Mục đích nghiên cứu của luận án này là làm rõ mối quan hệ thương mại ở cả hai mảng thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ giữa Chính phủ và doanh nghiệp hai nước Việt Nam và Hàn Quốc trước khi ký kết VKFTA và sự thay đổi của mối quan hệ này sau khi VKFTA chính thức được ký kết.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ
HÀN QUỐC TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106
HOÀNG HẢI
Trang 2LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THU HƯƠNG
Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia và Thư viện ĐH Ngoại thương
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Hoàng Hải (2017), Đẩy mạnh quan hệ hợp tác đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh
Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Chủ nhiệm
đề tài NCKH cấp cơ sở, Trường Đại học Ngoại thương, 2016-2017
2 Hoàng Hải, Vũ Thị Minh Ngọc (2017), Tăng cường đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Hàn
Quốc, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 95/2017, trang 3 – 14
3 Hoàng Hải, Vũ Thị Minh Ngọc (2017), Tác động của ODA đến thu hút FDI của Hàn Quốc
và thương mại song phương Việt – Hàn, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 10/2017, số 30
(670), trang 7-10
4 Hoàng Hải (2017), Dự báo tác động của thuế quan trong VKFTA tới giá trị xuất nhập khẩu
của mặt hàng rau quả Việt Nam sang Hàn Quốc, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 02/2017,
số 06, trang 7-10
5 Vũ Thị Minh Ngọc, Hoàng Hải, Đặng Hương Giang, Hồng Thị Minh (2019), Một số vấn đề
về quan hệ hợp tác đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh thực thi Hiệp định thương mại tư do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Hàng Hải
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngay từ năm 1992, Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Kể từ
đó, mối quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc liên tục được phát triển trên một giai đoạn mới của quan hệ song phương, một giai đoạn đặc biệt của quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa hai nhà nước Quan hệ hai nước hiện nay nâng tầm ở mức “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược” Thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa hai nền kinh tế vốn có những nét đặc trưng tương đồng về nét văn hóa, lịch sử
Trong gầm 30 năm qua, Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh
tế quy mô lớn nhất với Việt Nam Vì vậy, có thể nói Hàn Quốc đã trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng bậc nhất của Việt Nam Kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao cho đến nay, giao dịch thương mại hai chiều giữa hai nước đã tăng khoảng 54 lần, thu hút hàng trăm nghìn người lao động Việt Nam vào làm việc Điều này đã góp phần cải thiện tình hình kinh tế xã hội và nâng cao uy tín của từng quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Năm 2019, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư, thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (dangcongsan.vn, 2020) Số liệu trên cho thấy tầm quan trọng của thị trường Hàn Quốc đối với thương mại của Việt Nam
Việt Nam và Hàn Quốc cũng là những đối tác gắn bó chặt chẽ ngay trong các diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN+3, APEC, ASEM, Liên hợp Quốc, WTO Năm 2007, Việt Nam và các nước ASEAN khác đã ký Hiệp định FTA ASEAN-Hàn Quốc Các Hiệp định đa phương này đã đem lại sự khởi sắc cho mối quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc Tuy nhiên, quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc vẫn bị ràng buộc bởi các cam kết đa phương Cán cân thương mại hai chiều Việt Nam – Hàn Quốc vẫn luôn ở mức xuất siêu từ phía Hàn Quốc
Chính vì vậy, để tăng cường mối quan hệ song phương Việt Nam – Hàn Quốc, năm 2012, chính phủ hai nước đã khởi động các vòng đàm phán ký kết Hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam – Hàn Quốc Hiệp định bao gồm các nhóm nội dung chính về: Thương mại hàng hóa (cam kết cắt giảm thuế quan); Thương mại dịch vụ (bao gồm các Phụ lục về viễn thông, tài chính ), Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật (SPS); Quy tắc xuất xứ, Thuận lợi hóa hải quan, Phòng vệ thương mại, Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại điện tử, cạnh tranh, Thể chế và Pháp lý, Hợp tác kinh tế
Khi Hiệp định VKFTA chính thức được ký kết trong năm 2015, luồng hàng hóa và vốn di chuyển sẽ tự do hóa giữa hai quốc gia, các cơ hội thương mại được mở rộng hơn đối với các doanh nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc Song, cơ hội nhiều, thách thức cũng sẽ càng lớn Nguy cơ đối với các DN VN như phá sản, mất thị trường ngay trên sân nhà có thể nhìn thấy ngay trước mắt Quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam sẽ có nhiều sự thay đổi theo nhiều chiều, cả về mặt tích cực và tiêu cực, dẫn tới tác động đến sự phát triển kinh tế của từng quốc gia
So với AKFTA, trong VKFTA, Hàn Quốc dành riêng cho Việt Nam những ưu đãi hơn về cam kết dòng thuế, về mở cửa thị trường hơn đối với một số sản phẩm nhạy cảm Bên cạnh đó, lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng được nhấn mạnh hơn, các cam kết về thương mại điện tử lần đầu tiên được đề cập đến trong quan hệ thương mại giữa hai bên
Năm 2019, 4 năm sau khi Hiệp định VKFTA được ký kết, Việt Nam và Hàn Quốc vẫn là những đối tác thương mại lớn của nhau, song, trong bối cảnh thương mại thế giới có nhiều biến động phức tạp với sự leo thang căng thẳng trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung và quan hệ thương mại Nhật – Hàn làm tăng trưởng trong thương mại Việt Nam – Hàn Quốc đã chậm lại 8 tháng đầu năm 2019 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc chỉ đạt 4,4 tỷ USD, chỉ tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2018 Việt Nam vẫn là đối tác nhập siêu lớn của Hàn Quốc Sự giảm tốc trong tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc cũng đã làm ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu của Việt Nam Tình hình dịch bệnh Covid – 19 đang diễn ra từ đầu năm 2020 đã khiến nền kinh
tế cả hai nước chịu ảnh hưởng, giảm sút thương mại hàng hóa và cả thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia Trong 9 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc chỉ đạt 14,5 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2019 Chính vì vậy, việc đẩy mạnh quan hệ thương
Trang 6mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh mới càng trở nên cấp thiết hơn Việt Nam
và Hàn Quốc cần phải tích cực phát huy hơn nữa vai trò của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai quốc gia trong thời gian tới
Rõ ràng, sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt văn hóa, địa lý, chính trị, kinh tế giữa hai nước, bên cạnh đó, nhu cầu tăng trưởng kinh tế bền vững của cả hai nước dẫn tới yêu cầu phải phát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại trên một bình diện mới Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải đánh giá đúng cơ hội và thách thức mà mối quan hệ hợp tác thương mại trong bối cảnh mới đem lại, từ đó đưa ra những quan điểm và giải pháp hợp lý về chính sách kinh tế, nhằm đảm bảo các lợi ích kinh tế quốc gia, phát triển kinh tế và hội nhập hiệu quả
Đề tài: Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp
định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) với mong muốn đem lại một góc nhìn
mới, trong bối cảnh mới về quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Hàn Quốc; đồng thời gợi ý một số định hướng, giải pháp đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác thương mại giữa hai quốc gia; cũng là những biện pháp có thể giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia và hội nhập thành công trong thời đại mới
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Phân tích sự phát triển kinh tế Việt Nam đặt trong mối quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc trước và sau khi VKFTA có hiệu lực
- Xác định các giải pháp đẩy mạnh mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc tới năm 2030 trong bối cảnh VKFTA, đảm bảo thu được lợi ích kinh tế cho Việt Nam từ hợp tác thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc
2.2 Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng về quan hệ thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc trước khi ký kết VKFTA như thế nào, sau khi ký VKFTA thì có thay đổi gì? Những mặt được
và hạn chế trong mối quan hệ thương mại Việt Nam và Hàn Quốc là gì?
- VKFTA có tác động gì đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc?
- Việt Nam cần làm gì để phát triển mối quan hệ hợp tác thương mại với Hàn Quốc trong bối cảnh Việt Nam ký kết Hiệp định VKFTA vào năm 2015, đồng thời đảm bảo được lợi ích kinh tế từ quan hệ hợp tác thương mại này?
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đặt trong bối cảnh Hiệp định thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) có hiệu lực
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Không gian nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại về hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam
và Hàn Quốc, không nghiên cứu các mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới
3.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian: Từ năm 1992 – 2019 (đối với thương mại hàng hóa) khi Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu đặt quan hệ thương mại chính thức và Từ năm 1995 đến năm 2019 (đối với thương mại dịch vụ) do dữ liệu thống kê chỉ thống kê bắt đầu từ năm 1995 Giải pháp được đề xuất áp dụng đến năm 2030
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác thương mại song phương chính thức trên hai mảng: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc Đề tài không đi
Trang 7sâu vào phân tích các mối quan hệ khác giữa hai quốc gia như đầu tư, du lịch… Mặc dù trong quá trình phân tích, NCS cũng có đề cập đến các vấn đề này nhưng chỉ ở góc độ thương mại dịch vụ
- Về thương mại hàng hóa: NCS nghiên cứu tác động của VKFTA đến kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc (dữ liệu được thu thập theo chương (mã HS 2 số))
- Về thương mại dịch vụ: tác giả nghiên cứu tác động của VKFTA đến kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp bao gồm: Mô tả thống kê đối với các phần phân tích về thực trạng thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Để phân tích tác động của Hiệp định VKFTA đến thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam và Hàn Quốc, NCS sử dụng mô hình trọng lực, là mô hình phù hợp để phân tích tác động của Hiệp định thương mại đến xuất nhập khẩu của một quốc gia Luận án tiếp thu kết quả của các nghiên cứu trước và lựa chọn một số biến giải thích phù hợp với đặc điểm thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, bao gồm các biến về GDP bình quân đầu người của Việt Nam và Hàn Quốc (giải thích được nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, là cơ sở để luân chuyển dòng hàng và dịch
vụ đi từ quốc gia này sang quốc gia khác), các yếu tố khác về kinh tế vĩ mô như chỉ số lạm phát, yếu tố về cơ sở hạ tầng, yếu tố về lao động, chủng loại hàng hóa, v.v cũng đã được đưa vào mô hình để giải thích yếu tố luân chuyển hàng hóa và dịch vụ từ Việt Nam sang Hàn Quốc và ngược lại Trong bối cảnh giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã có những thỏa thuận thương mại ưu đãi nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho thương mại song phương, Luận án cũng đã sử dụng các biến về Hiệp định thương mại tự do để giải thích tác động của các Hiệp định này đến thương mại hàng hóa và dịch vụ hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Tuy nhiên, do dữ liệu về thương mại dịch vụ hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc chưa đi sâu vào từng loại hình dịch vụ khác nhau, nên Luận án đã sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia (bao gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tổ chức và nhà nghiên cứu) để làm rõ hơn tình hình thương mại trong một số lĩnh vực dịch vụ chủ yếu trong quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện trong tháng 5/2020 thông qua phỏng vấn trực tiếp và trao đổi qua điện thoại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19 Các ý kiến trao đổi đã được ghi chép và sử dụng có chọn lọc làm cơ sở cho các nhận định trong Luận án
4.2 Nguồn dữ liệu
Các dữ liệu được sử dụng trong đề tài được lấy từ nhiều nguồn khác nhau: trong đó, số liệu
về thương mại hàng hóa của Việt Nam và Hàn Quốc được sử dụng từ nguồn của tổ chức KITA (The Korea International Trade Association – Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc) với dữ liệu chi tiết đến chương
Với dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, để phân tích tác động của VKFTA đến thương mại dịch vụ của Việt Nam, NCS sử dụng dữ liệu của OECD trong giai đoạn
1995 đến 2019 để phân tích
Các dữ liệu khác nhằm phục vụ cho quá trình phân tích mô hình cũng được sử dụng ở nhiều nguồn tin cậy khác nhau, như: GDP, lạm phát, dân số, tỷ giá hối đoái, cơ sở hạ tầng… đều được lấy nguồn từ WB Với nguồn dữ liệu về đầu tư FDI giữa hai quốc gia trong giai đoạn nghiên cứu (1991 đến 2019) được lấy từ nguồn dữ liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam
Để bổ sung cho các nhận định về thương mại dịch vụ, NCS sử dụng nguồn tin sơ cấp thu thập từ việc phỏng vấn sâu các chuyên gia Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ, do khó khăn trong việc tìm kiếm và thu thập dữ liệu thứ cấp, do vậy, các nhận định, dữ liệu đánh giá về thương mại dịch
vụ Việt Nam – Hàn Quốc sẽ được bổ sung thông qua phỏng vấn các chuyên gia
5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Như vậy, trong tổng thể các nghiên cứu trong và ngoài nước, NCS nhận thấy đề tài Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) là một đề tài mới, cần được nghiên cứu sâu thêm Đóng góp mới của Luận án tập trung vào những điểm như sau:
Trang 8Một là, đề tài đã góp phần hệ thống hóa được các cơ sở lý luận về quan hệ thương mại, xác
định mô hình tác động của Hiệp định thương mại tự do đến quan hệ thương mại song phương Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ VKFTA
Hai là, đi sâu vào phân tích quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc không chỉ ở góc
độ thương mại hàng hóa, mà còn ở góc độ thương mại dịch vụ thông qua việc phân tích các dữ liệu thứ cấp và thông qua các thông tin phỏng vấn sâu từ các chuyên gia, là lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý
Ba là, đề tài đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng (mô hình trọng lực) kết hợp với
phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia nhằm giải thích tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) nói riêng và các yếu tố khác nói chung đến thương mại hàng hóa
và thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia, trên cơ sở đó để đánh giá việc tận dụng các cơ hội và thách thức mà VKFTA mang lại, thúc đẩy thương mại của Việt Nam và Hàn Quốc theo hướng hai bên cùng có lợi, góp phần tăng trưởng kinh tế của hai quốc gia VKFTA có tác động tích cực đối với thương mại hàng hóa, song lại có tác động ngược chiều đối với thương mại dịch vụ, do độ trễ trong tác động của VKFTA đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều rào cản đối với lĩnh vực dịch vụ bởi đây là lĩnh vực có phạm vi rộng khắp nền kinh tế
Bốn là, đề tài đã đề xuất được một số giải pháp từ phía Nhà nước và doanh nghiệp nhằm đẩy
mạnh mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc tới năm 2030 trong bối cảnh VKFTA, đảm bảo thu được lợi ích kinh tế cho Việt Nam từ hợp tác thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc
Đề tài này hy vọng sẽ lấp được khoảng trống trong nghiên cứu, trong đó, tác giả dự định sẽ
đi sâu vào phân tích quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên cả hai góc độ: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đặt trong bối cảnh trước và sau khi Hiệp định VKFTA được ký kết
Hy vọng nghiên cứu của tác giả sẽ mang lại cái nhìn tổng quan và toàn diện nhất về quan hệ thương
mại Việt Nam – Hàn Quốc
6 KẾT CẤU LUẬN ÁN
Ngoài Mục lục, Danh mục hình, bảng, danh mục từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận án được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan tới đề tài luận án
Chương 2: Một số vấn đề lý thuyết về quan hệ thương mại và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)
Chương 3: Thực trạng thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Chương 4 Phân tích tác động của Hiệp định thương mại tự do đến quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc
Chương 5: Định hướng, giải pháp và kiến nghị thúc đẩy mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong bối cảnh VKFTA
Trang 9CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Về quan hệ hợp tác thương mại song phương giữa hai quốc gia, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác thương mại giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia với một khối kinh tế
Về hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc:
Nhiều nghiên cứu của Kwesi Atuaful Quansah và Woo ChulAhn (2017), ADB (2010),
Jae – Ho Lee (2016), Park Noh Wan, (2014), Kim Kyoung Mi, (2011), Phan Thanh Hoan, Ji Young Jeong (2014) đã đề cập đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, trong đó có
nhiều nghiên cứu phân tích cụ thể quan hệ thương mại Việt Nam và Hàn Quốc, dựa trên cơ sở các Hiệp định thương mại tự do song phương và cho rằng đây là một công cụ tốt để thúc đẩy tăng trưởng thương mại hai chiều
Các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích dưới góc độ định tính, một số sử dụng công
cụ định lượng như chỉ số thương mại nội ngành (IIT) trong mô hình thương mại nội ngành giữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, chỉ số cường độ thương mại (TII), chỉ số lợi thế so sánh (RCA) của từng quốc gia để đánh giá mức độ hợp tác thương mại song phương giữa Việt Nam – Hàn Quốc
Hầu hết các tác giả chỉ đề cập đến quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc trên góc độ chung nhất, không đi sâu vào mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc Nhiều nghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại nhưng chưa thấy được tác động của một Hiệp định thương mại tự do song phương đối với sự phát triển kinh tế của hai quốc gia Đây là điểm trống trong nghiên cứu mà NCS sẽ khai thác trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả công trình này
Nhiều tác giả nghiên cứu về mô hình lực hấp dẫn để giải thích tác động của các Hiệp định đến thương mại song phương nhưng không đề cập trực tiếp đến thương mại Việt Nam – Hàn Quốc như Chan (2005), Somayeh Razzaghi và cộng sự (2012), Rose và Frankel (2002); Projan (2001), Papazoglou (2007), Tri Thai Do (2006), Gul và Yasin (2011), Kết quả của các nghiên cứu trên cũng sẽ được NCS tiếp thu và ứng dụng trong nghiên cứu của mình
Về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc: hiện theo kết quả nghiên cứu của
NCS, chưa có đề tài nào đi sâu khai thác quan hệ thương mại dịch vụ của Việt Nam và Hàn Quốc, nhất là đặt trong bối cảnh VKFTA đã được ký kết
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Về mối quan hệ hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, có một số
công trình, dự án nghiên cứu của một số cơ quan nhà nước như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, VCCI,
Bộ Ngoại giao, sách của nhiều tác giả trong nước về quan hệ song phương giữa Việt Nam – Hàn Quốc Nhiều công trình trong số này đề cập đến mối quan hệ tổng thể giữa Việt Nam – Hàn Quốc, trong đó có đề cập đến mối quan hệ song phương về thương mại Có thể kể đến một
số công trình về vấn đề này của các tác giả: VCCI, (2014), Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam
tại Đại hàn Dân quốc, (2011, Đỗ Hoài Nam, (2005), Phạm Thu Hương, (2002), Ngô Xuân Bình, (2010), MUTRAP, (2011), Phạm Hữu Tài (2016) Các tác giả thường đề cập đến quan hệ
hợp tác kinh tế chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc, hoặc chủ yếu đi sâu vào thương mại hàng hóa chứ không đề cập đến thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia, và chưa đề cập đến mối quan
hệ này trong bối cảnh sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết Một số nghiên cứu của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam lại sử dụng mô hình lượng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của AKFTA đến mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc nói chung hoặc sử dụng phân tích đa nhân tố, sử dụng mô hình Input – Output truyền thống có cải tiến và cho thấy nền kinh tế Việt Nam có lợi thế so sánh đáng kể về gạo, may mặc, đồ nội thất và giày dép từ các FTA này, mang lại hy vọng cho tương lai Mặc
dù vậy, các tác giả không đi sâu phân tích quan hệ song phương Việt Nam - Hàn Quốc mà chỉ đánh giá với góc độ của cả khu vực ASEAN
Trang 10Về thương mại dịch vụ: Có một số tác giả đề cập đến thương mại dịch vụ, ở góc độ xuất
khẩu dịch vụ của Việt Nam, nhưng chưa nói đến quan hệ thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc hoặc đề cập đến mối quan hệ này ở một khía cạnh cụ thể như xuất khẩu lao động hoặc du lịch Các tác giả điển hình như Hà Văn Hội, (2008), Phạm Chi Lan, Dorothy I Riddle, (2005, Phạm Thị Kim Oanh, (2013) Nguyễn Thị Hồng Vân, (2013) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu trên chưa đề cập đến quan hệ thương mại dịch vụ giữa Viêt Nam và Hàn Quốc mà chỉ nghiên cứu thương mại dịch vụ chung của Việt Nam
Bản thân tác giả cũng đã có công trình nghiên cứu về đề tài này Trong một nghiên cứu năm
2016, tác giả đã sử dụng mô hình trọng lực để thấy được tác động của việc ký kết VKFTA tới thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng rau quả của Việt Nam sang Hàn Quốc Với phạm vi nghiên cứu hẹp, đề tài này cũng chưa thể bao quát được mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Về mô hình trọng lực, NCS cũng dựa trên một số kết quả nghiên cứu của Đoàn Quang Hưng (2013), Nguyễn Bình Dương và cộng sự, (2012), Từ Thúy Anh (2008) để làm cơ sở cho nghiên cứu của Luận án
1.3 Kết luận chung về tổng thể nghiên cứu
Có thể khẳng định, đề tài nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác thương mại - đầu tư giữa Việt Nam – Hàn Quốc trong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) là một đề tài mới Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc đã ký bản Ký tắt Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc vào ngày 30/3/2015, bản chính thức được ký kết trong năm 2015 Từ đó cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, trong đó có hạn chế về mặt dữ liệu nên chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc đặt trong bối cảnh hiệu lực của VKFTA Đây cũng là khoảng trống trong nghiên cứu, dựa trên cơ sở đó tác giả đi sâu vào phân tích và
khai thác mảng đề tài này
1.4 Khoảng trống nghiên cứu của đề tài
Trong các công trình nghiên cứu trên tác giả nhận thấy một số khoảng trống trong nghiên cứu, có thể liệt kê như sau:
Về nội dung nghiên cứu:
Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam
và Hàn Quốc, song chủ yếu chỉ dừng lại ở thương mại hàng hóa Có một vài công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại dịch vụ, song chỉ đề cập đến thương mại dịch vụ của Việt Nam nói chung, chưa phân tích vào quan hệ thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc Trong khi đó, Luận án này đi sâu vào lý giải quan hệ thương mại giữa hai quốc gia ở cả góc độ thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ
Chưa có nghiên cứu nào phân tích mối quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc, nhất là thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia được đặt trong bối cảnh Hiệp định VKFTA Mặc
dù trước đó, có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến các hiệp định như AKFTA đến mối quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư nói chung của Việt Nam và Hàn Quốc Song hầu hết các nghiên cứu trên chưa phân tích tác động của một Hiệp định thương mại tự do song phương đến quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc
Về phương pháp nghiên cứu:
Nhiều công trình chỉ sử dụng phương pháp phân tích thống kê báo cáo; hoặc chỉ sử dụng phương pháp định lượng thông qua các chỉ số TII, IIT, PCI để phân tích mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc; hoặc sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE có sử dụng số liệu phân tích GTAP để phân tích tác động của Hiệp định AKFTA đến quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc; hoặc chỉ sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn để phân tích và đánh giá hoạt động xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam
Dựa trên các dữ liệu thu thập được, tác giả sử dụng các dữ liệu thứ cấp thu thập được từ nguồn của OECD và WB để phân tích tác động của VKFTA đến thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ của Việt Nam và Hàn Quốc Mô hình phù hợp nhất với dữ liệu thu thập
Trang 11được là trên cơ sở mô hình trọng lực Trong đó, biến giả VKFTA sẽ được đưa vào mô hình cùng với một số biến khác để đo lường và đánh giá tác động của VKFTA đến xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam với đối tác Hàn Quốc Trên cơ sở các kết luận từ mô hình
và các đánh giá định tính, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp phù hợp
Bên cạnh đó, do nguồn dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc được
sử dụng từ nguồn của OECD chưa đầy đủ, và do có sự thay đổi cách tính từ phía OECD từ năm
2012 nên để đánh giá được tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc, NCS đã sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia Các đánh giá, nhận định của các chuyên gia đến từ các cơ sở nghiên cứu, lãnh đạo các doanh nghiệp và bộ ngành góp thêm cơ sở để đánh giá tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc
Như vậy, Luận án đã sử dụng được kết hợp nhiều phương pháp để làm rõ các nội dung nghiên cứu, trong đó, Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp định tính thông qua mô hình trọng lực và phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu
chuyên gia Đây là điều mà chưa thấy sử dụng ở các công trình nghiên cứu khác cùng chủ đề
Trang 12CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)
Chương 2 sẽ đề cập đến các vấn đề lý thuyết về quan hệ thương mại, các nội dung của Hiệp định VKFTA và mô hình tác động của VKFTA đến quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc Đây là cơ sở để thực hiện phân tích và đánh giá trong các chương tiếp theo
2.1 Các vấn đề chung về quan hệ thương mại quốc tế
2.1.1 Các lý thuyết về thương mại quốc tế
Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã giải thích cho các quan hệ thương mại giữa các quốc gia Theo đó, các quốc gia sẽ có quan hệ thương mại với nhau khi có lợi ích trong thương mại Các lợi ích này có thể là lợi thế tuyệt đối hoặc lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế Các lý thuyết
cổ điển về lợi thế tuyệt đối của A.Smith và lợi thế so sánh của D Ricardo sẽ vẫn là những lý thuyết nền tảng giải thích nguyên nhân dẫn đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia
2.1.1.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối
Đây là các lý thuyết cổ điển quan trọng, chứng minh mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia đều dựa trên cơ sở lợi ích, theo nguyên tắc: đôi bên cùng có lợi
* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A Smith:
Theo lý thuyết của A Smith, hai quốc gia sẽ tiến hành trao đổi và mua bán với nhau khi dựa vào lợi thế tuyệt đối của từng quốc gia Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được khi một quốc gia tập trung chuyên môn hóa vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp hơn các quốc gia khác thì tất cả các quốc gia đều có lợi
* Lý thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo
D Ricardo tiếp thu và phát triển lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A Smith, nêu rõ thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa một quốc gia gặp bất lợi tuyệt đối về tất cả các mặt hàng và một quốc gia có lợi thế tuyệt đối về tất cả các mặt hàng, nếu như các quốc gia này có lợi thế so sánh
ln (Trao đổi thương mại hai chiều) = α + βln(GDP quốc gia A) + βln(GDP quốc gia B) - βln(Khoảng cách) + ε
Dựa trên nền tảng lý thuyết của Jan Tinbergen, nhiều nhà nghiên cứu đã bổ sung làm đầy
đủ hơn mô hình trọng lực với việc phát triển các yếu tố có thể tác động tới thương mại giữa hai
Nhiều nghiên cứu về sau đã phát hiện ra thêm nhiều yếu tố có thể tác động đến thương mại giữa hai quốc gia, như FDI, thậm chí cả yếu tố giảm phát (Devaluation) và một số các biến khác như cơ sở
hạ tầng, trình độ lao động, các hiệp định thương mại quốc tế (các biến số này có thể được biểu diễn dưới dạng các biến giả - dummy variable) v.v
2.1.2 Các khái niệm liên quan đến quan hệ thương mại quốc tế
2.1.2.1 Khái niệm về thương mại và thương mại quốc tế:
Có thể thấy thương mại quốc tế chính là việc thực thi thương mại giữa các chủ thể ở hai hay
nhiều quốc gia
2.1.2.2 Phân loại thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại, song căn cứ vào đối tượng mua bán giao dịch, có thể chia thành: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Sau này có một
số hàng hóa đặc biệt, là các sản phẩm điện tử, số hóa, nên hình thành thêm khái niệm về thương mại điện tử Tuy nhiên, trong nội dung của Luận án chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ
GATT không đưa ra khái niệm “thương mại dịch vụ” mà chỉ trình thương mại dịch vụ theo
4 phương thức cung cấp, tùy thuộc vào sự hiện diện trên lãnh thổ của nhà cung cấp và khách hàng trong thời gian tiến hành giao dịch, theo đó, bao gồm:
Trang 13+ Cung cấp qua biên giới – thương mại xuyên biên giới (phương thức 1)
+ Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (phương thức 2)
+ Hiện diện thương mại (phương thức 3)
+ Hiện diện thể nhân (phương thức 4)
Trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) thương mại dịch vụ cũng được định nghĩa giống như định nghĩa của GATS
2.1.2.3 Khái quát về quan hệ thương mại quốc tế và các Hiệp định thương mại tự do
* Quan hệ thương mại quốc tế: thực chất là mối quan hệ thương mại giữa một quốc gia với
phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở công bằng, đôi bên cùng có lợi Các quan hệ thương mại quốc tế có thể hình thành trên cơ sở quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia hoặc giữa nhiều quốc gia, hoặc giữa một quốc gia với một khu vực
* Hiệp định thương mại tự do: FTA – Free Trade Agreement- là các thỏa ước giữa hai hay
nhiều quốc gia Theo đó, các nước sẽ tiến hành cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan theo một lộ trình cam kết, nhằm mục đích thành lập một khu vực mậu dịch tự do, cho phép di chuyển tự do dòng hàng, vốn, lao động giữa các nước thành viên Việc ký kết các FTA sẽ làm giảm các rào cản thương mại giúp các ngành công nghiệp tiếp cận thị trường mới, tăng cường tiếp cận và
số lượng người mà họ có thể bán sản phẩm của mình; đồng thời mang lại lợi ích cho người tiêu dùng
* Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa các quốc gia:
Về mặt lý luận, chưa có nghiên cứu nào đề cập rõ ràng về khái niệm đẩy mạnh quan hệ thương mại Gandolfo (1986) cho rằng thúc đẩy là cách tăng xuất khẩu cả về giá trị tuyệt đối và tương đối
so với nhập khẩu Đẩy mạnh quan hệ có thể được đo lường bằng nhiều yếu tố khác nhau như: gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu song phương giữa hai quốc gia theo thời gian, hoặc gia tăng tỷ trọng thương mại song phương trong tổng cơ cấu thương mại của mỗi quốc gia; hoặc gia tăng chủng loại mặt hàng/dịch vụ trong cơ cấu thương mại hai chiều
2.2 Căn cứ hình thành và tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia
2.2.1 Cơ sở hình thành quan hệ thương mại quốc tế
* Quan hệ đối ngoại
Rõ ràng, việc thiết lập quan hệ đối ngoại sẽ là nền tảng cho phép tạo lập các mối quan hệ về thương mại quốc tế giữa hai quốc gia Sự ràng buộc giữa hai nhà nước ở trên cả hai mặt chính trị
và kinh tế, vì vậy chính sách về đối ngoại sẽ thường đi song song với các chính sách về kinh tế
* Lợi thế của mỗi quốc gia
Có thể thấy hầu hết các quốc gia khi tham gia vào thị trường quốc tế đều dựa trên cơ sở các lợi thế của mình Như đã được giải thích trong các lý thuyết về thương mại quốc tế, phần lớn các quốc gia sẽ tăng cường xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế và nhập khẩu những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa có hiệu quả
* Các nguyên tắc thực thi thương mại quốc tế
Dựa trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, không phân biệt đối xử và đôi bên cùng có lợi, các mối quan hệ thương mại quốc tế được phát triển trên nhiều cấp độ khác nhau Các hiệp định thương mại song phương và đa phương thường dựa trên các nguyên tắc chủ yếu như: Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation), Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – Nation Treatment)
2.2.2 Các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia
Các yếu tố này vừa xuất phát từ cả hai phía, tạo nên lực đẩy và lực hút, vừa là các nhân tố hình thành, nhưng cũng đồng thời là các nhân tố tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia
Các yếu tố này bao gồm cả các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại hàng hóa và thương
mại dịch vụ giữa hai quốc gia, trong đó, các yếu tố chủ yếu bao gồm: (i) Phát triển kinh tế; (ii)
Chính sách thương mại; (iii) Hoạt động đầu tư quốc tế; (iv) Cơ sở hạ tầng; (v) Cơ cấu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; (vi) Tỷ giá hối đoái
2.3 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)
2.3.1 Cơ sở ra đời
Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, hai nước Hàn Quốc và Việt Nam đã phát triển quan hệ hợp tác vượt bậc trên mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội
Trang 142.3.2 Quá trình đàm phán VKFTA của Việt Nam và Hàn Quốc
Tháng 10/2009, Việt Nam và Hàn Quốc đã nhất trí thành lập Nhóm Công tác chung để nghiên cứu khả năng thúc đẩy và tính khả thi của “Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Hàn Quốc" Ngày 6 tháng 8 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam và Bộ trưởng phụ trách thương mại Bộ Ngoại giao và Thương mại Hàn Quốc cùng ra tuyên bố chính thức khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) Trong phiên họp ngày 30/11, Quốc hội Hàn Quốc đã phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với Việt Nam Ngày 20 tháng
12 năm 2015, Hiệp định VKFTA chính thức có hiệu lực, đem đến những cơ hội mới đối với cả hai bên Hàn Quốc và Việt Nam
2.3.3 Nội dung chính của VKFTA
2.3.3.1 Sơ lược về nội dung của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)
Hiệp định gồm 17 Chương (208 Điều), 15 Phụ lục và 01 Thỏa thuận thực thi quy định Các Chương chính là: - Thương mại hàng hoá + Các quy định chung (gọi là cam kết lời văn) và + Các biểu cam kết thuế quan cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thị trường) - Quy tắc xuất xứ - Thuận lợi hóa hải quan - Phòng vệ thương mại - Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) - Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) - Thương mại Dịch vụ + Các quy định chung (gọi là cam kết lời văn) với các Phụ lục về Dịch vụ Viễn thông, Dịch vụ Tài chính, Di chuyển thể nhân + Các biểu cam kết mở cửa dịch vụ cụ thể (gọi là cam kết mở cửa thị trường) - Đầu tư - Sở hữu trí tuệ - Thương mại Điện tử - Cạnh tranh - Minh bạch - Hợp tác kinh tế - Thể chế và các vấn
đề pháp lý
2.3.3.2 Nội dung chính liên quan đến thương mại Việt Nam – Hàn Quốc
a) Thương mại hàng hóa
Thương mại hàng hóa bao gồm các cam kết về thuế quan và các cam kết về xuất xứ
* Các cam kết thuế quan:
Về cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kết thuế quan trong FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn Nói cách khác, VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong AKFTA chưa được cắt giảm hoặc mức
độ cắt giảm còn hạn chế
* Cam kết về Quy tắc xuất xứ:
Để được hưởng ưu đãi thuế quan trong VKFTA, hàng hóa phải đáp ứng được các quy tắc xuất xứ của Hiệp định Nói chung, Quy tắc xuất xứ trong VKFTA chặt hơn so với AKFTA nhưng vẫn tương đối đơn giản Nhìn chung, để được hưởng ưu đãi thuế quan theo VKFTA, hàng hóa cần đáp ứng được một trong các tiêu chí sau: (i) Tỷ lệ Hàm lượng giá trị khu vực (RVC) theo quy định (thường là trên 40%); (ii) Chuyển đổi mã HS (2 số, 4 số hoặc 6 số); hoặc (iii) Trải qua một công đoạn sản xuất hoặc chế biến nhất (các sản phẩm dệt may)
b) Thương mại dịch vụ
Chương về Dịch vụ trong VKFTA được chia làm 02 phần:
- Cam kết về nguyên tắc: bao gồm các định nghĩa, các quy định chung về nghĩa vụ: Đối xử quốc gia, Đối xử tối huệ quốc…, và 03 Phụ lục về Tài chính, Viễn thông, Di chuyển thể nhân
- Cam kết về mở cửa thị trường: là 01 Phụ lục riêng bao gồm 02 Danh mục mở cửa của Việt Nam và Hàn Quốc về từng lĩnh vực dịch vụ
2.4 Cơ sở lý thuyết về tác động của VKFTA đến thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam
Công thức trên được chi tiết hóa thành mô hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa/ dịch vụ như sau: