1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

AIDS tại nhà và cộng đồng của các Câu lạc bộ người có H tỉnh Thái Bình, năm 2013

8 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới, do chưa có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên cho tới nay, các biện pháp có hiệu quả nhằm hạn chế đến mức tối đa tác hại và sự lan truyền của HIV ra cộn[r]

Trang 1

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC, ĐIỀU TRỊ NGƯỜI NHIỄM

HIV/AIDS TẠI NHÀ VÀ CỘNG ĐỒNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ

NGƯỜI CÓ H TỈNH THÁI BÌNH, NĂM 2013

Đỗ Huy Giang*

Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thái Bình

TÓM TẮT

Nghiên cứu trên 420 đối tượng để tìm hiểu thực trạng hỗ trợ, chăm sóc điều trị cho người nhiễm HIV tại các câu lạc bộ người có H tỉnh Thái Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy: 66,2% đối tượng nghiên cứu đã từng bố trí thời gian tham dự các khóa tập huấn chăm sóc, điều trị HIV/AIDS, thực hành về chăm sóc tại nhà 42,6% thành viên câu lạc bộ (CLB) người có H đã từng hỗ trợ, chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng Hỗ trợ của các thành viên CLB người HIV: 83,8% hướng dẫn sử dụng thuốc; 74,9% hướng dẫn cách phòng tránh lây nhiễm HIV cho người khác 73,3% người nhiễm HIV được các thành viên CLB hỗ trợ trong quá trình điều trị 87,1% người có H đã từng tham gia chăm sóc, hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại cộng đồng 76,0% người nhiễm HIV khỏe hơn, tăng cân và giảm mắc các nhiễm trùng cơ hội sau khi được chăm sóc tại nhà Mong muốn của các thành viên CLB người có H tỉnh Thái Bình: Hỗ trợ của địa phương duy trì mô hình hoạt động CLB (63,1%), điều trị miễn phí suốt đời (45,7%), công việc ổn định (16,0%)

Từ khóa: HIV, hỗ trợ chăm sóc điều trị, cộng đồng, Thái Bình

*Tác giả: Đỗ Huy Giang

Địa chỉ: Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thái Bình

Điện thoại: 0912.100.762

Email: giang.dohuytb@gmail.com

Ngày nhận bài: 24/06/2015 Ngày phản biện: 09/10/2015 Ngày đăng bài: 10/11/2015

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới, do chưa có thuốc điều trị và

vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên cho tới nay,

các biện pháp có hiệu quả nhằm hạn chế đến

mức tối đa tác hại và sự lan truyền của HIV ra

cộng đồng là dự phòng với 3 mục tiêu chính:

hạn chế tốc độ lây lan HIV, làm chậm quá trình

tiến triển bệnh và giảm ảnh hưởng kinh tế, xã

hội của HIV/AIDS [1] Mặt khác, tại các nước

đang trong giai đoạn dịch tập trung, HIV chủ

yếu lan truyền trong các nhóm nguy cơ cao

TCMT và GMD Hoạt động chăm sóc, điều trị

người nhiễm HIV/AIDS cũng đang là một trọng

tâm của chương trình phòng chống HIV/AIDS

Chăm sóc, hỗ trợ làm giảm đau đớn thể chất,

tinh thần, giúp kéo dài cuộc sống và tăng cường

chất lượng cuộc sống cho người nhiễm HIV/

AIDS [2]

Tại Việt Nam tính đến hết 30/11/2013, số

trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV là 216.254

trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và

đã có 68.977 trường hợp tử vong do AIDS Tỷ

lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 248 người trên 100.000 dân [3] Việc quản lý, chăm sóc, tư vấn người nhiễm HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn do đối tượng thường xuyên thay đổi địa chỉ vì sợ bị phân biệt đối xử và nhiều người phải chuyển tới các địa phương khác

để sinh sống [4 - 5] Mặt khác, lực lượng cán bộ y

tế tại cơ sở mỏng, kiêm nhiệm nhiều việc nên khó đảm đương được công việc khi số nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS gia tăng nhanh chóng [6 - 7] Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Thái Bình (năm 1996), luỹ tích đến hết tháng

12 năm 2013 toàn tỉnh phát hiện 4.325 trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở 253/286 xã/phường trong đó có 1.171 bệnh nhân AIDS còn sống và 846 trường hợp bị tử vong do AIDS [8] Trong những năm gần đây các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại Thái Bình được triển khai mạnh mẽ, tích

Trang 2

cực ở các cấp các ngành, tuy nhiên công tác

phòng chống HIV/AIDS ở Thái Bình vẫn đứng

trước nhiều khó khăn thách thức Tình hình

lây nhiễm HIV/AIDS ở Thái Bình vẫn tiếp tục

gia tăng, người nhiễm HIV không chỉ ở nhóm

nguy cơ cao mà đang có xu hướng lây nhiễm

ra cộng đồng dân cư, nhiều gia đình đã có cả 2

vợ chồng bị chết vì AIDS, tỷ lệ trẻ mồ côi do

AIDS đang gia tăng Toàn tỉnh hiện có khoảng

800 trẻ mồ côi do HIV/AIDS Đội ngũ cán bộ

Y tế cơ sở làm công tác phòng, chống HIV/

AIDS còn lồng ghép với các chương trình y tế,

do vậy việc chăm sóc hỗ trợ theo dõi điều trị

cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS còn hạn chế

Ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS lây lan tại cộng

đồng, giảm sự kỳ thị phân biệt đối xử với người

nhiễm HIV tại nhà và cộng đồng, chăm sóc

hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng

có sự góp phần không nhỏ của 10 CLB người

có H, tuy nhiên việc phát triển thu hút thêm

các thành viên tham gia các CLB người có H

tại Thái Bình vẫn còn hạn chế công tác quản

lý điều hành, thu hút sự tham gia của những

người nhiễm HIV/AIDS chưa dám công khai

danh tính, những kỹ năng chăm sóc thành viên

trong câu lạc bộ tại Thái Bình còn gặp nhiều

khó khăn Để góp phần tổ chức tốt công tác

quản lý chăm sóc, hỗ trợ điều trị người nhiễm

HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng có hiệu quả

hơn, nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài “Nghiên

cứu thực trạng chăm sóc, điều trị người nhiễm

HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng của các Câu

lạc bộ người có H tỉnh Thái Bình, năm 2013”

Với 02 mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng

chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/AIDS tại

nhà và cộng đồng của các câu lạc bộ người có

H năm 2013; Phân tích các yếu tố liên quan đến

quá trình chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/

AIDS tại nhà và cộng đồng của các câu lạc bộ

người có H tỉnh Thái Bình

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

vọng, Khát vọng, Triều Dương, Trà lý xanh, Hoa cỏ may, Hướng tới tương lai, Chuông ban mai tại 8 huyện/thành phố tỉnh Thái Bình Đối tượng nghiên cứu: Hiện đang là thành viên của CLB người có H tại Thái Bình, có danh sách quản lý, được thông báo và đồng ý tham gia nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5 đến tháng

12 năm 2013

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kết nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Cross-secsional study) kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu + Cỡ mẫu nghiên cứu mô tả cắt ngang

n = Z2

1-α/2

p(1-p)

d2 Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu Z: là hệ số tin cậy, với ngưỡng xác suất α = 0,05%, Z = 1,96

p: là tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS được quản lý chăm sóc điều trị tại nhà và cộng đồng p=0,5

q = 1 - p = 1- 0,5= 0,5

d = là sai số chấp nhận được: lấy mức 5%,

d = 0,05

Thay số có, tính cỡ mẫu thêm 10% đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc trong quá trình ng-hiên cứu, n=420

Phương pháp chọn mẫu: Tại 10 câu lạc bộ lập danh sách tất cả các thành viên câu lạc bộ Tổng số thành viên câu lạc bộ/420 được hệ số

k n1=k; n2=n1+k; n3=n2+k… chọn đến khi đủ

420 người

Trang 3

đều cho các câu lạc bộ) mỗi CLB chọn 2 thành

viên tham gia phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo

luận nhóm trọng tâm tại 4 CLB tham gia nghiên

cứu: CLB Triều Dương huyện Hưng Hà, CLB

Thắp sáng niềm tin huyện Thái Thụy, CLB Hải

Đăng và CLB Trà Lý Xanh - Tp Thái Bình

2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu

- Công cụ thu thập số liệu: Sử dụng bộ phiếu

phỏng vấn định lượng; Câu hỏi định tính ghi

chép bằng giấy bút và ghi âm nội dung các cuộc

thảo luận nhóm

- Hình thức thu thập số liệu: phỏng vấn trực

tiếp đối tượng tham gia nghiên cứu

- Điều tra viên: là cán bộ Trung tâm phòng,

chống HIV/AIDS Thái Bình, được tập huấn

về nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra, các

kỹ năng tiếp cận và phỏng vấn để đảm bảo độ

chính xác cao

2.4 Đạo đức nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được thông báo về

mục đích của điều tra, có quyền từ chối trả lời

phỏng vấn Các thông tin được giữ bí mật hoàn

toàn, vô danh và chỉ phục vụ cho mục đích

ng-hiên cứu

Kết quả nghiên cứu được sử dụng để xây

dựng và điều chỉnh nội dung can thiệp cho

người nhiễm HIV/AIDS tại CLB người có H

ngày càng hiệu quả và tăng cường hơn nữa sự

quan tâm hỗ trợ của cộng đồng

Các đối tượng được phỏng vấn tại một nơi

riêng biệt dựa trên sự thỏa thuận giữa người

nghiên cứu và đối tượng được nghiên cứu

Ng-hiên cứu sẽ không tiến hành phỏng vấn những

người không tình nguyện tham gia hoặc không

tỉnh táo Các phiếu thu thập thông tin được mã

hóa và không ghi tên đối tượng tham gia, toàn

bộ phiếu phỏng vấn được lưu trữ bảo mật tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thái Bình

III KẾT QUẢ

3.1 Thông tin chung

Đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn trong nghiên cứu: Trung học cơ sở và trung học phổ thông là cao nhất (86,0%), rất ít đối tượng nghiên cứu có trình độ Trung cấp, Đại học, Cao đẳng Đặc biệt có 4 đối tượng nghiên cứu không đi học bao giờ

Qua thảo luận nhóm trọng tâm, đa số các thành viên CLB chia sẻ về nghề nghiệp của họ

“Đa số anh em trong CLB đều không có công ăn việc làm ổn định, chủ yếu là chạy chợ, xe ôm, phu

hồ, thợ xây nhưng công việc không ổn định như

xe ôm hôm nào trời nắng đông khách thì còn kiếm được chút ít, chứ mưa rét thì ở nhà thôi, nên kinh

tế rất khó khăn, đa số anh em rất mong muốn có một nghề nào đấy có thu nhập vừa phải nhưng ổn định” (MS8 CLB Hải Đăng)

Ngoài tra, kết quả định tính cho thấy thành viên của các CLB gặp khó khăn về kinh tế Qua phỏng vấn sâu một thành viên CLB Hy vọng

huyện Đông Hưng chia sẻ “Mình ngoài làm

ruộng thì có tham gia phân phát bơm kim tiêm sạch cho các bạn đồng đẳng, tháng cũng được

hỗ trợ mấy trăm nghìn nhưng năm nay dự án

WB kết thúc rồi, nên giờ mình cũng đang rất khó khăn vì giờ làm ruộng, chi phí đến khi gặt được thì mất nhiều công sức, tiền của đổ vào đấy lắm nên chỉ lấy hạt thóc để ăn thôi chứ không đủ tiền đóng học cho các cháu được”

(PVS nam giới, CLB Hy Vọng, 36 tuổi)

3.2 Thực trạng và các yếu tố liên quan đến chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng

Trang 4

Bảng 1 Tỷ lệ các thành viên Câu lạc bộ được tập huấn

và đã từng hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng

(n=420) Tỷ lệ %

Đã từng bố trí thời gian tham dự các khóa tập huấn về hỗ trợ, chăm sóc người

Đã từng hỗ trợ, chăm sóc điều trị cho người nhiễm HIV tại cộng đồng 179 42,6

Kết quả ở bảng trên cho thấy trong tổng số

420 đối tượng nghiên cứu thì có 278 người đã

từng bố trí thời gian tham dự các khóa tập huấn

chăm sóc, điều trị HIV/AIDS, thực hành về

chăm sóc điều trị tại nhà chiếm 66,2% Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng hỗ trợ, chăm sóc điều trị cho người nhiễm HIV tại cộng đồng là 42,6%

Bảng 2 Những nội dung hỗ trợ chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS

tại cộng đồng của các thành viên Câu lạc bộ Nội dung

Số lượng (n=179)

Tỷ lệ

%

Số lượng (n=179)

Tỷ lệ

%

Qua kết quả bảng trên cho thấy nội dung hỗ

trợ chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV/

AIDS tại cộng đồng của các thành viên CLB

chủ yếu là hướng dẫn sử dụng thuốc (83,8%),

cách phòng tránh lây nhiễm cho người khác

(74,9%), chăm sóc khi gặp tác dụng phụ

(64,2%), hướng dẫn tập thể thao, ăn uống hợp

lý (51,4%)

Nội dung hỗ trợ được một thành viên CLB

Hoa Cỏ May chia sẻ “Chị cùng các bạn trong

CLB thường xuyên thay phiên nhau đến tận nhà người nhiễm HIV không chỉ trong CLB mà ở cả cộng đồng lên Trung tâm Y tế huyện để khám sức khỏe, lấy mẫu xét nghiệm, nếu ai bị nhiễm HIV rồi thì động viên tham gia sinh hoạt CLB”

(PVS phụ nữ, CLB Hoa Cỏ may, 37 tuổi)

Trang 5

Bảng 3 Người hỗ trợ trong quá trình điều trị ARV và các nhiễm trùng cơ hội

Nội dung Số lượng

(n=420)

Tỷ lệ

%

Khi được hỏi về người hỗ trợ trong quá trình

điều trị ARV và các nhiễm trùng cơ hội, thành

viên CLB chiếm tỷ lệ cao nhất 73,3%, người

nhà thành viên CLB (72,1%), tiếp theo cán bộ phòng khám ngoại trú (61,9%), vẫn còn 5,0% không có người hỗ trợ trong quá trình điều trị

Bảng 4 Tham gia chăm sóc, hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

(n=179) Tỷ lệ %

Các dấu hiệu không cải thiện so với trước khi dùng thuốc 1 0,5

Qua bảng trên cho thấy có đến 87,1 % người

có H đã từng tham gia chăm sóc, hỗ trợ trẻ em

bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại cộng đồng, 7,3

% trả lời chưa có cơ hội và 5,6% chưa từng tham gia chăm sóc, hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

Bảng 5 Sức khỏe người nhiễm HIV/AIDS sau khi được các thành viên Câu lạc bộ chăm sóc, điều trị

(n=179) Tỷ lệ %

Các dấu hiệu không cải thiện so với trước khi dùng thuốc 1 0,5

Khi được các thành viên CLB đến nhà chăm

sóc và hỗ trợ thì 76,0% người nhiễm HIV đã

khỏe hơn, tăng cân và giảm mắc các nhiễm

trùng cơ hội, 20,7% đã khỏe hơn, tăng cân,

2,8% giảm mắc các nhiễm trùng cơ hội, chỉ có 0,5% cho rằng các dấu hiệu không cải thiện so với trước khi dùng thuốc

Trang 6

Bảng 6 Những hỗ trợ mà đối tượng nghiên cứu mong muốn

Hỗ trợ của địa phương duy trì mô hình hoạt động CLB 265 63,1

Kết quả điều tra cho thấy, đa số mong muốn

của các thành viên CLB người có H tỉnh Thái

Bình: Hỗ trợ của địa phương duy trì mô hình

hoạt động CLB (63,1%), điều trị miễn phí suốt

đời (45,7%), công việc ổn định (16,0%), một

số ít thành viên CLB mong muốn về hỗ trợ tinh

thần (5,7%)

IV BÀN LUẬN

Chăm sóc tại nhà là một hoạt động rất quan

trọng trong lĩnh vực chăm sóc hỗ trợ người

nhiễm HIV/AIDS Dù người nhiễm HIV/AIDS

có hay chưa có biểu hiện triệu chứng của nhiễm

trùng cơ hội đều rất cần đến sự chăm sóc tại nhà

của gia đình và người thân, chỉ khi người nhiễm

HIV/AIDS đến giai đoạn bị bệnh nặng mới cần

đến cơ sở y tế Được chăm sóc tại nhà, người

nhiễm sẽ được động viên, hỗ trợ về mặt tinh

thần, dinh dưỡng và được chăm sóc sức khỏe

khi ốm đau, điều này sẽ cải thiện cuộc sống của

họ, giúp họ sống lành mạnh hơn, có ý nghĩa hơn

và đặc biệt tạo động lực giúp họ thay đổi hành

vi nguy cơ, góp phần ngăn chặn sự lây lan của

dịch HIV/AIDS Trong nghiên cứu của chúng

tôi tỷ lệ các thành viên câu lạc bộ người có H

đã được tập huấn chăm sóc, điều trị HIV/AIDS,

thực hành về chăm sóc điều trị tại nhà chiếm tỷ

lệ cao 66,2%

Tìm hiểu về các nội dung hỗ trợ chăm sóc,

điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS tại cộng

đồng của các thành viên Câu lạc bộ đa số các

(83,8%), cách phòng tránh lây nhiễm cho người khác (74,9%), chăm sóc khi gặp tác dụng phụ (64,2%), hướng dẫn tập thể thao, ăn uống hợp lý chiếm tỷ lệ thấp nhất (51,4%) Qua phỏng vấn

sâu thành viên CLB cho rằng“Hàng tháng tôi

cùng các bạn nhiễm khác đến tận gia đình của người nhiễm thực hiện công tác chăm sóc, hỗ trợ cụ thể như hướng dẫn người nhiễm và gia đình người nhiễm về cách dự phòng lây nhiễm HIV, cách sử dụng thuốc, tư vấn cho phụ nữ mang thai lên bệnh viện Phụ sản để hưởng các dịch vụ của dự án, khi có bạn nhiễm ở giai đoạn cuối thì các thành viên trong CLB sẽ thay nhau đến thường xuyên chăm sóc các bạn, động viên các bạn, bệnh tật cái tâm lý rất quan trọng từ

đó người nhiễm cũng tự thấy khỏe hơn” (PVS

phụ nữ CLB Vì ngày mai tươi sáng, 41 tuổi) Tham khảo với nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Đào phỏng vấn một người nhiễm HIV tại

CLB Nhân Ái cũng cho rằng “Hàng tháng các

cộng tác viên phải đến từng gia đình của người nhiễm thực hiện công tác chăm sóc, hỗ trợ Mà

cụ thể là gì, cụ thể là hướng dẫn người nhiễm cùng người trong gia đình, ở đây tôi thấy là người chăm sóc, biết cách chăm sóc cho người nhiễm khi ốm đau, cái thứ hai là tuyên truyền cách phòng chống HIV/AIDS cho gia đình”

(anh H, cán bộ y tế của nhóm chăm sóc tại nhà) Nhóm cộng tác viên và đồng đẳng viên cũng đến thăm hỏi, chăm sóc khi có người nhiễm HIV/AIDS bị ốm, tham gia tổ chức ma chay

khi người nhiễm HIV/AIDS tử vong "Câu lạc

bộ Nhân Ái là thường hay đi chăm sóc anh em

Trang 7

P, người nhiễm HIV/AIDS tham gia câu lạc bộ

Nhân Ái) [9]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy,

mong muốn/nhu cầu của người nhiễm HIV/

AIDS của các CLB người có H tại Thái Bình

rất lớn và với nhiều nội dung như kinh phí hỗ

trợ, sinh hoạt CLB (63,1%), thuốc miễn phí

suốt đời (45,7%), công việc ổn định (16,0%),

một số ít thành viên CLB mong muốn về hỗ trợ

tinh thần (5,7%) Kết quả này cao hơn với

ng-hiên cứu của tác giả Vũ Văn Kiên điều trị đặc

hiệu HIV (21,7%), việc làm (1,1%), hỗ trợ tiền

vật chất (0,8%) [10] Sự khác biệt này có thể do

đặc điểm đối tượng nghiên cứu giữa hai nghiên

cứu khác nhau và khác về địa bàn nghiên cứu

Kết quả này cũng gợi mở hướng hỗ trợ trong

thời gian tới cho người nhiễm HIV là làm thế

nào để họ có thể duy trì cuộc sống và điều trị

khi nhiễm HIV

V KẾT LUẬN

66,2% đối tượng nghiên cứu đã từng bố trí thời

gian tham dự các khóa tập huấn chăm sóc, điều trị

HIV/AIDS, thực hành về chăm sóc tại nhà

42,6% thành viên CLB người có H đã từng

hỗ trợ, chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại

cộng đồng

Hỗ trợ của các thành viên CLB người HIV:

83,8% hướng dẫn sử dụng thuốc; 74,9% hướng

dẫn cách phòng tránh lây nhiễm HIV cho người

khác; 64,2% chăm sóc khi gặp tác dụng phụ,

51,4% hướng dẫn tập thể thao, ăn uống hợp lý

73,3% người nhiễm HIV được các thành

viên CLB hỗ trợ trong quá trình điều trị

87,1% người có H đã từng tham gia chăm

sóc, hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

tại cộng đồng, 7,3 % trả lời chưa có cơ hội và

5,6% chưa từng tham gia chăm sóc, hỗ trợ trẻ

em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

76,0% người nhiễm HIV khỏe hơn, tăng cân

và giảm mắc các nhiễm trùng cơ hội sau khi được chăm sóc tại nhà

Mong muốn của các thành viên CLB người có

H tỉnh Thái Bình: Hỗ trợ của địa phương duy trì

mô hình hoạt động CLB (63,1%), điều trị miễn phí suốt đời (45,7%), công việc ổn định (16,0%)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Reuben Grannich and Jonathan Mermin, HIV - Sức khoẻ và cộng đồng của bạn, NXB Y học, Hà Nội,

2004

2 Bộ Y tế - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Đề cương điều tra cơ bản dự án “Tăng cường chăm sóc,

hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS và các hoạt động phòng chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng ở Việt Nam” do Quỹ toàn cầu tài trợ, Hà Nội, 2004.

3 Cục phòng, chống HIV/AIDS Tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng

kế hoạch năm 2014.

4 Ban Phòng chống AIDS - Bộ Y tế, Sổ tay hướng dẫn

tư vấn phòng chống HIV/AIDS, 2001

5 Bộ Y tế, Chương trình hành động Chăm sóc, hỗ trợ

và điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn 2006 -

2010, Hà Nội, 2006

6 Trần Quốc Hùng, “Thực trạng và hiệu quả tư vấn chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV dựa vào cộng đồng tại Thái Nguyên, Khánh Hòa, Sóc Trăng (2004-2006)”, 2007 Luận án tiến sĩ tại Học viện Quân Y.

7 Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS về phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 tầm nhìn 2020, 2003 NXB Y học, Hà Nội

8 Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thái Bình, Báo cáo kết quả hoạt động năm 2013 và triển khai kế hoạch hoạt động năm 2014.

9 Phạm Thị Đào và cs (2006), Mô hình chăm sóc và

hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Y tế công cộng, 9.2009,

số 13.

10 Vũ Văn Kiên, “Đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm HIV/AIDS và sự quan tâm chăm sóc hỗ trợ, điều trị của cộng đồng tại phòng khám ngoại trú bệnh viện

Đa khoa tỉnh Bắc Giang”, 2009 Luận văn Thạc sỹ y học, Đại học Y Dược Thái Nguyên

Trang 8

STUDY SITUATION CARE AND TREATMENT OF HIV/AIDS IN THE COMMU-NITY INFECTED PEOPLE AT PEOPLE LIVING WITH HIV CLUBS IN THAI BINH PROVINCE, 2013

Do Huy Giang

Thai Binh Centrer of HIV/AIDS Control

A cross-sectional study on 420

communi-ty-based club members have been recruited

to explore the situation of support care and

treatment for HIV-infected people at people

living with HIV clubs in Thai Binh Results

showed that 66.2% of respondents were trained

home-based care and treatment of HIV/AIDS

42.6% of club members who have had support

and care for people living with HIV/AIDS in

the community The support activities by people

living with HIV clubs members reported were

83.8% manual medicine; 74.9% reported on how

to prevent HIV transmission to others 73.3%

of people infected with HIV are supported club

members in the treatment process 87.1% of peo-ple living with HIV has been involved in care and support for children affected by HIV/ AIDS in the community 76.0% of people infected with HIV have healthier, weight gain and reduce suffering from opportunistic infections thanks to the club members to care and support The desire of the community-based club members in Thai Binh: local support to maintain operational model club (63.1%), lifetime free drug (45.7%), job stability (16,0%)

Keywords: HIV, support care and

treat-ment, community-based, Thai Binh

Ngày đăng: 06/04/2021, 21:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w