1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định hàm lượng anthraquinon toàn phần trong một số loại dược liệu bằng phương pháp quang phổ

46 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH Bảng 2.1 Độ thu hồi chấp nhận ở các nồng độ khác nhau 22 Bảng 2.1 Độ lặp lại tối đa chấp nhận tại các nồng độ khác nhau 23 Bảng 3.1 Giới hạn phát hiện LOD và giới

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỌC NÔNG LÂM VIỆN KHOA HỌC SỰ SỐNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỌC NÔNG LÂM VIỆN KHOA HỌC SỰ SỐNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Giới thiệu về Anthraquinon 2

1.1.1 Giới thiệu chung 2

1.1.2 Phân loại và cấu trúc 3

1.2 Tình hình nghiên cứu về hợp chất Anthraquinon trong nước và trên thế giới.7 1.2.1 Tình hình nghiên cứu về hợp chất Anthraquinon trong nước 7

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hợp chất Anthraquinon trên thế giới 9

1.3 Tổng quan về các loại dược liệu nghiên cứu 10

1.3.1 Ba kích 10

1.3.2 Hà thủ ô 11

1.3.3 Muồng trâu 12

1.3.4 Đại hoàng 13

1.4 Các phương pháp xác định Anthraquinon trong dược liệu 15

1.4.1 Định tính hợp chất Anthranoid trong dược liệu 15

1.4.2 Định lượng hợp chất anthranoid 17

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU19 2.1 Vật liệu nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp phân tích 19

2.4.1 Hóa chất, thiết bị và dụng cụ 19

2.4.2 Phương pháp phân tích 20

2.5 Các thông số đánh giá thẩm định phương pháp 21

2.5.1 Xác định giới hạn phát hiện (Limit of detection – LOD) 21

2.5.2 Xác định giới hạn định lượng (Limit of quantitation - LOQ) 21

2.5.3 Xác định khoảng tuyến tính và đường chuẩn (linearity and Calibration curve) 21

2.5.4 Xác định độ thu hồi của phương pháp 22

2.5.5 Xác định độ lặp lại của phương pháp 23

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình xác định hàm lượng Anthraquinon toàn phần bằng phương pháp quang phổ 24

3.1.1 Xác định giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) 24

3.1.2 Xác định khoảng tuyến tính và đường chuẩn 25

3.1.3 Xác định hệ số thu hồi của phương pháp 26

3.1.4 Đánh giá độ lặp lại 27

3.2 Kết quả phân tích xác định hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong một số dược liệu 28

3.2.1 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu Ba kích ……….28

3.2.2 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu Hà thủ ô đỏ ………….29

3.2.3 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu Muồng trâu ………….29

3.2.4 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu Đại hoàng ……… 30

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

Bảng 2.1 Độ thu hồi chấp nhận ở các nồng độ khác nhau 22 Bảng 2.1 Độ lặp lại tối đa chấp nhận tại các nồng độ khác nhau 23

Bảng 3.1 Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng

(LOQ) của phương pháp 24 Bảng 3.2 Khoảng nồng độ và mật độ quang 25 Bảng 3.3 Hệ số thu hồi ở các nồng độ tính theo Emodin 26 Bảng 3.4 Độ lặp lại của phương pháp trên các nền mẫu 27

Bảng 3.5 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu ba

kích và sản phẩm của nó 28 Bảng 3.6 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu Hà thủ ô đỏ và sản phẩm của nó 29 Bảng 3.7 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu

Muồng trâu và sản phẩm của nó 30 Bảng 3.8 Hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong dược liệu

Đại hoàng và sản phẩm của nó 31 Hình 3.1 Đồ thị chuẩn Anthraquinone tổng số 25

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ cái viết tắt/ký hiệu Cụm từ đầy đủ

AOAC Association of Official Analytical Chemists

HPLC High Performance Liquid Chromatography

HL Hàm lượng LOQ Limit of quantitation

LOD Limit of detection

Trang 6

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: Nghiên cứu xác định hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong một số loại dược liệu bằng phương pháp quang phổ

Mã số: T2016-29

Chủ nhiệm đề tài: ThS Vũ Thị Ánh Tel: 0982892699 E-mail: vuthianh412@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Khoa học sự sống

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:

1 ThS Nguyễn Thị Duyên

2 KS Trần Phú Cường

3 CN: Ngô Thị Thu

4 KS: Dương Thị Khuyên

Phòng phân tích hóa học – Viện khoa học sự sống

Thời gian thực hiện: 01/2016-12/2016

1 Mục tiêu: Xác định được hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong một số loại dược liệu quý như: Ba kích, Đại hoàng, Muồng, Hà thủ ô,…

Trang 7

SUMMARY

Research Project Title: Research to determine the content of Anthraquinone total

of some medicinal materials by the spectrum methods

Code number: T2016-29

Coordinator: Vu Thi Anh

Implementing Institution: Institute of Life Sciences

Cooperating Institution(s): Chemical analysis room - Institute of Life Sciences Duration: from January 2016 to December 2016

1 Objectives: Determined the content of Anthraquinone total of some medicinal

materials as Morinda officinalis How; Rheum palmatum L; Fallopia multiflora Thunb; Senna alata L

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Anthraquinon hay Anthranoid là những dẫn chất của 9,10-dixeton-anthraxen Anthraquinon là sản phẩm thủy phân anthraglucozit Phần đường có thể là monozơ, diozơ, triozơ tùy theo loại hợp chất anthraglucozit Phần không đường có nhân căn bản là anthraxen

Hợp chất anthraglucozit có trong nhiều loại dược liệu quý như: Lô hội, Đại hoàng, Hoàng tinh, Hà thủ ô, Dây thìa canh, cây Mặt quỉ, cây Nhàu, cây Muồng trâu, Phan tả diệp, Ba kích,… với các hoạt tính sinh học khác nhau: Một số có tác dụng thanh nhiệt, hạ hoả, giải độc, ích thận, cường gân cốt; một số được dùng trị mụn nhọt, lỵ, mẩn ngứa, ghẻ lở ngoài da, dùng tẩy giun sán; hỗn hợp các Anthraquinon trong một số loài có tác dụng giảm đau, trị viêm da, ngăn ngừa tối đa

sự xâm nhập của các độc tố, vi khuẩn; một số chất như emodin và rhein thuộc nhóm này trực tiếp ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư như cây Đại hoàng, hoạt tính Anthraquinon trong củ Ba kích có tác dụng thanh nhiệt, hạ hoả, giải độc, ích thận, cường gân cốt Ðược dùng để bổ thận, tráng dương, ích tinh, mạnh gân cốt, trừ phong thấp,…

Ngành khai thác dược liệu nước ta đang trên đà phát triển, đặc biệt là việc chiết xuất các hợp chất có nguồn gốc thiên nhiên Anthraquinon là một hợp chất quý với nhiều hoạt tính sinh học khác nhau, việc nghiên cứu về hàm lượng của nó trong các dược liệu trên sẽ là tiền đề cho việc khai thác và chế biến dược liệu phát triển

Ở nước ta, những công trình nghiên cứu về hợp chất Athraquinon trong các

dược liệu còn rất hạn chế Do vậy, đề tài ‘Nghiên cứu xác định hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong một số loại dược liệu bằng phương pháp quang phổ” là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Mục tiêu

Xác định được hàm lượng Anthraquinon toàn phần trong một số loại dược liệu

quý như: Ba kích, Đại hoàng, Muồng, Hà thủ ô,…

Trang 9

PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về Anthraquinon

1.1.1 Giới thiệu chung

Những hợp chất Anthranoid nằm trong nhóm lớn Hydroxyquinon Những hợp chất quinon được tìm thấy chủ yếu trong ngành nấm, địa y, thực vật bậc cao và cả trong động vật Căn cứ vào số vòng thơm đính thêm vào nhân quinon mà người ta sắp xếp thành benzoquinon, naphthoquinon, anthraquinon và naphthacenequinon hay còn gọi là anthracyclinon

Anthranoid hay Anthraquinon khi tồn tại dưới dạng glycosid thì được gọi là anthraglycosid hay anthracenosid Cũng như các loại glycosid khác anthraglycosid

là những glycosid khi bị thuỷ phân sẽ cho phần đường và phần aglycon (genin) là dẫn chất 9,10 Anthraquinon; 9,10-anthracendion; 9,10 dixeton của anthraxen [5]

Ða số các Anthraglycosid là các polyoxy Anthraquinon Gắn vào nhân thường

có các nhóm chức -OH, -OCH3, -CH3, -COOH Tuỳ theo vị trí các nhóm chức đính vào nhân mà có các dẫn chất khác nhau Vì trong tự nhiên hầu như chưa gặp các dẫn chất 1,2 hoặc 1,4-anthracendion nên khi nói đến các dẫn chất Anthraquinon trong tự nhiên thì người ta hiểu rằng đó là những dẫn chất 9,10-anthracendion Sự tạo thành các dẫn chất Anthraquinon xuất phát từ 2 con đường:

(1) Ðối vơi những dẫn chất 1,8-dihydroxyanthraquinon hay gặp trong các họ thực vật Polygonaceae, Caesalpiniaceae, Rhamnaceae cũng như trong một số nấm và địa

y, con đường sinh nguyên xuất phát từ các đơn vị acetat Người ta đưa acetat có đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ vào môi trường nuôi cấy nấm Penicillium islandicum là nấm tạo ra dẫn chất Anthranoid thì thấy các đơn vị acetat được ngưng

tụ nối với nhau theo đầu đuôi Chất poly-b-cetomethylen acid được tạo thành đầu tiên rồi tiếp theo các dẫn chất anthranoid

(2) Con đường thứ hai tạo thành các dẫn chất Anthraquinon trong một số họ thực vật khác chủ yếu là họ Rubiaceae thì chất tiền sinh là acid shikimic Sau khi acid này ngưng tụ với một acid a-cetoglutaric thì tạo thành một dẫn chất naphtalen rồi chất này lại gắn thêm một gốc isoprenyl để rồi đóng vòng tạo ra các dẫn chất Anthraquinon [11]

Trang 10

1.1.2 Phân loại và cấu trúc

Hợp chất Antraquinon có thể chia thành ba nhóm: Nhóm phẩm nhuộm, nhóm

nhuận tẩy, nhóm dimer [4]

1.1.2.1 Nhóm phẩm nhuộm

Là các dẫn chất 1,2 dihydroxy Anthraquinon Những dẫn chất thuộc nhóm này

có màu từ đỏ cam đến đỏ tía, trong cấu trúc có 2 nhóm OH kế cận ở vị trí a và b và

hay gặp trong một số chi thuộc họ Cà phê - Rubiaceae (chi Rubia, Coprosma )

Ðại diện nhóm này có: alizarin (1,2 dihydroxy Anthraquinon); acid ruberythric (=2-primeverosid của alizarin), purpurin (= 1,2,4-trihydroxyAnthraquinon)

Ngoài ra, còn có thể kể thêm một số dẫn chất khác như:

- Boletol là chất có màu đỏ sáng có trong một số loài nấm thuộc chi Boletus

- Acid carminic carboxylic acid) ở dạng muối nhôm được gọi là carmin có màu đỏ là thuốc nhuộm dùng làm tá dược màu trong bào chế khoa, trong thực phẩm, mỹ phẩm và nhuộm vi

(7-C-glucopyranosyl-3,5,6,8-tetrahydroxy-1-methylAnthraquinon-2-phẫu thực vật Acid carminic được chiết từ loài sâu Dactylopius coccus Costa (Coccus cacti L.) Loại sâu này sống trên nhiều loài xương rồng thuộc chi Opuntia họ Xương rồng - Cactaceae ở Trung Mỹ, chủ yếu ở Mexico Người ta

lấy những con sâu cái trước khi trứng chưa phát triển hoàn toàn rồi đem sấy khô Nguyên liệu chứa đến 10% chất màu Acid carminic là một C-glucosid

- Acid kermesic là chất màu lấy từ loài sâu Kermococcus ilicus Ở nước ta có cánh kiến đỏ là sản phẩm do loài sâu Laccifer lacca Kerr tạo ra trên cành một số cây chủ như cây đậu chiều Cajanus indicus, cây đề (Ficus religiosa L.) thành phần

chính của cánh kiến đỏ là nhựa dùng để chế shellac dùng để đánh bóng vecni đồ gỗ, mây tre; sản phẩm phụ là chất màu đỏ sẫm gọi là acid laccaic

Trang 11

Các chất physcion, fallacinol, fallacinal, acid parietinic đều cùng tồn tại trong

một số loài địa y thuộc chi Xanthoria

Physcion R = CH3

Fallacinol R = CH2OH

Fallacinal R = CHO

Acid parietinic R = COOH

Những dẫn chất Anthranoid khi ở trong thực vật có thể tồn tại dưới dạng oxy hoá (anthraquinon) hoặc dạng khử (anthron, anthranol) Nếu khử một trong 2 nhóm chức ceton của anthraquinon sẽ cho dẫn chất anthron hoặc đồng phân của chất này

Trang 12

là anthranol (dạng enol) Nếu khử tiếp thì dẫn đến dẫn chất dihydroanthranol Dạng khử có tác dụng xổ mạnh nhưng hay gây đau bụng, vì vậy một số dược liệu chứa Anthranoid phải để một năm sau khi thu hái mới dùng để dạng khử chuyển thành dạng oxy hoá

Khi tạo thành glycosid thì mạch đường thường nối vào vị trí 1 hoặc 8, có khi

ở vị trí 6 ví dụ frangulin A (= frangulosid A) có trong vỏ cây Rhamnus frangula L

Nếu có 2 mạch thì 1 và 8 hoặc 6 và 8 Mạch đường có thể là đường đơn như glucose, rhamnose, apiose, đường đôi như glc-glc, glc-xyl; đường ba như rha-glc-glc Dây nối glycosid thường gặp loại O-glycosid nhưng cũng có loại C-glycosid

ví dụ barbaloin, hoặc vừa C vừa O-glycosid ví dụ aloinosid Cả 2 chất này đều có trong lô hội

Trang 13

1.1.2.3 Nhóm dimer

Một số dẫn chất Anthranoid dimer do 2 phân tử ở dạng anthron bị oxy hoá rồi trùng hợp với nhau tạo thành dianthron hoặc tiếp đến các dẫn chất dehydrodianthron

ví dụ sự tạo thành hypericin là chất có trong cây Hypericum perforatum, có tác

dụng kháng khuẩn dùng chữa viêm dạ dày, ruột, răng, miệng

Một số ví dụ khác là các chất: ararobinol (có trong cốt khí muồng và trong các

loài Rumex spp.), sennosid (có trong Phan tả diệp) hoặc rheidin (có trong Đại

hoàng)

Trang 14

Trong chi Cassia người ta còn gặp một số dimer dạng dianthraquinon như cassianin, cassiamin Loại dianthraquinon còn gặp trong một số loài nấm Penicillium

Trong thực vật ngoài những dẫn chất Anthranoid xếp vào 3 nhóm trên còn có những dẫn chất khác có một số nhóm thế đặc biệt, ví dụ chất fragilin có trong địa y

Sphaerophorus globosus hoặc nalgiolaxin có trong nấm Penicillium có gốc Cl

Các dẫn chất Anthranoid được phân bố trong khoảng 30 họ thực vật khác

nhau, chủ yếu là những cây 2 lá mầm Các họ hay gặp: Caesalpiniaceae, Rhamnaceae, Rubiaceae, Polygonaceae Trong cây một lá mầm rất hiếm Cho đến nay có 2 cây được biết: Lô hội - Aloe spp và Hemerocallis aurantiaca Trong nấm, địa y cũng có Trong động vật thì gặp trong các loài sâu như Coccus cacti, Kermococcus ilicus, Lacifer lacca [4]

1.2 Tình hình nghiên cứu về hợp chất Anthraquinon trong nước và trên thế giới

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về hợp chất Anthraquinon trong nước

Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới thuộc khu vực Đông Nam Á Hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với xấp xỉ 2.500 loài thực vật đã được nhận diện Nhiều loại thực vật trồng ở Việt Nam đã được sử dụng trong y học, dược liệu từ lâu đời vì những đặc tính sinh học đa dạng của nó Thực vật dược liệu trồng ở Việt Nam cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trong vài thập kỷ qua [8] Có thể nói Việt Nam có nguồn thực vật dồi dào phục vụ tốt cho lĩnh vực thực phẩm cũng như dược phẩm Mặc dù vậy, cho đến nay những nghiên cứu về thực vật trồng ở Việt Nam chủ yếu là khám phá các đặc tính sinh học phục vụ cho mục đích dược liệu Những nghiên cứu này chỉ giới hạn trong một số loại thực vật

Trang 15

dược liệu Trong khi đó, nghiên cứu về Anthraquinon trong thực vật ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ [3]

Cốt khí muồng còn có tên khác là vọng giang nam, muồng lá khế, dương giác đậu (muồng sừng dê) Hạt có: physcion, emodin, 1,8-dihydroxy-2-methyl Anthraquinon, 1,4,5-trihydroxy 7-methoxy Anthraquinon, physcion glucosid, ararobinol Chất nhầy trong hạt cốt khí muồng thuộc loại galactomannan Trong hạt còn có N-methylmorpholin Hoa có: physcion, emodin, physcion glucosid Rễ có: chrysophanol, physcion, emodin, islandicin, helminthosporin Ngoài ra còn có một dẫn chất xanthon là cassiolin và phytosterol [3]

Cây muồng trâu : Cây nhỏ cao 1,50m có khi đến 3m, thân gổ mềm có đường kính 10 - 12cm hoặc hơn Muồng trâu mọc hoang và được trồng ở một số nơi miền trung và miền nam nước ta Thành phần hóa trong lá, quả và rễ đều có chứa các dẫn chất anthranoid Trong lá có các chất sau đã được phân lập và xác định: chrysophanol, aloe emodin, rhein, emodin [7]

Cây ô môi, theo kinh nghiệm nhân dân, cây ô môi có quả ngọt, ăn được, chế rượu thuốc có màu đỏ nâu đẹp, có tác dụng kích thích tiêu hóa, chữa đau lưng, nhức xương Lá dùng để chữa hắc lào, lở ngứa Quả có chứa các dẫn chất anthranoid, hàm lượng 1,1% gồm có: rhein, sennosid A và B, acid fistulic (=1,4-dihydroxy-6,7-dimethoxy-2-methyl 3-carboxyl anthraquinon)

Đại hoàng: Thành phần hoạt chất trong đại hoàng chủ yếu là những dẫn chất anthranoid, hàm lượng trong đại hoàng Trung quốc: 3 - 5%, tồn tại dưới các dạng khác nhau:

+ Anthraquinon tự do Tỉ lệ khoảng 0,10 - 0,20% theo dược liệu khô và gồm có: chrysophanol, emodin, physcion, aloe emodin và rhein (công thức, xem phần đại cương)

+ Các glucosid của Anthraquinon Chiếm khoảng 60 - 70% của toàn phần hoạt chất và gồm các glucosid của các aglycon nói ở trên

+ Các glucosid của các anthranol và anthron tương ứng với những aglycon nói trên Những dẫn chất này dễ bị oxy hóa thành các dẫn chất Anthraquinon và chỉ tồn tại trong dược liệu tươi về mùa đông (về mùa hè chủ yếu là các dẫn chất ở dạng oxy hóa) do đó thu hoạch tốt nhất về mùa thu

+ Các dẫn chất dimer dianthron tồn tại trong cây dưới dạng mono và diglucosid như trong phan tả diệp

Trang 16

+ Các heterodianthron carboxylic như rheidin, các heterodianthron không có nhóm carboxyl như palmidin A (= heterodianthron của emodin và aloe emodin), palmidin B (= heterodianthron của aloe emodin và chrysophanol) và palmidin C (= heterodianthron của rheum emodin và chrysophanol)

+ Trong đại hoàng còn có deshydrodianthron như dirhein

Rễ củ cốt khí chứa các dẫn chất Anthranoid ở dạng tự do và dạng kết hợp glycosid hàm lượng 0,1 - 0,5% Các thành phần đã xác định: Chrysophanol, emodin, physcion, emodin 8 - glucosid Ngoài các dẫn chất Anthranoid trong rễ cốt khí còn có polydatin là một stilben glucosid khi thủy phân cho resveratrol Trong Y học cổ truyền dược liệu ít được dùng làm thuốc nhuận tẩy mà dùng để chữa viêm gan, vàng da, chữa tê thấp đau nhức gân xương, viêm phế quản mãn tính [7]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hợp chất Anthraquinon trên thế giới

Theo một số tác giả Nga thì các dẫn chất quinon đặc biệt là các dẫn chất Anthraquinon có tác dụng kích thích miễn dịch chống ung thư Xuất phát từ acid chrysophanic vàmột số dẫn chất Anthraquinon khác, người ta bán tổng hợp một số dẫn chất có N-, S- và gốc halogen có hoạt tính chống ung thư [12]

Sennosid A và B được Stoll (Thụy Sĩ) cùng các cộng sự phân lập và xác định công thức vào năm 1949 Đây là thành phần chính của lá phan tả diệp Những chất này có màu vàng dễ kết tinh, phản ứng acid, hơi tan trong nước, tan trong cồn Khi thủy phân bằng acid, mỗi phân tử sennosid A hoặc B giải phóng ra 2 phân tử glucose Phần aglycon là các sennidin A hoặc B, đây là hai đồng phân, sennidin A

là đồng phân quay phải còn sennidin B là đồng phân meso Cấu tạo của chúng là dirhein anthron, phần đường đính vào vị trí 8 và 8’ để tạo thành sennosid Các sennidin không bền ngoài không khí, bị oxy hóa thành dirhein và rhein Năm 1965 Lemli (Bỉ) còn tách được từ lá các sennosid C và D Hai glucosid này cũng là hai đồng phân mà aglycon là một heterodianthron của rhein và aloe –emodin [14] Các nhà nghiên cứu Đức còn xác định thêm những chất không phải dẫn chất anthranoid: rubrofusarin, nor-rubrofusarin, rubrofusarin 6-gentibiosid, toralacton và chất “A tora” một chất thuộc nhóm xanthon

Liên Xô cũ đã có những nghiên cứu hỗn hợp các dẫn chất Anthraquinon có trong rễ cây Rubra tinctoria L có tác dụng thông tiểu và có khả năng tống sỏi thận

và đã có một số chế phẩm từ dược liệu này

Trang 17

Năm 1968 các nhà nghiên cứu Đức đã phân tích hạt thảo quyết minh của Việt nam Từ hạt, sau khi loại chất béo bằng ether dầu hỏa, thủy phân bằng H2SO4 20%, chiết các aglycon bằng benzen, xác định bằng sắc ký lớp mỏng thấy trong dung dịch benzen có các chất: chrysophanol, physcion, rheum emodin, aloe emodin và rhein Cũng từ hạt sau khi loại chất béo, chiết bằng methanol rồi tách chiết bằng sắc ký lớp mỏng đã sơ bộ xác định có các chất aloe emodin monoglucosid, physcion diglucosid, chrysophanol diglucosid và triglucosid, chrysophanol anthron, obtusin, aurantioobtusin, chrysoobtusin [13]

1.3 Tổng quan về các loại dược liệu nghiên cứu

1.3.1 Ba kích

Tên khác: Cây ruột gà; Ba kích thiên

Tên khoa học: Morinda officinalis How

Họ: Cà phê

Mô tả: Cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn Thân non mầu tím, có lông, phía sau nhẵn Cành non, có cạnh Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn nhọn, cứng, dài 6-14cm, rộng 2,5-6cm, lúc non mầu xanh lục, khi già mầu trắng mốc Lá kèm mỏng ôm sát thân Hoa nhỏ, lúc non mầu trắng, sau hơi vàng, tập trung thành tán ở đầu cành, dài 0,3-1,5cm, đài hoa hình ch n hoặc hình ống gồm những lá đài nhỏ phát triển không đều Tràng hoa dính liền ở phia dưới thành ống ngắn Quả hình cầu, khi chín mầu đỏ, mang đài còn lại ở đỉnh Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-10 Rễ dùng làm thuốc thường khô, thường được cắtthành từng đoạn ngắn, dài trên 5cm, đường kính khỏang 5mm, có nhiều chỗ đứt để lộ ra lõi nhỏ bên trong.Vỏ ngoài mầu nâu nhạt hoặc hồng nhạt, có vân dọc Bên trong là thịt mầu hồng hoặc tím, vị hơi ngọt [3]

Địa lý: Ba Kích mọc hoang, phân bố nhiều ở vùng đồi núi thấp của miền núi

và trung du ở các tỉnh phía Bắc Ba Kích có nhiều ở Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Giang, Hà Tây

Dược liệu: Ba kích thiên hình trụ tròn, hơi cong, dài không nhất định, đường kinh 0,7-1,3cm Mặt ngoài mầu vàng tro, nhám, có vân dọc Vỏ ngoài và trong gẫy

lộ ra phần lõi gỗ và vân nứt ngang, giống như chuỗi hạt trai Chất cứng, cùi dầy, dễ bóc Mặt gẫy mầu tím nhạt, ở giữa mầu nâu vàng Không mùi, vị ngọt nhưng hơi chát [15]

Trang 18

Thành phần hóa học: Trong Ba kích có Gentianine, Carpaine, Choline, Trigonelline, Diogenin, Yamogenin, Gitogenin, Tigogenin, Vitexin, Orientin, Quercetin, Luteolin, Vitamin B1, Morindin, Vitamin C Rễ chứa Antraglycozid, đường, nhựa, Acid hữu cơ, Phytosterol và ít tinh dầu, Morindin

đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại

3 Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột cống trắng bằng Kaolin với liều lượng 5-10g/kg, Ba Kích có tác dụng chống viêm rõ rệt

4 Đối với hệ thống nội tiết: thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt cho thấy

Ba Kích không có tác dụng kiểu Androgen nhưng có thể có khả năng tăng cường hiệu lực của Androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết hormon Androgen

5 Nước sắc Ba Kích có tác dụng làm tăng co bóp của chuột và hạ huyết áp

1.3.2 Hà thủ ô

Tên khác của hà thủ ô đỏ: Dạ giao đằng

Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb) Haraldson = Polygonum multiflorum Thunb), họ Rau răm (Polygonaceae)

Mô tả: Cây: Dây leo, sống nhiều năm Thân rễ phồng thành củ Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân Lá mọc so le, có cuống dài Phiến lá hình tim, dài 4 – 8cm, rộng 2,5 – 5cm, đầu nhọn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân Hoa tự chùm nhiều nhánh Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng Bao hoa màu trắng, 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn) Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau Đầu nhụy hình mào gà rủ xuống Quả

3 góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên [3]

Phân bố: Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi

Trang 19

vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định [16]

Dược liệu: Rễ củ hình tròn, dài, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng to Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu nâu sẫm, mô mềm vỏ màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có ít lõi gỗ Vị chát Bộ phận dùng: Rễ

củ phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson)

Thành phần hoá học: Thân rễ Hà thủ ô chứa antranoid, trong đó có emodin, chrysophanol, rhein, physcion; protid, tinh bột, lipid, chất vô cơ, các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin), 2,3,5,4 tetrahydroxytibene 2-O-b-D-glucoside

Tác dụng dược lý:

+ Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên

mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin [9] + Thuốc làm chậm nhịp tim Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu

+ Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm

+ Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylAnthraquinone làm tăng nhu động ruột

Tên khoa học: Senna alata Roxb L., họ Đậu (Fabaceae)

Mô tả cây: Muồng trâu là một cây nhỏ cao chừng 1,5 m hay hơn, ít phân cành

Lá kép lông chim chẵn có 8-14 đôi lá chét Đôi lá chét đầu tiên nhỏ nhất, cách đôi lá

Trang 20

chét sau một khoảng hơi xa hơn so với các đôi lá chét sau Cụm hoa mọc thành bông, gồm nhiều hoa màu vàng Quả dẹt có cánh ở hai bên rìa, trong chứa nhiều hạt hình quả trám

Phân bố sinh thái: Cây có nguồn gốc Nam Mỹ, hiện nay được trồng khắp các vùng nhiệt đới Ở nước ta, cây có nhiều ở các tỉnh miền Trung, miền Nam

Dược liệu: Sử dụng lá, hạt

Thành phần hóa học: Trong lá, quả và rễ đều có chứa các dẫn chất anthranoid Trong lá có các chất sau đã được phân lập và xác định: chrysophanol, aloe emodin, rhein, emodin Trong rễ có 2 dẫn chất Anthraquinon đã được phân lập: (Tiwari Ram.D và Yadava D.P 1971): 1,3,8-OH, 2-CH3 -Anthraquinon; 1,5-OH, 2-CH3 , 8-OCH3, 3-O-glucosyl Anthraquinon Trong hạt muồng trâu còn có khoảng 15% protein Các acid béo không no khoảng 60% , lượng acid béo toàn phần chủ yếu gồm các acid béo 18 carbon Ngoài ra, còn có các chất như Ca, Mg, Na, Mn, trong

đó Ca chiếm tỷ lệ cao nhất (17mg/100g) [18]

Tác dụng dược lý:

+ Nghiên cứu gần đây ở nước ngoài cho thấy lá muồng trâu có tác dụng kháng nấm và kháng khuẩn, vì vậy cho rằng có triển vọng làm thuốc điều trị nhiễm trùng

cơ hội cho bệnh nhân AIDS [9]

+ Cao lá muồng trâu có tác dụng bảo vệ gan tốt, thể hiện trên tác dụng làm giảm có ý nghĩa thống kê 73,58 % hoạt độ ALT và 31,32 % hàm lượng bilirubin ở chuột nhắt trắng bị gây viêm cấp bằng CCl4 [19]

+ Cao nước lá muồng trâu có tác dụng ức chế xơ gan, làm giảm 12,64 % hàm lượng collagen ở gan chuột cống trắng bị gây xơ gan bằng CCl4 ( P < 0,01 )

+ Cao nước lá muồng trâu có tác dụng chống viêm mạn tốt, làm giảm 26,6 % trọng lượng u hạt ở chuột cống trắng bị gây bởi amian (P < 0,05 )

+ Cao nước lá muồng trâu có tác dụng lợi mật, làm tăng 39,64 % lượng mật sinh ra ở chuột nhắt trắng

+ Cao nước lá muồng trâu có triển vọng trong nghiên cứu làm thuốc hỗ trợ điều trị viêm gan cấp và mãn tính

1.3.4 Đại hoàng

Tên khác: Tướng quân, Cẩm văn đại hoàng, Xuyên đại hoàng, Hoàng lương, Phu như, Phá môn, Vô thanh hổ, Cẩm trang hoàng

Trang 21

Tên khoa học: Rheum palmatum L., họ Rau răm (Polygonaceae) và một số loài thuộc chi này

Mô tả: Cây: Cây thảo sống lâu năm Rễ và thân rễ to Thân cao tới 2m, giữa rỗng, mặt ngoài nhẵn Lá ở dưới to, dài tới 35cm, có cuống dài; phiến lá hình tim nhưng xẻ thành 3-7 thuz, có mép nguyên hoặc hơi có răng cưa Lá ở phía trên thân nhỏ hơn Cụm hoa chùm dài màu tím Quả bế có 3 cạnh Dược liệu: Thân rễ (còn gọi là củ) lớn dài 5-17cm có khi lớn hơn nữa, rộng 4-10cm, dày 2-4cm hoặc khoanh tròn, trên mặt có bụi màu vàng đẹp, chắc cứng và thơm gắt, cắt ra trơn nhánh, cắn dính vào răng là tốt Tùy theo loại, có thứ mềm đầu có màu vàng đen có thứ thịt khô

ít dầu Loại dầu nhiều bóng là tốt [3]

Phân bố: Vị thuốc nhập từ Trung Quốc Thu hái: Sau 3 năm thì thu hoạch được vào tháng 9-10 Đào cả cây cắt bỏ thân chồi, rễ con, lấy củ cạo vỏ ngoài, rửa sạch, để nguyên củ hay bổ đôi ra phơi cho mau khô Đặc biệt không nên dùng dao sắc thiết để cạo vỏ ngoài vì làm như thế sẽ biến củ đại hoàng thành màu đen [17] Dược liệu: Thân rễ đã cạo vỏ và phơi khô

Thành phần hoá học: Trong Đại hoàng có 2 loại hoạt chất có tác dụng ngược nhau Loại có tác dụng tẩy là các dẫn chất của Anthraquinonoid tổng lượng chiếm khoảng 3 – 5% phần lớn ở trạng thái kết hợp gồm có chrysophanol emodin, aloeemodin, rhein và physcion, loại có tác dụng thu liễm là các hợp chất có tanin (rheotannoglycosid) chủ yếu có glucogallin, rheumtannic acid, gallic acid, catechin, tetrarin, cinnamic acid, rheosmin Ngoài ra còn có acid béo, calcium axalate, glucose, fructose, sennoside A,B,C,D,E, các acid hữu cơ và các chất giống oestrogene [17]

Tác dụng dược lý:

– Chất gây tiêu chảy của Đại hoàng là Anthraquinone Tác dụng của thuốc chủ yếu là ở Đại tràng, thuốc làm cho trương lực của đoạn giữa và cuối đại tràng tăng, nhu động ruột tăng, nhưng không trở ngại cho việc hấp thu chất dinh dưỡng của tiểu tràng Nhưng trong Đại hoàng có chất Tanin nên sau tiêu chảy thường hay táo bón, hoặc liều nhỏ (ít hơn 0,3g/kg) thường gây táo bón [8]

– Tác dụng lợi mật: thuốc tăng co bóp túi mật, giãn cơ vòng oddi khiến mật bài tiết – Tác dụng cầm máu: thuốc có tác dụng cầm máu, rút ngắn thời gian đông máu, làm giảm tính thấm của mao mạch, cải thiện độ bền của thành mạch, làm tăng fibrinogene trong máu, làm mạch máu co thắt tăng, kích thích tủy xương chế tạo

Trang 22

tiểu cầu, nhờ vậy làm tăng nhanh thời gian đông máu Thành phần cầm máu chủ yếu là chrysophanol [9]

– Tác dụng kháng khuẩn: Đại tràng có tác dụng kháng khuẩn rộng chủ yếu đối với tụ cầu, liên cầu, song cầu khuẩn lậu, trực khuẩn bạch hầu, thương hàn, phó thương hàn, kiết lî.Thành phần ức chế vi khuẩn chủ yếu là dẫn chất của Anthraquinone Thuốc còn có tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh và virus cúm – Nước sắc Đại hoàng cho chó gây mê uống gây hạ áp Liều nhỏ của Đại hoàng kích thích tim ếch, liều lớn ngược lại ức chế

– Thành phần emodin và rhein trực tiếp ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư của hắc lựu (melanoma), ung thư vú và ung thư gan có ascite (nước bụng) ở chuột

– Thuốc có tác dụng lợi tiểu, bảo vệ gan và giảm cholesterol máu đối với thỏ gây cao cholesterol và cho uống thuốc Nhưng với thỏ bình thường thì không có tác dụng

1.4 Các phương pháp xác định Anthraquinon trong dược liệu

1.4.1 Định tính hợp chất Anthranoid trong dược liệu

Tiến hành phản ứng:

- Lấy 1ml dịch chiết ether (hoặc cloroform) cho vào ống nghiệm nhỏ Thêm

Trang 23

(hoặc cloroform) có màu vàng chứng tỏ trong dược liệu có chứa acid chrysophanic Thêm tiếp tục từng giọt dung dịch NaOH 10%, lắc nhẹ Lớp dung môi hữu cơ sẽ mất màu vàng, còn lớp nước sẽ đỏ thẫm hơn lúc ban đầu

- Lấy 1ml dịch chiết ether (hoặc cloroform) cho vào ống nghiệm nhỏ Thêm 1ml dung dịch NaOH 10%, lắc nhẹ Lớp nước sẽ có màu đỏ sim

- Lượng dược liệu thích hợp cho phản ứng: Đại hoàng: 0,5g; Cốt khí củ, Thảo quyết minh, Hà thủ ô đỏ: 1g

* Định tính Anthranoid toàn phần (dạng glycosid và dạng tự do)

Cho vào ống nghiệm lớn một lượng dược liệu thích hợp Thêm 5ml dung dịch acid sulfuric 1N Đun trực tiếp trên nguồn nhiệt đến sôi Tiếp tục lọc và chiết như ở trên

- Lấy 1ml dịch chiết ether (hoặc cloroform), thêm 1ml dung dịch amoniac Lắc nhẹ Lớp nước sẽ có màu đỏ sim Nếu lớp ether có màu vàng thì tiếp tục nhỏ từng giọt dung dịch NaOH 10% Lắc nhẹ Lớp ether sẽ mất màu còn lớp nước thì màu sẽ

- Dung dịch đối chiếu: Hòa tan acid chrysophanic trong cloroform, nếu không

có chất chuẩn đối chiếu acid chrysophanic, dùng bột Đại hoàng (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như dung dịch thử

- Bản mỏng Silicagel GF254 đã hoạt hóa ở 1050C trong 1 giờ

- Dung môi khai triển: Ether dầu hỏa - ethyl acetat - acid formic (75 : 25 : 1)

- Cách tiến hành: Chấm riêng rẽ lên bản mỏng mỗi dung dịch trên Sau khi triển khai sắc ký, quan sát bản mỏng dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366nm

Ngày đăng: 07/04/2021, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đạt Anh và cs (2012), Các xét nghiệm thường quy, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xét nghiệm thường quy
Tác giả: Nguyễn Đạt Anh và cs
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2012
2. Bộ môn Dược lý, trường Đại học Y Hà Nội (2005), Dược lý học lâm sàng, Nxb Y học, 166-180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học lâm sàng
Tác giả: Bộ môn Dược lý, trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2005
3. Võ Văn Chi (1999), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, NXB Giáo dục, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
5. Nguyễn Thượng Dong (2006), Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thuốc từ thảo dược
Tác giả: Nguyễn Thượng Dong
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2006
6. Nguyễn Thượng Dong (2008), Kỹ thuật chiết xuất dược liệu, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chiết xuất dược liệu
Tác giả: Nguyễn Thượng Dong
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2008
12. Arthur GD, Naidoo KK, Coopoosamy RM, (2012), Bidens pilosa L.: Agricultural and pharmaceutical importance, Journal of Medicinal Plants Research, 6(17), 3282-3287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bidens pilosa L.: "Agricultural and pharmaceutical importance
Tác giả: Arthur GD, Naidoo KK, Coopoosamy RM
Năm: 2012
13. Ashafa. AOT, Afolayan AJ, (2009), “Screening the root extracts from Biden pilosa L. var.radiata (Asteraceae) for antimicrobial potentials”. Journal of Medicinal Plants Research, 3(8), 568-572 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening the root extracts from Biden pilosa L. var.radiata (Asteraceae) for antimicrobial potentials
Tác giả: Ashafa. AOT, Afolayan AJ
Năm: 2009
4. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học Hà Nội Khác
7. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học Khác
8. Bùi Mỹ Linh; Trần Hùng, Nguyễn Viết Kình, (2012), Phương pháp nghiên cứu dược liệu, bộ môn dược liệu, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh Khác
9. Đoàn Thị Nhu, Đỗ Trung Đàm, Phạm Duy Mai, Nguyễn Thượng Dong, Nguyễn Thị Thu Hương (2006), Phương pháp nghiên cứu tác dụng dược lý của thuốc từ dược thảo, Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội Khác
10. Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Độ chính xác của phương pháp đo và kết quả đo, TCVN 6910: 2001, Hà Nội Khác
11. Viện Dược liệu (2004), Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, tập I, trang 816 – 818.Tài liệu nước ngoài Khác
14. Behera SK, Panda A, Bhera SK, Misra MK (2006), Medicinal plants used Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w