô hình ASXH (Phân tích thực tiễn ở Đồng Nai)”
của Sở khoa học và công nghệ Đồng Nai, năm 2009 [88] Trong cuốn sách, tập thể tác giả phân tích ASXH ở Đồng Nai với tư cách là một cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước Trong đó, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai Đồng thời đây là địa phương có sự phát triển toàn diện về kinh tế công nghiệp và nông nghiệp Về vấn đề ASXH ở Đồng Nai, công trình đã làm rõnhững trụ cột chính của hệ thống ASXH như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội và xóa đói giảm nghèo Với những kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại,cuốn sách đã gợi mở nhiều vấn đề về xây dựng mô hình, cách thức tổ chức thực hiện ASXH ở một địa phương cụ thể Từ đó, một vấn đề quan trọng được
Trang 31rút ra là phải đảm bảo tính thống nhất, không tách rời với hệ thống ASXH chung của Việt Nam.
Luận án “Chính sách ASXH với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (Nghiên cứu tại Bắc Ninh)” của nghiên cứu
sinh Nguyễn Văn Nhường, năm 2010 [83] Công trình đã làm rõ việc thực hiện chính sách ASXH ở một địa phương thuần nông trở thành một trong những trung tâm công nghiệp, một vệ tinh phát triển cạnh Thủ đô Hà Nội Đi liền với quá trình chuyển đổi kinh tế đó, ASXH cho người nông dân bị thu hồiđất để phát triển công nghiệp được đặt ra cần phải giải quyết Từ kết quả nghiên cứu, luận án khẳng định 6 yếu tố quan trọng của chính sách ASXH chonông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp gồm: 1) Chính sách đền bù, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; 2) Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm; 3) Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện; 4) Chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện; 5) Chính sách trợ giúp xã hội; 6) Chính sách hỗtrợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Đồng thời, luận án đã chỉ rõ các doanh nghiệp tham gia đầu tư là một trong các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách ASXH đối với người nông dân có đất bị thu hồi
Luận án “Đảm bảo ASXH trên địa bàn thành phố Hà Nội” của nghiên
cứu sinh Đồng Thị Hồng, năm 2015 [59] Luận án đã phân tích và luận giải những nét đặc thù trong quá trình đảm bảo ASXH ở Hà Nội với tư cách là Thủ đô - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước Đồng thời, đây là nơi tập trung đông dân cư và có lượng lớn người nhập cư Tác giả đã làm rõ những thành công quan trọng trong việc đảm bảo ASXH ở các trụ cột chính là: BHXH, thị trường lao động và trợ giúp xã hội Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân, từ đó, đề xuất một số phương hướng, giải pháp để đẩy mạnh có hiệu quả đảm bảo ASXH trên địa bàn Thànhphố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 32Luận án “Quá trình thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2010” của NCS Nguyễn Văn Tuân, 2015 [130] Dưới góc
độ lịch sử, luận án đã làm rõ quá trình thực hiện chính sách ASXH của tỉnh Hải Dương từ khi tái lập tỉnh đến năm 2010 Công trình đã nên bật những thành công, hạn chế và lý giải những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên trong quá trình thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Hải Dương Từ đó, tác giả
đã góp phần tổng kết thực tiễn việc thực hiện một chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước trong công cuộc đổi mới ở một địa phương
Bên cạnh những công trình nghiên cứu kể trên, có nhiều bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên ngành
Bài “Vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Chí Bảo
(Tạp chí Lý luận chính trị, 2/2008), trong công trình này, tác giả có định nghĩa: “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo xã hội cho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sốnghiện thực của nó như một chủ thể mang tính nhân cách” [8, tr.38] Đồng thời, tác giả nêu 4 phương diện hợp thành nội dung của ASXH, gồm: xóa đói giảm nghèo; bảo hiểm xã hội; trợ cấp xã hội và ưu đãi xã hội; phúc lợi xã hội Các cách tiếp cận ASXH cũng được tác giả nêu lên trong bài viết: ASXH như một mục tiêu của phát triển xã hội, thể hiện bản chất nhân đạo và nhân văn của chế độ XHCN; ASXH như một nhân tố, điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội; ASXH như một tiêu chí của tiến bộ xã hội; ASXH như một lĩnh vực quản
lý xã hội
Bài “Nền tảng chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của Bùi Đình
Phong (Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 4/2011) [86] Tác giả khẳng định nền tảngcủa chính sách ASXH ở Việt Nam đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh Theo tác giả, Hồ Chí Minh, từ sớm đã có cách nhìn về những chính sách, biện
Trang 33pháp bảo vệ người dân khỏi sự hụt hẫng về kinh tế - xã hội như đói nghèo,
mù chữ, sức khỏe, nhà ở và các vấn đề khác trong cuộc sống Đó chính là
tư duy về ASXH
Bài “Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”
(Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 3/2011) của Đào Văn Dũng và Nguyễn Kim
Phượng [32] Trong bài báo, các tác giả đã khẳng định hệ thống ASXH ở Việt Nam được hình thành và ngày càng hoàn thiện trên nhiều mặt như: hoàn thiện
và phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội; chính sách ưu đãi xã hội; chính sách cứu trợ xã hội; xóa đói giảm nghèo và bảo hiểm thương mại Bên cạnh đó, ASXH ở Việt Nam cũng còn tồn tại những hạn chế như: hệ thống ASXH chưatoàn diện, thiếu sự liên kết; diện bao phủ còn chưa cao; chất lượng các dịch
vụ ASXH còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Bàn về định hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng công tác ASXH
trong quá trình CNH, HĐH có bài “Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội
và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020” (Tạp chí Cộng sản, 9/2010) [35] của Nguyễn Tấn Dũng Bài
báo đã nêu ra 7 nhiệm vụ và giải pháp cần tập trung thực hiện như: 1) Đẩy mạnh triển khai có các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với việc làm; 2) Phát triển đồng bộ, đa dạng và nâng cao chất lượng hệ thống bảo hiểm, đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp để người dân tích cực tham gia; 3) Thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững; 5) Thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công và chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội; 6) Nhà nước tăng thêm nguồn lực và phát huyvai trò chủ đạo để nâng cao phúc lợi xã hội và phát triển đa dạng hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản; 7) Huy động sự tham gia của toàn xã hội để thực hiện tốtASXH và phúc lợi xã hội
Bài “Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội đối với nông dân nước ta hiện nay” (Tạp chí Cộng sản, 12/2008) của tác giả Nguyễn Hữu Dũng [31]
Trang 34Tác giả đã nêu ra những vấn đề thực hiện ASXH đối với nông dân ở Việt Namnhư: việc làm tăng thu nhập; xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giàu nghèo đối với nông dân và nông thôn; bảo hiểm xã hội; bảo trợ xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản Trên cơ sở đánh giá những kết quảđạt được và hạn chế, tác giả nêu ra những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện trong những năm tới như: Tiếp tục thể chế hóa thành cơ chế, chính sách, luật pháp các chủ trương, quan điểm của Đảng; Nghiên cứu đánh giá và cảnh báo tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển xã hội, an sinh xã hội; Tăng đầu tư và ngân sách cho thực hiện hiệu quả chính sách; Hoàn thiện và đổi mớiphương thức quản lý, hoạt động của hệ thống sự nghiệp cung cấp dịch vụ xã hội; Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành, đẩy mạnh cải cách hành chính, nângcao trách nhiệm chính quyền địa phương.
Bài “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội - Một công cụ quan trọng nhằm thực hiện công bằng xã hội ở nước ta” (Tạp chí Triết học,
số 12/2009) của Phạm Thị Ngọc Trầm [125] Tác giả cho rằng: Sự bình đẳng
về cơ hội tiếp cận với các điều kiện và nguồn lực phát triển là tiền đề, nền tảng cần thiết cho mọi thành viên trong xã hội không phân biệt đẳng cấp, dân tộc, tôn giáo, vùng, miền đều có thể được hưởng công bằng xã hội bằng chínhsức lực và tài năng của mình Càng giảm thiểu sự bất bình đẳng xã hội trong việc tiếp cận các điều kiện và nguồn lực phát triển cũng như các dịch vụ xã hội (dịch vụ công) thì càng có nhiều cơ hội thuận lợi để thực hiện công bằng
xã hội
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy sự phong phú đa dạng trong cách tiếp cận ASXH và từ đó làm rõ những vấn đề về khoa học và thực tiễn ASXH ở Việt Nam Với những kết quả nghiên cứu đã công
bộ là một sự thuận lợi cho nghiên cứu sinh tham khảo, kế thừa trong quá trìnhhoàn thành luận án
Trang 351.1.3 Những công trình nghiên cứu ở Hải Phòng
Một số công trình nghiên cứu ở Hải Phòng có liên quan đến ASXH như:
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Phòng” do Thành ủy Hải Phòng
chỉ đạo biên soạn, gồm 3 tập, được xuất bản bởi Nxb Hải Phòng [95,96, 97] Công trình đã phân tích cụ thể lịch sử ra đời, đặc điểm về điều kiện tự nhiên
và con người Hải Phòng Đồng thời, công trình đã làm rõ sự ra đời và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1930 đến năm 2000 Trong đó, tập 3 đã tái hiện quá trình Đảng bộ thành phố lãnh đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới tại địa phương từ 1986 đến năm 2000 Trong quá trình đó, cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, vận động quần chúng của thành phố đều có những bước tiến bộ, một số mặt đứng ở vị trí hàng đầu đất nước Tuy nhiên, những yếu kém, khuyết điểm như: kinh tế-xã hội thiếu tính ổn định, chưa pháthuy cao nguồn nội lực, phát triển chưa ngang tầm với vị thế của một thành phố lớn của đất nước và những điều này vẫn chưa được khắc phục triệt để
Tác giả Lưu Văn Hân, Trần Minh Quốc, Bùi Đức Tuyến với cuốn
“Thành phố Hải Phòng: Tiềm năng và triển vọng những năm đầu thế kỷ 21”,
(Nxb Hải Phòng, năm 2000) [54] Công trình đã cho thấy, Hải Phòng có những tiềm năng và lợi thế lớn, đó là: sự ưu đãi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; vị trí chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam (điều mà không phải địa phương nào trong cả nước cũng có được) Bên cạnh những lợi thế, công trình cũng đề cập đến những thách thức trong giai đoạn phát triển mới của thành phố, đó là sự phức tạp của tình hình chính trị kinh tế trên thế giới, các vấn đề mang tính toàn cầu như dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường…với vị trí là thành phố cảng biển quốc tế, Hải Phòng chịu sự tác động trực tiếp đó Những khó khăn, thử thách còn xuất phát
từ bên trong như: kinh tế thành phố phát triển thiếu ổn định; cơ sở hạ tầng xuống cấp; nguồn lao động còn thiếu về số lượng và chất lượng
Trang 36Luận án “Nhân tố dân số và lao động trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của Hải Phòng của nghiên cứu sinh Hoàng Văn Kế, năm 1995 [66]
Trong đề tài, tác giả đã phân tích rõ những đặc điểm về tự nhiên, xã hội và đánh giá những tiềm năng của thành phố Hải Phòng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, nội dung của luận án trình bày mối quan hệ giữa dân số, lao động với phát triển kinh tế - xã hội; thực trạng dân số, lao động và tác động của chúng tới kinh tế - xã hội ở thành phố Hải Phòng Có thể nói, dân số và lao động là những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc thực hiện chính sách ASXH, đó được xem vừa là mục tiêu vừa là động lực của chính sách Do đó, với bức tranh dân số (số lượng, cơ cấu, phân bổ) và nguồn lao động (số lượng, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề) được trình bày trọng luận
án đã cung cấp cho nghiên cứu sinh có cách nhìn đầy đủ về yếu tố này đối vớiviệc thực hiện chính sách ASXH
Cuốn “Hải Phòng 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành 2005” của Thành ủy Hải Phòng [103] và cuốn “Đảng bộ Hải Phòng - những thành tựu 5 năm đầu thế kỷ XXI” của tác giả Nguyễn Văn Thuận (Nxb Hải
1955-Phòng, năm 2005) [117] Các công trình đã cho thấy những kết quả tích cực
về kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo của Hải Phòng trong 5 năm đầu thế kỷ XXI và trong suốt 50 năm xây dựng và phát triển Công trình giúp cho nghiên cứu sinh nhận thức rõ hơn tiến trình phát triển, sự thay đổi toàn diện của thành phố
Cuốn “Hải Phòng 40 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh của” nhóm tác giả Hoàng Văn Kể, Nguyễn Đình Then, Nguyễn Khắc Phòng,
(Nxb Hải Phòng, năm 2010) [67] Công trình tập hợp 36 bài viết về những thành tựu của các đơn vị, cá nhân tiêu biểu đại diện cho đảng bộ và nhân dân thành phố Hải Phòng trong suốt 40 năm thực hiện và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong số những bài viết đó, có những cơ quan, đơn vị
đã thực hiện tốt các vấn đề về ASXH Thông qua công trình, nghiên cứu sinh
Trang 37có được những thông tin về những đơn vị, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ được giao và đóng góp vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội Đó là cơ sở
để khẳng định, giải quyết tốt chính sách ASXH cần có sự vào cuộc, sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân trong xã hội
Bên cạnh những công trình nêu trên, một số công trình có đề cập đến vấn đề cụ thể của ASXH Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội với cuốn
“Việc làm cho thanh niên ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh niên nông thôn ở khu công nghiệp tại Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Phòng” (Nxb Lao động - Xã hội,
Hà Nội, năm 2008) [12] Công trình đã làm rõ sự chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp sang đất công nghiệp với diện tích lớn và trong thời gian ngắn gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở thành phố Hải Phòng Việc chuyển đổi đó đã tác động đến vấn đề việc làm của thanh niên Số lượng thanh niên thiếu việc làm và nhu cầu tìm việc tăng lên tuy nhiên những hạn chế về mặt trình độ, kỹ năng đang gây ra những trở ngại trong tìm kiếm việc làm Trên cơ
sở đó, một số phương hướng và giải pháp được nêu ra như chuyển đổi nghề, đào tạo nghề phù hợp (ngắn hạn, dài hạn, đào tạo chỗ, đào tạo lại) cho đối tượng này được đề ra
Kỷ yếu “Chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ thành phố”, do Thành ủy Hải Phòng chủ trì,
năm 2009, gồm 2 tập Tập 1, các chuyên đề về phát triển kinh tế [109]; Tập 2,các chuyên đề về văn hóa, xã hội [110] Nội dung các chuyên đề góp phần tổng kết thực tiễn các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa từ năm 2001 đến năm
2007 và cung cấp cho nghiên cứu sinh những tư liệu, số liệu về các vấn đề liên quan đến ASXH ở Hải Phòng
Đề tài khoa học cấp thành phố “Môi trường sống, điều kiện lao động của công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hải Phòng của Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng, năm 2011 [70]
Trang 38Công trình làm rõ những thay đổi về môi trường sống và điều kiện lao động của công nhân ở Hải Phòng, tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Trước thực trạng đó, nhóm tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp để nâng cao môi trường sống và điều kiện lao động cho công nhân, góp phần quan trọng vào việc ổn định cuộc sống, đảm bảo ASXH trên địa bàn thành phố
Đề tài khoa học cấp thành phố “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo dân chủ và ASXH phục vụ xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng” của
Trường Đại học Hải Phòng, năm 2015 [126] Công trình một mặt đã nêu lên thực trạng của vấn đề đảm bảo dân chủ và ASXH trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng Bên cạnh đó, làm rõ mối quan hệ giữa ASXH với quá trình xây dựng nông thôn mới Trong quá trình xây dựng nông thôn mới việc đầu tư xây dựng các công trình về giáo dục, y tế, nhà văn hóa, công trình nước sạch; các giải pháp để nâng cao thu nhập cho người dân, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn vừa làm thay đổi diện mạo ở nông thôn vừa thực hiện tốt ASXH
Luận án “Nguồn lao động và sử dụng lao động ở thành phố Hải
Phòng”, của nghiên cứu sinh Tô Thị Hồng Nhung, năm 2017 [82] Luận án đã
chỉ rõ những vấn đề nổi bật liên quan đến lao động và sử dụng lao động ở HảiPhòng đang gặp phải như hạn chế về chất lượng, chưa đáp ứng được cho yêu cầu phát triển, tập trung đông ở khu vực nông thôn, thu nhập và năng suất thấp và Hải Phòng không phải điểm đến hấp dẫn thu hút lao động chất lượng cao như một số thành phố lớn khác Hơn thế nữa, Hải Phòng phải đối mặt với việc xuất cư của một bộ phận lao động có trình độ cao Đây thực sự là những trăn trở đối với thành phố
1.2 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa
Vấn đề ASXH đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh nhận thức và kế thừa những nội dung sau:
Trang 39Về cách tiếp cận ASXH như: 1) ASXH được xem như là một mục tiêu của phát triển xã hội, đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội được thụ hưởng các thành quả của sự phát triển kinh tế và ngang hàng với các mục tiêu khác như kinh tế, văn hóa; 2) ASXH được tiếp cận ở góc độ chính sách Đó là tập hợp các quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ mà một tổ chức chính trị hay nhà nước ban hành để bảo vệ cuộc sống của người dân trước sự tác động bấtlợi của kinh tế, xã hội và tự nhiên 3) ASXH còn được tiếp cận như là một yếu tốcủa quyền con người - quyền được an sinh Đây là quyền cơ bản của con người, quyền được làm chủ cuộc sống của mình, quyền được bảo vệ, được tạo cơ hội đểduy trì và phát triển cuộc sống của cá nhân và gia đình mình.
Về đối tượng thụ hưởng của ASXH Thứ nhất, theo nghĩa rộng, ASXH
xã hội dành cho tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội Thứ hai, theo
nghĩa hẹp, ASXH nhằm tác động đến một nhóm người nhất định như: những người yếu thế trong xã hội (người nghèo, người khuyết tật, người già cô đơn, trẻ em lang thang ) và những người gặp phải rủi ro do sự tác động của kinh
tế, xã hội hoặc tự nhiên
Về vai trò của ASXH đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội: Đây
là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, duy trì xã hội ổn định và phát triển bền vững, một thước đo trình độ văn minh, tiến
bộ, nhân văn của đất nước
Bên cạnh những vấn đề trên, các công trình khoa học ở trong nước đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến ASXH ở Việt Nam như: đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về ASXH; những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện hiện chính sách ASXH trên một số trụ cột như: xóađói giảm nghèo, giải quyết vấn đề việc làm, thực hiện BHXH, phát triển y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin… Từ thực trạng đó, nguyên nhân (kháchquan và chủ quan) trong quá trình thực hiện chính sách đã được nêu ra và phân tích kĩ lưỡng Kết hợp với kinh nghiệm của một số quốc gia và địa
Trang 40phương các công trình đã đề xuất một số phương hướng, giải pháp để hoàn thiện chính sách và thực hiện tốt hơn vấn đề ASXH ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối với những công trình nghiên cứu ở Hải Phòng, luận án kế thừa nhiều nội dung như: đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa của một thành phố ven biển - một trung tâm công nghiệp ở phía Bắc; những quan điểm, chủ trương và biện pháp của thành phố Hải Phòng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và giải quyết các vấn đề về ASXH nói riêng; một số thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện chính sách ASXH
1.3 Những vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu
Vấn đề ASXH đã được các nhà khoa học làm rõ về cả lý luận và thực tiễn ở cấp độ cả nước cũng như ở một số địa phương cụ thể Ở thành phố Hải Phòng, ASXH cũng đã được đề cập trong các nghị quyết của Đảng bộ thành phố, trong các báo cáo của các cơ quan chức năng hay một sô nội dung cụ thể
đã trong các công trình khoa học Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề ASXH trong một khoảng thời gian nhất định Bởi vậy, trong quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu sinh sẽ tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Phân tích các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng, từ đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn thách thức tác động trực tiếp đến quá trình thực hiện chính sách ASXH ở thành phố
Làm rõ tiến trình thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố từ năm 2001 đến năm 2015 Trong đó, tập trung các trụ cột chính: giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản
Rút ra những đặc điểm trong quá trình thực hiện chính sách, đánh giá tác động đến vấn đề kinh tế - xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra