1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng giải phóng thuốc ranitidin của vật liệu bacterial cellulose nạp thuốc in vitro định hướng dùng cho đường uống

75 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Khảo sát quá trình giải phóng thuốc Ranitidin từ một số loại vật liệu BC nạp thuốc trong các môi trường giải phóng thuốc mô phỏng theo đường dạ dày - ruột khác nhau.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Thành

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

Tôi cũng vô cùng cảm ơn các thành viên trong gia đình tôi, các bạn bè và những người thân yêu của tôi đã không ngừng tạo điều kiện, thời gian, luôn

cổ vũ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Bồi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì luận văn nào khác

Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Bồi

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

7 Đóng góp mới của luận văn 4

PHẦN 2 NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Bacterial cellulose (BC) 5

1.1.1 Vài nét về vật liệu BC 5

1.1.2 Một vài nghiên cứu về vật liệu BC 6

1.2 Thuốc Ranitidin 9

1.3 Những công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 11

1.4 Cấu tạo của dạ dày 12

1.5 Cấu tạo của ruột non 15

1.6 Tiêu hóa ở dạ dày 16

1.6.1 Tiêu hóa cơ học ở dạ dày 16

1.6.2 Tiêu hóa hóa học ở dạ dày 18

1.7 Tiêu hóa ở ruột non 20

1.7.1 Tiêu hóa cơ học ở ruột non 20

1.7.2 Tiêu hóa hóa học trong ruột non 21

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Vật liệu nghiên cứu 25

2.1.1 Chủng vi khuẩn 25

Trang 6

2.1.2 Một số nguyên vật liệu và hóa chất thường dùng 25

2.1.3 Các dụng cụ thực hành 25

2.1.4 Một số môi trường nuôi cấy tạovật liệu BC 26

2.1.5 Hợp chất đệm pH được dùng để tính lượng thuốc giải phóng 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Tạo vật liệu BC 27

2.2.2 Cách tạo đường chuẩn của thuốc Ranitidin 28

2.2.3 Tạo vật liệu BC và hệ BC nạp thuốc 29

2.2.4 Nghiên cứu giải phóng thuốc từ vật liệu BC nạp thuốc với các loại BC có kích thước khác nhau và điều kiện môi trườngkhác nhau 30

2.2.5 Các mô hình động học giải phóng của Ranitidin từ vật liệu BC 31

2.2.6 Xử lý số liệu bằng thống kê 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Biểu đồ của ranitidin trong các môi trường 33

3.2 Khối lượng nạp thuốc vào vật liệu 36

3.3 Cách tính hàm lượng thuốc giải phóng 37

3.3.1 Hiệu suất giải phóng Ranitidin từ vật liệu BC-MTC nạp thuốc 38

3.3.2 Hiệu suất giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTD nạp thuốc 42

3.3.3 Hiệu suất giải phóng Ranitidin từ vật liệu BC-MTG nạp thuốc 45

3.3.4 Khả năng giải phóng Ran từ viên nén bao phim thương mại 47

3.3.5 Đối chiếu mức độ ảnh hưởng của các hợp chất pH đến hiệu suất giải phóng Ran của 3 loại vật liệu BC nạp thuốc và viên nén bao phim thương mại 48

3.3.6 Đối chiếu hiệu suất giải phóng Ranitidin của 3 loại vật liệu BC nạpthuốc và viên nén bao phim thương mại 49

3.4 Mô hình động học giải phóng Rantừ vật liệu BC nạp thuốc 50

3.4.1 Mô hình động học giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTC nạp thuốc 51

Trang 7

3.4.2 Mô hình động học giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTD nạp thuốc 52

3.4.3 Mô hình động học giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTG nạp thuốc 53

3.4.4 Mô hình động học giải phóng Ran từ viên nén bao phim thương mại 54 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 56

2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 8

Tốc độ quay vòng/phút

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Dung tích của dạ dày theo lớp tuổi 14

Bảng 2.1 Một số môi trường tạo vật liệu BC 26

Bảng 3.1 Hiệu suất nạp thuốc Ran vào vật liệu BC kích thước 36

1,5 x 1,5 cm 36

Bảng 3.2 Hiệu suất giải phóng Ran từ BC-MTC dày 0,5cm trong các hợp chất pH khác nhau 40

Bảng 3.3 Hiệu suất giải phóng Ran từ BC-MTC dày 1cm trong các hợp chất pH khác nhau 41

Bảng 3.4 Hiệu suất giải phóng Ran từ BC-MTD dày 0,5cm trong các hợp chất pH khác nhau 42

Bảng 3.5 Hiệu suất giải phóng Ran từ BC-MTD dày 1cm trong các hợp chất pH khác nhau 43

Bảng 3.6 Hiệu suất giải phóng Ran từ BC-MTG dày 0,5cm trong các hợp chất pH khác nhau 45

Bảng 3.7 Hiệu suất giải phóng Ran từ BC-MTG dày 1cm trong các hợp chất pH khác nhau 46

Bảng 3.8 Hiệu suất giải phóng Ran từ viên nén bao phim thương mại trong các hợp chất pH khác nhau 47

Bảng 3.9 Hiệu suất giải phóng Ran của 3 loại vật liệu BC và viên nén bao phim thương mại trong pH = 6,8 tại thời gian 24h 49

Bảng 3.10 Giá trị tham số của tốc độ giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTC theo các mô hình động học tại các hợp chất pH khác nhau 51

Bảng 3.11 Giá trị tham số của tốc độ giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTD theo các mô hình động học tại các hợp chất pH khác nhau 52

Bảng 3.12 Giá trị tham số tốc độ giải phóng Ran từ vật liệu BC-MTG theo các mô hình động học tại các hợp chất pH khác nhau 53

Trang 10

Bảng 3.13 Giá trị tham số của tốc độ giải phóng Ran từ viên nén bao phim thương mại theo các mô hình động học tại các hợp chất pH khác nhau 54

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các phần (a) và vị trí của dạ dày trong khoang bụng (b) 13

Hình 1.2 Hình ảnhcác bờ cong lớn, bờ cong nhỏvà các lớp cơ 13

Hình 1.3 Các phần của ruột, cách sắp xếp và vị trí trong khoang bụng 15

Hình 1.4 Khi thức ăn tới, các vùng của dạ dày co bóp không giống nhau 16

Hình 1.5 Quá trình tiêu hóa bằng cơ học thực hiện được nhờ có các lớp cơ co bóp theo các hướng khác nhau 17

Hình 1.6 Để vận chuyển thức ăn, ruột non cử động theo cách phân đoạn 21

Hình 3.1 Kết quả đo phổ hấp thụ của Ran trong HCl 0,1N 33

Hình 3.2 Biểu đồ của Ran trong môi trường HCl 0,1N 34

Hình 3.3 Biểu đồ của Ran trong môi trường pH=2 34

Hình 3.4 Biểu đồ của Ranmôi trường pH=4,5 35

Hình 3.5 Biểu đồ của Ran trong môi trường pH=6,8 35

Hình 3.6 Biểu đồ của Ran trong môi trườngpH=7,4 36

Hình 3.7 Lượng Ran nạp vào vật liệu BC kích thước 1,5 x 1,5cm 37

Hình 3.8 Mô hình giải phóng Ran từ vật liệu BC nạp thuốc 38

Hình 3.9 Biểu đồ giải phóng Ran từ BC-MTC dày 0,5cm ở các hợp chất pH khác nhau 40

Hình 3.10 Biểu đồ giải phóng Ran từ BC-MTC dày 1cm ở các hợp chấtpH khác nhau 41

Hình 3.11 Biểu đồ giải phóng Ran từ BC-MTD dày 0,5cm ở các hợp chất pH khác nhau 43

Hình 3.12 Biểu đồ giải phóng thuốc Ran từ BC-MTD dày 1 cm ở các hợp chất pH khác nhau 44

Hình 3.13.Biểu đồ giải phóng Ran từ BC-MTG dày 0,5cm ở các hợp chất pH khác nhau 45

Trang 12

Hình 3.14 Biểu đồ giải phóng Ran từ BC-MTG dày 1cm ở các hợp chất

pH khác nhau 46Hình 3.15 Biểu đồ giải phóng Ran từ viên nén bao phim thương mại ở các hợp chất pH khác nhau 48Hình 3.16 Biểu đồ giải phóng Ran của 3 loại vật liệu BC và viên nén bao phim thương mại trong pH = 6,8 tại thời gian 24h 49

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc sống ngày càng phát triển, con người càng bận rộn với nhiều công việc của mình Những bữa ăn nhanh, những thực phẩm nhanh là một trong những lựa chọn của nhiều người trong xã hội Ăn vội, ăn nhanh đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của nhiều người, đặc biệt là ảnh hưởng rất lớn đến

hệ tiêu hóa trong đó có dạ dày - tá tràng

Viêm loét dạ dày - tá tràng một căn bệnh mà hiện nay rất nhiều người mắc phải, là một loại bệnh đang được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Hàng năm có khoảng gần 4 triệu người trên thế giới mắc phải căn bệnh này[8] Số người mắc các bệnh về tá tràng - dạ dày khá ổn định ở các nước Tây Âu trong vài thập kỉ và được báo cáo là trong 100.000 người thì có khoảng 4 - 11 người bị bệnh này[8, 20] Có khoảng 5 đến 7% dân số mắc bệnh ở miền Bắc Việt Nam Tỷ lệ các biến chứng gặp phải ở 10-20 % người bệnh và có 2-14 % số bệnh nhân bị bệnh loét dạ dày -

tá tràng tiến triển thành thủng dạ dày, điều đó rất nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh[20], chính vì vậy mà việc phát hiện ra bệnh và có các can thiệp sớm là một điều rất có lợi cho người bệnh

Một loại thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh loét dạ dày - tá tràng khá phổ rộng đó là ranitidin Tác dụng của ranitidin là chúng có thể làm giảm tới 90% acid dịch vị, đồng thời nó là một hợp chất có khả năng ức chế cạnh tranh với histamin ở thụ thể H2 của tế bào vách, từ đó nó có tác dụng là làm giảm lượng acid dịch vị tiết ra hàng ngày [1]

Màng cellulose vi khuẩn (BC) là một loại vật liệu được tạo thành từ các

loài vikhuẩn Acetobacter xylinum, nó có cấu trúc giống cellulose và đặc biệt

nó có một số các đặc tính khác: các sợi có đường kính rất nhỏ (cỡ nanomet),

độ trong suốt, độ bền dưới các tác động, dễ tạo hình và có thể giữ nước

Trang 14

tốt Vì vậy, vật liệu BC là nguồn được sử dụng trong các lĩnh vực công nghệ Một trong lĩnh vực phổ biến là y sinh học, vật liệu BC là nguồn vật liệu được

sử dụng để làm tá dược, mặt nạ đắp để dưỡng da, vật liệu trong điều trị bỏng

và đặc biệt là trong hệ thống chuyển giao thuốc có kiểm soát [6], [9], [18], [39], [55] Amin[16] và các cộng sự đã dùng vật liệu BC và bằng các kĩ thuật phun phủ màng để tạo vật liệu bọc cho paracetamol Kết quả thu được là sử dụng vật liệu BC có thể làm lâu dài hơn quá trình giải phóng của thuốc Huang[34] cùng các cộng sự đã sử dụng vật liệu BC để nghiên cứu dùng cho

vận chuyển và giải phóng berberine in vitro [8] Một công trình nghiên cứu

gần đây nhất là của Badshah M và các cộng sự đã ứng dụng vật liệu BC làm vật liệu phát hành thuốc trong ống nghiệm, sử dụng hai loại thuốc là famotidin và tizanidine và thu được kết quả là hiệu suất hấp nạp thuốc vào vật liệu BC đạt 18 - 67 % [18]

Để bổ sung dẫn chứng về việc giải phóng thuốc Ranitidin của vật liệu

BC, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng giải phóng thuốc

Ranitidin của vật liệu Bacterial cellulose nạp thuốc in vitro định hướng

dùng cho đường uống”

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát quá trình giải phóng thuốc Ranitidin từ một số loại vật liệu BC nạp thuốc trong các môi trường giải phóng thuốc mô phỏng theo đường dạ dày - ruột khác nhau

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu quá trình giải phóng thuốc của các loại vật liệu BC nạp thuốc và viên thuốc thương mại (đối chứng) trong các môi trường giải phóng thuốc mô phỏng theo đường dạ dày - ruột khác nhau

- Nghiên cứu động học giải phóng của thuốc từ các loại vật liệu BC nạp thuốc

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

- Quá trình giải phóng thuốc Ranitidin từ các loại vật liệu BC (tạo ra từ các môi trường dinh dưỡng khác nhau) nạp thuốc

* Phạm vi nghiên cứu: Quá trình giải phóng thuốc Ranitidin của vật liệu

BC nạp thuốc định hướng dùng qua đường uống in vitro

* Địa điểm nghiên cứu: Viện Nghiên cứu Khoa học và Ứng dụng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu quá trình giải phóng thuốc của các loại vật liệu BC nạp thuốc trong các môi trường giải phóng thuốc mô phỏng theo đường dạ dày - ruột khác nhau

- Đánh giá động học giải phóng của thuốc từ các loại vật liệu BC nạp thuốc trong các môi trường giải phóng thuốc mô phỏng theo đường dạ dày -ruột khác nhau

- Xử lý thống kê các số liệu thực nghiệm

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Tiếp tục mở rộng nghiên cứu tiềm năng của vật liệu BC để áp dụng các vật liệu này vào các lĩnh vực khác nhau Từ các kết quả nghiên cứu, mở ra những hướng nghiên cứu mới về khả năng kéo dài thời gian giải phóng, điều này có thể giúp tăng khả dụng sinh học, tăng hiệu quả điều trị của thuốc Ran

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc sử dụng vật liệu BC làm hệ thống vận tải và chuyển giao thuốc có kiểm soát Ran có thể làm giảm tới 90% acid dịch vị từ đó làm tăng hiệu quả điều trị đối với bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng

Trang 16

7 Đóng góp mới của luận văn

Bổ sung các dữ liệu khoa học về cơ chế giải phóng thuốc Ranitidin từ các loại vật liệu BC nạp thuốc trong các môi trường giải phóng thuốc mô phỏng theo đường dạ dày - ruột khác nhau

Kết quả của luận văn có thể là cơ sở định hướng cho việc ứng dụng sản xuất các chế phẩm chữa bệnh từ vật liệu BC nạp thuốc

Trang 17

PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bacterial cellulose (BC)

1.1.1 Vài nét về vật liệu BC

Cellulose vi khuẩn (Bacterial cellulose, viết tắc BC) là kết quả lên men

của các loài vi khuẩn, trong số đó có chủng Acetobacter xylinum Acetobacter

xylinum là một loài vi khuẩn thuộc nhóm Acetic, của chi Acetobacter, và

thuộc họ Pseudomonadaceae Acetobacter xylinum là một loại vi khuẩn hiếu

khí và có khả năng tạo vật liệu cellulose[41]

Khuẩn Acetobacter xylinum hình que, có thể thẳng hoặc cong, có chiều

rộng là 0,6 - 0,8 µm và chiều dài là 2 - 3 µm, không di chuyển được, được đặt một mình hoặc cũng có thể đặt thành chuỗi Chúng có thể thay đổi về hình dạng: phân nhánh, không phân nhánh, dài hơn, to hơn khi có sự biến đổi hay tác động của một nhân tố nuôi cấy nào đó hoặc do nó già đi [41]

Khuẩn Acetobacter xylinum có các đặc tính [31]:

- Được lên men tốt nhất ở nhiệt độ 25 - 300C Bị suy giảm khi nhiệt độ

có thể giữ nước tốt[50] Các đặc điểm trên đã cho phép vật liệu BC sử dụng trong một số các loại hình như: y sinh học, tá dược, mặt nạ đắp để dưỡng da

Trang 18

hay màng sinh học trị bỏng và đặc biệt nhất là sử dụng trong hệ thống chuyển giao thuốc có kiểm soát [27, 39]

Một số các kết quả khác thì việc ứng dụng và sử dụng vật liệu BC đã bắt đầu từ những năm 2000 Những nghiên cứu trong nước bước đầu đã thành công trong tuyển chọn chủng có đặc tính quí, sản xuất thử nghiệm vật liệu BC

và thử nghiệm ứng dụng làm bao bì, gạc và mặt nạ Ở vi khuẩn, 1 đoạn gen 16S rRNA đã được ứng sử dụng rộng rãi ở một số các nghiên cứu định loại trong thời gian dài, tạo nên cơ sở dữ liệu trình tự phong phú trong ngân hàng gen Công nghệ tổng hợp trình tự nucleotide hóa học ngày càng mạnh nó là điều kiện thúc đẩy cho việc thực hiện nghiên cứu ở các nước trên thế giới trong đó có các nước có trình độ khoa học, thiết bị vừa phải [38]

1.1.2 Một vài nghiên cứu về vật liệu BC

Czaja và cs (2007) [25] cũng sử dụng vật liệu BC làm da nhân tạo, làm mặt nạ dưỡng da cho phụ nữ Wan và Millon (2009) [55], đã dùng vật liệu BC

để đắp vết thương, vết bỏng và thu được kết các kết quả theo mong muốn và

đã được đăng kí bản quyền về làm vật liệu BC từ A.xylinum dùng trị bỏng

Amin (2012) cũng đã có một số các mô hình nghiên cứu về việc sử dụng vật liệu BC làm hệ thống chuyển giao thuốc bằng cách sử dụng các kĩ thuật phun phủ Các kết quả thu được cho rằng vật liệu BC có thể được sử

Trang 19

dụng để làm vật liệu màng phim dẻo, trong có vai trò chuyển giao thuốc, từ

đó có thể làm kéo dài, làm tăng hiệu quả sử dụng của thuốc [17]

Huang và các cộng sự (2013) đã sử dụng vật liệu BC lên men từ vi

khuẩn Gluconacetobacter xylinum trong môi trường chuẩn Schramm) dùng cho vận chuyển và giải phóng berberine in vitro[34] Thí

(Hestrin-nghiệm nghiên cứu sự giải phóng berberine của vật liệu BC nạp berberine được thử nghiệm trong điều kiện mô phỏng ở dạ dày và ruột Các kết quả thu được cho thấy berberine với một tốc độ chậm trong pH thấp, trung bình trong điều kiện kiềm và tỷ lệ giải phóng nhanh nhất đã được quan sát với điều kiện gần trung tính

Mohd M C và cs (2014) [41] có một số các kết quả đánh giá về BC hydrogels - được coi là có tiềm năng như là một hệ thống chuyển giao thuốc qua đường uống Các thí nghiệm cũng đã được thực hiện trong mô phỏng dịch

dạ dày và dịch ruột và đã thu được các kết quả cho thấy chúng phân phối chậm ở dịch dạ dày hơn so với dịch ruột mô phỏng Điều này chúng tỏ rằng vật liệu BC phù hợp cho việc trở thành vật liệu chuyển giao thuốc thông qua đường uống [40]

Badshah M và cs (2017)[18], đã dùng vật liệu BC làm vật liệu phát hành thuốc trong ống nghiệm, sử dụng hai loại thuốc là famotidin và tizanidine Trong nghiên cứu này các vật liệu BC đã được dùng và mô phỏng cho quá trình nạp thuốc ở những điều kiện khác nhau, nồng độ thuốc, thời gian nạp thuốc Các kết quả cho thấy rằng hiệu suất quá trình nạp thuốc đạt kết quả 18 - 67%

1.1.2.2 Tại Việt Nam

Do vật liệu BC có rất nhiều ưu việt nên nó được ứng dụng rộng rãi không chỉ trên thế giới mà có cả Việt Nam Từ năm 2000 tác giả Nguyễn Văn Thanh và các cộng sự của mình [12] đã có một số công trình nghiên cứu về

Trang 20

vật liệu BC từ A xylinum và đã có những nghiên cứu khả quan về vật liệu BC

tinh chế được làm vật liệu cho trị bỏng

BC có độ tinh khiết cao, độ bền dai cơ học lớn, khả năng thấm hút nước cao, có thể bị thủy phân bởi enzyme, vì vậy, vật liệu BC được sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực công nghệ: thực phẩm, công nghiệp dệt, mỹ phẩm, công nghệ giấy, công nghệ pin, đặc biệt trong lĩnh vực y học vật liệu BC được sử dụng cho việc điều trị bỏng Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu sử dụng vật liệu BC có tẩm dầu mù u làm màng trị bỏng được thực nghiệm ở thỏ Kết quả cho thấy rằng vật liệu BC giúp vết thương mau lành và ngăn không cho vết thương nhiễm trùng

Năm 2012, tác giả Đinh Thị Kim Nhung cùng các cộng sự của mình [9] Nguyễn Thị Thùy Vân, Trần Như Quỳnh đã có nghiên cứu “Nghiên cứu vi

khuẩn Acetobacter xylinum tạo màng Bacterial cellulose ứng dụng trong điều

trị bỏng” và cũng đã thu được kết quả cho thấy rằng vật liệu BC được tạo bởi

ở vật liệu dày 1 cm kéo dài 12 giờ Vật liệu CVK nạp curcumin dày 1 cm có khả năng giải phóng curcumin chậm hơn của vật liệu CVK nạp curcumin dày 0,5 cm Curcumin giải phóng từ vật liệu CVK-MTC nạp curcumin và CVK-MTD nạp curcumin với tốc độ chậm hơn vật liệu CVK-MTG nạp curcumin

Trang 21

Curcumin giải phóng từ các loại vật liệu CVK nạp curcumin đạt giá trị cao nhất ở pH = 6,8 và thấp nhất ở pH = 7,4

Tác giả Nguyễn Xuân Thành cũng có một nghiên cứu nữa về giải phóng thuốc cimetidin với đề tài “Bào chế và đánh giá sự giải phóng

cimetidin in vitro của vật liệu cellulose vi khuẩn nạp thuốc được tạo ra từ

Acetobacter xylinum định hướng dùng cho đường uống” Nghiên cứu đã bào

chế được vật liệu cellulose vi khuẩn nạp cimetidin (CVK-CM) từ Acetobacter

xylinum trong 3 môi trường nuôi cấy gồm môi trường chuẩn (MTC), nước

dừa (MTD) và nước vo gạo (MTG) CM được giải phóng từ các vật liệu CVK-CM chậm nhất ở pH = 1 và pH = 2, vật liệu CVK-CM với độ dày 1cm

có khả năng giải phóng thuốc chậm hơn vật liệu với độ dày 0,5cm Ở cùng độ dày và giá trị pH thì CM được giải phóng từ vật liệu CVK-MTD-CM là chậm nhất, trung bình ở vật liệu CVK-MTC-CM và nhanh hơn ở vật liệu CVK-MTG-CM, CVK-MTD-CM có thể được dùng làm hệ trị liệu phóng thích kéo dài

1.2 Thuốc Ranitidin

* Công thức phân tử:C13H22N4O3S

* Đặc tính: Ranitidin là một loại thuộc nhóm thuốc đối kháng với thụ

thể H2 histamin thế hệ thứ hai[1, 2], nó có tác dụng giảm mạnh tới 90% khả năng acid dịch vịvới một liều uống và có thể giúp các vết loét dạ dày - tá tràng nhanh liền lại, hoặc hạn chế việc phát bệnh Đồng thời, nó còn kiểm soát hội chứng Zollinger - Ellison và khả năng tăng tiết quá mức của dịch vị[1] Thuốc Ran là một loại chất đối kháng với thụ thể H2 histamin của tế bào vách, nó có thể làm hạn chế lượng acid dịch vị tiết ra cả ngày và đêm, ngay cả khi bị kích thích bởi thức ăn, insulin, amino acid, histamin, hoặc pentagastrin Thuốc Ran có khả năng làm hạn chế tiết acid dịch vị mạnh hơn nhiều so với cimetidin từ 3 - 13 lần, trong khi đó những tác động phụ lại ít

Trang 22

hơn[1] Nhờ những ưu điểm nổi trội đó, ranitidin là một loại thuốc được ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam và WHO[2, 56]

* Cơ chế tác dụng: Các thụ thể histamin có mặt trên tế bào thành dạ dày

thuộc nhóm H2 và bị chẹn bởi các thuốc kháng histamin H2 Histamin có tác dụng làm giảm nhạy cảm với các chất hoạt hóa khác ví dụ như gastrin Thuốc kháng thụ thể H2 lần đầu được ứng dụng là cimetidin nó không có các phản ứng phụ (ảnh hưởng tới thần kinh trung ương, ảnh hưởng đến nội tiết ở nam), tuy nhiên lại ức chế sự chuyển hóa qua gan của các thuốc khác Ranitidin có hiệu quả ở liều thấp, với mức liều sử dụng thấp hơn thì sự ức chế các enzym ở gan cũng giảm đi, do đó các chất này không có các tác động tới việc sử dụng các loại thuốc khác [32]

* Dược động học:

Sau khi uống xong liều thì ranitidin được hấp thụ một cách nhanh chóng Hàm lượng tối đa mà nó có thể đạt được sau khoảng 2 giờ ở huyết tương Các thuốc kháng acid hay thức ăn không hề làm giảm sự hấp thụ của thuốc

Ranitidin ít chuyển hóa[30] và khoảng 10 - 35 % là được chuyển hóa qua gan thông qua cytochrom P 450 và dưới dạng tự do nó được đào thải qua thận Nó được biến đổi dưới dạng chất N-oxyd là chính và còn một phần dưới dạng S-oxyd demethyl ranitidine Khi sử dụng dạng thuốc uống sau 24 giờ,

có 40 % lượng ranitidin tự do và các hợp chất đã được chuyển hóa chính thức được đào thải qua đường nước tiểu

* Chỉ định:

Ranitidin là một loại thuốc dùng để chữa các loại bệnh về viêm loét dạ dày - tá tràng, hội chứng Zollinger-Ellison hay các bệnh về thực quản bị trào ngược và còn được ứng dụng rộng rãi nhằm làm giảm tiết dịch vị và acid: trong điều trị chảy máu dạ dày - ruột, chảy máu có tái lại ở những người bệnh

Trang 23

đã bị loét dạ dày - tá tràng có xuất huyết, đề phòng trước khi gây mê toàn thân

và điều trị chứng khó tiêu [1]

1.3 Những công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

Một số các nghiên cứu về thuốc Ran ở thế giới:

- B.K.Sahoo, K.V.Gowda, U.Mandal, A.Das, U.Chakrabarty và T.K.Pal [22] có công trình duy trì sự vận chuyển của ranitidin HCl từ viên thuốc Floating Matrix: thiết kế và đánh giá trong ống nghiệm

- V Jhansipriya Marabathuni, R.Deveswaran, S.Bharath, B.V.Basavaraj, V.Madhavan [44] đã có công trình thiết kế và tối ưu hóa hệ thống phân phối

đa năng hiệu quả của ranitidin hydrochlohide

- Ghanshyam V Joshi, Bhavesh D Kevadiya & Hari C Bajaj [29] đã nghiên cứu công thức phóng thích kiểm soát của montmorillonite chứa ranitidin và Eudragit E.100

- M.J.Gifty, S.Behin và I.S.R.Punitha [42] đã nghiên cứu và nhận xét về phân phối thuốc phình động học nổi của Ibuprofen và ranitidin

- Rajkumar patel, S.Bathe, Deepak Khobragade [45] đã có nghiên cứu về xây dựng và đánh giá hệ thống phân phối thuốc Ran Mục tiêu của nghiên cứu này là phát triển một hệ thống phân phối thuốc đa chức năng trong dạ dày của Ran và đồng thời duy trì việc giải phóng của thuốc Điều này có thể chữa lành loét dạ dày hiệu quả hơn bằng cách giải phóng thuốc đặc biệt trong dạ dày và kéo dài được thời gian sử dụng thuốc

- Vandana Dhankan, Garima Garg, Koushal Dhamija, Rajendra Awasthi [54] đã có nghiên cứu về mô tả và đánh giá ranitidin - Mucoadhesive Mucoadhaesive cho phép nội địa hóa của thuốc đến một khu vực được xác định của đường tiêu hóa thông qua hệ thống tương tác giữa các polyme tạo ra các thiết bị phân phối thuốc và lớp niêm mạc của biểu mô ruột Như vậy, phương pháp này có thể được sử dụng để tăng cường khả dụng sinh học đường uống của thuốc Microspheres được điều chế bằng kỹ thuật nhũ tương

Trang 24

nước trong dầu, sử dụng glutaraldehyde như một liên kết ngang đặc vụ Ảnh hưởng của các biến độc lập như tốc độ khuấy và tỷ lệ polymer-thuốc đối với các biến phụ thuộc, tức là tỷ lệ phần trăm niêm mạc, phần trăm tải thuốc, kích thước hạt được kiểm tra bằng cách sử dụng các yếu tố thiết kế Các kết quả

cho rằng thử nghiệm gắn niêm mạc in vitro cho thấy các microspheres bám

chặt vào lớp niêm mạc để mở rộng khoảng thời gian Thuốc được duy trì trong hơn 12 giờ Động học phát hành thuốc đã được tìm thấy theo động học của Peppas cho tất cả các công thức và việc phát hành thuốc đã được kiểm soát phổ biến Kết quả sơ bộ của nghiên cứu này cho thấy rằng các microspheres phát triển có chứa ranitidine hydrochloride có thể nâng cao hiệu quả thuốc, giảm các tác dụng phụ

Một số các nghiên cứu ở trong nước thì chủ yếu Ran được dùng trong việc chữa trị các bệnh về viêm loét dạ dày và tá tràng ngăn chặn bệnh tái phát

1.4 Cấu tạo của dạ dày

Cấu tạo chiếm gần hết khoang bụng là hệ tiêu hóa Thành phần của hệ tiêu hóa gồm dạ dày, ruột và các tuyến tiêu hóa hay còn gọi là các cơ quan tiêu hóa

Vị trí dạ dày ở khoang bụng, là đoạn phình to nhất Có hai lỗ thông ở hai đầu Thông với thực quản ở lỗ trên và với tá tràng ở lỗ dưới Nhờ có các cơ co thắt môn vị mà lỗ này có thể đóng mở được [7]

Các phần của dạ dày: phần đầu, phần đuôi, phần tuyến

Trang 25

Hình 1.1 Các phần (a) và vị trí của dạ dày trong khoang bụng (b)[7]

Hình 1.2 Hình ảnhcác bờ cong lớn, bờ cong nhỏ

và các lớp cơ [7]

Trang 26

Dạ dày có hai bờ cong là bờ cong lớn và bờ cong nhỏ, được chia ra thành 3 vùng khác nhau là vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hang vị tiếp giáp với ruột

Thành dạ dày gồm ba lớp Ở ngoài cùng là lớp thanh mạc, ở giữa là ba lớp cơ, trong cùng là lớp màng nhầy gọi là niêm mạc Lớp cơ gồm có cơ dọc,

cơ vòng và cơ chéo làm cho thành dạ dày trở nên bền chắc để thực hiện được chức năng co bóp, nhào trộn thức ăn rồi đẩy xuống ruột Lớp niêm mạc uốn sâu vào thành dạ dày và có nhiều ống tuyến (10.000 ống/ cm2) tiết dịch vị và HCl nên dịch trong dạ dày có tính axit cao (khi đói pH=2)

Hình dạng của dạ dày thay đổi theo độ tuổi Ở trẻmới sinh, dạ dày hình tròn, nằm ngang dưới sườn trái và ở vị trí tương đối cao Sau đó hình dạng của nó biến đổi và đến cuối năm thứ nhất đã có hình thuôn dài Đến 11 tuổi,

dạ dày đã có hình dạng giống như ở người lớn Kích thước của dạ dày có thể biến đổi tùy theo lúc bụng đang đói hay lúc no Khi bụng đang đói, chúng xẹp, thu nhỏ lại và nằm sát dưới cơ hoành Dạ dày có dung tích thay đổi theo lứa tuổi [7]

Bảng 1.1 Dung tích của dạ dày theo lớp tuổi Tuổi Sơ sinh 5-6 ngày 15

Trang 27

1.5 Cấu tạo của ruột non

Tiếp giáp với môn vị của dạ dày là ruột non Ruột non là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa Thức ăn sau khi ăn sẽ được ruột non tiêu hóa thành các sản phẩm đơn giản cuối cùng Ruột non cũng là phần quan trọng nhất làm nhiệm

vụ hấp thu các chất dinh dưỡng Ở trẻ em, ruột non tương đối dài, gấp khoảng

6 lần chiểu dài của cơ thể, còn ở người lớn ruột non dài gấp 4-5 lần chiều cao của cơ thể Ruột non gồm có ba phần: tá tràng, hổng tràng và hồi tràng [7]

Hình 1.3 Các phần của ruột, cách sắp xếp và vị trí trong khoang bụng[7]

Vai trò của tá tràng là nhận dịch tiêu hóa từ gan và tụy Đồng thời, bản thân tá tràng cũng tiết ra một loại enzim riêng Hành tá tràng chính là đoạn đầu của tá tràng, chúng liên tục chịu sự tấn công của HCl từ dạ dày đưa xuống nên rất dễ bị loét Hổng tràng là đoạn ruột non tiếp theo xếp cuộn lại và hồi tràng là đoạn cuối của ruột non đổ vào ruột già [7]

Thành của ruột non được tạo thành từ các lớp cơ có các mạch máu bên trong

Trang 28

Bên ngoài ruột non là lớp thanh mạc, liên kết với màng treo có vai trò

là cố định ruột ở đúng vị trí trong ổ bụng Ở giữa là lớp cơ trơn đƣợc tạo thành từ cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong Các lớp cơ tạo ra nhu động để đẩy thức ăn đi theo từng đợt sóng Trong cùng là lớp niêm mạc không bằng phẳng mà có nhiều nếp gấp [7]

Bề mặt niêm mạc đƣợc bao phủ một lớp nhung mao và lớp vi nhung mao dày đặc có tác dụng làm tăng diện tích hấp thu các chất Số lƣợng nhung mao rất lớn, trong mỗi mm2 có khoảng từ 20 đến 40 nhung mao Nó dài khoảng 0,5 - 1 mm

Do niêm mạc ruột ở trẻ em chƣa bền chắc do vậy trẻ rất dễ bị viêm ruột

và màng treo ruột còn dài nên trẻ dễ bị lồng ruột hay xoắn ruột Mạc treo có cấu tạo đặc biệt giữ cho ruột có vị trí nhất định trong ổ bụng [7]

1.6 Tiêu hóa ở dạ dày

Sau khi rời khỏi khoang miệng, viên thức ăn đƣợc các cơ thực quản đẩy xuống dạ dày để thực hiện hoạt động tiêu hóa

1.6.1 Tiêu hóa cơ học ở dạ dày

Nơi chứa đựng thức ăn ở khoang miệng chuyển xuống để tiêu hóa dần dần là dạ dày

Hình 1.4 Khi thức ăn tới, các vùng của dạ dày co bóp không giống nhau[7]

Trang 29

Dạ dày co bóp nhẹ nhàng khi đói Dạ dày co bóp với tốc độ mạnh và nhanh khi có thức ăn, chúng phải co bóp để trộn thức ăn lẫn với dịch vị sau đó đẩy xuống ruột Chúng co bóp theo các cách khác nhau tùy thuộc vào các vùng khác nhau của dạ dày Kiểu làn sóng là kiểu được thực hiện sau khi ăn khoảng 10 - 20 phút, làm cho một lượng thức ăn được vận chuyển từ trên xuống dưới, sau đó lại được nhồi từ dưới lên trên ở đoạn giữa Sau khi được ngấm dịch vị thức ăn sẽ mềm ra, rồi rơi xuống hang vị Thức ăn ở đây được nghiền nát,sau rồi trộn đều với dịch vị và tạo ra một dịch lỏng đó chính là nhũ trấp hay dịch trấp Vào thời điểm này, môn vị mở ra để đẩy một phần dịch trấp xuống tá tràng rồi lập tức đóng lại Quá trình tiêu hóa được thực hiện hiệu quả do thức ăn đi xuống tá tràng từng phần một Chính vì vậy, quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn được diễn ra suốt ngày để có thể cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho hoạt động của cơ thể dù chúng ta chỉ ăn thành bữa [7]

Hình 1.5 Quá trình tiêu hóa bằng cơ học thực hiện được

nhờ có các lớp cơ co bóp theo các hướng khác nhau [7]

Trang 30

Thời gian lưu lại ở dạ dày phụ thuộc vào bản chất của thức ăn và phụ thuộc vào tuổi, hay giới tính, hay trạng thái hoạt động thể lực, trạng thái tâm sinh lí của cơ thể Ví dụ, đối với trẻ nhỏ, thời gian lưu lại của sữa mẹ trong dạ dày vào khoảng 2,5 - 3 giờ, còn sữa bò thì lâu hơn, phải từ 3 - 4 giờ Mức độ

co bóp của dạ dày càng mạnh khi acid của dịch vị tăng Hiện tượng đầy bụng hay khó tiêu chính là do thức ăn bị ứ trệ - dạ dày co bóp quá yếu Nhưng nếu

dạ dày hoạt động với tốc độ quá nhanh lại có thể gây ra đau bụng Mức độ co giãn của dạ dày khi bú hoặc khi ăn sẽ có tác dụng tới sự kích thích hoạt động của các cơ ở dạ dày [7]

Môn vị sẽ khép và dạ dày co bóp nhanh hơn để đẩy được thức ăn ra ngoài miệng khi chúng ta ăn phải thức ăn bị ôi, thiu, hay nhiễm độc… do đó gây ra hiện tượng chúng ta bị nôn Nôn là một phản xạ tự vệ do trung khu nôn trong hành tủy điều khiển Do đó, khi ăn phải thức ăn có độc thì phải chủ động gây nôn để loại bỏ thức ăn đó ra khỏi dạ dày, làm giảm sự nhiễm độc máu [7]

1.6.2 Tiêu hóa hóa học ở dạ dày

Quá trình này được thực hiện nhờ tồn tại các tuyến trong dạ dày Quá trình bài xuất dịch vị gồm 3 pha Pha đầu tiên mang tính chất phản xạ, xuất hiện khi có các tác động kích thích vào trung ương thần kinh nó sẽ có tác động tới thần kinh mê tẩu Kết quả, các hạch và các đám rối thần kinh trong thành dạ dày hoạt hóa Pha này chỉ kéo dài một vài phút

Trong dạ dày, chủ yếu xảy ra quá trình biến đổi protein dưới tác dụng của enzim pepsin

Pha đầu tiên của quá trình tiết dịch dạ dày xuất hiện khi kích thích tác động vào hệ thần kinh trung ương Pha tiết dịch thứ hai liên quan trực tiếp tới các cấu tạo bên trong dạ dày khi có thức ăn nên được gọi là pha dạ dày Nhiệm vụ chính của pha này là nhũ trấp hóa khối thức ăn tới dạ dày

Trang 31

Pha thứ 3 được gọi là pha ruột có chức năng kiểm tra quá trình dichuyển nhũ trấp từng phần một từ dạ dày vào tá tràng

Hoạt động tiêu hóa ở dạ dày được tiến hành với sự tham gia của axit clohydric

Ở dịch vị không chứa enzim tiêu hóa gluxit mà chỉ có enzim tiêu hóa protein và lipit Tuy nhiên, khi thức ăn đi từ miệng tới dạ dày mà không kịp ngấm dịch vị thì các enzim tiêu hóa của nước bọt vẫn tiếp tục tiêu hóa gluxit Các loại tế bào của thành dạ dày tiết ra các loại dịch khác nhau

Hoạt động tiêu hóa protein trong dạ dày do các enzim pepsin, chymosin, gelatinaza và collagenaza thực hiện Pepsin có vai trò phân hủy protein thành các chuỗi polypeptit Chymosin tiêu hóa protein trong sữa, phân giải cazeinogen của sữa thành cazenat và nhũ thanh Gelatinaza và collagenaza là những enzim tiêu hóa protein của gân, bạc nhạc, các tổ chức liên kết thành các polypeptit và axit amin

Tiêu hóa lipit do enzim lipaza thực hiện Dưới tác động của lipaza, lipit được phân giải thành glyxerin và axit béo

Lipit Glyxerin + Axit béo

Axit clohydric có tác dụng hoạt hóa và tăng cường hoạt tính của pepsin, thủy phân chất xenlulozo của thức ăn thực vật, diệt khuẩn và sát trùng trong

dạ dày Ngoài ra, axit clohydric còn tham gia vào việc đóng, mở môn vị, kích thích quá trình tiết secretin từ niêm mạc của tá tràng

Chất nhầy trong dạ dày có vai trò giúp quá trình vận chuyển thức ăn được diễn ra nhanh chóng và giúp bảo vệ lớp niêm mạc dạ dày khỏi các tác dụng ăn mòn của dịch vị Trong dạ dày, lượng chất nhầy, axit clohydric và pepsin tương đương nhau nên dịch vị có thể tiêu hóa thức ăn nhưng lại không

tự tiêu hóa niêm mạc của mình Nhờ vậy mà, mặc dù phải tiếp xúc với môi trường axit tương đối đậm đặc, nhưng niêm mạc của dạ dày không bị hỏng

Trang 32

Tuy nhiên, nếu chất nhầy được tiết ra ít hoặc HCl được tiết ra quá nhiều thì niêm mạc dạ dày dễ bị ăn mòn, gây viêm loét dạ dày Ở trẻ nhỏ, dạ dày chứa

ít enzim pepsin, độ axit của dạ dày còn thấp (5,8 – 3,8) nên không tiêu hóa được những loại thức ăn thô [7]

1.7 Tiêu hóa ở ruột non

Quá trình tiêu hóa ở ruột non bắt đầu từ khi dịch trấp hình thành trong

dạ dày tới tá tràng Hoạt động tiêu hóa thức ăn ở ruột non cũng được thực hiện theo hai cách: cơ học và hóa học

1.7.1 Tiêu hóa cơ học ở ruột non

Ruột non có các cách thức vận động như: cơ học, như co thắt, cử động quả lắc, nhu động và vận động của nhung mao Tác dụng chính của các chuyển động này là dồn đẩy thức ănliên tục từ trên xuống dưới, làm cho hoạt động tiêu hóa và hấp thụ thực hiện được dễ dàng và thuận lợi hơn Bình thường, các làn sóng nhu động của ruột rất yếu Sau bữa ăn nhu động tăng lên nhiều Khi bị viêm ruột hoặc ngộ độc, nhu động của ruột non tăng mạnh để loại bớt các độc tố ra ngoài cơ thể nên có thể gây ỉa chảy Nhu động của ruột

có thể tăng lên đột ngột khi nhiệt độ quá nóng, hay những tác động âm thanh quá mạnh Khi vận động, nhu động của ruột cũng tăng lên nhiều [7]

Co thắt Vận động

quả lắc

Làn sóng nhung mao

Nhu động Các hình thức vận

động của ruột

Trang 33

Hình 1.6 Để vận chuyển thức ăn, ruột non cử động theo cách phân đoạn

Các dây thần kinh giao cảm và dây thần kinh phó giao cảm có vai trò điều hòa các cử động của ruột non Dây giao cảm làm giảm cử động, còn dây phó giao cảm làm tăng cử động của ruột non Một số hoocmôn làm tăng cử động của ruột non như axetincolin, gastrin, insulin, serotonin… Còn adrenalin, secretin và glucagon làm giảm cử động của ruột non [7]

1.7.2 Tiêu hóa hóa học trong ruột non

Trong toàn bộ hệ tiêu hóa thì hoạt động tiêu hóa hóa học ở ruột non quan trọng nhất Tại đây, thức ăn sẽ được biến đổi thành các sản phẩm đơn giản để cơ thể có thể hấp thụ được như các axit amin, glucaza, axit béo, glyxerin, nước, muối khoáng và các vitamin… Hoạt động của dịch tụy, dịch ruột và dịch mật giúp cho tiêu hóa hóa học ở ruột non được đảm bảo

Tuyến tụy có sản phẩm ngoại tiết là dịch tụy do các nang tụy tiết ra Trong dịch tụy có đủ các loại enzim tiêu hóa thức ăn như protein, gluxit và lipit đến sản phẩm cuối cùng Hoạt tính của các loại enzim này tăng dần theo tuổi và đến 2 tuổi thì đã mạnh gần bằng của người lớn Trước khi đổ vào ruột, ống tụy nối với ống mật chủ rồi sau đó được đưa vào đoạn đầu của tá tràng

Trang 34

Quá trình tiết dịch tụy phụ thuộc vào loại thức ăn Khi ăn lâu dài một loại thức ăn nào đó, thành phần enzim trong dịch tụy cũng thay đổi Ví dụ, khi

ăn lâu dài chất bột thì trong dịch tụy có chứaenzim amilaza, ít enzim biến đổi protein và lipit Vì vậy, khi đột nhiên ăn một bữa nhiều protein và lipit thì cơ thể không kịp thích nghi nên có thể dẫn đến hệ tiêu hóa bị rối loạn

Các enzim biến đổi protein của dịch tụy gồm có trypsin, chymotripsin

và cacboxypolypeptidaza hoạt động với tốc độ rất nhanh và chúng kết hợp với nhau để phân giải protein từ các phân tử có kích thước lớn thành các phân tử

có kích thước nhỏ hơn, từ phức tạp đến đơn giản để cuối cùng tạo thành các axit amin Trong đó, trypsin, chymotripsin biến đổi protein thành các chuỗi polypeptit, còn cacboxypolypeptidaza biến đổi polypeptit thành axit amin [7]

Trypsin, Chymotrypsin Cacboxypolypeptidaza

Các enzim tiêu hóa lipit gồm có lipaza, photpholipaza, colesterolesteraza Trong đó, lipaza phân giải lipit thành glyxerin và axit béo, còn photpholipaza phân giải photpholipit thành photphat và diglyxerit, colesterolesteraza phân giải các loại steron để giải phóng axit béo [7]

Lipaza

Các enzim tiêu hóa gluxit của dịch tụy gồm có amilaza, maltaza, lactaza, sacarza hoạt động với tốc độ rất nhanh và kết hợp với nhau để biến đổi gluxit từ các phần tử có kích thước lớn tạo thành các phần tử có kích thước nhỏ và sau cùng tạo các đơn phân tử glucaza Trong đó, amilaza biến đổi tinh bột sống và tinh bột chín tạo ra đường maltoza, maltaza biến

Trang 35

đổimatoza để tạo ra glucoza, sacaraza biến đổi sacaroza tạo ra glucoza và lactaza phân giải galactoza thành glucoza [7]

Amilaza Maltaza

Sacaraza

Lactaza

Như vậy, ba nhóm enzim tiêu hóa protein, lipit và gluxit của dịch tụy

đã giúp cho quá trình tiêu hóa hóa học gần như hoàn tất ở ruột non Năng lượng cung cấp cho toàn bộ quá trình biến đổi thức ăn ở ruột non có được nhờ phân giải ATP

Quá trình biến đổi thức ăn được thực hiện bởi dịch tụy và dịch mật Trong dịch mật không có enzim tiêu hóa Quá trình biến đổi của dịch mật là

do muối mật có khả năng cho độ pH phù hợp do vậy nó có vai trò kích thích hoạt động của các enzim trong dịch tụy và trong dịch ruột Mật có tác dụng nhũ tương hóa lipit thành các giọt cực nhỏ với đường kính khoảng 0,5µm, đây

là một cơ hội thuận lợi cho các enzim tiêu hóa tác động để hấp thu được

Trong dịch ruột có nhiều nhóm enzim tiêu hóa chúng có thể tiêu hóa các loại thức ăn thành sản phẩm đơn giản Các enzim tiêu hóa protein gồm có aminopeptitdaza, iminopeptitdaza, tripeptitdaza và dipeptitdaza phối hợp với nhau và với dịch tụy để phân giải protein thành axit amin Trong đó, aminopeptitdaza và iminopeptitdaza biến đổi polypeptit tạo ra các axit amin, tripeptidaza và dipeptitdaza biến đổi tripeptit và dipeptit tạo ra các axit amin [7]

Trang 36

Aminopeptidaza Iminopeptidaza Tripeptidaza

Dipeptidaza

Các enzim tiêu hóa lipit gồm có lipaza, photpholipaza và colesterolesteraza, hoạt động giống như các enzim của dịch tụy, có tác dụng phân giải lipit thành axit béo và glyxerin

Các enzim tiêu hóa gluxit gồm có amilaza, maltaza, lactaza và sacaraza cũng hoạt động giống như các enzim trong dịch tụy Chúng có tác dụng phối hợp với nhau và với dịch tụy để phân giải các dạng gluxit thành đường glucoza

Ngoài ra, trong dịch ruột còn có một số enzim khác như photphataza có khả năng biến đổi các photphat vô cơ và hữu cơ có trong thức ăn, enterokinaza có vai trò hoạt hóa trypsinogen tạotrypsin[7]

Trang 37

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Chủng vi khuẩn

Chủng vi khuẩnđược dùng để lên màng thu đượcvật liệu BC được nuôi cấy tại Phòng sạch Vi sinh - Động vật, Viện nghiên cứu Khoa học và Ứng dụng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2.1.2 Một số nguyên vật liệu và hóa chất thường dùng

Nguyên vật liệu: nước dừa già, nước vo gạo, nước cất, cao nấm men Hóa chất:

- Thuốc Ranitidin dạng nguyên chất và dạng viên nén trên thị trường(viên nén bao phim chứa - Ranitidindưới dạng Ranitidin hydrochlorid: 150mg)

- Vật liệuBC (99% là nước) được tạo ra nhờ lên men

- Dung dịch tan thuốc là HCl 0,1N

- Cùng một số các hợp chất hóa học khác

2.1.3 Các dụng cụ thực hành

- Máy đo quang phổ UV – 2450 (Shimadzu – Nhật Bản)

- Cân phân tích, cân kỹ thuật (Sartorius – Thụy Sỹ)

- Nồi hấp khử trùng HV – 110/HIRAIAMA

- Buồng cấy vô trùng (Haraeus)

- Tủ sấy, tủ ấm (Binder – Đức)

- Bể ổn nhiệt 1013

- Máy khuấy từ gia nhiệt CC162 (IKA- Đức)

- Máy lắc tròn tốc độ chậm (Orbital Shakergallenkump – Anh)

- Bể rửa siêu âm TCP 280

- Tủ lạnh Daewoo, tủ lạnh sâu

Ngày đăng: 07/04/2021, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w