Xu thế phát triển giáo dục thực chất là sự vận động của các quy luật khách quan chi phối, chế ước quá trình giáo dục nhằm phát triển nguồn lực người. Đồng thời, sự sáng tạo của con người trong việc vận dụng những quy luật khách quan để phát triển con người, phát triển xã hội và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu nắm vững xu thế phát triển giáo dục giúp nhà quản lý, các cán bộ nghiên cứu khoa học đề xuất được những phương hướng, xác định chiến lược, đề xuất những biện pháp... phát triển giáo dục nhằm khai thác nguồn tài nguyên người có hiệu quả nhất, tối ưu nhất, chắc chắn sẽ tránh được sự mò mẫm, lúng túng, thất bại. Nắm vững xu thế phát triển giáo dục giúp tránh được hiện tượng duy ý chí trong hoạt động nghiên cứu khoa học, trong quản lý và hoạt động giáo dục. Nắm vững xu thế phát triển giáo dục qua các thời kỳ lịch sử, nhất là trong giai đoạn hiện nay giúp chúng ta biết tiếp thu có chọn lọc lý luận và kinh nghiệm, từ đó tìm ra con đường riêng rút ngắn khoảng cách phát triển giáo dục so với các nước phát triển để giáo dục thực sự là nhân tố góp phần quyết định thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 12 Những thành tựu và bất cập, yếu kém của giáo dục
3.1 Sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục
Việt nam trong giai đoạn hiện nay 113.2 Nội dung đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
4 Đổi mới giáo dục, đào tạo ở các nhà trường X phù
4.1 Nội dung chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ
hoá và hội nhập quốc tế trong giáo dục, đào tạo ở nhà
4.2 Giải pháp đổi mới giáo dục, đào tạo ở nhà trường X phù
hợp với xu thế phát triển giáo dục 20
Trang 2của Đảng, Nhà nước, các cán bộ quản lý giáo dục các cấp và đội ngũ thầy côgiáo các ngành học, cấp học, đặc biệt quan trọng đối với các cán bộ nghiêncứu khoa học về con người và khoa học giáo dục Ngoài ra hiểu xu thế giáodục sẽ giúp tất cả mọi người như các bậc cha mẹ, các nhà quản lý kinh tế,khoa học công nghệ, sinh viên các trường Đại học khối sư phạm chủ độngsáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức giáo dục, kinh nghiệm hoạt động giáodục, văn hoá xã hội, có khả năng tự lý giải được những tồn tại, những biểuhiện tích cực và tiêu cực trong cuộc sống thực tế và trong giáo dục.
Xu thế phát triển giáo dục thực chất là sự vận động của các quy luậtkhách quan chi phối, chế ước quá trình giáo dục nhằm phát triển nguồn lựcngười Đồng thời, sự sáng tạo của con người trong việc vận dụng những quyluật khách quan để phát triển con người, phát triển xã hội và khai thác tàinguyên thiên nhiên Nghiên cứu nắm vững xu thế phát triển giáo dục giúp nhàquản lý, các cán bộ nghiên cứu khoa học đề xuất được những phương hướng,xác định chiến lược, đề xuất những biện pháp phát triển giáo dục nhằm khaithác nguồn tài nguyên người có hiệu quả nhất, tối ưu nhất, chắc chắn sẽ tránhđược sự mò mẫm, lúng túng, thất bại Nắm vững xu thế phát triển giáo dụcgiúp tránh được hiện tượng duy ý chí trong hoạt động nghiên cứu khoa học,trong quản lý và hoạt động giáo dục Nắm vững xu thế phát triển giáo dục quacác thời kỳ lịch sử, nhất là trong giai đoạn hiện nay giúp chúng ta biết tiếp thu
có chọn lọc lý luận và kinh nghiệm, từ đó tìm ra con đường riêng rút ngắnkhoảng cách phát triển giáo dục so với các nước phát triển để giáo dục thực
sự là nhân tố góp phần quyết định thành công của công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
NỘI DUNG
1 Những vấn đề chung về xu thế phát triển giáo dục
1 1 Một số khái niệm về xu thế phát triển giáo dục
Trang 3Xu thế phát triển giáo dục là một quá trình vận động, phát triển của lýluận và thực tiễn giáo dục một cách khách quan do bị chế ước, chi phối đan xen,giao thoa của các yếu tố tự nhiên, xã hội và con người trong điều kiện lịch sửnhất định Sự vận động và phát triển đó tồn tại khách quan ngoài ý muốn chủquan của mỗi cá nhân Con người chỉ có thể vận dụng quy luật đưa ra nhữngđịnh hướng phát triển phù hợp với quy luật thì sẽ góp phần thúc đẩy sự pháttriển giáo dục, phát triển con người, xã hội và sự ổn định của điều kiện tự nhiên.
Xu thế phát triển giáo dục có những đặc trưng sau đây:
Bị giao thoa, chế ước lẫn nhau của hàng loạt các yếu tố
Nội hàm cơ bản của phạm trù xu thế phát triển giáo dục cũng có cáctầng bậc khác nhau xuất phát từ mức độ của khái niệm giáo dục theo 3 cấp độ(theo góc độ xã hội học giáo dục, giáo dục nhà trường, giáo dục đạo đức) và
xu thế phát triển giáo dục còn theo từng mặt giáo dục, từng nội dung giáodục, các cấp học… Mỗi lĩnh vực hoạt động đó cũng có những xu thế riêngbiệt, nhưng cũng có mối quan hệ lẫn nhau
Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục luôn luôn vận động
Hoạt động giáo dục, quá trình giáo dục xã hội là một hoạt động đặctrưng của xã hội người và của con người, vừa có tính vật chất, vừa có tính ýthức xã hội Vì vậy, giáo dục không chỉ thuộc thượng tầng kiến trúc mà nócòn thuộc hạ tầng cơ sở
Xu thế phát triển giáo dục là các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục tồn tạikhách quan, luôn luôn vận động, tác động lẫn nhau thúc đẩy nhau phát triển Đó làmột quy luật tồn tại ngoài ý muốn của con người, con người ngày càng nhận thứcsâu sắc hơn và tìm cách vận dụng quy luật đó để phát huy vai trò của giáo dục
Giữa lý luận và thực tiễn luôn thúc đẩy nhau cùng phát triển
Lý luận giáo dục cũng có các cấp độ khác nhau vì lý luận được tổng kết từ những thực tiễn ở các mức độ khác nhau, có những lý luận giáo dục bắt nguồn
từ thực tiễn và ngược lại có những lý luận chi phối, định hướng của sự pháttriển thực tiễn Lý luận là tri thức rút ra từ hoạt động thực tiễn, bắt nguồn từhoạt động thực tiễn và lại là kim chỉ nam cho hoạt động Dù lý luận ở cấp độ
Trang 4nào cũng nẩy sinh từ thực tế, đó là một hệ thống học thuyết, tư tưởng hay kinhnghiệm cụ thể cũng nẩy sinh từ hoạt động thực tiễn Nhưng khi đã xuất hiện
lý luận Dù đơn giản thì hoạt động thực tiễn của con người có hiệu quả hơn.Con người càng hoàn thiện, xã hội loài người càng phát triển hoạt động thựctiễn của con người càng đa dạng, càng phong phú, càng phức tạp… thì nhữngkinh nghiệm càng nhiều, càng đa dạng… và hệ thống lý luận càng sâu sắc
Dự báo giáo dục là một khoa học dựa trên xu thế phát triển giáo dục đưa ranhững khả năng cần nghiên cứu về lý luận, đề xuất những phương hướng tổ chứcđổi mới hoạt động quản lý, tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục toàn diện hay từngthành tố từng bộ phận của hệ thống giáo dục như mục tiêu, nội dung chương trình,phương pháp, điều kiện, phương tiện… của hoạt động giáo dục của một ngành,một cấp học, một môn học Dự báo là điều sẽ có thể xẩy ra
Đặc trưng thứ nhất của dự báo giáo dục là sẽ xẩy ra, có thể xẩy ra, nhưng cũng có thể không xẩy ra, hoặc mới manh nha trong thực tiễn, chưa trở thành phổ biến đại trà trên một diện rộng
Đã là dự báo thì có nghĩa là điều đó chưa xẩy ra, hoặc đang mới hình thành, vì vậy có thể xẩy ra Điều đó phụ thuộc vào sự phân tích các nhân tố chủquan và khách quan ảnh hưởng đến sự kiện dự báo Dự báo giáo dục là mộtviệc làm khó vì mỗi hiện tượng giáo dục bị phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
Trang 5những yếu tố tự nhiên - xã hội và bản thân các yếu tố nhất là các yếu tố xã hộilại luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng.
Đặc trưng thứ 2 của dự báo là các đề xuất có thể trở thành hiện thực và cũng có thể không trở thành hiện thực vì phụ thuộc vào nhà quản lý
Trở thành hiện thực với hai điều kiện: thứ nhất những dự báo đề xuấtđược đưa ra dựa trên xu thế phát triển giáo dục, phân tích tổng hợp những quyluật, những yếu tố khách quan phổ biến và đặc thù liên quan đến vấn đề dựbáo Điều kiện thứ 2, những người quản lý (yếu tố chủ quan) có Tâm, cóTầm, có Năng lực tổ chức thực hiện phương hướng phát triển giáo dục vì sựphát triển xã hội, vì tương lai hay không
Trong thực tế không phải không có những nhà quản lý nhận thức được
xu thế phát triển cần phải thực hiện những dự báo phát triển kinh tế, khoa họccông nghệ, văn hoá giáo dục… Nhưng, vì quyền lợi của cá nhân họ khôngthực hiện những nhiệm vụ, mà họ làm những việc để có lợi kinh tế hoặc tạo ramột danh vọng trước mắt…
Đặc trưng thứ 3 của dự báo là dự báo giáo dục chỉ có thể đưa ra những phương hướng chung cần nghiên cứu, cần thực hiện để phát triển giáo dục
Vì dự báo là những đề xuất chưa trở thành hiện thực hoặc mới bắt đầuhình thành nên chưa có kinh nghiệm, chưa có biện pháp và hình thức thựchiện Tuỳ theo nội dung dự báo mà khả năng đưa ra biện pháp có tính khả thinhiều hay ít Có những dự báo chiến lược có tính lâu dài, liên quan đến nhiềulĩnh vực của giáo dục và xã hội thì lại càng khó có những biện pháp cụ thể.Căn cứ vào xu thế phát triển chung, mỗi quốc gia có thể có những dự báogiáo dục và tìm cách thực hiện những vự báo đó theo những cách khác nhauphù hợp với thực tế của mỗi nước Dự báo là cái chưa xẩy ra, sẽ xẩy ra, có thểxẩy ra vì vậy kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng cụ thể để thực hiện chưa đượctổng kết, vì vậy các dự báo chỉ là phương hướng có tính mục tiêu, giải pháplớn Trừ những dự báo trong một thời gian ngắn, một hoạt động cụ thể ví dụ
dự báo hiệu quả của một giờ lên lớp, một hoạt động giáo dục…
1.2 Xu thế phát triển giáo dục thế giới và Việt Nam
Trang 6Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, UNESCO đã đưa ra quan điểm: “Conngười đứng ở trung tâm của sự phát triển”, giáo dục đã được thừa nhận là nhân
tố hàng đầu để con người thực hiện vai trò đó Hiện nay, trước sự phát triển củakinh tế - xã hội, con người được giáo dục tốt và biết tự giáo dục vừa là mục đíchvừa là tác nhân của sự phát triển Trong cạnh tranh để tự khẳng định và đề pháttriển các nước, các dân tộc trên thế giới coi giáo dục là quốc sách hàng đầu ỞViệt Nam từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII cho đến nay, Đảng ta luônxác định: giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huynhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển
Giáo dục mang tính đại chúng
Giáo dục là của đông đảo quần chúng nhân dân Tính đại chúng được thểhiện ở sự bùng nỗ sĩ số học sinh, sinh viên Giáo dục phổ cập đang diễn ra ởnhiều nước Giáo dục cho mọi người đang là mối quan tâm hàng đầu
Giáo dục phát triển theo xu thế học suốt đời
Học suốt đời là học tập liên tục trong suốt cả cuộc đời; học trong nhà trường,học trong công việc; học trong cuộc sống, sinh hoạt Vai trò của học suốt đời: Họcsuốt đời có thể tận dụng được thời gian trong học tập; học suốt đời làm cho kiếnthức thu nhận được có ý nghĩa thực tiễn, có kỹ năng và phương pháp để vận dụng
lý luận vào thực tiễn; người học có cơ hội cập nhật những tri thức hiện đại
Giáo dục hướng vào mục tiêu phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại
Trong thời đại văn minh hậu công nghiệp, khuynh hướng nâng cao giá trịcủa con người trong sự phát triển càng được quan tâm Xu thế hòa bình, hợp tác,nhân quyền đang đặt ra cho con người hiện đại những phẩm chất và năng lực mới.Con người hiện đại cần phải có các năng lực như: tư duy sáng tạo, hợp tác, làmviệc nhóm, phát hiện và giải quyết vấn đề, học thường xuyên và học suốt đời
Trong mối quan hệ giữa người dạy với người học vai trò người học ngày càng được đề cao
Trang 7Giáo dục truyền thống luôn đề cao vai trò của người dạy, người dạy làmtrung tâm, “sư phạm quyền uy” Giáo dục hiện đại vai người học được đề cao;người học thực sự là người đi học chứ không phải là người được dạy Dạy học dựatrên quan điểm tiếp cận “lấy học sinh làm trung tâm” Vai trò của người học đượcthể hiện trong từng khâu, từng bước của quá trình dạy học.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
Công nghệ thông tin làm thay đổi mô hình giáo dục, làm xuất hiện mầmmống sư phạm trong giáo dục Giáo dục trong thời công nghệ thông tin, mộttrong những phương tiện chủ yếu là dựa vào máy tính cá nhân, mạng internet.Công nghệ thông tin thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của giáo dục như: hoạtđộng dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục
2 Những thành tựu và bất cập, yếu kém của giáo dục Việt Nam giai đoạn hiện nay
2.1 Những thành tựu đạt được
Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển, đáp ứng tốt hơnnhu cầu học tập của nhân dân Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạotương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học
Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ Trình
độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên được nângcao một bước
Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đó được cải thiện, đặc biệtngười dân tộc thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ em gái và các đối tượng
bị thiệt thòi ngày càng được quan tâm
Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực Đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, nâng dần về chất lượng, từngbước khắc phục một phần bất hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục
và phát triển các cấp học và trình độ đào tạo
Công tác xã hội hóa giáo dục đã đạt được những kết quả quan trọng.Các nguồn đầu tư cho giáo dục ngày càng được kiểm soát chặt chẽ và tăngdần hiệu quả sử dụng
Trang 8Giáo dục ngoài công lập phát triển, đặc biệt trong giáo dục nghề nghiệp
và đại học Cơ sở vật chất nhà trường được cải thiện Cơ sở vật chất, thiết bịgiáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa Số lượng họcsinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dântộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới tronggiáo dục và đào tạo
2.2 Những bất cập và yếu kém
Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thông giữamột số cấp học và một số trình độ đào tạo, chưa có khung trình độ quốc gia vềgiáo dục; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành
Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trongthời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khuvực, trên thế giới, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
Quản lý giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự
vụ và chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa điđôi với trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính
Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu,nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục
bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn
Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra,đánh giá chậm được đổi mới
Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu, nhất là ởvùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Chính sách, cơ chế tài chính chogiáo dục và đào tạo chưa phù hợp
Nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục cònhạn chế, chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển giáo dục Chất lượng vàhiệu quả nghiên cứu khoa học trong các trường đại học còn thấp; chưa gắnkết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất
Trang 9Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đầu tư cho giáo dục vàđào tạo chưa hiệu quả
3 Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam phù hợp với
Sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam xuất phát
từ những nhân tố cơ bản sau:
Một là, từ khi giành được độc lập (năm 1945) đến nay, nước ta đã ba lần
tiến hành cải cách giáo dục vào năm 1950, năm 1956 và năm 1979 Cùng vớicông cuộc đổi mới đất nước, Ngành Giáo dục đã có nhiều đổi mới ở các cấp học
và trên nhiều lĩnh vực Năm 1996, Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII) đã banhành Nghị quyết về chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 Các cuộc cải cách và đổimới này về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạnphát triển, góp phần to lớn vào thanứg lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc Tuy nhiên, giáo dục, đào tạo cũng đã tích tụ nhiều hạn chế và yếu kém kéodài, chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Hai là, nước ta đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng
và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnhtranh, đòi hỏi phải xây dựng được nguồn lực chất lượng cao trong thời giantương đối ngắn Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo là yêucầu cấp thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa đất nước cơ bảntrở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và tạo tiền đề vững chắc chophát triển cao hơn trong giai đoạn sau
Trang 10Ba là, trong nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá, cạnh tranh giữa
các quốc gia suy cho cùng là cạnh tranh về năng lực trí tuệ, thể hiện qua chấtlượng nhân lực, trình độ khoa học và công nghệ Giáo dục và đào tạo phải tạo racon người Việt Nam có tri thức, có khả năng sáng tạo, tiếp thu và làm chủ khoahọc và công nghệ hiện đại Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Giáo dục và đàotạo có xứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,góp phần quan trọng vào xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hoá và conngười Việt Nam Phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học và công nghệ làquốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục, đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chấtlượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhậpquốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnhxây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tậpsuốt đời” Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong Chiến lược phát triểngiáo dục Việt Nam chỉ rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Namtheo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốctế” Trong bối cảnh nêu trên, cần phải thực hiện đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điềukiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
3 2 Nội dung đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo
dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục không phải là làm lại tất cả,làm lại từ đầu mà là kế thừa, phát triển những quan điểm, chỉ đạo đúng đắn củaĐảng, Chính phủ và của ngành giáo dục Trên cơ sở đó, đổi mới từng bước, cótrọng tâm ở những khâu then chốt và có tác dụng đột phá nhằm tạo được nhữngchuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo, khắc phục dứt điểm nhữngyếu kém, bức xúc kéo dài trong hệ thống giáo dục, đào tạo
Trang 11Yêu cầu phải đổi mới từ nhận thức tư duy, mục tiêu đào tạo, hệ thống tổchức, loại hình giáo dục và đào tạo, nội dung và phương pháp dạy và học đến cơchế vận hành, cơ chế quản lý, xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở vậtchất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm thực hiện đổi mới toàn bộ hệ thống giáo dục,bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục đại học, đào tạo nghề.Đây là những vấn đề hết sức lớn lao, hệ trọng và phức tạp, còn nhiều ý kiến khácnhau, cần phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, bàn bạc một cách thấu đáo, cẩn trọng,tạo sự thống nhất cao để ban hành Nghị quyết vào thời gian thích hợp
Nội dung chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế về giáo dục được thể hiện trên những vấn đề cơ bản như sau:
Chuẩn hóa
Chuẩn hoá giáo dục là việc xác lập và thực hiện những tiêu chuẩn, tiêu chí
cơ bản cần đạt tới, nhằm làm cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo phát triển đúnghướng Những tiêu chuẩn cơ bản được xác lập phải phù hợp với tình hình pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và theo hướng giáo dụctiên tiến, hiện đại Chuẩn hoá giáo dục bao gồm nhiều lĩnh vực như: chuẩn quốcgia đối với các loại hình trường lớp; chuẩn đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáoviên về trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức; chuẩn về cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy học, các tổ chức và hoạt động giáo dục, chất lượngđào tạo, nội dung chương trình, sách giáo khoa, yêu cầu cơ bản kiến thức kỹnăng cần đạt tới ở từng môn học, cấp học…Chuẩn hoá và hiện đại hoá giáo dục
có quan hệ mật thiết với nhau Hoạt động theo hướng chuẩn hoá phát triển sẽ đạtđược yêu cầu của hiện đại hoá Hiện đại hoá thành công sẽ đạt được chuẩn hoá
Hiện đại hóa
Hiện đại hoá giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện nay là việc phát triểngiáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, làm cho giáo dục nước nhà từng bước đuổi kịp sự phát triển giáo dục cácnước tiên tiến Hiện đại hoá trên các lĩnh vực như: mạng lưới trường lớp, cơ sởvật chất, trang thiết bị dạy học, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nội dungchương trình, phương pháp dạy học…