1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Gợi ý học tập môn ngữ văn mô đun 3 THPT

8 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 48,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 1Gợi ý học tập môn Ngữ Văn mô đun 3 THPT ?Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra - Đo lường: Là việc so sánh một sự vật, hiện

Trang 1

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 1

Gợi ý học tập môn Ngữ Văn mô đun 3 THPT

?Trình bày các khái niệm: đo lường, đánh giá, kiểm tra

- Đo lường: Là việc so sánh một sự vật, hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực

, có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng Nói cách khác, đo

lường liên quan tới việc sử dụng những con số vào quá trình lượng hóa các sự kiện,

hiện tượng hay thuộc tính

Trong lĩnh vực giáo dục, thuóc đo trên đây của đo lường thường là tiêu chuẩn hoặc tiêu

chí Tham chiếu theo tiêu chuẩn là đối chiếu kết quả cần đạt của người này với người

khác Ứng với tham chiếu này là các đề thi chuẩn hóa (Ví dụ như IELTS, SAT, )

Tham chiếu theo tiêu chí là đối chiếu kết quả đạt được của HS với các mục tiêu, yêu

cầu cần đạt của bài học, của hoạt động giáo dục

- Đánh giá:

+ Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin về

đối tượng cần đánh giá (Ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS, kế hoạch dạy

học, chính sách giáo dục) Qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về

đối tượng

+ Đánh giá trong lớp học là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin liên quan

đến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm xác định những gì HS biết hay

chưa biết, hiểu hay chưa hiểu làm được hay chưa làm được Từ đó đưa ra quyết định

phù hợp tiếp theo trong quá trình giáo dục HS

+ Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và

được diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận biết của GV, từ đó biết được mức độ đạt

được của HS trong biểu điểm đang sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá trong nhận xét

của GV

- Kiểm tra:

Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá (hoặc định giá), do đó nó có ý nghĩa như đánh

giá (hoặc định giá) Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá như

câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác định,

chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubic trình bày các tiêu chí đánh

giá

Thầy cô hãy cho ý kiến nhận xét của mình về sơ đồ hình sau:

Trang 2

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 2

*Quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực

HS thể hiện như sau: Đánh giá vì học tập, đánh giá là học tập, đánh giá kết quả học

tập

- Đánh giá vì học tập:

Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học để GV phát hiện sự tiến bộ

của HS từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học Mục đích của đánh giá nhằm cung

cấp thông tin để GV và Hs cải thiện chất lượng dạy học Kết quả của đánh giá

này không nhằm so sánh giữa các HS với nhau mà để làm nổi bật những điểm mạnh

và điểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho HS thông tin phản hồi để HS đó tiếp tục việc

học của mình ở các giai đoạn tiếp theo Với đánh giá này, GV giữ vai trò chủ đạo

nhưng HS cũng được tham gia vào quá trình đánh giá HS có thể tự đánh giá hoặc

đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV , qua đó học tự đánh giá được khả năng

học tập của mình để điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn

- Đánh giá là học tập:

Đánh giá cần diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học(đánh giá quá trình) trong đó

GV tổ chức để HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, coi đó là một hoạt động họctập

để HS thấy được sự tiến bộ của mình so với yêu cầu cần đạt của bài học/môn học, từ

đó HS điều chỉnh việc học Với đánh giá này, HS giữ vai trò chủ đạo trong quá trình

đánh giá, HS tự giám sát hoặc theo dõi quá trình học tập của mình theo nhữngtiêu chí

do GV cung cấp Kết quả này không được ghi vào học bạ mà chỉ có vai trò

như một nguồn thông tin phản hồi để người đọc tự ý thức khả năng học tập của mình ở

mức độ nào từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo

- Đánh giá kết quả học tập : là đánh giá những gì HS đạt được tại thời điểm cuối một

giai đoạn giáo dục và được đối chiếu với chuẩn đầu ra nhằm xác nhận kết quả đó so

với yêu cầu cần đạt của bài/môn học/ cấp học GV là trung tâm trong quá trình đánh giá

và người học không được tham gia vào các khâu của quá trình đánh giá

- - > Từ đó ta thấy quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm

chất, năng lực HS khác với quan điểm truyền thống về kiểm tra đánh giá về kĩ thuật

đánh giá, quá trình và đối tượng tham gia đánh giá

Trang 3

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 3

Sự khác biệt giữa mục đích chủ yếu của đánh giá năng lực và đánh

giá kiến thức, kĩ năng là gì?

Về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thứckỹ

năng, mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá

kiếnthức, kỹ năng Để chứng minh HS có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ

hội choHS được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn Khi đó HS vừa

phải vậndụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng

những kinhnghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường

(gia đình, cộngđồng và xã hội) Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong

bối cảnh thực,người ta có thể đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng

thực hiện vànhững giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá năng lực không

hoàn toàn phảidựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ

năng, bởi năng lực làtổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị,

chuẩn mực đạo đức,…được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự

nhiên về mặt xã hội củamột con người.Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ

bản giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học

như sau:

Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học

và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

Tiêu chí so

1 Mục đích chủ

yếu nhất

- Đánh giá khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống

- Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ

- Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục

- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau

2 Ngữ cảnh đánh

giá

Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của HS

Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường

3 Nội dung đánh

giá

- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân

HS trong cuộc sống xã hội (tập trung vào năng lực thực hiện)

- Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học

- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ

ở một môn học

- Quy chuẩn theo việc người học

có đạt được hay không một nội dung đã được học

4 Công cụ đánh

giá

Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thực

Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình

Trang 4

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 4

huống thực

5 Thời điểm đánh

giá

Đánh giá mọi thời điểm của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học

Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy

6 Kết quả đánhgiá

- Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành

- Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn sẽ được coi là có năng lực cao hơn

- Năng lực người học phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành

- Càng đạt được nhiều đơn vị kiến thức, kỹ năng thì càng được coi là

có năng lực cao hơn

Nêu tên các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển

phẩm chất, năng lực học sinh.

Các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh:

- Đảm bảo tình toàn diện và tính linh hoạt: Đánh giá phẩm chất, năng lực của HS là

đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ và sự vận dụng chúng để giải quyết thành công các

tình hướng thực tiễn Do vậy cần sử dụng đa dạng, linh hoạt các phương pháp nhằm

mục đích mô tả hoàn chỉnh, chính xác và toàn diện năng lực HS

- Đảm bảo tình phát triển: Nguyên tác này đòi hỏi trong quá trình kiểm tra, đánh giá, có

thể phát hiện sự tiến bộ của HS , chỉ ra những điều kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn

về phẩm chất vfa năng lực; phát huy khả năng tự cải thiện của Hstrong hoạt động dạy

học và giáo dục

- Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: Để chứng minh người học có phẩm chất

vfa năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được qỉai quyết vấn đề trong tình

huống, bối cảnh mang tính thực tiễn Vì vậy, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển

phẩm chất, năng lực HS chú trọng xây dựng những tình huống, bối cảnh thực tiễn để

HS được trải nghiệm và thể hiện mình

- Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: Mỗi môn học đều có yêu cầu riêng về năng

lực đặc thù được hình thành cho HS, vì vậy, việc kiểm tra đánh giá cũng phải đảm bảo

tính đặc thù của môn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn và sử dụng các PP,công

cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học

Tại sao có thể nói quy trình 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học

sinh tạo nên vòng tròn khép kín?

- 7 bước kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh tạo nên vòng tròn khép kín vì kiểm tra,

đánh giá là một phần không thể thiếu được của quá trình dạy học nhằm giúp HS tiến

bộ Kiểm tra, đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là quá trình kiểm tra, đánh giá phải cung cấp

những thông tin phản hồi giúp HS biết mình tiến bộ đến đâu, những mảng kiến thức/kĩ

năng nào có sự tiến bộ, mảng kiến thức/kĩ năng nào còn yếu để điều chỉnh quá trình

dạy và học Không chỉ GV biết cách thức, các kĩ thuật đánh giá HS mà quan trọng

không kém là HS phải học được cách đánh giá của GV, phải biết đánh giá lẫn nhau và

biết tự đánh giá kết quả học tập rèn luyện của chính mình Có như vậy, HS mới tự phản

hồi với bản thân xem kết quả học tập, rèn luyện của mình đạt mức nào/đến đâu so với

yêu cầu, tốt hay chưa tốt như thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp hình thành

Trang 5

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 5

năng lực của HS, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra sự

tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập

- Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS được thực

hiện theo quy trình 7 bước Quy trình này được thể hiện cụ thể:Xác định mục đích đánh

giá và lựa chọn năng lực cần đánh giá Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh

giá Xác định các tiêu chí/kĩ năng thể hiện của năng lực Xây dựng bảng kiểm đánh giá

mức độ đạt được cho mỗi kĩ năng Lựa chọn công cụ để đánh giá kĩ năng Thiết kế

công cụ đánh giá.Thẩm định và hoàn thiện công cụ Do đó đánhgiá năng lực người học

là một khâu then chốt trong dạy học Để đánh giá đúng năng lực người học, cần phải

xác định được hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên ngành, xác định được các

thành tố cấu thành năng lực và lựa chọn được những

công cụ phù hợp để đánh giá, sao cho có thể đo được tối đa các mức độ thể hiện của

năng lực

Thầy, cô hiểu thế nào là đánh giá thường xuyên?

ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

*KHÁI NIỆM: Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực

hiện dạy học, cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS nhằm mục tiêu cải thiện hoạt

động dạy học Đánh giá thường xuyên được xem là đánh giá vì quá trình học

tậphoawcj vì sự tiến bộ của người học

*MỤC ĐÍCH:

- Thu thập minh chứng liên quan đến kết quả học tập của HS để cung cấp những

phjarn hồi cho GV và HS biết những gì họ làm được và chưa làm được so với yêu cầu

để điều chỉnh hạt động dạy và học, đồng thời khuyến nghị để HS làm tốt hơn trong thời

điểm tiếp theo

- Tiên đoán hoặc dự báo những bài học hoặc chương trình tiếp theo được xây dựng

như thế nào cho phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí của HS

*NỘI DUNG:

- Sự tích cực chủ động của HS trong quá trình tham gia các hoạt động học tập, rèn

luyện được giao

- Sự hứng thú, tự tin, cam kết, trách nhiệm của HS khi thực hiện các hoạt động học tập

cá nhân

- Thực hiện các nhiệm vụ hợp tác nhóm

*THỜI ĐIỂM, NGƯỜI THỰC HIỆN,PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ THƯỜNG

XUYÊN

- Đánh giá thường xuyên được thực hiện linh hoạt trong quá trình dạy học và giáo dục

không hạn chế bởi số lần đánh giá

- Đối tượng tham gia đánh giá thường xuyên rất đa dạng: GV đánh giá, HS đánh giá,

HS đánh giá chéo, phụ huynh đánh giá vfa đoàn thể đồng đánh giá

- Phương pháp kiểm tra đánh gí thường xuyên là: phương pháp kiểm tra viết, phương

pháp hỏi- đáp, phương pháp quan sát, đánh giá qua hồ sơ và sản phẩm học tập

- Công cụ đánh giá thường xuyên có thể dùng là : Thang đánh giá, bảng điểm, phiếu

đánh giátheo tiêu chí, câu hỏi, hồ sơ học tập

*CÁC YÊU CẦU:

- Cần xác định rõ mục tiêu để lựa chọn PP, công cụ đánh giá phù hợp

- Nhấn mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bải học và phương

hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa

Trang 6

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 6

- Tập trung cung cấp thông tin phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa đồng thời

đưa ra lời khuyên cho hành động tiếp theo

- Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những nhận xét tiêu cực

- Chú trọng đến đánh giá các phẩm chất, năng lực trên nền tản cảm xúc, niềm tin tích

cực

- Giảm thiểu sự trừng phạt, đe dọa, chê bai, tăng sự ngợi khen, độn viên HS

*VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN TRONG MÔN NGỮ VĂN:

- Đánh giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình dạy học và tích hợp với

quá trình này

Thầy, cô hiểu như thế nào là đánh giá định kì?

*KHÁI NIỆM: Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một

giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của

học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ

thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh

*MỤC ĐÍCH:

Nhằmthu thập thông tin từ HS để đánh giá kết quả học tập và giá dục sau một giai đoạn

học tập nhất định Kết quả này dùng để xác định thành tích của HS, xếp loại HS và đưa

ra kết luận giáo dục cuối cùng

*NỘI DUNG,THỜI ĐIỂM NGƯỜI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ

- Nội dung đánh giá định kì là đánh giá mức độ thành thạo của HS ở các yêu cầu cần

đạt về phẩm chất, năng lực sau một giai đoạn học tập (giữa kì, cuối kì)

- Đánh giá định kì thường được tiến hành sau khi kết thưc một giai đoạn học tập (giữa

kì, cuối kì)

- Người thực hiện (giữa kì, cuối kì)định kì có thể là: GV đánh giá, nhà trường đánh giá

và các tổ chức kiểm định các cấp đánh giá

*PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ:

- Phương pháp: có thể là kiểm tra trên giấy, thự chành, vấn đáp, đánh giá thông qua

sản phẩm học tập và thông qua hồ sơ học tập

- Công cụ: có thể là câu hỏi, bài kiểm tra, dự án học tập, sản phẩm học tập

*YÊU CẦU:

- Đa dạng hóa trong sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá

- Chú trọng các phương pháp, công cụ đánh giá được những biểu hiện cụ thể về thái

độ, hành vi, kết quả, sản phẩm học tập của HS gắn với các chủ đề học tập và hoạt

động trải nghiệm theo hướng phát triển phẩm chất năng lực của HS

- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá trên máy để nâng

cao năng lực tự học cho HS,

*VẬN DỤNG HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ TRONG MÔN NGỮ VĂN:

- Dạy học trong môn ngữ văn đánh giá định kì được thự chiện ở thời điểm gần cuối

hoặc cuối một giai đoạn học tập, do cơ sở giáo dục tổ chức Đánh giá định kì thường

thông qua các đề kiểm tra, các đề thi viết với hình thức tự luận hoặc kết hợp hình thức

trắc nghiệm khách quan và hình thức tự luận

- Có thể sử dụng hình thức kiểm tra vấn đáp (đánh giá nói và nghe ) nếu thấy cần thiết

và có điều kiện

Thầy/ cô hãy cho biết câu hỏi tự luận có những dạng nào? Nêu đặc

điểm của mỗi dạng đó.

PP kiểm tra viết có 2 dạng:

Trang 7

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 7

*Dạng tự luận:

- Là PP GV thiết kế câu hỏi, bài tập,Mỗi bài kiểm tra tự luận thường ít câu hỏi, Hs có

một sự tự do tương đối khi trả lời các vấn đề đặt ra trong bài kiểm tra

- Câu hỏi tự luận có 2 dạng:

+ Câu hỏi tự luận mở rộng: là loại câu hỏi có phậm vi mở rộng và khát quát, HS tự do

biểu đạt tư tưởng vfa kiến thức

+ Câu hỏi tự luận giới hạn: là loại câu hỏi được diến đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi được

nêu rõ để HS biết được độ dài ước chừng của câu trả lời

*Dạng trắc nghiệm khách quan:

- Mỗi bài trắc nghiệm khách quan bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi thường được trả

lời bằng cách tự chọn một phương án cho trước

- Có 4 loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan"

+ Loại câu nhiều lựa chọn

+ Loại câu đúng sai

+ Loại câu điền vào chỗ trống

+ Loại câu ghép đôi

Thầy/ cô hãy đưa ra một ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy

học Ngữ văn.

Ví dụ về phương pháp quan sát trong dạy học Ngữ văn:

Trước tiên ta cần xác định rõ quan sát có hai dạng:

- Quan sát tiến hành chính thức và định trước: Ví dụ như GV đánh giá HS

khi các em đọc bài hay trình bày báo cáo trước lớp GV quan sát một tập hợp các hành

vi của HS như HS phát âm có rõ ràng không, có thể hiện sựt tự tin, hiểu sâu bài

không

- Quan sát không định sẵn và không chính thức: Ví dụ như GV thấy HS nói

chuyện thay vì thảo luận bài học, thấy một HS bồn chồn không yên và nhìn ra cửa sổ

trong suốt giờ học hoặc một em HS có biểu hiện bị tổn thương khi bị bạn trong lớp trêu

chọc về quần áo của mình

Thầy/ cô hãy lấy một ví dụ về hỏi - đáp gợi mở và hỏi - đáp tổng kết

trong dạy học một bài học Ngữ văn cụ thể.

- Hỏi đáp gợi mở: là hình thức GV đặt những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt HS rút ra những

nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát được hoặc những tài

liệu đã học, được sử dụng khi cung cấp tri thức mới Ví dụ như GV hỏi HS những dạng

câu hỏi: từ những chi tiết đã phân tích, em rút ra kết luận gì về tính cách của nhân

vật? , em có cảm nhận gì về tâm tình của nhà thơ qua các câu thơ vừa phân tích?

- Hỏi đáp tổng kết: Là dạng hỏi - đáp được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hóa,

hệ thống hóa những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay một

môn học nhất định Phương pháp này giúp HS phát triển năng lực khái quát hóa, hệ

thống hóa tránh nắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc, giúp các em phát huy tính mền

deo của tu duy Ví dụ như GV có thể đặ các câu hỏi sau khi kết thúc tác phẩm thơ: Em

hãy tổng kết lại mạch cảm xúc của nhân vật trữ trình được thể hiện trong bài thơ, hoặc

GV có thể đặt câu hỏi sau khi dạy xong về một nhân vật trong tác phẩm văn xuôi: Em

có cảm nhận gì về nhân vật này?

Hoặc:

Bài giảng “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu):

Khi dạy phần: Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

Trang 8

https://www.facebook.com/groups/hotrogiaovien 8

Tôi sử dụng câu hỏi sau để đưa học sinh đi từ đơn giản đến phức tạp, đến tình huống

có vấn đề

Hỏi - đáp gợi mở : Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại vùng

biển nọ là “một cảnh đắt trời cho” Anh (chị) hiểu một “cảnh đắt trời cho” ở

đây nghĩa là thế nào? Và vì sao người nghệ sĩ lại gọi cái cảnh tượng ấy như

vậy?

Hỏi - đáp tổng kết: Trong phần Tiểu dẫn của bài học, tác giả Sách giáo khoa

giới thiệu: Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” kể lại chuyến đi thực tế của

một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ

thuật và cuộc đời Qua bài học, anh (chị) đã hiểu điều đó như thế nào?

Trong thực tế dạy học, thầy/ cô đã sử dụng phương pháp đánh giá hồ

sơ học tập cho học sinh như thế nào?

Hồ sơ học tập của học sinh là một bộ sưu tập có mục đích và có tổ chức những công

việc của học sinh, được tích lũy trong suốt một thời gian và thể hiện sự nỗ lực, tiến

trình của học sinh và những gì các em đạt được Tôi đã sử dụng các pp đánh giá hồ sơ

qua hai loại

Hồ sơ đọc: Đọc hiểu văn bản theo loại thể là một yêu cầu cơ bản đối với việc dạy

đọc hiểu văn bản cho học sinh Ở bậc THPT, học sinh được tiếp cận một số thể loại cơ

bản như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, kịch, với một số tiết nhất định theo quy

định.Hồ sơ đọc này có thể là một hồ sơ lưu trữ tất cả tài liệu đọc độc lập của học sinh;

được học sinh dùng để chuẩn bị bài mới, ghi chép lại nhận xét của mình về từng bài

học trong sách giáo khoa; hoặc ở mức độ cao hơn là đọc những tác phẩm bên ngoài

sách khoa (theo gợi ý của giáo viên hoặc theo sở thích cá nhân của học sinh)

Hồ sơ bài viết: Một học kì, theo quy định học sinh THPT phải viết tử 4 - 5 bài viết.

một hồ sơ theo dõi sát sao quá trình tạo lập các loại văn bản được dạy trong sách giáo

khoa cũng như sự tiến bộ của chính người học trong suốt học kì hoặc cả năm học là

việc cần thiết Vào đầu học kì, giáo viên thông báo cho học sinh biết số lượng bài viết

cần thực hiện trong suốt học kì Căn cứ vào đó học sinh sẽ biết số lượng bài viết tối

thiểu mình cần thực hiện trong hồ sơ bài viết

Sau đó, trước mỗi bài viết (trước đây là bài kiểm tra) giáo viên cần xác định rõ yêu cầu

của bài viết, tiêu chuẩn đánh giá để làm căn cứ thực hiện cho học sinh

Sau khi học sinh thực hiện bài viết đầu tiên, giáo viên có thể xem xét và ghi lại lời đánh

giá cho học sinh Lời nhận xét này cần bao gồm hai phần: Phần ưu điểm cần phát huy

và phần nhược điểm cần khắc phục trong những bài viết sau thật ngắn gọn và rõ ràng

Ở giai đoạn này giáo viên có thể cho điểm để học sinh dễ dàng biết được mức độ năng

lực của mình hoặc không cho điểm tùy theo mục đích riêng

Ở bài viết thứ hai, giáo viên cũng tiến hành thao tác nhận xét tương tự Tuy nhiên ở

bước này giáo viên cần so sánh bài viết này với bài viết trước để học sinh nhận ra sự

tiến bộ (hoặc giảm sút) của mình qua từng bài viết

Lần lượt như thế suốt cả học kì, giáo viên sẽ có phần tổng kết nhận xét sự tiến bộ của

học sinh qua từng bài viết Tự bản thân mỗi học sinh cũng sẽ đánh giá được năng lực

của mình

Ngày đăng: 07/04/2021, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w