1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của việt nam sang trung quốc

100 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 127,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình hồi quy về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc....44 3.4.. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến hiệu quả kỹ thuật xu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THÁI DUY

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016

Trang 2

NGUYỄN THÁI DUY

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số:60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưađược dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoànthành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận vănđều đã được ghi rõ nguồn gốc./

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 03 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thái Duy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Phân tích hiệu quả kỹ thuật trong

xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc”, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày

tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, các khoa,phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại hocc̣ TháiNguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập vàhoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhàkhoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại hocc̣ Kinh tế và Quản trị Kinhdoanh - Đại học Thái Nguyên

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng táccủa các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn cácbạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thànhnghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 03 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thái Duy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 5

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hoá 5

1.1.1 Các khái niệm có liên quan 5

1.1.2 Một số lý thuyết về thương mại quốc tế 6

1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hoá 20

1.2.1 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài 22

1.2.2 Ứng dụng mô hình gravity trong phân tích xuất khẩu 14

1.2.3 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại 21

1.3 Những yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hoá 18

1.3.1 Tổng sản phẩm quốc nội 19

1.3.2 Dân số 19

1.3.3 Khoảng cách về địa lý 19

1.3.4 Tiếp giáp với biển Error! Bookmark not defined. 1.3.5 Độ mở của nền kinh tế 20

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Phương pháp tiếp cận 28

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 28

2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29

Trang 6

2.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 31

Chương 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG XUẤT KHẨU 34

HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 34

3.1 Tổng quan về thị trường Trung Quốc 34

3.1.1 Giới thiệu về thị trường Trung Quốc 34

3.1.2 Chính sách thương mại của Trung Quốc 35

3.2 Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 38

3.2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 38 3.2.2 Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 39

3.2.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 40

3.2.4 Năng suất và quy mô xuất khẩu 41

3.2.5 Chỉ số tiềm năng thương mại 41

3.3 Phân tích hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 43

3.3.1 Chỉ số bổ sung thương mại 43

3.3.2 Mô hình hồi quy về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 44

3.4 Thành công, hạn chế trong việc đánh giá hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 47

3.4.1 Thành công 47

3.4.2 Hạn chế 48

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 50

Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 54

4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc 54

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 7

4.2 Quan điểm, định hướng về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang

Trung Quốc 58

4.2.1 Quan điểm phát triển của Đảng và Nhà nước ta 58

4.2.2 Định hướng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 59

4.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 60

4.3.1 Giải pháp chung 61

4.3.2 Giải pháp từ phía nhà nước 61

4.3.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 69

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu cơ bản 34Bảng 3.2: Thuế quan của Trung Quốc đối với hàng hóa của Việt Nam 35Bảng 3.3: Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc 38Bảng 3.4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 39Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng bình quân trong xuất khẩu hàng hóa củaViệt Nam sang Trung Quốc 40Bảng 3.6: Năng suất và quy mô xuất khẩu các mặt hàng 41của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc 41Bảng 3.7: Chỉ số tiềm năng thương mại của Việt Nam sang thị trườngTrung Quốc 42Bản g 3.8: Chỉ số bổ sung thương mại TCI 43Bảng 3.9: Kết quả mô hình 44Bảng 3.10: Mức xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam sang Trung Quốc giaiđoạn 2000 – 2014 46

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới đã và đang bước vào một kỷ nguyên của toàn cầu hoá và khuvực hoá Việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác liênminh, liên kết giữa các quốc gia, giữa các khu vực hiện nay đã trở thành mộtyếu tố khách quan, là xu thế của thời đại Quá trình này nhằm thu hút cácnguồn lực bên ngoài và phát huy nguồn lực nội tại của nền kinh tế trong nước

để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả, nhanhchóng và bền vững

Hiện nay, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thương mại với rất nhiều quốcgia và khối khu vực khác nhau trên thế giới Với một nền kinh tế đang pháttriển, việc tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế giúp nước ta tận dụng vàphát huy được những lợi thế so sánh của mình Hoạt động xuất khẩu hàng hoá

đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận như tăng nguồn thu ngoại tệ, thúcđẩy sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, và đẩymạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng, đã có truyền thống hữunghị lâu đời Chặng đường 65 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoạigiao dù tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc, quan hệ hainước có lúc thăng lúc trầm, nhưng hợp tác hữu nghị luôn là dòng chảy chính.Trong giai đoạn hiện nay, hai nước đang đứng trước những cơ hội mới vàthách thức mới, yêu cầu hai bên cùng nhau giải quyết nhằm đưa quan hệ songphương tiếp tục phát triển lành mạnh trong tương lai và đạt được nhiều thànhquả thiết thực, đem lại lợi ích cho nhân dân hai nước

Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai khu vực, lớn thứ ba thế giới, theo dựbáo sẽ tiếp tục đà phát triển tốc độ cao đến năm 2020, tiếp tục mở cửa hội nhậpmạnh vào kinh tế khu vực và thế giới, chắc chắn sẽ tác động đến cục diện kinh tếcủa Việt Nam nói riêng, kinh tế thế giới nói chung Sự phát triển tốc độ

Trang 12

cao của nền kinh tế lớn này kéo theo sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu tiêu dùnghàng hóa về số lượng, chất lượng cũng như chủng loại dẫn đến nhu cầu nhậpkhẩu của thị trường Trung Quốc ngày càng tăng cao Chính vì vậy, Trung Quốcđược đánh giá là thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhiều nước trong khu vựccũng như các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Việc đẩy mạnh xuất khẩusang thị trường này sẽ giúp Việt Nam phát triển kinh tế trong nước, giải quyếtviệc làm cho người lao động, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩuhàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc và từ đó đưa ra các giảipháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hoá của Việt Namsang thị trường Trung Quốc có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Với

những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả

kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc” để giải

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về xuất khẩu, hiệu quả kỹ thuậtxuất khẩu trong xuất khẩu hàng hóa nói chung và tìm hiểu kinh nghiệm củamột số nước về vấn đề này;

- Đánh giá thực trạng hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu trong xuất khẩu hànghóa của Việt Nam sang Trung Quốc

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong tương lai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề về hiệu quả kỹ thuật trong

xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc;

Luận văn không nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu dịch vụ

mà tập trung nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hoá hữuhình của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Về mặt khoa học: Đề tài hệ thống và phát triển lý thuyết xuất khẩu,

hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa Bước đầu tổng kết những bài học kinhnghiệm của một số nước trên thế giới trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuậtxuất khẩu hàng hóa sang các nước khác trên thế giới

- Về mặt thực tiễn: Luận văn đi sâu phân tích đánh giá thực trạng hiệu

quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn2000-2014 Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp cần thiết và có tính khả thinhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sangTrung Quốc trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung của Luận văn gồm 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kỹ thuật xuất khẩu hàng

hóa

Trang 14

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

- Chương 3: Thực trạng hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa củaViệt Nam sang Trung Quốc

- Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng

hóa của Việt Nam sang Trung Quốc trong tương lai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT

TRONG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hoá

1.1.1 Các khái niệm có liên quan

- Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả kỹ thuật là tính hiệu quả của việc sửdụng một tập hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra một sản lượng nhất định

Chẳng hạn một công ty được cho là có hiệu quả về mặt kỹ thuật nếu công ty

đó sản xuất ra sản lượng tối đa từ việc sử dụng số lượng tối thiểu các yếu tốđầu vào như lao động, vốn và công nghệ

- Mức xuất khẩu thực tế: mức xuất khẩu thực tế là mức xuất khẩu hiệntại trong điều kiện xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại và rào cảnthương mại hiện đang được áp dụng Số liệu thống kê về mức xuất khẩu thực

tế của một quốc gia thường được các cơ quan thống kê công bố hoặc có thểđược công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Mức xuất khẩu tiềm năng (tiềm năng suất khẩu): Mức xuất khẩu tiềmnăng có thể hiểu là mức xuất khẩu tối đa mà một quốc gia có thể đạt đượctrong trường hợp điều kiện lý tưởng và không có bất cứ rào cản thương mạinào Nói cách khác đây là việc ước tính mức xuất khẩu giả định trong trườnghợp điều kiện lý tưởng Phần chênh lệch giữa mức xuất khẩu thực tế và mứcxuất khẩu tiềm năng chính là phần phi hiệu quả kỹ thuật Nói cách khác sựchênh lệch này chính là tiềm năng xuất khẩu chưa được khai thác

- Hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu: được hiểu là tỷ số giữa mức xuấtkhẩu thực tế và mức xuất khẩu tiềm năng Khái niệm này dựa trên ý tưởng vềhiệu quả kỹ thuật trong kinh tế học sản xuất (Farell, 1957)

Trang 16

1.1.2 Một số lý thuyết về thương mại quốc tế

1.1.2.1 Lý thuyết về chủ nghĩa trọng thương

Lý thuyết này được coi là lý thuyết thương mại quốc tế đầu tiên, bắt đầu từ thế ký XVI và kết thúc vào thế kỷ XVIII Ở thời kỳ này, vàng và bạc được lưu hành với đồng tiền thanh toán trong thương mại quốc tế và là thước

đo tài sản của mọi quốc gia

Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, một quốc gia muốn giàu

có và phồn vinh thì thì quốc gia đó phải tích luỹ nhiều vàng và bạc Để tích luỹ được nhiều vàng bạc thì quốc gia cần coi trọng xuất - nhập khẩu, phát triển thương nghiệp Theo đó, quốc gia cần phải sản xuất và xuất khẩu càng nhiều càng tốt, đồng thời hạn chế nhập khẩu ở mức tối thiểu nhằm được thặng

dư trong cán cân thương mại Lý giải cho vấn đề này đó là một quốc gia xuất khẩu sang phần còn lại của thể giới nhiều hơn nhập khẩu từ phần còn lại của thế giới sẽ nhận được sự thanh toán từ phần còn lại của thế giới dưới hình thức là vàng, bạc Điều này giúp gia tăng sản lượng trong nước, giải quyết việc làm cho người lao động

Các nhà trọng thương đều ủng hộ việc điều tiết của chính phủ đối vớihoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng khuyến khích xuất khẩu vàhạn chế nhập khẩu

Bên cạnh đó, chủ nghĩa trọng thương còn cho rằng thương mại quốc tế không thể mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, hay nói cách khác, một quốc gia chỉ có lợi từ thương mại trên sự hi sinh của một quốc gia khác Chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng thương bị chỉ trích mạnh mẽ ở một số điểm sau:

- Thứ nhất, theo nhà kinh tế học cổ điển David Hume, thặng dự trongcán cân thương mại chỉ được duy trì trong ngắn hạn Về mặt dài hạn,không có quốc gia nào duy trì được thặng dư trong cán cân thương mại

- Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về nền kinh tế thế

giới cho rằng sự giàu có của thế giới là cố định nên nếu một quốc gia thu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 17

được lợi ích từ thương mại quốc tế thì quốc gia kia phải chịu thiệt từthương mại Quan điểm này không được Adam Smith thừa nhận vì theoAdam Smith, sự giàu có của thế giới không phải cố định, thương mạiquốc tế cho phép các quốc gia tận dụng những lợi thế chuyên môn hoá

và phân công lao động để tăng năng suất lao động và gia tăng sảnlượng của thế giới

- Thứ ba, hiểu sai về khái niệm “tài sản quốc gia” Ngày nay, chúng ta chorằng vàng bạc chỉ là một phần nhỏ của tài sản trong nước Điều quan trọnghơn là liệu chúng ta có đủ hàng hoá để thoả mãn nhu cầu con người haykhông và nhất là chúng ta có đủ tài nguyên sản xuất để luôn luôn có được

số hàng hoá ấy Nhưng vào thời đó, người ta lại chỉ coi tiền là tài sản quốcgia mà tiền ở đây chính là vàng bạc - đá quý, còn tiền giấy chưa được sử

dụng nhiều

Lý thuyết trọng thương về thương mại quốc tế có thể được tóm tắt như sau:

- Đánh giá được vai trò của thương mại quốc tế

- Chính phủ can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế, nhất là trong lĩnhvực ngoại thương: Lập ra hàng rào thuế quan, có chính sách bảo hộ cácngành sản xuất trong nước đó là tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhậpkhẩu

-Việc giao thương với nước ngoài chỉ phục vụ cho lợi ích quốc gia củamình Một quốc gia chỉ có lợi nhờ mậu dịch trên sự hy sinh của một quốc

gia khác

Mặc dù còn có nhiều hạn chế về quan điểm, tư tưởng kinh tế nhưng lýthuyết này đã khẳng định vai trò của thương mại quốc tế, vai trò can thiệp củaNhà nước vào kinh tế Những quan điểm đó vẫn có giá trị hiện nay

1.1.2.2 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Nền kinh tế ở các nước Tây Âu đã có những thay đổi đáng kể từ giữathế kỷ thứ XVIII:

Trang 18

- Từ xã hội nông nghiệp đơn giản phát triển thành một xã hội kinh tế phức tạp.

- Ở nước Anh, công nghiệp phát triển Cuộc cách mạng kỹ thuật côngnghệ đã làm thay đổi nước này từ một nền kinh tế kỹ nghệ tại gia sang mộtnền kinh tế với những công xưởng dựa vào sức máy và hơi nước Tư sản côngnghiệp có vị trí rất quan trọng thay cho vị trí của thương nhân thời gian trướcđây

- Mậu dịch đã được mở rộng ra phạm vi toàn quốc và toàn cầu, nhữngsản phẩm xuất khẩu mới đa dạng hơn như vải dệt, vật dụng bằng sắt, sảnphẩm da thuộc thay thế cho một số mặt hàng khác như len, lúa mì

- Hệ thống các ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và tiền tệ đã bắt đầu phát hành

- Một quốc gia đã mạnh sẽ không cần dùng đến các biện pháp nhằm tăng

cường quyền lực như trước mà vai trò đó được chuyển vào tay cá nhân Cácdoanh nghiệp có quyền tự quyết các vấn đề như sản xuất cái gì, sản xuất bằngphương pháp nào và định giá ra sao Các doanh nghiệp không phải chịu sựkiểm soát của các chính quyền địa phương hay quân đội như trước đây nữa

Vào cuối thế kỷ XVIII, Adam Smith xây dựng khái niệm về thương mạiquốc tế mà theo đó các bên tham gia thương mại đều có lợi Ban đầu ý địnhcủa Adam Smith là bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về thươngmại quốc tế và đưa ra trường hợp về thương mại tự do Ông đã bắt đầu bằngmột việc đơn giản là cho hai quốc gia thương mại với nhau một cách tựnguyện thì cả hai đều có lợi từ thương mại quốc tế

Khái niệm về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được đưa ra như sau:Một quốc gia được cho là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất một loại hàng hoánào đó nếu quốc gia đó sản xuất hiệu quả hơn so với bất kỳ quốc gia nào kháctrong việc sản xuất hàng hoá đó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 19

Theo quan điểm của Adam Smith, hai quốc gia khi tham gia mậu dịchvới nhau là tự nguyện và cả hai đều cùng có lợi Cơ sở mậu dịch giữa haiquốc gia chính là lợi thế tuyệt đối mà ở đây là chi phí sản xuất thấp hơn Ví

dụ, quốc gia A có lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm X nào đó và không có lợithế tuyệt đối về sản phẩm Y Trong khi, quốc gia B có lợi thế tuyệt đối về sảnphẩm Y và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm X Lúc này cả hai quốc giađều có thể có lợi nếu quốc gia A chỉ chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm X vàquốc gia B chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm Y và hai quốc gia tự nguyệntrao đổi với nhau Như vậy, theo cách làm này, tài nguyên của mỗi quốc gia sẽđược sử dụng hiệu quả hơn và sản phẩm hai nước xuất khẩu được sẽ tăng lên.Lợi ích thu được từ chuyên môn hoá chính là phần tăng lên này

1.1.2.3 Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo

Theo Adam Smith, để thương mại mang lại lợi ích cho tất cả các quốcgia tham gia thì mỗi một quốc gia tham gia thương mại phải có lợi thế tuyệtđối trong việc sản xuất ít nhất một loại hàng hoá mà quốc gia đó có thể xuấtkhẩu sang nước khác Tuy nhiên, nếu một quốc gia có lợi thế trong việc sảnxuất tất cả mọi hàng hoá và quốc gia kia không có lợi thế tuyệt đối trong việcsản xuất bất kỳ loại hàng hoá nào thì điều gì sẽ xảy ra

Nhà kinh tế học người Anh gốc do thái – David Ricardo (1772-1823)

đã xây dựng một nguyên lý có thể chứng minh được rằng ngay cả khi mộtquốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn quốc gia kia trong việc sản xuất mọi loạihàng hoá thì thương mại vẫn có thể xảy ra giữa hai quốc gia và mang lại lợiích cho tất cả các bên tham gia

Trang 20

Trong vài thế kỷ gần đây, giả thuyết về lợi thế so sánh được cho là mộttrong những lý do chủ yếu giải thích nguồn gốc của thương mại quốc tế và nhất

là giải thích về hiện tượng thu nhập và tốc độ tăng trưởng cao của các nền kinh tế

mở một cách rất thuyết phục Lý thuyết này đã chứng minh rằng không phải là

sự khác biệt tuyệt đối về khả năng của các quốc gia trong việc sản xuất hàng hoá

và dịch vụ mà là sự khác biệt một cách tương đối (Deardorff, 2011) Vì vậy, nếumột quốc gia sản xuất một loại hàng hoá nào đó hiệu quả hơn so với bất kỳ quốcgia nào khác trên thế giới thì quốc gia đó vẫn có thể có lợi ích từ thương mạithông qua việc nhập khẩu hàng hoá đó và xuất khẩu hàng hoá mà quốc gia đósản xuất có hiệu quả hơn Bên cạnh đó, mỗi quốc gia bằng cách tập trung xuấtkhẩu những hàng hoá mà họ sản xuất có hiệu quả một cách tương đối và nhậpkhẩu những hàng hoá từ các quốc gia sản xuất những hàng hoá đó hiệu quả mộtcách tương đối cũng có thể nâng cao phúc lợi của mình

Liệu rằng lý thuyết lợi thế so sánh có thể giải thích được hiện tượngthương mại ngày nay hay không thì đã có rất nhiều ý kiến trái chiều Có ýkiến cho rằng lợi thế so sánh dựa vào nguồn lực trong nước là chủ yếu thìkhông còn phù hợp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự thay đổi như

vũ bão của công nghệ thông tin hiện nay Về thực tế, những yếu tố sản xuất, ýtưởng, công nghệ, hàng hóa, dịch vụ ngày càng có tính di chuyển từ quốc gianày sang quốc gia khác, nó hoàn toàn trái ngược với cách tiếp cận truyềnthống của mô hình thương mại dựa trên lợi thế so sánh Do đó, xét ở một mức

độ nào đó thì sự thay đổi về mô hình thương mại trong những thập niên gầnđây có thể được giải thích nhờ lợi thế so sánh

Về vấn đề tư vấn chính sách xoay quanh lý thuyết lợi thế so sánh, hiệnnay vẫn còn khá nhiều tranh cãi Lý thuyết chỉ ra rằng việc can thiệp vào lợithế so sánh, ngay cả khi chính phủ hỗ trợ cho các lĩnh vực mà quốc gia có lợithế so sánh tự nhiên, có thể làm giảm lợi ích từ thương mại hoặc thậm chí gây

ra tổn thất (Deardorff, 2011) Mặt khác, trong nghiên cứu của Rodrik (2009)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 21

đã chỉ ra rằng ngay cả những chính sách nói chung, không tập trung vào bất

kỳ lĩnh vực cụ thể nào, có thể ảnh hưởng đến điều kiện phát triển của một sốhoạt động nhiều hơn so với ảnh hưởng đến một số hoạt động khác

Lý thuyết của David Ricardo cho rằng lợi thế so sánh có nguồn gốc cảulợi thế so sánh từ năng suất lao động Một quốc gia có lợi thế so sánh về mộthàng hoá nào đó nếu quốc gia đó có thể sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn

so với quốc gia khác

Mô hình Ricardo là dựa trên một số giả định sau đây:

- Thế giới chỉ có 2 quốc gia và 2 hàng hoá Giả định này nhằm mục đích đơn giản hoá mô hình, tạo thuận lợi cho việc phân tích

- Yếu tố lao động là duy nhất tại mỗi quốc gia Mỗi quốc gia có mộtlực lượng lao động cố định và tất cả số lao động này đều được sử dụng

- Nền kinh tế được đặc trưng bởi cạnh tranh hoàn hảo

- Thương mại tự do diễn ra giữa các quốc gia

- Chi phí vận chuyển nội bộ và bên ngoài bằng không

- Trình độ công nghệ là cố định cho cả hai quốc gia

1.1.2.4 Lý thuyết Heckscher~Ohlin

Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo vẫn chưa giải thích được điều

gì đã tạo ra lợi thế so sánh và lý thuyết này cũng không giải thích được tác độngcủa thương mại đối với phân phối thu nhập trong phạm vi một quốc gia

Hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Heckscher và Ohlin trong thậpniên 20 và 30 của thế kỷ XX đã xây dựng mô hình lý thuyết tỷ lệ các yếu tố mà

Trang 22

có thể lý giải được hai vấn đề ở trên Ý tưởng cơ bản của Heckscher và Ohlindựa trên hai giả định cơ bản sau: Thứ nhất là sản xuất các hàng hoá khác nhauđều yêu cầu các yếu tố đầu vào khác nhau Thứ hai là mức độ sẵn có của cácyếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau – đây chính là yếu tố quyết định lợithế so sánh Đây là lý do tại sao quốc gia dồi dào về lao động lại xuất khẩuhàng hoá cần sử dụng nhiều lao động, quốc gia dồi dào về đất đai lại xuấtkhẩu hàng hoá sử dụng nhiều đất đai.

Mô hình Heckscher - Ohlin được xây dựng trên những giả định sau:

- Thế giới chỉ có hai quốc gia, mỗi quốc gia có 2 yếu tố sản xuất (lao động và vốn)

- Công nghệ sản xuất là hoàn toàn giống nhau giữa hai quốc gia

- Sản xuất mang đặc trưng của lợi suất không đổi theo quy mô đối với

cả hai hàng hoá tại hai quốc gia

- Các quốc gia có sở thích và thị hiếu tương tự nhau

- Hai hàng hoá có mức độ thâm dụng các yếu tố sản xuất khác nhau

- Cạnh tranh hoàn hảo trên tất cả các thị trường hàng hoá và thị trường các yếu tố sản xuất

- Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển trong phạm vi một quốc gia, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia

- Chuyên môn hoá sản xuất không hoàn toàn

- Thương mại quốc tế là hoàn toàn tự do và chi phí vận chuyển bằng

không

- Tất cả các nguồn lực đều được toàn dụng ở cả hai nước

Lý thuyết Heckscher – Ohlin có thể được tóm tắt bằng một số định lýsau:

- Định lý Heckscher – Ohlin về mô hình mậu dịch: Một quốc gia có lợithế so sánh về hàng hoá mà việc sản xuất hàng hoá đó cần sử dụng nhiều yếu

tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó Điều đó nghĩa là, một quốc gia sẽ xuất

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 24

khẩu mặt hàng thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dư thừa một cáchtương đối và nhập khẩu hàng hoá thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đókhan hiếm một cách tương đối.

- Định lý về sự cân bằng giá cả yếu tố sản xuất: Thương mại tự do giữahai quốc gia dựa trên sự khác biệt về tỷ lệ nhân tố sẽ không những làm cânbằng giá cả của hàng hoá trao đổi mà còn làm cho giá cả các yếu tố sản xuất

có xu hướng trở nên cân bằng Hay nói cách khác, giá thuê vốn và giá laođộng ở hai quốc gia sẽ cân bằng

- Định lý Stolper-Samuelson: Sự tăng giá tương đối của một hàng hoá

sẽ làm tăng lợi suất của yếu tố sản xuất mà được sử dụng nhiều trong việc sảnxuất mặt hàng đó và làm giảm lợi suất của yếu tố sản xuất khác

- Định lý Rybczynski: Việc tăng thêm về cung của một yếu tố sản xuất

sẽ làm tăng sản lượng của hàng hoá thâm dụng yếu tố sản xuất đó và làmgiảm sản lượng của hàng hoá khác

1.1.2.5 Lý thuyết chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm

Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, Raymond Vernon đã đưa ra lý thuyếtchu kỳ sống quốc tế của sản phẩm Theo Vernon, một sản phẩm sẽ trải quamột chu kỳ sống bắt đầu từ đổi mới sản phẩm đến chuẩn hoá sản phẩm Mộtchu kỳ sống của sản phẩm bao gồm những giai đoạn sau:

- Giai đoạn I: Giai đoạn này bắt đầu khi nước phát minh có sự đột phá vềcông nghệ trong sản xuất sản phẩm mới Ban đầu, quá trình sản xuất sản phẩmmới diễn ra trên quy mô nhỏ vì công ty phát minh ra sản phẩm mới cũng đangtrong giai đoạn cải tiến sản phẩm và hoàn thiện quy trình sản xuất Hơn nữa,công ty phát minh mới chỉ hướng tới thị trường trong nước để đón nhận nhữngthông tin phản hồi về sản phẩm từ phía người tiêu dùng dễ dàng hơn

- Giai đoạn II: Quá trình sản xuất bắt đầu gia tăng trước hết là phục vụnhu cầu tiêu dùng trong nước, sau đó xuất khẩu sang thị trường nước ngoài có sựtương đồng về thị hiếu và mức thu nhập Công ty trong nước cũng nhận thấy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 25

rằng thị trường tiêu thụ sản phẩm trở nên đủ lớn để cho phép sản xuất với quy

mô lớn, loại bỏ công nghệ sản xuất kém hiệu quả

- Giai đoạn III: Cả sản phẩm và quy trình sản xuất bắt đầu được chuẩnhoá Các công ty phát minh nhận thấy cần di chuyển sản xuất sang thị trườngnước ngoài nhằm đảm bảo lợi nhuận

- Giai đoạn IV: Vị trí độc quyền của quốc gia phát minh sản phẩm sẽkhông thể duy trì được Khi công nghệ trở nên cũ đi, nhà sản xuất nước ngoài

sẽ bắt chước quy trình sản xuất Vì vâỵ, quốc gia phát minh sẽ dần dần mất đilợi thế so sánh của mình Chu kỳ xuất khẩu đi vào giai đoạn suy thoái

- Giai đoạn V: Người tiêu dùng bắt đầu quen thuộc với sản phẩm và nhàsản xuất bắt đầu quen thuộc với quy trình sản xuất Sự đột phá về công nghệtrước đây không còn mang lại lợi ích cho quốc gia phát minh nữa Hơn nữa,các quốc gia phát minh bắt đầu quan tâm đến sự đột phá về công nghệ mớidẫn đến một chu kỳ sống của một sản phẩm mới

1.1.3 Ứng dụng mô hình gravity trong phân tích xuất khẩu

Trong nhiều thập kỷ qua, mô hình gravity đã được sử dụng khá rộng rãitrong lĩnh vực thương mại quốc tế Nguồn gốc của mô hình này được xâydựng dựa trên định luật lực vạn vật hấp dẫn trong lĩnh vực vật lý do Newtonphát triển vào năm 1687 Theo định luật này, lực hấp dẫn giữa hai vật thể phụthuộc vào khối lượng và khoảng cách giữa hai vật thể đó, cụ thể là:

Lực hấp dẫn có quan hệ tỷ lệ thuận với tích của hai khối lượng vật thể (M i và M j) và quan

hệ tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai vật thể đó ( 2 ) Hằng số hấp dẫn G phụ

thuộc vào đơn vị đo lường, được xác định thông qua thí nghiệm của Cavendish vào năm 1797.

Mối quan hệ nói trên có thể được áp dụng cho bất kỳ trường hợp nào liênquan đến sự lưu chuyển, trong đó có lưu chuyển ngoại thương Trong thương

Trang 26

mại quốc tế, mô hình gravity đặt định luật lực vạn vật hấp dẫn vào trong bối

cảnh kinh tế Giả sử rằng thương mại giữa nước i và nước j là T ij, quy mô nền

kinh tế của nước i là Y i còn quy mô nền kinh tế của nước j là Y j Khi đó

thương mại giữa hai nước i và nước j được xác định như sau:

=

Trong mô hình đơn giản nói trên, T ij có thể là kim ngạch xuất khẩu của

nước i sang nước j hoặc có thể là thương mại hai chiều giữa nước i và nước j; quy mô của nền kinh tế của nước i thường được đo lường bởi GDP của nước i

và quy mô nền kinh tế của nước j thường được đo lường bởi GDP của nước j, còn khoảng cách giữa hai nước i và j chính là khoảng cách về mặt địa lý giữa hai thủ đô của hai nước i và j.

1.1.3.1 Mô hình Gravity của Tinbergen

Mô hình gravity được Tinbergen áp dụng trong lĩnh vực thương mạiquốc tế lần đầu tiên vào năm 1962 (Tinbergen, 1962) Theo Tinbergen,thương mại giữa hai quốc gia được thể hiện thông qua mối quan hệ sau:

=

Tinbergen lưu ý rằng tỷ lệ tương xứng trực tiếp giữa các biến giải thích

và biến được giải thích được không nhất thiết ngụ ý Các số mũ a, β và  do

đó có thể có giá trị khác 1 Đó chính là độ co giãn của GDP nước xuất khẩu(α), độ co giãn của GDP nước nhập khẩu (β) và độ co giãn của khoảng cách() Nếu α và β đều bằng 1 còn  bằng 2 thì đây chính là trường hợp lực vạnvật hấp dẫn của Newton

Tinbergen (1962) lý giải việc sử dụng quy mô nền kinh tế của hai quốc gia

i và j vào mô hình gravity Ông cho rằng nước xuất khẩu i có khả năng cung hay

không là phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế nước i (khả năng sản xuất của nước

i) Tương tự như vậy, kim ngạch xuất khẩu từ quốc gia i sang quốc gia j

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 27

cũng phụ thuộc vào sức mua của quốc gia j, hay nói cách khác là quy mô nền kinh tế nước j (khả năng nhập khẩu của nước j) Quy mô nền kinh tế thường

được đo bằng GDP, GDP bình quân đầu người, hoặc dân số

Khoảng cách thường được xác định bằng khoảng cách về mặt địa lýgiữa trung tâm kinh tế của hai quốc gia hoặc khoảng cách giữa thủ đô của haiquốc gia theo đường chim bay Trên thực tế, khoảng cách đại diện cho nhiềunhân tố có ảnh hưởng đến thương mại như chi phí vận chuyển, thời gian vậnchuyển, chi phí liên lạc, chi phí giao dịch và sự cách biệt về văn hóa Việc đolường các yếu tố này thường gặp nhiều khó khăn nên khoảng cách về mặt địa

lý thường được sử dụng để đại diện cho các chi phí nói trên Các nhân tố thúcđẩy thương mại giữa hai quốc gia có thể là sự tương đồng về văn hóa hay hệthống chính trị

1.1.3.2 Mô hình Gravity của Anderson

Anderson (1979) là một trong những nhà kinh tế học đầu tiên phát triểnmột nền tảng lý thuyết vững chắc của mô hình gravity Trong mô hình củamình, các sản phẩm được phân biệt bởi nơi xuất xứ của mình, còn được gọi làgiả định Armington Armington (1969 ) phân biệt hàng hoá không chỉ bởi loạihàng hóa (ví dụ: hàng hóa , hóa chất , sản phẩm gỗ , vv ) mà còn bởi nơi sảnxuất Do đó, quốc tịch của các nhà sản xuất là rất quan trọng đối với các đặctính của sản phẩm Armington giả định rằng các mặt hàng cùng loại nhưng cónguồn gốc từ các nước khác nhau là thay thế cho nhau một cách hoàn hảo.Trong bối cảnh của mô hình gravity, điều này là khả thi vì nơi sản xuất là rấtquan trọng đối với các chi phí liên quan đến thương mại Nguồn gốc lý thuyếtcủa Anderson của mô hình trọng lực phát triển dần dần Mô hình của ôngđược phát triển thông qua:

- Loại hàng hóa trao đổi: Tất cả hàng hoá đều có thể trao đổi trong lầnđầu, và sau đó ông phân biệt giữa hàng hóa có thể trao đổi và hàng hóa phithương mại

Trang 28

- Bao gồm các khoảng cách về mặt địa lý.

- Số lượng của các nước sản xuất hàng hóa có thể trao đổi: Bắt đầu vớimột sản phẩm khác biệt duy nhất mỗi quốc gia, Anderson mở rộng khuôn khổ

mô hình nhiều hàng hóa được trao đổi

Nền tảng kinh tế của mô hình gravity được dựa trên cơ sở xác định hàmchi tiêu là một hàm độ co giãn thay thế không đổi - CES (Anderson, 1979) Tỷtrọng chi tiêu trong hàm CES được xác định như sau:

X E

Trong đó Pj là chỉ số giá CES  là tham số của độ co giãn thay thế i

là “tham số phân phối” đối với hàng hoá được vận chuyển từ i pi là giá bán

tại cổng nhà máy và tij>1 là yếu tố chi phí thương mại giữa i và j Chỉ số giáCES được tính như sau:

P j

1.1.3.3 Mô hình Gravity của Linnemann

Nghiên cứu của Linneman (1966) (trích trong Rahman, 2003) trongphân tích phương trình gravity trên cơ sở mô hình cân bằng cục bộ về cungxuất khẩu và cầu nhập khẩu Trong công trình nghiên cứu này, các nhân tốgóp phần vào thương mại giữa hai quốc gia được phân thành ba nhóm:

- Các yếu tố thuộc về tổng cung tiềm năng của quốc gia A

- Các yếu tố thuộc về tổng cầu tiềm năng của quốc gia B

- Các yếu tố làm cản trở luồng lưu như chi phí vận tải, thuế quan,

Cung tiềm năng có sự gắn kết một cách có hệ thống với các yếu tố sau:Quy mô GDP, Quy mô thị trường (Quy mô dân số), Mức thu nhập bình quânđầu người Nếu yếu tố thu nhập bình quân đầu người không có ảnh hưởng thìcác yếu tố về GDP và dân sô hoàn toàn phụ thuộc vào các biến giải thích của

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 30

nhau Tuy nhiên, nếu yếu tố đó có ảnh hưởng thì ba yếu tố giải thích sẽ khôngđộc lập với nhau.

1.1.3.4 Một số nghiên cứu sử dụng mô hình gravity

Mô hình gravity đơn giản được sử dụng một cách thành công trongphân tích dòng thương mại Mô hình dựa trên ý tưởng là thương mại giữa haiquốc gia phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế giữa hai quốc gia đó và khoảngcách về mặt địa lý giữa chúng Trên thực tế đã có nhiều nghiên cứu thựcnghiệm sử dụng mô hình này, một vài ứng dụng được sử dụng để kiểm định lýthuyết thương mại chuẩn, một số ứng dụng khác để giải thích dòng thươngmại và ảnh hưởng của chính sách đến dòng chảy thương mại Tuy nhiên, môhình Gravity trước đây đã bị chỉ trích do thiếu nền tảng vững chắc về mặt lýthuyết Một số công trình nghiên cứu gần đây đã khắc phục hạn chế này

Nghiên cứu của Anderson (1979) lần đầu tiên đã đưa ra sự hợp lý vềmặt lý thuyết cho mô hình Trong nghiên cứu này, Anderson đã xây dựngphương trình Gravity trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu trong đó có sự khác biệt hoá

về sản phẩm theo quốc gia và chi phí vận tải được đại diện bởi khoảng cách.Helpman (1987) cũng đã xây dựng mô hình Gravity trên cơ sở mô hình cạnhtranh không hoàn hảo Deardorff (1998) đã chứng minh rằng mô hình gravity

có thể phát sinh từ hai trường hợp đặc biệt của mô hình Heckscher-Ohlin là có

và không có sự cản trở thương mại

Như vậy, mô hình Gravity có thể được xây dựng trên nhiều lý thuyếtthương mại quốc tế khác nhau và được sử dụng để tìm ra minh chứng về mặtthực nghiệm đối với nhiều lý thuyết thương mại với các giả định khác nhau

1.1.4 Những yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hoá

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, tác giảxây dựng mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Trên cơ sở

đó, tác giả sử dụng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên nhằm ước tính hiệu quả

kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 31

có cơ hội xuất khẩu nhiều hơn Ngược lại, GDP của nước nhập khẩu chính làyếu tố cầu bởi vì GDP của nước nhập khẩu càng lớn thì càng thể hiện sức muacủa quốc gia đó Điều này đồng nghĩa với việc nước đó có khả năng chi trảnhiều hơn cho hàng hoá của các nước khác, khiến cho giá trị xuất khẩu vàonước đó tăng lên Chính vì vậy, xét về mặt lý thuyết, khi các yếu tố kháckhông đổi thì thương mại giữa các quốc gia có quy mô GDP cao thường làcao.

1.1.4.2 Dân số

Về mặt lý thuyết, xu hướng tác động của yếu tố dân số tới xuất khẩucủa quốc gia là chưa thực sự rõ ràng Dân số của mỗi quốc gia chính là mộttrong những nguồn lực quan trọng trong việc sản xuất ra nhiều hàng hoá xuấtkhẩu Đối với các quốc gia đông dân số, sẽ tăng được nguồn lao động, tăngkhả năng sản xuất, khuyến khích được phân công lao động và nhờ đó cácngành sản xuất công nghiệp đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô Do vậy, dân

số có tác động tích cực đối với thương mại Mặt khác, những quốc gia đôngdân số thường có diện tích tự nhiên rộng, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồidào, sẵn có Cung lao động của quốc gia lớn có thể khiến cho hàng hoá trongnước rẻ tương đối so với hàng nhập khẩu và do đó lại làm giảm giá trị nhậpkhẩu Bởi vậy, dân số có tác động làm giảm thương mại

1.1.4.3 Khoảng cách về địa lý

Xét về mặt lý thuyết, khoảng cách về mặt địa lý có tác động làm giảm

Trang 32

vận chuyển càng lớn, rủi ro đối với hàng hoá trong quá trình vận chuyển càngnhiều Mặt khác, việc trao đổi buôn bán giữa hai quốc gia xa nhau gặp khókhăn hơn so với các quốc gia có khoảng cách gần Nhiều nghiên cứu thựcnghiệm đã đồng loạt chỉ ra rằng tác động của yếu tố khoảng cách địa lý giữacác quốc gia luôn là tác động ngược chiều đến xuất khẩu.

1.1.4.4 Độ mở của nền kinh tế

Trên thực tế về thương mại quốc tế, có rất nhiều các rào cản gây ảnhhưởng đến thương mại giữa các quốc gia trên thế giới một cách rõ ràng Đó làhàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan Khi các rào cản thương mạităng lên như tăng thuế nhập khẩu hay yêu cầu các tiêu chuẩn đối với hàng hoánhập khẩu cao hơn dẫn đến việc hạn chế luồng hàng hoá xuất nhập khẩu.Ngược lại, khi các rào cản này giảm đi (khi quốc gia tham gia vào các khuvực mậu dịch tự do, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế, giảm thuế, quy địnhtiêu chuẩn linh hoạt, ) sẽ thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu nói chung vàtăng cường thương mại song phương của quốc gia

Việc đo lường các rào cản thương mại thường rất khó vì vậy người tathường sử dụng độ mở nền kinh tế làm biến đại diện cho độ mở về chính sáchthương mại

1.1.4.5 Tham gia khối liên kết kinh tế/hiệp định thương mại tự do

Mỗi một quốc gia đều có chiến lược chung về tự do hóa thương mại.Bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ XX, trên thế giới xuất hiện ngày càngnhiều các khối liên kết kinh tế, trong đó bao gồm các hiệp định thương mại tự

do Cho đến thời điểm này, cả thế giới đã có trên 400 khối liên kết kinh tếđang hoạt động

Việc tham gia khối liên kết kinh tế nói chung và hiệp định thương mại

tự do nói riêng đã mang lại nhiều cơ hội và tác động đối với nền kinh tế quốcgia tham gia hiệp định Một trong những hiệu ứng tĩnh của việc thành lập khốiliên kết kinh tế nói chung và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do nóiriêng là hiệu ứng tạo lập mậu dịch Một trong những cam kết của các nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 33

thành viên hiệp định thương mại tự do là xóa bỏ những trở ngại về thươngmại (và đầu tư) giữa các quốc gia thành viên Phần tăng thêm về thương mạigiữa các quốc gia thành viên do kết quả của liên kết kinh tế quốc tế được gọi

là tạo lập mậu dịch Như vậy, hiệp định thương mại tự do thúc đẩy xuất nhậpkhẩu, góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất của từng quốc gia và tạo lập thịtrường tương đối ổn định giữa các quốc gia thành viên, cải thiện điều kiệnthương mại giữa liên minh với phần còn lại của thế giới

Tuy nhiên, thực hiện các cam kết của hiệp định thương mại tự do cũng

có thể dẫn đến tác động tiêu cực Một trong các tác động tiêu cực đó làchuyển hướng mậu dịch Chuyển hướng mậu dịch có thể xảy ra sau khi thànhlập khối mậu dịch do giảm thuế giữa các quốc gia thành viên Điều đó có thểdẫn đến sự sụt giảm về thương mại giữa quốc gia thành viên với các nướckhông phải là thành viên (nhưng lại có hiệu quả hơn)

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tác động của việc thành lập cáckhối liên kết kinh tế nói chung và hiệp định thương mại tự do nói riêng đốivới thương mại giữa các nước thành viên và giữa các nước thành viên với cácnước không phải là thành viên (Baier và Bergstrand, 2007; Carrere, 2006).Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho thấy hiệu ứng tạo lập mậu dịch của cáckhối liên kết kinh tế, điều đó nói lên rằng việc tham gia khối liên kết liên kếtkinh tế làm tăng thương mại nội khối Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu lạikhông thống nhất về hiệu ứng chuyển hướng mậu dịch Nói cách khác, liệukhối liên kết kinh tế có làm giảm thương mại giữa các quốc gia thành viênkhối liên kết với các quốc gia không phải là thành viên hay không hoàn toàntùy thuộc vào đặc điểm của từng khối liên kết

1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hoá

1.2.1 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các yếu

tố ảnh hưởng đến thương mại hai chiều giữa các quốc gia Cụ thể, nghiên cứu

Trang 34

của Filippini và Molini (2003) sử dụng mô hình gravity để phân tích thươngmại hai chiều giữa các nước Đông Nam Á và một số nước phát triển từ năm

1970 đến năm 2000 Kết qua nghiên cứu cho thấy GDP là yếu tố quan trọng

có ảnh hưởng tích cực (quan hệ tỷ lệ thuận) đối với thương mai hai chiều,trong khi đó khoảng cách và dân số lại có tương quan tỷ lệ nghịch với thươngmại

Nghiên cứu của Fugazza (2004) sử dụng mô hình gravity để đánh giáthành tựu trong xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Kết quảnghiên cứu cho thấy rằng trong khi các rào cản thương mại cần được quan tâm,những hạn chế về điều kiện cung có ảnh hưởng đáng kể đối với xuất khẩu

ở các khu vực khác nhau, đặc biệt là châu Phi và Trung Đông, mặc dù có sựgia tăng về hội nhập kinh tế ở những khu vực này Kết quả nghiên cứu chothấy rằng GDP có tương quan tỷ lệ thuận với xuất khẩu, trong khi đó khoảngcách về mặt địa lý có tương quan tỷ lệ nghịch với xuất khẩu Ngoài ra mốiliên kết với thị trường quốc tế, cơ sở hạ tầng giao thông, các chính sách kinh

tế vĩ mô và chất lượng thể chế là những yếu tố quan trọng đối với xuất khẩu.Hatab và các cộng sự (2010) sử dụng mô hình gravity để phân tích các yếu tố

ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản của Ai Cập sang các đối tác thươngmại chủ yếu trong thời kỳ 2004-2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu GDPcủa Ai Cập tăng lên 1% sẽ làm cho xuất khẩu nông sản của Ai Cập tăng lên5,42% Thêm vào đó, độ mở của nền kinh tế, hiệp định thương mại khu vựcđều có mối quan hệ tỷ lệ thuận với xuất khẩu nông sản của Ai Cập Ngược lại,khoảng cách về mặt địa lý hạn chế xuất khẩu nông sản của Ai Cập sang cácnước đối tác

1.2.2 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuậttrong thương mại (đồng thời xác định tiềm năng thương mại) của một số quốcgia trên thế giới Hầu hết các nghiên cứu này sử dụng mô hình gravity hoặc mô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 35

hình sản xuất biên ngẫu nhiên Mô hình này có khả năng ước tính được nhữnghạn chế về thương mại mà các mô hình gravity thông thường không ước tínhđược

Xu và Sheng (2009) đã nghiên cứu tiềm năng thương mại giữa TrungQuốc và Đài Loan thông qua việc ước tính mức lưu chuyển ngoại thươngtrong trường hợp các hạn chế về thương mại giữa Trung Quốc và Đài Loan bịloại bỏ Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy nhập khẩu của Đài Loan từTrung Quốc sẽ tăng gấp đôi nếu các rào cản thương mại bị loại bỏ Điều thú vị

là mức xuất khẩu thực tế của Đài Loan cao hơn mức xuất khẩu mà mô hìnhước tính Điều đó cho thấy rằng thị trường Trung Quốc mở cửa hơn (đối vớihàng hóa nhập khẩu từ Đài Loan) so với thị trường của Đài Loan (đối vớihàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc)

Rahman (2009) đã thực hiện nghiên cứu về tiềm năng thương mại của

Úc sử dụng mô hình gravity mở rộng với số liệu chéo của 50 quốc gia.Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) đểphân tích số liệu cho năm 2001 và 2005 Sau đó, các hệ số ước tính của môhình này được sử dụng để dự báo tiềm năng thương mại của Úc Viện dẫn vềmặt lý thuyết cho việc sử dụng mô hình gravity để phân tích thương mại haichiều được một lần nữa khẳng định lại Kết quả của mô hình cho thấy rằngthương mại song phương của Úc phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế, GDPbình quân đầu người, độ mở của nền kinh tế và việc sử dụng chung ngôn ngữ.Trong khi đó thương mại hai chiều của Úc bị hạn chế bởi khoảng cách giữacác đối tác thương mại Kết quả ước lượng cũng cho thấy rằng Úc có tiềmnăng thương mại rất lớn với Singapore, Argentina , Liên bang Nga , Bồ ĐàoNha , Hy Lạp, Chile, Philippines, Na Uy, Brazil và Bangladesh

Nghiên cứu của Batra (2004) sử dụng mô hình gravity để ước tính tiềmnăng thương mại của Ấn Độ Cụ thể, tác giả sử dụng mô hình này để lượng hóamức lưu chuyển ngoại thương của các nước trên thế giới Sau đó, các hệ số ước

Trang 36

tính của mô hình lại được sử dụng để dự đoán thương mại tiềm năng của Ấn

Độ Biến phụ thuộc của mô hình là tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữatừng cặp nước (tính bằng USD và chuyển thành dạng logarithm) Kết quảnghiên cứu cho thấy rằng mô hình phù hợp với bộ số liệu và đã đưa ra hệ số

co giãn một cách chính xác (đối với GDP, khoảng cách về mặt địa lý, các yếu

tố về văn hóa và lịch sử) Tiềm năng thương mại của Ấn Độ là cao nhất vớikhu vực châu Á-Thái Bình Dương, tiếp theo là Tây Âu và Bắc Mỹ Các quốcgia như Trung Quốc, Anh, Italy và Pháp có tiềm năng lớn để mở rộng thươngmại với Ấn Độ Trong số các quốc gia thuộc các khối kinh tế thì Ấn độ cótiềm năng thương mại cao nhất với Pakistan (trong SAARC) và vớiPhilippines, Campuchia (trong ASEAN)

Brulhart và Kelly (1999) trong công trình nghiên cứu của mình đã ướctính mức thương mại tiềm năng giữa Ailen và 5 quốc gia CEEC thuộc Trung vàĐông Âu trong quá trình đàm phán gia nhập Liên minh châu Âu (EU) Kết quảnghiên cứu cho thấy, thương mại hai chiều tăng trưởng nhanh trong những nămđầu của thập niên 90, đặc biệt là về xuất khẩu của Ailen sang CEEC

Nghiên cứu của Yihong và Weiwei (2006) đã sử dụng chỉ số tương đồngxuất khẩu để phân tích tiềm năng xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trườngASEAN trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN Quakết quả nghiên cứu ta thấy tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt về xuất khẩu hàng hoásang thị trường ASEAN và tiềm năng thương mại hai chiều là bất ổn định Cácyếu tố về quy mô, khoảng cách và hội nhập, khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc

- ASEAN có ảnh hưởng tích cực đến thương mại hai chiều

Trong công trình nghiên cứu của Dascalescu và các cộng sự (2010) vềmức thương mại thực tế và mức thương mại tiềm năng giữa Rumani và Nga sửdụng cách tiếp cận gravity Các tác giả kiểm định giả thuyết xem xuất khẩu củaRumani sang Liên bang Nga có dưới mức xuất khẩu tiềm năng hay không? Cáctác giả đã sử dụng mô hình Gravity để dự báo xuất khẩu của Rumani sang 43

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 37

nước đối tác thương mại giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2008 Kết quảnghiên cứu chỉ ra rằng, mức xuất khẩu tiềm năng cảu Rumani sang Liên bangNga cao hơn mức xuất khẩu hiện tại 2,58 lần Điều đó cho thấy rằng Rumani

có thể khai thác tiềm năng và xuất khẩu nhiều hơn sang thị trường này

Trong nghiên cứu của Gul và Yasin (2011), nghiên cứu này đã áp dụng

mô hình gravity để xác định tiềm năng thương mại của Pakistan Tác giả sửdụng số liệu từ năm 1981 đến năm 2005 cho 42 quốc gia Kết quả nghiên cứuchỉ ra rằng, tiềm năng thương mại của Pakistan với các quốc gia thuộc khuvực Châu Á - Thái Bình Dương là cao nhất, bao gồm Hiệp hội các quốc giaĐông Nam Á, liên minh Châu Âu, Trung đông, Châu Mỹ la tinh và Bắc Mỹ

Cụ thể là tồn tại mức tiềm năng tối đa trong quan hệ thương mại với các quốcgia như Nhật Bản, Sri Lanka, Bangladesh, Malaysia, Philippines, NewZealand, Vì vậy, Pakistan cần tăng cường mối quan hệ hợp tác về thươngmại với các thị trường tiềm năng này

Fugazza (2006) nghiên cứu tiềm năng thương mại giữa các nước đangphát triển Theo Fugazza thì thương mại giữa các nước đang phát triển đang pháttriển một cách nhanh chóng trong những năm gần đây sau khi có sự giảm thiểuđáng kể về hàng rào thuế quan Tuy nhiên , rào cản lớn vẫn còn tồn tại và hiệnnay là sự miễn cưỡng của nhiều nước đang phát triển trong việc thực hiện thêmviệc cắt giảm, bởi lẽ các quốc gia này muốn tập trung vào việc mở cửa nền kinh

tế nhằm tiếp cận với các nước phát triển Việc tập trung vào các nước phát triển

có thể bỏ lỡ cơ hội về tăng cường thương mại với các nước đang phát triển Đểđánh giá vấn đề này, tác giả so sánh tác động tiềm tàng của việc loại bỏ các ràocản thương mại giữa các nước đang phát triển với lợi ích từ việc tự do hóathương mại của các nước phát triển cũng như các khu vực mậu dịch tự do ở châuPhi Tác giả đã sử dụng mô hình cân bằng tổng thể GTAP chứa đựng thông tin vềthuế quan ưu đãi song phương, để ước tính tác động Kết quả nghiên cứu chothấy việc mở cửa các thị trường các nước phát triển sẽ tạo ra

Trang 38

phúc lợi hàng năm cho các nước đang phát triển khoảng 22 tỷ USD Tuynhiên , việc loại bỏ các rào cản thương mại giữa các nước đang phát triển sẽtạo ra phúc lợi cao hơn phúc lợi mà các nước phát triển mang lại là 60% Kếtquả nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc loại bỏ các rào cản thương mại giữacác châu lục cũng như trong nội bộ từng châu lục là chiến lược sống còn đốivới sự thành công của các nước đang phát triển (phía Nam).

Xét về thực tế, trong thời gian gần đây, việc khái quát lợi thế so sánhtập trung mạnh vào sự tương tác giữa chính sách, quy định với nhu cầu cụ thểcủa từng ngành Trong các nghiên cứu về tầm quan trọng của thể chế tài chínhđối với sự phát triển của Rajan và Zingales (1998), Beck (2003) và Manova(2008), các tác giả đã chứng minh rằng các quốc gia với trình độ phát triển vềmặt tài chính thường xuất khẩu nhiều hơn những mặt hàng mà dựa vào nguồnvốn từ bên ngoài Các quốc gia có quy định rõ ràng thường xuất khẩu nhiềuhơn những mặt hàng mà có sự tập trung các yếu tố đầu vào thấp (Levchenko,2007) hoặc có mức độ phức tạp trong công việc cao hơn (Costinot, 2009)

1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kỹ thuật

Để xác định được hiệu quả kỹ thuật, các nhà khoa học đã sử dụng môhình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) Mô hình này do Aigner và các cộng

sự (1977) xây dựng Đầu tiên mô hình này được ứng dụng trong kinh tế họcsản xuất Ý tưởng của mô hình này là tách phần sai số của mô hình thành haihợp phần Hợp phần thứ nhất là sai số ngẫu nhiên, bao gồm sai số do đo lường

và các yếu tố không được không được đưa vào mô hình (vi) Hợp phần thứ hai

là phần đo lường hiệu quả kỹ thuật (ui) Mô hình hàm sản xuất biên ngẫunhiên được biểu diễn dưới dạng sau:

Trang 39

Trong đó Yi là sản lượng đầu ra của công ty thứ i, x là các yếu tố đầu vàođược sử dụng trong sản xuất, f(.) là hàm sản xuất, vi là sai số ngẫu nhiên, ui làhiệu quả kỹ thuật, β là các hệ số hồi quy Hiệu quả kỹ thuật (TE) chính là tỷ sốgiữa sản lượng (quan sát) của công ty thứ i và sản lượng tối đa mà công ty thứ

i có thể sản xuất khi sử dụng đúng một lượng các yếu tố đầu vào như vậy(đường giới hạn tiềm năng sản xuất) Do đó, TE sẽ được tính toán như sau:

hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc

Trong đề tài này, tác giả sẽ ứng dụng mô hình SFA của Aigner và cáccộng sự (1977) Các biến độc lập của mô hình bao gồm GDP, dân số, khoảngcách về mặt địa lý, độ mở của nền kinh tế, tham gia hiệp định thương mại tựdo,… như đã trình bày ở phần trên Việc đưa các biến nói trên vào mô hình làhoàn toàn dựa trên lý thuyết (lý thuyết thương mại quốc tế, mô hình gravity)

và các nghiên cứu có liên quan

Trang 40

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2011-2014?

- Những thành công, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế đó trong

việc đánh giá hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc là gì?

- Có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kỹ thuật trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc trong thời gian tới?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

Trong đề tài này, tác giả chọn mẫu nghiên cứu bao gồm xuất khẩu củaViệt Nam sang tất cả các nước còn lại trên thế giới trong giai đoạn từ năm

2000 đến năm 2014 Lý do mà tác giả chọn giai đoạn 2000-2014 là vì bắt đầu

từ năm 2000 số liệu về xuất khẩu của Việt Nam sang phần còn lại của thế giớikhá đầy đủ (trong khi đó, nếu sử dụng số liệu xuất khẩu của Việt Nam trướcnăm 2000 thì sẽ thiếu khá nhiều số liệu về xuất khẩu của Việt Nam sang một

số quốc gia) Tuy nhiên, đề tài sẽ không bao gồm những quốc gia mà không

có số liệu xuất khẩu của Việt Nam sang quốc quốc gia đó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Ngày đăng: 07/04/2021, 14:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w