Nay cây vẫn xanh tốt, cao vài chục mét tỏa bĩng mát ngơi chùa cổ Tảo Khê.;7- Vân Đình, nơi nhiều người biết đến qua mĩn thịt c ầy và Vịt nướng; 8-Kẻ Lẽo tên nơm của thơn Lưu Khê, xã Liên
Trang 1CHỌN LỌC TỤC NGỮ , CA DAO ĐỊA PHƯƠNG
(Ứng Hòa , Hà Nội và một số nơi khác)
(Chương trình Ngữ văn Địa phương)
Phủ Ứng Thiên1 có làng Cầu Gáo2
Đất phì nhiêu dân số cũng đông Năm trăm tám tám đàn ông Sáu trăm tám sáu mẫu đồng tốt tươi Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể:
Trước sông dài sau kế Dộc Sen Trai tài, gái đẹp như tiên Ngôi đình to đẹp cạnh sông, giữa làng
Đồng cao thấy miên man gò đống Làng hình rồng, đất rộng, của nhiều Người hiền , cảnh cũng mến yêu Học hành thi cử có điều đáng khen
Làng ta phong cảnh hữu tình, Dân cư giang khúc như hình con long
Nhờ trời hạ kế sang đông, Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi
Vụ năm cho đến vụ mười, Trong làng kẻ gái người trai đua nghề
Trời ra: gắng, trời lặn: về, Ngày ngày, tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên
Nước Vân Đình3 vừa trong vừa mát Đường Vân Đình giống tựa bàn cờ Đẹp hơn phường phố kinh đô Đẹp như một bức họa đồ trong tranh
Nón này em sắm chợ Dầu Dọc ngang thước rưỡi móc khâu năm đường
Nón này chính ở làng Chuông4
Làng Già lợp nón, Khương Thường bán khuôn
Hà Nội thì kết quai tua
Có hai con bướm đậu vừa xung quanh
Tứ bề nghiêng nón chạy quanh
Ở giữa con bướm là hình ông trăng
Nón này em sắm đáng trăm
Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa Nón này che nắng che mưa
Trang 2Nón này để đội cho vừa đôi ta Nón này khâu những móc già
Em đi thửa nón đã ba năm chầy Anh có muốn cho em chung mẹ chung thầy Thì anh đưa cái nón này em xin!
Làng Gáo5 có giếng trong xanh Cây Trôi tỏa bóng mát xanh chùa làng
Đôi lời nhắn nhủ với nàng Yêu nhau xin chớ phũ phàng đổi thay
Quê hương nghĩa nặng tình sâu Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về
Chùa làng rợp bóng Trôi6 che
Ô xanh chỉ nẻo đường về quê hương
- Dại Vân Đình7 bằng tinh thiên hạ
- Chua ngoa là đất Vân Đình Đong nhời kẻ Lẽo8, cậy mình kẻ Vân 9
- Tăm Phú Lương10, hương Xà Cầu11
- Cua Ngọ12, bún Bặt13 , đồ sắt Bặt Rào 14,
Ai những ước ao , thích gì -đến đó
-Miến ngon thì nhất làng Bùng15
Thủ đô Hà Nội hỏi rằng đâu hơn Dưa chuột Vĩnh Thượng16 thiếu gì Dưa gang Vĩnh Hạ17 đâu bì được chăng?
- Đất Tảo Khê ngàn năm văn vật Người Tảo Khê chân thật ,hiền hòa Người ơi đến với Ứng Hòa
Về thăm làng Gáo , thăm nhà Bảo Châu18
- Phố Vân Đình cầy tơ bảy món Đường Vân Đình vịt nướng khói um
Ai ơi về với quê em
Mà ăn vịt cỏ mà xem thịt cầy
Xa rồi mãi nhớ nơi đây Nhớ sông , nhớ quán, nhớ người hôm nao…
CHÚ THÍCH:
(1-Tên huyện Ứng Hòa thời xưa, 2-Tên nôm làngTảo Khê -xã Tảo Dương Văn
Trang 3-Phương Trung ,huyện Thanh Oai nổi tiêng với nghề làm NĨN ; 5-Làng Gáo =Cầu Gáo = làng Tảo Khê; 6- Cây Trơi , thực ra là cây muỗm -họ Xồi-theo tương tuyền dân gian làng Tảo Khê thì ngày xưa ,lâu lắm rồi ,vào một năm lụt to nước tràn ngập mênh mơng ,dịng sơng trước làng nước phăng phăng chảy Bỗng bầu trời rực sáng ,một tiếng sét to kinh khủng và người ta nhìn thấy từ đầu nguồn dịng sơng một cây cành cội khá to trơi vèo vèo theo dịng nước rồi bỗng xoay trịn ở giữa dịng
vị trí đầu làng Gáo Sớm hơm sau , khơng hiểu vì sao cây trơi trên sơng đĩ đã nằm trên mảnh ruộng bằng phẳng khá xa so với bờ sơng Thấy kì lạ dân làng bảo nhau bồi đất vào cho cây và gọi tên là cây TRƠI Nay cây vẫn xanh tốt, cao vài chục mét tỏa bĩng mát ngơi chùa cổ Tảo Khê.);7- Vân Đình, nơi nhiều người biết đến qua mĩn thịt c ầy và Vịt nướng; 8-Kẻ Lẽo tên nơm của thơn Lưu Khê, xã Liên Bạt-Ứng Hịa;9-Kẻ Vân nay là Viên An ,Viên Nội ;10-11 :Phú Lương ,Xà Cầu :thuộc xã Quảng Phú Cầu 12 Ngọ -làng Ngọ xá Thị trấn Vân Đình cĩ nghề bắt cua và cua ngon;13-Bặt(Bặt bún): mội thơn của xã Liên Bạt cĩ nghề làm bún ngon cĩ tiếng từ xưa;14-Bạt Rào cịn gọi Bặt Rèn cũng thuộc Liên Bạt-Ứng Hịa; 15-làng Bùng thuộc Phùng Xáhuyện Mĩ Đức;16-17 :Hai thơn thuộc xã Sơn Cơng ,huyện Ứng Hịa; 18-Ngơ Bảo Châu -Giáo sư Tốn học Việt Nam -Đoạt giải thưởng Fields quê gốc ở làng Gáo ( Tảo Khê) - Tảo Dương Văn - Ứng Hịa - Hà Nội)
Cua Ngọ, bún Bặt, ngổ Đầm
Cá rơ Đầm Sét, sâm Cầm Hồ Tây
Ai về đến huyện Đông Anh Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường Trải bao năm tháng nẻo đương còn đây
Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Cương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
Nhất cao là núi Tản Viên Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vừng
Xứ Nam nhất chợ Bằng Vồi Xứ Bắc: Vân Khánh, xứ Đoài: Hương Canh
Trung Màu chuột nhắt xáo dưa
Kỳ Lân nấu cháo cả cua lẫn càng Đổng Viên mặc ục khoai lang Phù Đổng cơm tấm giần sàng khỏe ghê
Trang 4Đổng Xuyên mỗi người mỗi nghề
Lớn thì đánh xiếc, bé thì mò tôm
Phù Dực đi bán vải non
Chửa đi đến chợ mía don đầy lồng
Tấm gốc, tấm ngọn phần chồng
Còn bao tấm giữa để vào lòng mà ăn
Công Đình cưa xẻ đã quen
Tế Xuyên bắt rẽ lấy tiền mua nhiêu…
Nhân Lễ thì đúc lưỡi cày
To Khê Viên Ngoại thì hay hàn nồi
Xa Long lắm chuối mình ơi
Phù Ninh dệt vải người người thâu đêm
Vui nhất là chợ Đồng Xuân
Mùa nào thức ấy xa gần bán mua
Cổng chợ có anh hàng dừa
Hàng cau, hàng quít, hàng mơ, hàng đào
Xăm xăm anh mới bước vào
Thấy anh hàng thuốc hút vào say sưa
Nứt nẻ thì anh hàng na
Chua chát hàng sấu, ngọt nga hàng đường
Thơm ngát thì chị hàng hương
Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng
Sộc sệch thì anh hàng giang
Cả rổ lẫn thúng, cả sàng lẫn nia
Sọ sẹ thì anh hàng thìa
Cả bát lẫn đĩa nhiều bề ung dung
Đỏ đon thì anh hàng hồng
Thanh yên, phật thủ, bưởi bòng kể chi
Trống quân vận chẳng ra gì
Mỗi người một vẻ ai thì kém ai
Trông lên thấy dãy hàng chai
Có một chú khách trọc đầu trắng răng
Ai ơi khéo nói đãi đằng
Hàng ốc, hàng ếch, hàng xăng, hàng quà
-Xứ Nam có chợ Bằng Gồi
Xứ Bắc Đìa Sáu, xứ Đoài chợ Canh
-Xưa kia mộc mạc mao từ
Nay thời ngói lợp chu vi trang hoàng
Trang 5Xưa kia tre trúc tầm thường
Nay thời tứ thiết vững vàng biết bao
Bát Tràng có mái đình cong
Yếm trắng vã nước Văn Hồ
Vã đi vã lại anh đồ yêu thương
Yên Ngưu đất thực là ương
Kẻ nấu rượu lậu, người tương đó mà
Yên Phụ buôn bán dưới thuyền
Xuống đò Phố Mới bán than, quạt, trà
Yên Thái có giếng trong xanh
Có đôi cá sấu ngồi canh đầu làng
Ai qua nhắn nhủ cô nàng
Yêu nhau xin chớ phũ phàng đổi thay
Yên Thái có hồ Nguyệt Nga
Có sông Tô Lịch đôi ta chèo thuyền
Yêu nhau nên phải ra đi
Đi sao tìm thấy cố tri mới đành
Tìm anh tất cả thị thành
Tưởng rằng anh ở Hàng Mành không xa
Chữ tình ta lại gặp ta
Hàng Mành chẳng thấy tìm ra Hàng Hòm
Phố thời bán những mâm son
Duyên kia sao chẳng vuông tròn cùng nhau
-Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì ta lấy được nàng
Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu
Thanh Hóa cũng đốn trầu cau
Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò
Phú Thọ quạt nước hỏa lò
Hải Dương rọc lá giã giò gói nem
Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền
Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi
An Giang gánh đá nung vôi
Thừa Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè
Quảng Bình Hà Tĩnh thuyền ghe
Đồng Nai Gia Định chẻ tre bắc cầu
Anh mời khắp nước chư hầu
Trang 6Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang
Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng
Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên
-Tìm em cho đến La Thành
Hỏi thăm các phố để anh tìm dần
Lên tàu từ ở Thanh Xuân
Tìm hết Tư Sở lại gần Cầu Ô
Tìm em cho đến Bờ Hồ Hàng Trống, Hàng Bồ anh cũng tìm qua
Lại tìm cho đến nhà ga Đến đây mới biết rằng là Cửa Nam
Vườn hoa có tượng mẹ đầm
Thấy quân lính tập lấy làm vui thay
Tìm em đã hết mười ngày
Hỏi thăm không thấy em rày nơi nao
Thuê xe vào phố Hàng Đào
Hàng Ngang, Hàng Bạc lại vào Mã Mây
Lên thuyền anh xuống Hồ Tây
Ngẫm xem phong cảnh nước mây rườm tà
Lên tàu lại xuống Gô-đa
Thẳng đường anh xuống Hàng Gà, Bạch Mai
Thuê xe vào phố Hàng Gai
Hàng Bông, Hàng Bạc cũng chẳng ai biết mình
Thực là đôi ngả Sâm Thương
Ước ao thấy khách tỏ tường tới đây
Tìm em cho đến La Thành
Những là mong nhớ đêm ngày
Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần
Mong cho hoa nở mùa xuân
Để cho khóm trúc mọc gần trỗ lan
Tôi đây là người đi chơi
Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình
Mới đi chơi ở Bắc Ninh
Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao
Đồn vui tôi bước chân vào
Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày
Tòi mòi, chín đỏ chín đen
Con gái Minh Phú hay ăn tòi mòi
Nước sông đổ lẫn nước ngòi
Trang 7Con gái Minh Phú cầm roi dạy chồng.
Tối thì đẹp tựa tiên sa Ngày nom rũ rượi như gà phải mưa
Báu gì hương chạ hoa thừa
Chẳng thà chẵn lẻ Hai Cua cho rồi
Trắng tinh hạt gạo tám xoan
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà
Trên đê Cố Ngư Nhớ chữ đồng tâm Hỡi cô đội nón ba tầm
Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang
Phiên rằm chợ chính Yên Quang
Yêu hoa, anh đợi hoa nàng mới mua
-Nón này chính ở làng Chuông
Làng Già lợp nón, Khương Thường bán mua
Hà Nội thì kết quai tua
Có hai con bướm đậu vừa chung quanh
Tứ bề nghiêng nón chạy quanh
Ở giữa con bướm là hình ông trăng
Nón này em sắm đáng trăm
Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa
Nón này che nắng che mưa
Nón này để đội cho vừa đôi ta
Nón này khâu những móc già
Em đi thử nón đã ba năm chày
Muốn em chung mẹ chung thày
Thì anh đưa cái nón này em xin
Nón này em sắm chợ Dầu
Dọc ngang thước rưỡi móc khâu năm đường
Nón này chính ở làng Chuông
Làng Già lợp nón, Khương Thường bán khuôn
Hà Nội thì kết quai tua
Có hai con bướm đậu vừa xung quanh
Tứ bề nghiêng nón chạy quanh
Ở giữa con bướm là hình ông trăng
Nón này em sắm đáng trăm
Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa
Nón này che nắng che mưa
Nón này để đội cho vừa đôi ta
Trang 8Nón này khâu những móc già
Em đi thửa nón đã ba năm chầy
Anh có muốn cho em chung mẹ chung thầy
Thì anh đưa cái nón này em xin!
Nón này Hà Nội làm ra
Mang lên tỉnh Bắc thêu hoa rõ ràng
Vợ chồng đồng tịch đồng sàng
Mà chàng bắt nón em ngang giữa đường
Để mà nắng gió hôm nay
Má hồng em nhạt thế này chàng ơi
Bây giờ chàng giả nón tôi
Tôi đội cái nón che đôi má hồng
Bao giờ kết nghĩa vợ chồng
Thì chàng lại được má hồng tốt tươi
Nửa đêm xênh phách đổ rền
Hà Đông sư tử gầm lên phốc vào
Quan ông râu vểnh bên đào
Dúm co bốn cẳng bổ nhao ra đường
Núi Sóc ai đắp nên cao
Ngã ba Sà sông ấy ai đào mà sâu?
Nước Đào Thục vừa trong vừa mát
Đường Đào Thục bốn góc bàn cờ
Đẹp hơn phường phố kinh đô
Đẹp như một bức bản đồ trong tranh
Nước Liên Hoa chảy ra Cống Trắng
Khói á phiện lẵng nhẵng theo sau
Đầu quan gối vế ả đào
Ro ro dọc tẩu áp vào môi thâm
Nước Văn Hồ tha hồ tắm mát
Rượu Hồ Đình thơm ngát đón làng văn
Ơn chàng đã có lòng vì
Ngỏ lời phương tiện muốn bề tóc tơ
Nhân khi em ở lại nhà
Làm nghề canh cửi sớm khuya chuyên cần
Vốn riêng được một vài trăm
Đem đi buôn bán Đồng Xuân chợ này
Trang 9Buôn hàng vải lụa bấy nay
Nhờ trời vốn lãi độ ngày ba trăm
Ông quan ở huyện Thanh Trì
Miếng mỡ thì lấy, miếng bì thì chê
Phải đây bến Chiếu Thạch Đồng
Còn đây cô lái cắm bồng đợi ai
Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Thấy hoa phượng đỏ rủ nhau cùng về
Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về
Chùa làng rợp bóng Trôi che
Ô xanh chỉ nẻo đường về quê hương
Phủ Ứng Thiên có làng Cầu Gáo
Đất phì nhiêu dân số cũng đông
Tám trăm tám tám đàn ông
Sáu trăm tám sáu mẫu đồng tốt tươi
Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể
Trước sông dài sau kế Dộc sen
Trai tài, gái đẹp như tiên
Đình to đẹp ở bên sông giữa làng
Đồng cao thấy miên man gò đống
Làng hình rồng, đất rộng, của nhiều
Người hiền , cảnh cũng mến yêu
Học hành thi cử có điều đáng khen
Quê ta đẹp quất Tây Hồ,
Tơ vàng kén mượt đầy bồ Tứ Liên
Hữu Hưng dệt lụa hoa hiên
Cò bay bướm lượn in trên lụa đào
Cam Canh, bưởi Mỗ ngọt ngào,
Mát lòng cải bắp, su hào Trung Kiên
Mình về Nguyên Xá mà xem
Vườn hồng trĩu quả, chuối nêm kín làng
Mễ Trì thơm gạo tám xoan
Dự hương, gié cánh thóc vàng như tơ
Gửi người dệt bộ bài thơ
Phùng Khoang gấm đẹp còn chờ tay ta
Cốm Vòng nức tiếng gần xa,
Cau non Dịch Vọng, tiếng gà thôn Viên
Trang 10Đường vào Cổ Nhuế vẫn quen
Máy khâu rộn rã, mía chen vai người
Hai Xuân như đẻ sinh đôi
Cánh diều chung sáo, mương khơi chung đào
Trên mình xanh thắm bí đao
Dưới ta lúa tốt khác nào rừng xanh
Vải thiều đỏ rực đầu cành
Thơm mùi cam Cáo, ngọt canh đậu Giàn
-Quê ta đẹp quất Tây Hồ,
Xuân La lợn béo bao đàn,
Trắng phau cá lội, dịu vàng khoai tây
Mình về ta nắm lấy tay
Ta dặn câu này mình chớ có quên:
Khỏa chèo mình ngược bến Chèm
Viếng Lý Ông Trọng, hoa chen mái đình
Giò Chèm ai gói xinh xinh
Nắm nem làng Vẽ đậm tình quê hương
Chuối Sù mập quả trăm vườn
Sang thu hương chuối quện hương cốm Vòng
Hoa đào dệt lối Nhật Tân
Yêu quê hoa nở đầy sân lụa đào
Ở đâu hợp tác công cao
Rẽ vào Quảng Bá xem nào đâu hơn
Rau xanh kín bãi kín vườn
Hương sen thoang thoảng cho thơm tóc mình
Tung tăng đàn cá lượn quanh
Ta giăng lưới bạc rung rinh mặt hồ
Quên sao giấy điệp Nghĩa Đô
Tiếng chày nện sợi, câu hò nhặt khoan
Ai xeo cho giấy mịn màng
Quê ta đẹp quất Tây Hồ,
Đẹp màu tranh mới xuân sang quê nhà
An Phú dẻo kẹo mạch nha
Lợn hồng da mượt như là trong tranh
Ở đâu thơm húng thơm hành
Có về làng Láng cho anh theo cùng
Theo ai vai gánh vai gồng
Rau xanh níu gót bóng lồng sông Tô
Trời cao lồng lộng sao cờ
Phi lao vi vút đôi bờ Nhuệ Giang
Chập chùng nhà máy công trường
Đỏ tươi mái ngói, mây vờn khói bay
Lòng ta như tỉnh như say
Trang 11Mình nghe! Kìa tiếng máy cày xa xa…
Quê ta đẹp lắm quê ta
Trăm mầu nghìn sắc quê nhà: Từ Liêm
Quý Tị giữa ngày mồng Năm
Giờ Dần chính nguyệt ầm ầm huyên hoa
Một chi đánh ở Đống Đa
Cầu Duệ kéo xuống, tốt xa muôn phần
Phép voi bại trận tiên phong
Cầu Tương sụt cả xuống sông Bồ Đề
Đao binh tử trận đầy khe
Dọc đường giáo mác nằm kề năm năm
Điền Châu Thái thú đảm đương
Liều mình tử trận chiến trường nên công
Trận vây ở trong Nam Đồng
Rạng ngày mồng Sáu cờ dong lai hàng
Vua ban sứ bộ tiếp sang
Quan tài phong kín đón đường kéo ra
Con con cháu cháu hằng hà
Mừng lấy được xác Điền Châu đem về
Tướng tài can đảm cũng ghê
Làm đền phụng sự tức thì Đống Đa
-Ngồi vui kể chuyện quê nhà (Câu 1)
Rau tươi quả ngọt đồng ta ngoại thành
Làng Đăm cải biếc màu xanh
Làng Hàn cà bát trĩu cành xum xuê
Rau thơm đất Láng quen nghề
Hành tươi Mai Động, Yên Khê đầy đồng
Bắp cải Phù Dực sớm trồng
Yên Mỹ nổi tiếng cà hồng xưa nay
Yên Viên có món măng tây
Lại thêm cải tiếu ngọt thay hỡi mình!
Nhất cay là giống ớt Đình
Nhất thơm là mướp làng Quỳnh, làng Mai
Su hào Quảng Bá hơn ai
Hoa lơ Phú Diễn chen vai trắng ngà
Cải canh mát bãi Duyên Hà
Đông Dư cải nén mặn mà hương quê
Nhật Tân cải trắng ven đê
Muốn thăm cải củ thì về Lĩnh Nam
Tỏi tây, xà lách Xã Đàn
Đậu trạch, đậu vàng, đậu đũa Vĩnh Tuy
Muống non xơ mới Thanh Trì
Rau cần làng Sét xanh rì bờ sông
Trang 12Ngồi vui kể chuyện quê nhà
Bí xanh, bí đỏ đầy đồng
Cổ Loa, Tầm Xá, Nam Hồng chứ đâu
Khoai tây mời tới làng Ngâu
Thôn Quang dưa chuột giữ mầu quê hương
Vùng rau đã kể tỏ tường
Bây giờ đất quả đưa đường vào thăm
Cam Canh, bưởi Cáo, vải Bằng
Tiếng đồn xưa vẫn còn vang quê nhà,
Chuối Giang Biên, chuối Trung Hà
Sông Hồng, sông Đuống phù sa đắp bồi
Cổ Loa mít chín thơm trời
Thành tiên lại có trám bùi trên cây
Song mai Đông Mỹ quý thay
Rừng dừa Hải Bối khen tay người trồng
Thôn Văn ngọt nước nhãn lồng
Trưa hè Hoàng Liệt, Bắc Hồng xem dưa
Bưởi đường Vạn Phúc tìm mua
Vườn chanh Trung Phụng hoa đua trắng cành
Tây Hồ quất đỏ trời xanh
Mễ Trì chín mọng cam sành làm duyên
Xuân Đỉnh tốt giống hồng xiêm
Ngồi vui kể chuyện quê nhà
Dâu tây ở Dịch Vọng Tiền mình ơi
Nghi Tàm lắm táo, nhiều roi
Ổi ngon Quảng Bá, Quỳnh Lôi mời vào
Trung Hà đã quý chanh đào
Lại sai đu đủ ngọt ngào quê ta
Mấy vần chắp nhặt nôm na
Hoa thơm quả ngọt ai mà chẳng yêu
Mình về ươm hạt cho nhiều
Chiết cành gây giống, sớm chiều ta sang
Trồng cây cho rợp đường làng
Xe rau chạy giữa hai hàng cây xanh
Rau tươi, quả ngọt ngoại thành
Bốn mùa xanh bãi, đỏ cành quê hương
- Ai về Hoằng Hóa (1) mà coi
Chợ Quăng (2) một tháng ba mươi phiên chiều
Trai mỹ miếu bút nghiên đèn sách
Gái thanh tân chợ búa cửi canh
Trai thì nhất bảng đề danh