Tiểu luận môn học: Tổng hợp hợp chất trung gian Đề tài: Cacbonyl hóa metanol và các phương pháp khác sản xuất axit axetic I. Tính chất cơ bản Axit axetic là một axit hữu cơ (axit cacboxylic), có tính axit mạnh hơn axit cacbonic. Phân tử gồm nhóm metyl (-CH3) liên kết với nhóm cacboxyl (-COOH). 1.1 Tính chất lý học Axit axetic là chất lỏng không màu hoặ tinh thể màu trắng, có vị chua, có khả năng tan vô hạn trong nước. Tỷ trọng của axit axetic ở dạng lỏng là 1.049g/cm3 và ở dạng tinh thể là 1.266g/cm3. Tnc = 16.5oC, Ts = 118,1oC 1.2 Tính chất hóa học Axit axetic có tính axit, ở 25oC nó có pKa = 4,26, thể hiện ở: - Làm thay đổi màu quỳ tím - Khi thêm axit axetic vào dung dịch Ca(OH)2 có mặt phenolphtalein, dung dịch mất dần màu hông phản ứng với bazơ - Axit axetic hòa tan CuO thành dung dịch có màu xanh đặc trưng phản ứng với oxit bazơ - Hòa tan Zn phản ứng với kim loại - Tác dụng với muối ( phản ứng với CaCO3 thoát khí CO2) II. Ứng dụng Axit axetic được dùng để sản xuất các hợp chất hóa học quan trọng 2.1 Sản xuất vinyl axetat Ứng dụng chủ yếu của axit axetic là sản xuất monome vinyl axetat. Ứng dụng này tiêu thụ khoảng 40% đến 45% sản lượng axit axetic trên thế giới. 2CH¬3COOH + 2C2H4 + O2 → 2CH3-CO-O-CH=CH2 + 2H2O Phản ứng có sự tham gia của etylen với oxy và chất xúc tác là Pd Vinyl axetat có thể được polyme hóa tạo thành polyvinyl axetat hoặc thành các polyme khác ứng dụng trong sơn và chất kết dính. Trang I. Tính chất cơ bản 1 1.1 Tính chất lý học 1 1.2 Tính chất hóa học 2 II. Ứng dụng . 2 2.1 Sản xuất vinyl axetat . 3 2.2 Sản xuất este .3 2.3 Sản xuất Axetic anhydrit 4 2.4 Giấm . 4 2.5 Dung môi 4 III. Phương pháp sản xuất công nghiệp 5 3.1 Cacbonyl hóa metanol .6 3.1.1 Lịch sử sản xuất 6 3.1.2 Nguyên tắc chung của quá trình 7 3.1.3 Công nghệ BASF 7 3.1.4 Công nghệ Monsanto 11 3.2 Một số phương pháp khác 13 3.2.1 Oxy hóa trực tiếp RH no (n-butan, naphta) 13 3.2.2 Oxy hóa chọn lọc etylen .16 3.2.3 Lên men oxy hóa .16 3.2.4 Lên men kỵ khí 18 Tài liệu tham khảo 20 Cacbonyl hoa metanol va cac phuong phap khac san xuat axit axetic
Trang 1Tiểu luận môn học: Tổng hợp hợp chất trung gian
Đề tài: Cacbonyl hóa metanol và các phương pháp khác sản xuất axit axetic
Trang 21.2 Tính chất hóa học
Axit axetic có tính axit, ở 25oC nó có pKa = 4,26, thể hiện ở:
- Làm thay đổi màu quỳ tím
- Khi thêm axit axetic vào dung dịch Ca(OH)2 có mặt phenolphtalein, dung dịch mất dần màu hông phản ứng với bazơ
- Axit axetic hòa tan CuO thành dung dịch có màu xanh đặc trưng phản ứng với oxit bazơ
- Hòa tan Zn phản ứng với kim loại
- Tác dụng với muối ( phản ứng với CaCO3 thoát khí CO2)
II Ứng dụng
Axit axetic được dùng để sản xuất các hợp chất hóa học quan trọng
Trang 32.1 Sản xuất vinyl axetat
Ứng dụng chủ yếu của axit axetic là sản xuất monome vinyl axetat Ứng dụng này tiêu thụ khoảng 40% đến 45% sản lượng axit axetic trên thế giới
2CH3COOH + 2C2H4 + O2 → 2CH3-CO-O-CH=CH2 + 2H2O
Phản ứng có sự tham gia của etylen với oxy và chất xúc tác là Pd
Vinyl axetat có thể được polyme hóa tạo thành polyvinyl axetat hoặc thành các polyme khác ứng dụng trong sơn và chất kết dính
2.2 Sản xuất este
Các este chính sản xuất từ axit axetic được sử dụng chủ yếu làm dung môi cho mực, sơn và chất phủ Các este như etyl axetat, n-butyl axetat, isobutyl axetat, và propyl axetat được sản xuất một cách đặc biệt bằng phản ứng có xúc tác từ axit axetic và rượu tương ứng:
H3C-COOH + HO-R → H3C-CO-O-R + H2OTuy nhiên, hầu hết este axetat được sản xuất từ axetaldehyt bằng phản ứng Tishchenko Thêm vào đó, các ete axetat được sử dụng làm các dung môi để loại
bỏ nitrocellulose, sơn acrylic, véc-ni, và chất tẩy gỗ Đầu tiên, glycol monoete được tạo ra từ etylen oxit hoặc propylen oxit với rượu, sau đó chúng được este hóa với axit axetic Ba sản phẩm chính là etylen glycol monoetyl ete axetat (EEA), etylen glycol mono-butyl ete axetat (EBA), và propylen glycol mono-metyl ete axetat (PMA)
Ứng dụng này tiêu thụ khoảng 15% đến 20% sản lượng axit axetic thế giới Các ete axetat, ví dụ như EEA, được cho là có hại đối với sức khỏe sinh sản con người
Trang 42.3 Sản xuất Axetic anhydrit
Sản phẩm tách phân tử nước từ hai phân tử axit axetic tạo thành một phân
tử gọi là axetic anhydrit Sản xuất axetic anhydrit trên thế giới là một ứng dụng chính chiếm khoảng 25% đến 30% sản lượng axit axetic toàn cầu Axetic anhydrit
có thể được sản xuất trực tiếp bằng cacbonyl hóa metanol từ axit, và các nhà máy sản xuất theo công nghệ Cativa có thể được điều chỉnh để sản xuất anhydrit
Axetic anhydrit là một chất acetyl hóa mạnh Vì vậy, ứng dụng chính của nó
là tạo cellulose acxtat, một chất dệt tổng hợp cũng được dùng trong phim chụp ảnh Axetic anhydrit cũng là một chất phản ứng dùng để sản xuất aspirin, heroin,
và các hợp chất khác
2.4 Giấm
Ở dạng giấm, các dung dịch axit axetic (nồng độ khối lượng của axit 4% đến 18%) được dùng trực tiếp làm gia vị, và cũng làm chất trộn rau và trong các thực phẩm khác Giấm ăn thì loãng hơn (4% đến 8%), trong khi loại giấm trộn thương mại thì nồng độ cao hơn Lượng axit axetic dùng làm giấm không chiếm tỉ lệ lớn trên thế giới, nhưng là một ứng dụng nổi tiếng và được dùng từ rất lâu
2.5 Dung môi
Axit axetic băng là một dung môi protic phân cực tốt Nó thường được dùng làm dung môi tái kết tinh cho các hợp chất hữu cơ tinh khiết
Trang 5Axit axetic tinh khiết được dùng làm dung môi trong việc sản xuất axit terephthalic (TPA), một nguyên liệu thô để sản xuất polyetylen terephthalat (PET) Năm 2006, khoảng 20% axit axetic được dùng để sản xuất TPA.
Axit axetic thường được dùng làm dung môi cho các phản ứng liên quan đến cacbocation, như Friedel-Crafts alkylation Ví dụ, một giai đoạn trong sản xuất long não tổng hợp thương mại liên quan đến sự tái sắp xếp Wagner-Meerwein của tạo amfen isobornyl axetat; ở đây axit axetic đóng vai trò vừa là dung môi, vừa là chất ái nhân để giữ carbocation tái sắp xếp Axit axetic là dung môi tự chọn khi giảm một nhóm nitơ aryl tạo anilin bằng cách sử dụng cacbon mang palladi
Axit axetic băng được sử dụng trong hóa phân tích để ước tính các chất có tính kiềm yếu như các amit hữu cơ Axit axetic băng có tính bazơ yếu hơn nước, vì vậy amit ứng xử như một bazơ mạnh trong dung dịch axit trung bình này Sau đó
nó có thể được chuẩn độ bằng cách sử dụng một dung dịch axit axetic băng của một axit rất mạnh như axit percloric
III Phương pháp sản xuất công nghiệp
Axit axetic trong công nghiệp được sản xuất theo 2 phương pháp: phương pháp sinh học và phương pháp tổng hợp
Ngày nay, lượng axit sản xuất theo phương pháp sinh học chỉ chiếm khoảng 10% sản lượng thế giới, nhưng nó vẫn là một phương pháp quan trọng dùng để sản xuất giấm (một số điều luật về độ tinh khiết thực phẩm ở một số quốc gia quy định rằng giấm sử dụng trong thực phẩm phải có nguồn gốc từ sinh học)
Phương pháp tổng hợp được áp dụng nhiều hơn để sản xuất axit với năng suất cao Trong đó, khoảng 75% axit axetic được sản xuất công nghiệp được sản xuất theo phương pháp cacbonyl hóa metanol Khoảng 15% còn lại được sản xuất
từ các phương pháp thay thế khác (oxy hóa trực tiếp hydrocacbon no, oxy hóa axetaldehit, oxy hóa etylen…)
Trang 6Tổng sản lượng axit axetic ước tính khoảng 5 triệu tấn/năm Một nửa sản lượng axit trên thế giới hiện nay được sản xuất ở Hoa Kỳ Sản lượng ở Châu Âu khoảng 1 triệu tấn/năm và đang có xu hướng giảm, trong khi đó Nhật Bản sản xuất khoảng 0,7 triệu tấn/năm Hàng năm, có 1,5 triệu tấn axit được tái chế, nâng tổng sản lượng trên thị trướng thế giới lên 6,5 triệu tấn/năm.
3.1 Cacbonyl hóa metanol
3.1.1 Lịch sử sản xuất
Công nghệ sản xuất axit axetic từ metanol và cacbon monoxit ở nhiệt độ và
áp suất cao được hãng BASF đưa ra từ rất sớm (1913) dựa trên phản ứng:
CH3OH + CO > CH3COOH ΔH298 = - 138,6 KJ/mol
Điều kiện tiến hành khắc nghiệt về nhiệt độ và áp suất cộng với sự có mặt của các chất ăn mòn mạnh (các hợp chất iotua) đã ngăn cản việc thương mại hoá công nghệ này
Năm 1914, các nghiên cứu của REPPE (BASF) cho thấy rằng các kim loại nhóm VIII có khả năng xúc tác hiệu quả cho quá trình cacbonyl hoá Điều này dẫn đến việc ra đời và phát triển công nghệ nhiệt độ và áp suất cao (250oC và 70MPa) với xúc tác CoI2 Quá trình này được BASF đưa vào áp dụng năm 1960 tại Luwig Shafen Công suất ban đầu là 3.600 tấn/năm Sau đó tăng lên 12.000 tấn/năm vào năm 1964 và 35.000 tấn/năm vào năm 1970 Năm 1981 công suất đạt 45.000 tấn/năm
Năm 1966, Borden Chemical có khởi động xây dựng một nhà máy sản xuất axit axetic trên cơ sơ công nghệ BASF tại Geimak (Bang Louisiana, Mỹ) với năng suất ban đầu là 30.000 tấn/năm sau đó tăng lên 45.000 tấn/năm vào năm 1968
Năm 1968, Monsanto công bố một khám phá mới Xúc tác rhodi với hoạt tính và độ chọn lọc rất cao cho phản ứng cacbonyl hoá metanol thành axit axetic Metanol có thể được cacbonyl hoá ngay cả ở áp suất thường với hiệu suất chuyển hoá là 99% đối với metanol và 90% đối với cacbon monoxit Quá trình có sử dụng
Trang 7xúc tác này được áp dụng năm 1970 tại bang Texas, với công suất ban đầu là 135.000 tấn/năm, sau đó tăng lên 180.000 tấn/năm vào năm 1975 Điều kiện tiến hành quá trình Monsanto mềm hơn so với quá trình BASF (3MPa và 180oC )
3.1.2 Nguyên tắc chung của quá trình
Quá trình cacbonyl hóa metanol là một phản ứng tỏa nhiệt
3.1.3 Công nghệ BASF
Quá trình BASF sử dụng cacbonyl coban làm xúc tác với chất kích động iotua CoI2 được dùng để tái sinh tại chỗ Co2(CO)8 và HI Tốc độ phản ứng phụ thuộc vào áp suất riêng phần của cacbon monoxit và nồng độ metanol Hiệu suất thu axit axetic đạt 90% đối với metanol và 70% đối với cacbon monoxit
Cơ chế phản ứng như sau:
Trang 8Phản ứng (1) có thể chuyển hoá CO bằng hơi nước, xúc tác là Co2(CO)8 và H2
được tạo ra bằng cách phân ly phức hydro cacbonyl Metyl iotua liên tục tấn công bởi tác nhân nucleophil là ion [Co(CO)4]- ở (4) Gốc iotua làm cho phản ứng dễ dàng hơn vì nó dễ tách hơn OH- CH3I phản ứng với phối trí bão hoà d10 Co(CO)4 Quá trình oxy hoá cộng hợp của CH3I vào Co(CO)4 khó khăn hơn vào [Rh(CO)2I2]- Sản phẩm cộng hợp ban đầu là một phức 5 phối trí d8 CH3Co(CO)4 Giai đoạn chuyển vị metyl ở (5) xảy ra chậm hơn so với quá trình xúc tác bởi Rh Khi tạo thành hợp chất trung gian axyl của coban, hợp chất này không bị phân huỷ tạo coban iotua vì iod không phối trí với coban Các giai đoạn liên quan đến cơ chế phản ứng dùng xúc tác rhodi được giải thích bởi khả năng phản ứng của coban thấp hơn của rhodi Điều này giải thích tại sao nhiệt độ của quá trình BASF lại cao hơn của quá trình Monsanto Hơn nữa áp suất riêng phần của cacbon monoxit cũng phải cao để ổn định phức [Cd(CO)4]-
Trang 9Sản phẩm phụ của BASF là CH4, CH3CHO, C2H5OH, C2H5COOH, CO2 Khoảng 3,5% CH3OH phản ứng mất mát dưới dạng metan, 4,5% dưới dạng sản phẩm phụ lỏng, 2% dưới dạng khí thải Khoảng 10% CO nguyên liệu bị biến đổi thành CO2
theo phản ứng chuyển hoá khí hơi nước
CO + H2O > CO2 + H2 (9)
CO2, metanol (chứa 60% dimetyl ete), xúc tác tuần hoàn, xúc tác mới, metyl iotua tuần hoàn (từ tháp rửa) được đưa đến thiết bị phản ứng áp suất cao (b) Một phần của nhiệt phản ứng được dùng để đun nóng sơ bộ nguyên liệu, phần nhiệt còn lại được tiêu tán dọc theo ống phản ứng
Trang 10Sản phẩm phản ứng được làm lạnh và đưa đến thiết bị phân ly áp suất cao (d) Khí thải được đưa vào tháp rửa (o) phần lỏng được giản nở tới áp suất 0,5÷ 1 MPa trong thiết bị phân ly áp suất trung bình (e) Khí thoát ra cũng được vào tháp rửa (o), phần lỏng từ thiết bị phân ly áp suất trung bình được đưa đến buồng giản
nở (f) Khí ra khỏi buồng được đưa đến thiết bị rửa (p) Khí từ thiết bị rửa và tháp rửa là khí thải Cả thiết bị rửa và tháp rửa đều dùng metanol nguyên liệu để thu hồi metyl iotua và các hợp chất iotua dễ bay hơi khác Dung dịch metanol này được đưa trở lại thiết bị phản ứng Thành phần khí thải (% thể tích): CO: 65 -75%,
CO2: 15-20%, CH4: 3-5% và hơi metanol
Axit từ buồng giãn nở (f) chiếm 45% khối lượng axit axetic, 35% khối lượng nước, 20% khối lượng este (chủ yếu là metyl axetat) Axit được tinh chế ở 5 tháp chưng cất Tháp thứ nhất (h) dùng đuổi khí từ hỗn hợp sản phẩm thô, khí thoát ra được đưa vào tháp rửa Xúc tác được tách ra bằng cách chưng cất các cấu tử dễ bay hơi ở thiết bị tách xúc tác (i) Tại thiết bị sấy (k) cho phép nhận được axit tinh bằng phương pháp chưng cất đẳng phí Sản phẩm đỉnh của tháp làm khô chứa axit axetic, axit formic, nước, sản phẩm phụ, chúng tạo hỗn hợp đẳng phí với nước Sản phẩm đỉnh này là một hệ hai pha, nó được tách ở trong buồng (g) Một phần của pha hữu cơ, chứa chủ yếu este được trở lại (k), ở đó nó đóng vai trò là một tác nhân đẳng phí Phần còn lại được đưa đến tháp phụ (n), ở đây phần nặng được lấy ra ở phần đáy tháp, phần nhẹ ở đỉnh tháp được đưa tuần hoàn lại thiết
bị phản ứng Phần chủ yếu ở tháp làm khô được đưa đến tháp làm sạch lần cuối,
ở đó axit axetic được lấy ra ở đỉnh tháp, sản phẩm đáy được đưa đến tháp tách cặn (m) Sản phẩm đỉnh của tháp này được đưa tới tháp tách nước, sản phẩm đáy chứa 50% khối lượng axit propionic được đưa đi thu hồi
3.1.4 Công nghệ Monsanto
Quá trình Mosanto dùng xúc tác rhodi cacbonyl và chất kích động iotua được tiến hành ở điều kiện mềm hơn so với quá trình BASF Hệ xúc tác này cũng không nhạy với hydro như quá trình BASF, các sản phẩm phụ cũng không đáng kể
Trang 11Chất kích động iotua thường dùng là metyl iotua hoặc một số dạng iotua khác Kết quả khảo sát cho thấy rằng rhodi halogenua có thể bị khử trong môi trường nước hoặc rượu Trong số các phức rhodi đưa vào môi trường phản ứng thì [Rh(CO)2I2]- là bền nhất do đó nó là xúc tác hoạt động.
Chu trình xúc tác chỉ ra ở hình trên được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu quang phổ và động học [Rh(CO)2I2]- phản ứng với metyl iodua bằng oxy hoá cộng để tạo hợp chất trung gian metyl rhodi Sau đó chuyển vị metyl tạo ra hợp chất trung gian năm phối trí, rồi loại axetyl iodua và tái sinh phức [Rh(CO)2I2]-
Axetyl iodua phản ứng với nước để tái sinh HI và sản xuất axit axetic HI phản ứng với metannol tạo metyl iodua Bằng cách này phức rhodi ban đầu và chất kích hoạt metyl iodua được tái sinh
Sản phẩm phụ chủ yếu của quá trình là CO2 và H2 do phản ứng chuyển hoá
CO bởi xúc tác là hợp chất rhodi
Trang 12Cacbon monoxit và metanol phản ứng với nhau trong thiết bị phản ứng (1) tạo axit axetic (1) là thiết bị phản ứng loại sủi bọt, MeOH, xúc tác, chất ức chế được đưa vào thiết bị, CO sục vào hỗn hợp lỏng ở dưới đáy tháp Nhiệt phản ứng được tách bằng cách cho bay hơi một phần dung môi
Hỗn hợp sản phẩm tạo thành được gia nhiệt đến điểm sôi ở tháp (3) sau đó đưa đến tháp chưng cất phần nhẹ (4) Sản phẩm nhẹ ở đỉnh được ngưng tụ, hồi lưu, một phần chất ức chế được quay về tháp phản ứng Sản phẩm nặng một phần hồi lưu ở đáy tháp, một phần đưa trở lại tháp (3) tiếp tục bay hơi Axit axetic được lấy ra ở dòng bên và đưa đến tháp làm khô (5) Ở đây nước được tách ra bằng phương pháp chưng cất đơn giản Sản phẩm đỉnh của tháp làm khô là hỗn hợp của axit axetic và nước được đưa về thiết bị phản ứng Axit khô được đưa đến tháp (6), ở đó axit propionic được tách ra dưới dạng sản phẩm đáy Sản phẩm đỉnh là axit axetic được đưa tới tháp cất sản phẩm (7) để thu được axit axetic có
độ tinh khiết cao được lấy ra dưới dạng dòng bên, sản phẩm đỉnh và đáy ở tháp cuối cùng được tuần hoàn lại thiết bị phản ứng
3.2 Một số phương pháp khác
Trang 13Ngoài công nghệ cacbonyl hóa metanol đóng góp 75% sản lượng axit axetic trên thế giới, các phương pháp tổng hợp khác và phương pháp sinh học cũng đang được nghiên cứu và có tiềm năng phát triển cao
Một số phương pháp được đưa ra đó là: oxy hóa trực tiếp hydrocacbon no, oxy hóa axetaldehit, oxy hóa etylen, lên men oxi hóa, lên men kỵ khí Do axetaldehit cũng là một chất có rất nhiều ứng dụng trong kỹ thuật hóa học, và xét theo nguồn nguyên liệu cho quá trình (dầu mỏ và sinh khối), bài tiểu luận của nhóm em đã lược bỏ phương pháp oxy hóa axetaldehit tạo axit axetic
3.2.1 Oxy hóa trực tiếp RH no (n-butan, naphta)
Axit axetic có thể được sản xuất bằng cách oxy hóa n-butan hoặc naphta
2C4H10 + 5O2 → 4CH3COOH + 2H2O 2CnH2n+2 + (n+1)O2 → nCH3COOH + 2H2O
Quá trình oxy hóa xăng nhẹ do hãng Distillers thiết kế và được BP Chemicals đưa vào công nghiệp hóa ở Saltend (Anh) với công suất 190 nghìn tấn/năm, được Rhoone-Poulenc phát triển tại Pont de Clax (Pháp) cũng với công suất tương tự ,và được Dainippon Chemical xây dựng tại Nhật với năng suất 15 nghìn tấn/năm
Công nghệ vận hành trên nguyên liệu xăng nhẹ Qúa trình oxy hóa diễn ra với tác nhân oxy hóa là không khí, thiết bị phản ứng dạng tháp sủi bọt được thiết
kế để đạt được hỗn hợp pha khí và lỏng hiệu quả và đảm bảo kiểm soát nhiệt độ tốt vì phản ứng tỏa nhiệt rất mạnh Hệ thống vận hành với điều kiện công nghệ trung bình: nhiệt độ 180◦C -185◦C, áp suất 4.5 - 5MPa, tỷ lệ oxy/lượng nguyên liệu tối thiểu là 0.5 tại dòng vào thiết bị phản ứng Nhiệt của phản ứng được tách
ra được sử dụng cho quá trình sản xuất hơi thấp áp
Ngoài sản phẩm chính là axit axetic, các sản phẩm phụ khác như các axit formic, propionic, butyric và axit sucxinic cũng được hình thành cùng với CO2, CO
Trang 14phẩm phụ khác (axit oxalic, glutaric,adipic…) được tuần hoàn trở lại thiết bị phản ứng
Điều kiện quá trình có thể mềm hóa khi có mặt xúc tác muối coban Đồng thời giúp tăng hiệu suất axit axetic và giảm hiệu suất axit formic và các axit có chứa nhiều nguyên tử cacbon (bằng cách thay đổi điều kiện phản ứng có thể thay đổi được thành phần sản phẩm với các loại axit khác nhau) Do đó, trong nhà máy của Rhone Poulenc, sản phẩm được giới hạn với 3 loại axit: formic, axetic và propionic Về nguyên tắc, các dòng sản phẩm được xử lý qua các bước sau:
Các sản phẩm khí được làm mát tới nhiệt độ môi trường để ngưng tụ phần lớn các cấu tử khó bay hơi sau đó tiếp tục làm lạnh xuống 0◦C để thu hồi các hydrocacbon chưa chuyển hóa Một hệ thống trao đổi nhiệt kết hợp với hệ thống tuốc bin giãn nở hạ nhiệt độ thích hợp có thể đưa nhiệt độ xuống thấp đến mức cần thiết mà không cần sử dụng các thiết bị làm lạnh đặc biệt
Các sản phẩm lỏng được xử lý trong một loạt các tháp chưng cất (có khoảng
13 tháp) Trước tiên, các sản phẩm nhẹ và nặng được tách riêng Phần lớn nước được tách bỏ nhờ quá trình chưng đẳng phí với sự có mặt của isopropyl ete Một công nghệ mới được sử dụng để tách và tinh chế axit formic Các axit axetic và axit propionic tinh khiết được tách và tinh chế bằng các tháp chưng cất thông thường Tuy nhiên, trước khi tinh chế , axit propionic được xử lý trong dòng hydro
để loại bỏ hoàn toàn các hợp chất không no Tùy từng trường hợp, axit sucxinic có thể được tách ra từ phần cặn bằng quá trình kết tinh