Mục tiêu nghiên cứu của Luận án nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng do kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán. Qua đó, luận án đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán nhà nước Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Mã số: 62.34.01.02 (Mã số mới: 9340101)
NGUYỄN ĐĂNG KHOA
HÀ NỘI - 2021
Trang 21
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THU THỦY- TRƯỜNG ĐHNT
vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm thấy Luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Trường Đại học Ngoại thương
Trang 3CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, KTNN tăng cường kiểm toán các Ngân hàng như: Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách – Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam và nhiều tổ chức tài chính khác Đặc biệt, trong năm 2017, Kiểm toán nhà nước đang triển khai kiểm toán một số ngân hàng được ngân hàng nhà nước tái cơ cấu và mua lại với giá 0 đồng Thông qua kiểm toán các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, KTNN đã kịp thời phát hiện và xử lý đối với các sai phạm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những bất cập của chế độ chính sách, góp phần nâng cao kỷ luật, trách nhiệm và hiệu quả của các đơn vị được kiểm toán Mặc dù đạt được một số kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên công tác điều hành, thực hiện kiểm toán các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay chưa thật sự đáp ứng yêu cầu như: khung pháp lý về kiểm toán các NHTM còn chưa đầy đủ; chất lượng và kết quả kiểm toán còn ở mức độ hạn chế, do chủ yếu tập trung kiểm toán việc chấp hành chế độ tài chính kế toán và quản lý đầu
tư, chưa đi sâu kiểm toán các nội dung đặc thù của Ngân hàng, chưa phát hiện kịp thời các sai phạm để chấn chỉnh, do chủ yếu là thực hiện kiểm toán sau, chưa thực hiện nhiều cuộc kiểm toán hoạt động và kiểm toán công nghệ thông tin đối với các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Bên cạnh đó, công tác điều hành, thực hiện kiểm toán các Ngân hàng và việc đánh giá chất lượng kiểm toán do KTNN thực hiện không dễ dàng đánh giá Cụ thể, các thước đo kết quả kiểm toán chưa phản ánh được các nhân tố nào ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán Trong khi đó, chất lượng kiểm toán đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các kết luận kiểm toán và một trong những chiến lược quan trọng của Kiểm toán nhà nước, tầm nhìn đến năm 2020 là Chiến lược nâng cao chất lượng kiểm toán
Với các lý do nêu trên, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán các ngân hàng do Kiểm toán nhà nước thực hiện” được chọn nghiên cứu với mong muốn sử dụng phương pháp
nghiên cứu định lượng và định tính để xác định rõ thực trạng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán các ngân
Trang 43
hàng do KTNN thực hiện Qua đó, chỉ ra những điểm hạn chế và nguyên nhân tồn tại để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị tại các ngân hàng dựa trên báo cáo kiểm toán
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng
Các nghiên cứu trên thế giới như: DeAngelo (1981), Mock và Samet (1982), Sutton và Lampe (1991), Schroeder và cộng sự (1982), Carcello và cộng sự (1992), Angus Duff (2004), Alpaslan Yasar (2013), IAASB (2013), Các nghiên cứu trong nước như: Đoàn Xuân Tiên (2008), Nguyễn Thị Mỹ (2013), Bùi Thị Thủy (2014), Trần Khánh Lâm (2015), Vũ Thị Duyên (2016), Lại Thị Thu Thủy và Phạm Đức Hiếu (2017)
1.2.2 Các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực ngân hàng
Các nghiên cứu trên thế giới như Schipper (1989), Vincent và cộng sự (2003), Kanagaretnam và cộng sự (2010, Sherolli (2016) Các nghiên cứu trong nước như: Nguyễn Thị Lê Thanh (2011), Nguyễn Phú Giang (2011), Phí Thị Kiều Anh (2018) …
1.2.3 Các nghiên cứu về Kiểm toán nhà nước
Các nghiên cứu trên thế giới như Clark và cộng sự (2007), Zdyrko (2016),… Các nghiên cứu trong nước như: Hà Ngọc Sơn và
Nguyễn Đình Hựu (2002), Lê Thu Hằng (2016),…
1.2.4 Khoảng trống nghiên cứu
Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy rằng,
các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại tại Việt Nam còn tương đối nghèo nàn, và chủ yếu các nghiên cứu đứng dưới góc độ của kiểm toán độc lập Bên cạnh đó,
có rất ít các nghiên cứu về kiểm toán nhà nước trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng chỉ tập trung đưa ra vai trò của KTNN Như vậy, hiện nay đang còn thiếu các nghiên cứu xây dựng khung lý luận về chất lượng kiểm toán, cũng như thiếu các nghiên cứu đo lường, kiểm định những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính dưới góc độ của Kiểm toán nhà nước
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng
do KTNN thực hiện kiểm toán Qua đó, Luận án đưa ra các giải pháp,
Trang 5khuyến nghị nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của KTNN Việt Nam
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng do KTNN thực hiện?
Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng do KTNN thực hiện?
Thứ ba, các giải pháp và khuyến nghị nào cần đưa ra nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng do KTNN thực hiện và giúp các ngân hàng hoàn thiện hoạt động quản trị của mình thông qua báo cáo kiểm toán của KTNN?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng do KTNN thực hiện kiểm toán
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: các cuộc kiểm toán ngân hàng do KTNN thực hiện, gồm có 7 ngân hàng là Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nаm (Agribank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nаm (BIDV), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nаm (Vietinbank), Ngân hàng TMCP Ngоại Thương Việt Nаm (Vietcombank), Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB), Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP), và Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank)
+ Phạm vi thời gian: nghiên cứu dựa trên các cuộc kiểm toán ngân hàng do KTNN tiến hành trong giai đoạn năm năm trở lại đây, từ năm
2015 -2019
+ Phạm vi nội dung: phạm vi nội dung của luận án chỉ đề cập tới kiểm toán báo cáo tài chính của KTNN
1.6 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận án bao gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Phương pháp định tính: Phương pháp định tính thông qua
phỏng vấn sâu và khảo sát với 2 loại bảng hỏi gồm có (i) bảng hỏi đối với kiểm toán viên/ Đoàn kiểm toán để khảo sát về các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC của các ngân hàng do KTNN thực hiện; (ii) bảng hỏi phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo các ngân hàng nhằm đánh giá về chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC của KTNN
Trang 65
và các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị tại các ngân hàng Mẫu nghiên cứu để gửi phiếu khảo sát là KTVNN đã tham gia các đoàn kiểm toán hoặc KTVNN thực hiện soát xét chất lượng các cuộc kiểm toán các ngân hàng trong giai đoạn 2015- 2019 và Tổng Giám đốc/Phó Tổng Giám đốc hoặc Trưởng ban kiểm soát của 7 ngân hàng được KTNN thực hiện kiểm toán, bao gồm: Ngân hàng Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nаm (Agribank), Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nаm (BIDV), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nаm (Vietinbank), Ngân hàng TMCP Ngоại Thương Việt Nаm (Vietcombank), Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB), Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP), và Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) Các số liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi được tiến hành khảo sát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua email/ phỏng vấn qua điện thoại Thời gian khảo sát được diễn ra trong thời gian 11/2019 đến 03/2020 Kết quả, nghiên cứu thu thập được 275 phiếu trả lời của KTVNN và 7 phiếu phỏng vấn sâu của lãnh đạo các ngân hàng được KTNN thực hiện kiểm toán
Ngoài ra, phương pháp định tính trong Luận án còn được thể hiện thông qua việc phân tích case study- nghiên cứu thực trạng chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của KTNN tại ngân hàng chính sách
xã hội (VPBS) Đây là ngân hàng được KTNN thực hiện kiểm toán 04 lần vào các năm 2015, 2016, 2017 và 2018 nên việc phân tích trường hợp của VPBS sẽ thấy được bức tranh về chất lượng kiểm toán BCTC do KTNN thực hiện toàn diện và rõ nét hơn
Phương pháp định lượng: Luận án phân tích định lượng dựa
vào số liệu thứ cấp thu thập được qua bảng hỏi và phần mềm SPSS 26.0 để thấy được mối quan hệ của 12 nhân tố tới chất lượng kiểm toán, từ đó chỉ ra nhân tố nào là quan trọng nhất, nhân tố nào kém quan trọng hơn trong việc nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC của KTNN Các phương pháp định lượng cụ thể bao gồm: Phương pháp kiểm định pháp kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis), phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory factor analysis), phương pháp hồi quy tuyến tính (Regression Model)
Ngoài các phương pháp định tính và định lượng như đã mô tả
ở trên, nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp mô tả,…
1.7 Kết cấu của Luận án
Kết cấu của luận án bao gồm 5 chương như sau:
Trang 7Chương 1: Phần mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính do Kiểm toán nhà nước thực hiện
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các ngân hàng do Kiểm toán nhà nước thực hiện
Chương 5: Các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của KTNN
Trang 87
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN
2.1 Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính và chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
2.1.1 Khái niệm về kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính
- Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng
- Kiểm toán báo cáo tài chính hay kiểm toán tài chính của Kiểm toán nhà nước là việc kiểm toán viên nhà nước đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính đơn
vị được kiểm toán
2.1.2 Khái niệm về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
Một cách tổng hợp nhất, có thể hiểu một cuộc kiểm toán chất lượng khi toàn bộ quá trình kiểm toán được thực hiện theo đúng chuẩn mực kiểm toán, đảm bảo khả năng cao nhất mà kiểm toán viên có thể phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu của báo cáo tài chính được kiểm toán, đồng thời kết quả của cuộc kiểm toán làm thỏa mãn tốt nhất các bên sử dụng kết quả đó
2.1.3 Một số quan điểm đánh giá chất lượng kiểm toán
- Đánh giá chất lượng kiểm toán theo quan điểm của DeAngelo (1981)
- Khuôn mẫu về chất lượng kiểm toán của FRC (2008)
- Quan điểm về chất lượng kiểm toán theo Francis (2011), Knechel và cộng sự (2013)
- Khuôn mẫu về chất lượng kiểm toán theo IAASB (2013)
2.2 Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính và chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nhà nước
2.2.1 Khái niệm, mục đích và quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nhà nước
2.2.1.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nhà nước
Có rất ít tài liệu định nghĩa về hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán Nhà nước Trong Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán nhà nước do Kiểm toán nhà nước ban hành theo Quyết định số 02/2016/QĐ- KTNN về việc Ban hành hệ thống chuẩn mực Kiểm toán
Trang 9nhà nước, khái niệm về kiểm toán không được đưa ra mà chỉ đưa ra phân loại kiểm toán, trong đó gồm 3 loại chính Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính hay kiểm toán tài chính của Kiểm toán nhà nước là việc kiểm toán viên nhà nước đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp
lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán
2.2.1.2 Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán Nhà nước
- Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng, xét trên các khía cạnh trọng yếu, liệu báo cáo tài chính, các thông tin tài chính có còn sai sót trọng yếu
do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, báo cáo tài chính có được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không;
- Lập báo cáo kiểm toán và công bố kết quả của cuộc kiểm toán phù hợp với các phát hiện kiểm toán
2.2.1.3 Quy trình và phương pháp kiểm toán báo cáo tài chính do Kiểm toán nhà nước thực hiện
Theo Quyết định số 08/2016/QĐ- KTNN Ban hành Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán bao gồm 4 bước: Chuẩn bị kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Lập và gửi báo cáo kiểm toán; và Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Trong mỗi bước của Quy trình kiểm toán đều nêu rõ phương pháp mà KTNN thực hiện
2.2.2 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nhà nước
Chất lượng kiểm toán BCTC của Kiểm toán nhà nước được
định nghĩa là mức độ thoả mãn yêu cầu của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính trung thực, khách quan và độ tin cậy vào các kết quả, kết luận kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; thoả mãn yêu cầu về tính khách quan, kịp thời và khả thi đối với các kiến nghị do Kiểm toán nhà nước đưa ra; đảm bảo chi phí hợp lý về nguồn lực sử dụng trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
Các tiêu chí đánh giá CLKT của KTNN bao gồm:
- Đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin về đơn vị được kiểm toán của các
đối tượng có liên quan
- Các kết quả và kết luận kiểm toán của Kiểm toán nhà nước phải đảm
bảo yêu cầu trung thực, khách quan và tin cậy
- Các kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước phải khách quan,
đúng đối tượng và khả thi
- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực để thực hiện kiểm toán
Trang 109
2.2.3 Kinh nghiệm đảm bảo chất lượng kiểm toán của một số cơ quan kiểm toán tối cao thuộc Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI) và bài học kinh nghiệm cho KTNN
- Hoạt động đảm bảo chất lượng kiểm toán của KTNN Philippin
- Hoạt động đảm bảo chất lượng kiểm toán của KTNN Thổ Nhĩ Kỳ
- Hoạt động đảm bảo chất lượng kiểm toán của KTNN Trung Quốc
- Bài học kinh nghiệm cho KTNN Việt Nam
Thứ nhất, cần thiết phải xác lập chức năng ĐBCLKT rõ ràng
trong cơ quan KTNN và làm rõ sự độc lập tương đối với hệ thống KSCLKT
Thứ hai, bộ phận đảm nhiệm chức năng ĐBCLKT phải được
cơ cấu ở vị trí cấp cao nhằm hỗ trợ đầy đủ cho lãnh đạo KTNN và có
đủ thẩm quyền để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Thứ ba, kiểm tra ĐBCLKT cần thực hiện đầy đủ ở cả 2 cấp
độ: cấp độ cuộc kiểm toán và cấp độ toàn cơ quan KTNN
Thứ tư, cần có chiến lược, chính sách phù hợp cho việc thúc
đẩy và phát triển hoạt động ĐBCLKT bao gồm việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, KTVNN về ĐBCLKT
Thứ năm, cần hướng tới việc kiểm tra ĐBCLKT theo hình
thức ngoại kiểm do một cơ quan, tổ chức bên ngoài có đủ điều kiện đánh giá về chất lượng kiểm toán và hệ thống KSCLKT của KTNN hoặc từ các cơ quan kiểm toán tối cao khác
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính do Kiểm toán nhà nước thực hiện
2.3.1 Các nhân tố thuộc về kiểm toán viên nhà nước (KTVNN)
(a) Năng lực nghề nghiệp (Technical Competence)
Theo Bùi Thị Thủy (2014), năng lực nghề nghiệp của kiểm toán viên thể hiện trình độ của kiểm toán viên mà chủ yếu thông qua các bằng cấp, chứng chỉ hành nghề mà kiểm toán viên đó đạt được, cũng như các khóa đào tạo nâng cao trình độ mà kiểm toán viên tham gia, bắt buộc theo quy định hoặc tự nguyện Theo Richard (2006), các chứng chỉ hành nghề minh họa sự hiểu biết và kiến thức cá nhân của kiểm toán viên, qua đó cho thấy kiểm toán viên có đủ khả năng hiểu biết và kinh nghiệm để thực hiện hiệu quả hoạt động kiểm toán
(b) Kỹ năng chuyên môn ngành nghề (Industry Expertise)
Kỹ năng chuyên môn ngành nghề thể hiện hiểu biết sâu về lĩnh
vực chuyên ngành của đơn vị được kiểm toán Kiểm toán viên có đủ trải nghiệm tại ngành nghề của đơn vị được kiểm toán sẽ có đủ năng lực để nhận biết rủi ro, cơ hội cũng như thực trạng về tài chính KTNN
Trang 11và các tổ chức hành nghề không đào tạo các hiểu biết này, mà nó được mỗi kiểm toán viên tích lũy thông qua việc chủ động học tập, quan sát
và kinh nghiệm thực tế kiểm toán doanh nghiệp hoạt động trong mỗi lĩnh vực kinh doanh khác nhau (Craswell và cộng sự, 1995; Slomon và cộng sự, 1999)
(c) Kinh nghiệm làm việc (Working Experience)
Nhân tố này đề cập tới kinh nghiệm kiểm toán đối với đơn vị được kiểm toán trong quá khứ của KTVNN/ Đoàn kiểm toán Nếu kiểm toán viên đã từng tham gia các đợt kiểm toán trước đây với đơn
vị được kiểm toán, họ sẽ có kinh nghiệm hơn trong việc lập kế hoạch kiểm toán hiệu quả và điều tiết quá trình kiểm toán diễn ra thuận lợi (Carcello và cộng sự, 1992; Aldhizer và cộng sự, 1995; Behn và cộng
có xu hướng phát hiện nhiều sai sót hơn
(e) Thận trọng nghề nghiệp và bảo mật thông tin (Due care and information security)
Thái độ thận trọng của kiểm toán viên được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán Về nguyên tắc, các cuộc kiểm toán cần được thực hiện với sự thận trọng cao độ nhằm tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán, từ đó bảo đảm chất lượng kiểm toán và khiến cho các ý kiến kiểm toán trở nên tin cậy hơn ( Carcello và cộng
sự, 1992; Boon và cộng sự, 2008)
(f) Tính liêm chính, độc lập và khách quan (Integrity,
independence and objectivity)
Độc lập trong thực tế đề cập tới việc kiểm toán viên cần phải đưa ra ý kiến khách quan và vô tư (Richard, 2006) Điều này nghĩa là các kiểm toán viên là người có khả năng duy trì sự vô tư trong các phán đoán và chống lại sức ép từ các bên liên quan trước khi đưa ra kết luận kiểm toán DeAngelo (1981) và các nghiên cứu khác cũng cho rằng, đơn vị kiểm toán giảm tính độc lập thì khả năng phát hiện các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính sẽ càng giảm
2.3.2 Các nhân tố thuộc về đơn vị kiểm toán
(a) Điều kiện làm việc của KTVNN (Working conditions)
Trang 1211
Bùi Thị Thủy (2014) cho rằng các tiêu chí về điều kiện làm việc càng thuận lợi sẽ giúp chất lượng kiểm toán càng đảm bảo và nâng cao hơn Đây là nhân tố quan trọng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng báo cáo kiểm toán
(b) Phương pháp/ Quy trình kiểm toán (Audit Approach)
Phương pháp kiểm toán đề cập tới các quy trình, thủ tục, kỹ thuật kiểm toán được đơn vị kiểm toán thiết kế nhằm thu thập các bằng chứng về tính thích hợp hay tính hiệu quả của các đơn vị được kiểm toán
(c) Hệ thống kiểm soát chất lượng (Quality Control)
Cushing (1989) cho rằng, các sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính có thể dễ dàng được phát hiện hơn đối với các công ty kiểm toán có chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng nội bộ tốt
2.3.3 Các nhân tố bên ngoài
(a) Các nhân tố thuộc về đơn vị được kiểm toán
Các nhân tố thuộc về năng lực, trình độ và nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp là nhân tố được cho rằng có tác động tới chất lượng của cuộc kiểm toán Quy mô và đặc điểm ngành nghề kinh doanh cũng gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán
(b) Các nhân tố thuộc về môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán
Các nhân tố thuộc về môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán bao gồm hệ thống các chuẩn mực và chế độ kế toán, kiểm toán và các văn bản pháp lý có liên quan, tạo cơ sở cũng như hướng dẫn công
việc kiểm toán của kiểm toán viên
(c) Các nhân tố bên ngoài khác
Môi trường kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát và lãi suất
là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp nói chung và các đơn vị được KTNN kiểm toán nói riêng
Trang 13CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Luận án thực hiện qua 5 bước như sau: (1) Xây dựng khung lý thuyết, (2) Xây dựng mô hình và phương pháp nghiên cứu, (3) Đánh giá thực trạng, (4) Phân tích kết quả nghiên cứu, và (5) Giải pháp
3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Hệ thống 12 nhân tố (chia thành 3 nhóm A, B, C) với 55 tiêu chí ảnh hưởng được xây dựng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC các ngân hàng do KTNN thực hiện
Bên cạnh đó, dựa vào Hệ thống chuẩn mực KTNN (2016), bốn
tiêu chí để đo lường chất lượng kiểm toán BCTC của KTNN như sau:
Bảng 0.1 Các tiêu chí đo lường biến phụ thuộc- Chất lượng kiểm
1 Báo cáo kiểm toán đáp ứng yêu cầu sử dụng thông
tin về các ngân hàng được kiểm toán của các đối
tượng có liên quan
CLKT1
2 Các kết quả và kết luận kiểm toán của Kiểm
toán nhà nước về các ngân hàng đảm bảo yêu cầu
trung thực, khách quan và tin cậy
CLKT2
3 Các kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà
nước khách quan, đúng đối tượng và khả thi CLKT3
4 Các nguồn lực phân bổ, sử dụng cho hoạt động
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước hợp lý, phù
hợp với quy mô, tính chất và tầm quan trọng của
cuộc kiểm toán, đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả
CLKT4
Nguồn: Tài liệu bồi dưỡng kiểm soát chất lượng kiểm toán, 2015
Như vậy, mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC các ngân hàng do KTNN thực hiện được xây dựng như sau: