- Đối với các khoản doanh thu có tính chất định kỳ (tiền cho thuê tài sản, lãi cho vay…): kiểm toán viên cần lập bảng kê doanh thu từng tháng để phát hiện những khoản chưa được ghi ché[r]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.4 SƠ KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Chế độ kế toán, các chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam và thông tư hướng dẫn 3
1.4.2 Từ sách, tạp chí chuyên ngành 3
1.4.3 Từ các tài liệu liên quan khác 3
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 4
2.1.1 Một số khái niệm và định nghĩa liên quan đến kiểm toán 4
2.1.2 Nội dung và đặc điểm của khoản mục thu nhập 6
2.1.3 Kiểm toán doanh thu 9
2.1.4 Quy trình kiểm toán doanh thu 19
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SGN 26
3.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN SGN 26
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 26
3.1.2 Sơ đồ tổ chức công ty Kiểm toán SGN 27
3.1.3 Các dịch vụ của công ty Kiểm toán SGN 27
3.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN SGN 28
3.2.1 Đặc điểm khách hàng 28
3.2.2 Đánh giá kết quả kinh doanh 29
3.3 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯƠNG LAI 29
3.3.1 Về khách hàng 29
3.3.2 Về dịch vụ 29
3.3.3 Về doanh thu và kết quả kinh doanh 30
3.3.4 Về tuyển dụng và đào tạo nhân viên 30
Trang 2CHƯƠNG 4: ÁP DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU CỦA
SGN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG CẦN THƠ 31
4.1 CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN 31
4.1.1 Tiếp cận khách hàng 31
4.1.2 Thảo luận sơ bộ với khách hàng 34
4.1.3 Quyết định kiểm toán 34
4.2 THỰC HIỆN KIỂM TOÁN 34
4.2.1 Bảng ghi nhớ chiến lược 34
4.2.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán 39
4.2.3 Chương trình kiểm toán doanh thu tại công ty kiểm toán SGN 39
4.2.4 Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát đối với khoản mục doanh thu 39
4.2.5 Đánh giá lại rủi ro kiểm toán 41
4.2.6 Thực hiện các thử nghiệm cơ bản 43
4.3 HOÀN THÀNH KIỂM TOÁN 64
4.3.1 Phát hành báo cáo kiểm toán đối với khoản mục doanh thu 64
4.3.2 Phát hành thư quản lý 65
CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 66
5.1 ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN 66
5.1.1 Ưu điểm của quy trình kiểm toán 66
5.1.2 Nhược điểm của quy trình kiểm toán 68
5.1.3 So sánh quy trình kiểm toán Doanh thu của công ty SGN với lý thuyết kiểm toán 69
5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN SGN 71
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
6.1 KẾT LUẬN 73
6.2 KIẾN NGHỊ 74
6.2.1 Đối với công ty Kiểm toán SGN 74
6.2.2 Đối với Nhà nước 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 77
Trang 3DANH MỤC BIỂU BẢNG VÀ HÌNH
Hình 1: Cơ cấu tổ chức công ty Kiểm toán SGN 28
Hình 2: Lưu đồ quá trình bán hàng 37
Hình 3: Lưu đồ quá trình thu tiền 38
Bảng 1: Ma trận rủi ro phát hiện 21
Bảng 2: Mức trọng yếu kế hoạch tổng thể báo cáo tài chính 22
Bảng 3: Mức trọng yếu kế hoạch dựa vào loại hình doanh nghiệp 22
Bảng 4: Mức trọng yếu kế hoạch từng khoản mục 22
Bảng 5: Bảng phân chia nguồn vốn kinh doanh 32
Bảng 6: Mức trọng yếu kế hoạch cho BCĐKT 31/12/2007 34
Bảng 7: Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ 36
Bảng 8: Phân tích biến động doanh thu 49
Bảng 9: Bảng tổng hợp doanh thu 50
Bảng 10: Bảng tổng hợp doanh thu phát sinh 51
Bảng 11: Phân tích đối ứng tài khoản doanh thu và hàng bán trả lại 52
Bảng 12: Liệt kê doanh thu theo tờ khai thuế hàng tháng 55
Bảng 13: Kiểm tra chọn mẫu doanh thu bán hàng 56
Bảng 14: Phân tích đối ứng tài khoản doanh thu HĐTC và thu nhập khác 61
Bảng 15: Kiểm tra khóa sổ doanh thu 62
Trang 4DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong điều kiện nền kinh tế như vậy, thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước để kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế Tuy ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng nguyện vọng là có được các thông tin có độ chính xác cao, tin cậy và trung thực
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán, sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp, có được lập trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp lý hay không
Xem xét mức độ quan trọng của các khoản mục trình bày trên báo cáo tài chính, nhận thấy khoản mục doanh thu trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh
là khoản mục quan trọng, phản ánh tình hình hoạt động của một doanh nghiệp Tính đúng đắn của chỉ tiêu này cung cấp các thông tin cần thiết cho việc đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp, giúp những người sử dụng nó đưa ra các quyết định quan trọng trong kinh doanh Xuất phát từ cơ sở đó em chọn đề
tài: “Áp dụng quy trình kiểm toán doanh thu của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán SGN tại công ty cổ phần xi măng Cần Thơ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Để tìm hiểu quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của công ty kiểm toán, với những công việc cụ thể, từng bước tiến hành và việc tiếp xúc bắt tay vào
Trang 6kiểm toán tại công ty khách hàng với số liệu thực tế là như thế nào Qua đề tài trên, em mong muốn sẽ có kiến thức sâu hơn, sát với thực tế hơn về quy trình kiểm toán một khoản mục trên báo cáo tài chính nói chung và đối với khoản mục
doanh thu nói riêng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ việc tham gia kiểm toán thực tế với những kiến thức đã học em muốn so sánh để thấy được rằng công việc thực tế có những điểm khác biệt nào so với lý thuyết đã được học, từ đó có thể kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy trình kiểm toán tại công ty cũng như những thông tin thu thập được sẽ là tài liệu để việc học lý thuyết gần với thực tế hơn
- Chế độ kế toán: Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC về việc ban hành
kế toán doanh nghiệp Trong phạm vi quy định của Chế độ kế toán doanh nghiệp
và các văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên, các doanh nghiệp nghiên cứu áp dụng danh mục các tài khoản, chứng từ, sổ kế toán và lựa chọn hình thức
sổ kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh, yêu cầu quản lý và trình
độ kế toán của đơn vị
- Các chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam: Việc ban hành 26 chuẩn
mực kiểm toán quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng Trong đó chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” ban hành kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001, Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002, Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày
Trang 730/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, đã quy định các nguyên tắc và phương pháp ghi chép khá chi tiết về doanh thu và thu nhập khác
- Thông tư hướng dẫn: Thông tư 161/2007/TT-BTC hướng dẫn hướng
dẫn thực hiện mười sáu (16) chuẩn mực kế toán
1.4.2.2 Tạp chí chuyên ngành
Tạp chí kế toán, tạp chí kiểm toán: Đây là tạp chí cung cấp các tài liệu,
thông tin về Kế toán, Kiểm toán, Ngân hàng – Tài chính, văn bản pháp luật…
1.4.3 Từ các tài liệu liên quan khác
Tài liệu kiểm toán của Công ty kiểm toán SGN
Luận văn của các khóa trước
Các tài liệu khác và internet
Trang 8CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm và định nghĩa liên quan đến kiểm toán
2.1.1.1 Định nghĩa kiểm toán
“Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.”
2.1.1.2 Một số khái niệm liên quan
a) Kiểm toán độc lập: Là loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán
viên thuộc những tổ chức kiểm toán độc lập Họ thường thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, và tùy theo yêu cầu của khách hàng, họ còn cung cấp các dịch vụ khác như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, tư vấn về kế toán, thuế, tài
chính…
b) Trọng yếu: Là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông
tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu
có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức độ trọng yếu tùy thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể
Mức trọng yếu được xem xét mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên, dựa trên hai mặt:
- Định lượng: Trọng yếu được sử dụng như số tiền sai lệch tối đa có thể chấp nhận được của báo cáo tài chính
- Định tính: Trọng yếu được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các sai sót, gian lận đến người đọc bên khía cạnh định lượng
Quy mô của mức trọng yếu được xét như sau:
- Đối với tổng thể báo cáo tài chính (PM – Planning materiality)
- Đối với từng khoản mục, từng loại nghiệp vụ (TE – Tolerable erro)
Trang 9c) Khái niệm rủi ro kiểm toán (AR)
Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu
Các bộ phận của rủi ro kiểm toán:
- Rủi ro tìm tàng (IR): Là rủi ro tìm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp
vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ
- Rủi ro kiểm soát (CR): Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời
- Rủi ro phát hiện (DR): Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán kiểm toán viên và công ty kiểm toán đã không phát hiện được
d) Hệ thống kiểm soát nội bộ: Là một quá trình do người quản lý, Hội
đồng quản trị và các nhân viên của đợn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
e) Bằng chứng kiểm toán: Là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán
viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình Bằng chứng kiểm toán bao gồm các tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu, thông tin từ những nguồn khác
f) Thử nghiệm kiểm soát: Là những thử nghiệm dùng để thu thập bằng
chứng kiểm toán về sự hữu hiệu trong thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ Những thử nghiệm kiểm soát được sử dụng để kiểm tra sự hữu hiệu của
hệ thống kiểm soát nội bộ gồm:
- Phỏng vấn
Trang 10- Kiểm tra tài liệu
- Quan sát việc áp dụng các thủ tục kiểm soát
- Thực hiện lại thủ tục kiểm soát
g) Thử nghiệm cơ bản: Bao gồm các thủ tục để thu thập bằng chứng nhằm
phát hiện các sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính
h) Hồ sơ kiểm toán: Là các tài liệu do kiểm toán viên lập, thu thập, phân
loại, sử dụng và lưu trữ Tài liệu trong hồ sơ kiểm toán được thể hiện trên giấy, trên phim ảnh, trên phương tiện tin học hay bất cứ phương tiện lưu trữ nào khác theo quy định của pháp luật hiện hành
2.1.2 Nội dung và đặc điểm của khoản mục thu nhập
2.1.2.1 Nội dung
Nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho những người sử dụng để họ đưa
ra các quyết định kinh doanh, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Trong khi Bảng cân đối kế toán cho biết về tình hình tài chính của doanh nghiệp, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lại cho biết về kết quả của niên độ, từ đó giúp người sử dụng đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, kiểm toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng là một nội dung quan trọng trong kiểm toán báo cáo tài chính
Thu nhập là những khoản mục chủ yếu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, do đó khi kiểm toán báo cáo này, về thực chất là xem thu nhập trong kỳ
có được trình bày trung thực, hợp lý và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán
hay không
2.1.2.2 Đặc điểm
Đặc điểm nổi bật của khoản mục thu nhập là mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng với những khoản mục trên bảng cân đối kế toán Do đó, phần lớn của nội dung thu nhập được tiến hành kiểm tra ngay trong quá trình kiểm toán các khoản mục khác của bảng cân đối kế toán
Kiểm toán doanh thu trong kỳ gắn liền với kiểm toán tiền và nợ phải thu
2.1.2.3 Mục tiêu kiểm toán
- Các nghiệp vụ thu nhập được ghi nhận thì phát sinh có thực trong thực tế
và thuộc về đơn vị (phát sinh)
Trang 11- Mọi nghiệp vụ thu nhập đều được ghi nhận (Đầy đủ)
- Thu nhập được tính toán chính xác và thống nhất giữa sổ chi tiết và sổ cái (Ghi chép chính xác)
- Thu nhập được phản ánh đúng số tiền (Đánh giá)
- Thu nhập được trình bày đúng đắn và khai báo đầy đủ (Trình bày và công bố)
2.1.2.4 Doanh thu và thu nhập khác
- Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong
kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
- Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ và doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia (doanh thu hoạt động tài chính)
- Thu nhập khác là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu
2.1.2.5 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Công ty đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
b) Doanh thu hoạt động tài chính:
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia
và các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai (2) điều kiện sau:
- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó;
Trang 12- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Cổ tức, lợi nhuận được chia được ghi nhận khi Công ty được quyền nhận
cổ tức hoặc được quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn
2.1.2.6 Một số gian lận và sai sót có thể xảy ra khi kiểm toán khoản mục doanh thu
a) Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo cao hơn so với doanh thu thực
tế
Trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp đã hạch toán vào doanh thu những khoản thu chưa đủ điều kiện xác định là doanh thu như quy định hoặc số doanh thu đã phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán cao hơn so với doanh thu trên các chứng từ kế toán Thí dụ như:
- Người mua đã ứng trước nhưng doanh nghiệp chưa xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua
- Người mua đã ứng tiền, doanh nghiệp đã xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ nhưng các thủ tục mua bán, cung cấp dịch vụ chưa hoàn thành và người mua chưa chấp nhận thanh toán
- Số liệu đã tính toán và ghi sổ sai làm tăng doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán
- Hạch toán toàn bộ doanh thu nhận trước vào doanh thu kì nhận tiền (không sử dụng tài khoản trung gian)
b) Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo thấp hơn so với doanh thu thực
tế
Trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp chưa phản ánh vào doanh thu những khoản thu đã đủ điều kiện để xác định là doanh thu như quy định hoặc số doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán thấp hơn so với doanh thu trên chứng từ kế toán Thí dụ như:
- Doanh nghiệp đã làm thủ tục bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, khách hàng đã trả tiền hoặc đã thực hiện các thủ tục chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị chưa hạch toán hoặc đã hạch toán nhằm vào tài khoản khác
- Số liệu tính toán và ghi sổ sai đã làm giảm doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán
Trang 13- Không hạch toán doanh thu bán hàng các trường hợp hàng đổi hàng, dùng sản phẩm hàng hoá trả lương cho công nhân viên hoặc chi cho các quỹ của doanh nghiệp theo chế độ quy định Theo luật thuế VAT, phải hạch toán vào doanh thu bán hàng các khoản nói trên theo giá các mặt hàng cùng loại cùng thời điểm
- Doanh thu bán hàng thu ngoại tệ, doanh nghiệp đã cố tình sử dụng tỉ giá thực tế thấp hơn so với quy định để làm giảm doanh thu
- Một số doanh nghiệp khi bán hàng không ghi nhận vào doanh thu mà bù trừ thẳng vào nợ phải trả
- Một số doanh nghiệp gặp điều kiện thuận lợi về thị trường, bán được nhiều hàng hoá trong năm, hoàn thành tốt kế hoạch ngân sách Các doanh nghiệp
đã giành lại một phần doanh thu (thường là các lô hàng cuối năm) hạch toán vào niên độ sau Mục đính làm chậm lại việc nộp thuế, dự trù rủi ro cho niên độ sau
- Doanh nghiệp chỉ hạch toán doanh thu chỉ khi nhận được tiền
2.1.3 Kiểm toán doanh thu
2.1.3.1 Kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Đặc điểm
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bao gồm: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản được giảm trừ và doanh thu thuần
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trị hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đã bán hay cung cấp trong kỳ Đối với doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, doanh thu này không bao gồm thuế giá trị gia tăng
Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã khấu trừ các khoản được giảm trừ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu tính trên doanh thu thực hiện trong kỳ (nếu có) Riêng đối với các doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, thuế giá trị gia tăng đầu ra được tính vào doanh thu bán hàng nhưng sau đó được đưa vào trong các khoản được giảm trừ
để loại khỏi doanh thu thuần
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là một khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính vì đó là cơ sở để người sử dụng đánh giá về tình hình hoạt động
Trang 14và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, khoản mục này là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn đến báo cáo tài chính bị sai lệch trọng yếu vì những lý do sau:
- Trong nhiều trường hợp việc xác định thời điểm thích hợp và số tiền để ghi nhận doanh thu đòi hỏi sự xét đoán, thí dụ đối với doanh thu của hợp đồng xây dựng hoặc cung cấp dịch vụ có liên quan đến nhiều niên độ
- Doanh thu có quan hệ mật thiết đối với kết quả lãi lỗ Do đó, những sai lệch về doanh thu thường dẫn đến lãi lỗ bị trình bày không trung thực và không hợp lý
- Tại nhiều đơn vị, doanh thu còn là cơ sở để đánh giá kết quả hoặc thành tích, nên chúng có khả năng bị thổi phòng cao hơn thực tế
- Tại Việt Nam, do doanh thu có quan hệ chặt chẽ với thuế giá trị gia tăng đầu ra nên cũng có khả năng bị khai thấp hơn thực tế để trốn thuế hay tránh né thuế
a) Nghiên cứu và đánh giá kiểm soát nội bộ
- Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ:
+ Để tìm hiểu và đánh giá rủi ro kiểm soát của doanh thu, kiểm toán viên cần phải khảo sát về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với toàn bộ chu trình bán hàng và thu tiền
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu về chu trình bán hàng và thu tiền đòi hỏi phải tách biệt các chức năng, và phân nhiệm cho những cá nhân hay bộ phận khác nhau phụ trách Tùy theo quy mô và đặc điểm của từng doanh nghiệp
mà cách thức tổ chức cụ thể về kiểm soát nội bộ trong chu trình bán hàng và thu tiền có thể khác nhau Thường trong những doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn, chu trình bán hàng thường được phân chia thành những chức năng sau đây:
1 Lập lệnh bán hàng (phiếu xuất kho)
2 Xét duyệt bán chịu
3 Xuất kho
4 Gửi hàng đi
5 Lập và kiểm tra hóa đơn
6 Theo dõi thanh toán
7 Xét duyệt hàng bán bị trả lại, hay giảm giá
Trang 15Ở đơn vị nào có mức độ phân chia trách nhiệm càng cao thì các sai phạm càng dễ bị phát hiện nhờ sự kiểm tra hổ tương giữa những phần hành hay việc đối chiếu tài liệu giữa các bộ phận với nhau Do đó khả năng xảy ra gian lận và sai sót sẽ được giảm thiểu
- Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát
Trên cơ sở các hiểu biết về kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên đưa ra đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát Cần lưa ý rằng khi đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn mức tối đa, kiểm toán viên phải chứng minh điều này bằng các thử nghiệm kiểm soát
- Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
+ Kiểm tra mẫu các nghiệp vụ bán hàng
Đối chiếu với đơn đặt hàng, lệnh bán hàng, chứng từ chuyển hàng về chủng loại, quy cách số lượng giá cả, ngày gửi hàng, chữ ký nhằm thu thập bằng chứng rằng hóa đơn được lập trên cơ sở các nghiệp vụ bán hàng thực sự xảy ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ đã tuân thủ đúng các quy định nội bộ của đơn
vị
Kiểm tra chữ ký xét duyệt hình thức bán hàng, thu tiền liền, hay bán chịu và
cơ sở xét duyệt để xem có tuân thủ các thủ tục bán chịu hay không
Xem xét tổng cộng của từng loại hàng, tổng cộng từng hóa đơn, so sánh giá trên hóa đơn với bản giá được xét duyệt tại mỗi thời điểm Thử nghiệm này nhằm chứng minh rằng hóa đơn được tính giá chính xác và việc kiểm tra chúng trước khi gửi đi được thực hiện một cách hữu hiệu
Sau khi kiểm tra về tính chính xác như trên, kiểm toán viên sẽ lần theo các hóa đơn để kiểm tra việc ghi chép chúng trên sổ sách kế toán Trong hình thức nhật ký chung, kiểm toán viên sẽ từ hóa đơn để kiểm tra đến nhật kí, sau đó; tiếp tục đối chiếu số tổng cộng trên nhật ký với tài khoản trên sổ cái Thử nghiệm này nhằm thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu của các thủ tục kiểm soát có liên quan đến việc ghi chép đầy đủ và chính xác các nghiệp vụ bán hàng trên sổ sách kế toán
Khi thử nghiệm, kiểm toán viên còn cần chú ý về các thủ tục kiểm soát đối với các khoản hàng ký gửi vì chúng có thể được ghi nhằm vào doanh thu bán hàng Nếu đơn vị có những thủ tục kiểm soát để ngăn chặn sai sót này, thí dụ như
Trang 16sử dụng biểu mẫu chứng từ riêng để phản ánh các trường hợp gửi bán, kiểm toán viên sẽ thử nghiệm các thủ tục kiểm soát đó xem chúng có thật sự hiện hữu và vận hành đúng hay không
Ngoài ra, kiểm toán viên còn cần tìm hiểu về chính sách bán hàng cho hưởng chiết khấu của đơn vị, vì một chính sách rõ ràng sẽ là biểu hiện của kiểm soát nội bộ vững mạnh Kiểm toán viên có thể xem xét sổ sách có liên quan để kiểm tra việc thực hiện chính sách này
+ Chọn mẫu đối chiếu giữa chứng từ chuyển hàng với những hóa đơn liên quan
Thử nghiệm trên đã so sánh giữa hóa đơn với đơn đặt hàng nhằm bảo đảm những hóa đơn được lập chính xác trên cơ sở số hàng được giao Tuy nhiên thử nghiệm trên không giúp phát hiện được các trường hợp hàng đã gửi đi nhưng vì một lý do nào đó mà không lập hóa đơn Để kiểm tra vấn đề này, cần chọn mẫu các chứng từ chuyển hàng đã lập trong năm và đối chiếu với hóa đơn có liên quan Cần đặt biệt lưu ý đến số thứ tự liên tục của những chứng từ là những đơn đặt hàng, chứng từ chuyển hàng và hóa đơn bán hàng
+ Xem xét sự xét duyệt và ghi chép về hàng bán bị trả lại, hay bị hư hỏng
Tất cả hàng hóa bị trả lại, hay bị hư hỏng điều phải được chứng minh bởi các tài liệu đã được đánh số thứ tự, được xét duyệt và ký bởi cấp có thẩm quyền
và họ phải độc lập với việc chi quỹ, hay giữ sổ kế toán Kiểm soát nội bộ tốt liên quan đến hàng bán bị trả lại bao giờ cũng bao gồm các thủ tục kiểm tra, xét duyệt trước khi nhận lại hàng
Để chứng minh sự hiện hữu cũng như hữu hiệu của thủ tục kiểm soát trên (nếu có), kiểm toán viên có thể chọn mẫu chứng từ liên quan (thí dụ chứng từ nhận hàng bị trả lại) để kiểm tra chữ ký xét duyệt của người có thẩm quyền và đối chiếu quy trình thực tế với quy định của đơn vị Mặt khác, cần kiểm tra việc tính giá, cộng dồn, ghi vào nhật ký, chuyển vào sổ cái, sổ chi tiết hàng bị trả lại
- Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản
Sau khi đã thực hiện các thử nghiệm trên, kiểm toán viên sẽ đánh giá mức rủi ro kiểm soát cho mỗi cơ sở dẫn liệu liên quan đến doanh thu và nghiệp vị bán hàng Khi đánh giá, kiểm toán viên nên nhận diện những điểm yếu của kiểm soát
Trang 17nội bộ để mở rộng các thử nghiệm cơ bản, và những điểm mạnh cho phép giảm thiểu các thử nghiệm cơ bản
b) Thử nghiệm cơ bản
Thủ tục phân tích Áp dụng các thủ tục phân tích Phát sinh, đầy đủ, đánh giá
Thử nghiệm chi
tiết
- Kiểm tra sự có thực của những khoản doanh thu đã được ghi chép
- Kiểm tra sự ghi chép đầy đủ
về các khoản doanh thu
- Kiểm tra sự chính xác của số tiền ghi nhận doanh thu
- Kiểm tra sự phân loại doanh thu
- Kiểm tra việc khóa sổ đối với nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Phát sinh
Đầy đủ Đánh giá Trình bày, đánh giá Phát sinh, đầy đủ
- Áp dụng các thủ tục phân tích
Để kiểm tra tính hợp lý chung của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, kiểm toán viên có thể sử dụng một số thủ tục phân tích sau đây:
+ Lập bảng phân tích doanh thu theo từng tháng, từng đơn vị trực thuộc…,
và xem xét các trường hợp tăng giảm bất thường
+ So sánh doanh thu của kỳ này so với kỳ trước theo từng tháng Các biến động bất thường cần được giải thích nguyên nhân
+ Tính tỷ lệ lãi gộp của những mặt hàng, loại hình dịch vụ chủ yếu và so sánh với năm trước Phát hiện và giải thích mọi thay đổi quan trọng
- Kiểm tra sự có thực của các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ đã được ghi chép
Mục tiêu thử nghiệm là để phát hiện các nghiệp vụ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ không xảy ra nhưng lại được ghi trên sổ nhật ký bán hàng Kiểm toán viên có thể đạt được điều này bằng các thủ tục sau:
Trang 18+ Đối chiếu các khoản doanh thu bán hàng được ghi chép trên nhật ký bán hàng với các chứng từ gốc liên quan, như đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, lệnh bán hàng hoặc phiếu xuất kho, vận đơn, hóa đơn…
+ Lấy mẫu các nghiệp vụ bán hàng và xem xét quá trình thu tiền Đối với các khoản được thanh toán, đó chính là bằng chứng cho biết nghiệp vụ bán hàng
đã thực sự xảy ra
Ngoài ra, kiểm toán viên cần tìm hiểu việc ghi nhận doanh thu xem có phù hợp với các điều kiện đã được quy định trong chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không
- Kiểm tra sự ghi chép đầy đủ về các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Mục tiêu của thủ tục này là nhằm phát hiện các nghiệp vụ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ không được ghi trên sổ kế toán Do đó kiểm toán viên sẽ xuất phát từ những chứng từ gốc để kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ trên nhật ký bán hàng Còn việc lựa chọn loại chứng từ gốc nào thì cần dựa trên đặc điểm kiểm soát nội bộ của đơn vị trong nghiệp vụ bán hàng; thông thường nên chọn loại chứng từ lập ra cho mọi nghiệp vụ bán hàng, thí dụ các vận đơn Trong trường hợp đơn vị không sử dụng vận đơn, kiểm toán viên có thể tìm kiếm các tài liệu khác như thẻ kho, sổ theo dõi xuất hàng ở bộ phận bảo vệ…và dựa vào đó để xác minh
- Kiểm tra sự chính xác của số tiền ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
VAS 14 quy định: “Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hay sẽ thu được” Đối với những hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ bình thường, doanh thu được ghi nhận theo số tiền trên hóa đơn Riêng trong một số hoạt động kinh doanh, doanh thu cần được xác định dựa trên những
cơ sở khác nhau theo quy định và chuẩn mực của chế độ kế toán
Đối với các hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ thông thường, mục đích của thử nghiệm nhằm bảo đảm các nghiệp vụ này được tính giá đúng Thông thường, kiểm toán viên cần kiểm tra những nội dung sau đây của hóa đơn: + So sánh với vận đơn, đơn đặt hàng, lệnh bán hàng…để xác định về chuẩn loại và số lượng hàng hóa tiêu thụ
Trang 19+ Đối chiếu với bảng giá, các bảng xét duyệt giá, hợp đồng…để xác định đơn giá của hàng hóa tiêu thụ Rà soát lại các khoản chiết khấu, giảm giá để xem
có phù hợp với chính sách bán hàng của đơn vị hay không
+ Kiểm tra việc tính toán trên hóa đơn
+ Đối với các khoản bán hàng bằng ngoại tệ, kiểm toán viên cần kiểm tra việc quy đổi về tiền Việt nam
+ Trong hoạt động bán hàng trả chậm, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ bao gồm giá trị hiện tại của các khoản tiền sẽ thu Phần chênh lệch được ghi nhận là doanh thu hoạt động tài chính
+ Trong hoạt động tài sản không tương tự, doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của tài sản nhận về sau khi điều chỉnh các khoản tiền (hoặc tương đương tiền) trả thêm hoặc nhận thêm Nếu không xác định được giá trị hợp lý của tài sản nhận về, đơn vị có thể dùng giá trị hợp lý của tài sản mang đi trao đổi để điều chỉnh các khoản tiền (hoặc tương đương tiền) trả thêm hoặc nhận bù
+ Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ có liên quan đến nhiều niên độ, doanh thu được ghi nhận theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo đó, doanh thu được ghi nhận vào kỳ kế toán theo tỷ lệ phần trăm công việc đã hoàn thành Trong những trường hợp trên, kiểm toán viên bắt đầu bằng việc phỏng vấn đơn vị về phương pháp kế toán sử dụng, xem xét sự phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành và tính nhất quán Sau đó, kiểm toán viên cần kiểm tra các dữ liệu sử dụng và việc tính toán chính xác của đơn vị
- Kiểm tra việc phân loại doanh thu
Thử nghiệm này nhằm tránh những trường hợp không phân loại đúng nên dẫn đến việc ghi chép, hay trình bày sai về doanh thu Cụ thể, kiểm toán viên sẽ xem xét về sự phân biệt giữa:
+ Doanh thu bán chịu và doanh thu thu tiền ngay
+ Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản doanh thu hoạt động tài chính như cho thuê cơ sở hạ tầng, các khoản lãi cho thuê do bán trả góp…
Các loại doanh thu là đối tượng của các loại thuế khác nhau (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…) có thuế suất khác nhau, hoặc khác nhau về cơ sở
Trang 20xác định doanh thu chịu thuế Loại sai phạm này sẽ dẫn đến việc tính thuế không đúng
- Kiểm tra việc khóa sổ đối với nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ Việc ghi chép các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ không đúng niên
độ sẽ dẫn đến những sai lệch trong doanh thu và lãi lỗ Vì thế cần thử nghiệm để phát hiện các nghiệp vụ của niên độ này lại bị ghi sang năm sau và ngược lại Kiểm toán viên sẽ lựa chọn một số nghiệp vụ xảy ra trước và sau thời điểm khóa sổ để kiểm tra chứng từ gốc, so sánh giữa ngày ghi trên vận đơn, nhật ký bán hàng và các sổ chi tiết
2.1.3.2 Kiểm toán doanh thu hoạt động tài chính
a) Đặc điểm
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu về tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp Các khoản thu nhập được tính vào thu nhập này bao gồm:
- Tiền lãi là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp, như lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng…
- Tiền bản quyền là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tài sản, như bằng sáng chế, nhản hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm máy vi tính…
- Cổ tức và lợi nhuận được chia là số tiền lợi nhuận được phân phối từ việc nắm giữ cổ phiếu hoặc gốp vốn
- Doanh thu hoạt động tài chính khác gồm có thu nhập về hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán, về chuyển nhượng hoặc cho thuê cơ sở hạ tầng, lãi do bán ngoại tệ, do chênh lệch tỷ giá…
Như vậy, doanh thu hoạt động tài chính rất đa dạng về chuẩn loại và phương pháp xử lý kế toán: thời điểm ghi nhận, giá trị ghi nhận…Mặt khác, đối với nhiều đơn vị, doanh thu này không gắn với mục đích kinh doanh chủ yếu của đơn vị mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp nhất định Do đó, luôn tồn tại khả năng việc ghi chép các khoản này không phù hợp với yêu cầu chuẩn mực và chế độ kế toán, hoặc chúng bị phân loại sai
Trang 21b) Kiểm toán doanh thu hoạt động tài chính
Để kiểm toán doanh thu hoạt động tài chính, kiểm toán viên thường sử dụng các thủ tục kiểm toán sau:
- Xác định các loại hoạt động tài chính của đơn vị trong kỳ có khả năng mang lại doanh thu Thông tin này được thu thập trong quá trình tìm hiểu khách hàng
- Theo quy định của VAS 14, các khoản tiền lãi và tiền bản quyền được ghi vào từng thời kỳ phát sinh; trong khi cổ tức và lợi nhuận được chia chỉ được ghi nhận khi đơn vị được quyền nhận chúng Do đó, đối với mỗi hoạt động tài chính, trước hết kiểm toán viên kiểm tra về thời điểm ghi nhận doanh thu xem có phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không Thủ tục này nhằm đáp ứng mục tiêu phát sinh và đầy đủ của doanh thu
- Đối với mỗi nghiệp vụ phát sinh mà doanh thu được xác định, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra số tiền đã được hoạch toán Thủ tục này thỏa mãn mục tiêu đánh giá doanh thu Cần chú ý một số trường hợp sau:
+ Nếu doanh thu tiền lãi được tính trên cơ sở phân bổ doanh thu chưa thực hiện, thí dụ đối với các hợp đồng bán hàng trả chậm Kiểm toán viên phải xem xét phương pháp tính toán của đơn vị có nhất quán và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hay không
+ Đối với hoạt động mua bán chứng khoán hay ngoại tệ, đơn vị chỉ được hoạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính về phần chênh lệch giữa giá bán với giá gốc của các loại chứng khoán hay ngoại tệ Trong khi đó, với hoạt động kinh doanh bất động sản, doanh thu lại là toàn bộ số tiền thu được khi bán chúng + Tiền lãi được hưởng từ cổ phiếu, trái phiếu chỉ được ghi nhận vào doanh thu về phần phát sinh trong thời kỳ doanh nghiệp đã mua chứng khoán Riêng phần lãi dồn tích của các kỳ trước lại phải ghi giảm giá chứng khoán chứ không phản ánh vào doanh thu
+ Còn đối với các khoản lợi nhuận được chia từ hoạt động liên doanh thì đơn vị được hoạch toán vào doanh thu Thuế nhưng, đơn vị không được tính vào doanh thu hoạt động tài chính về các khoản thu hồi vốn góp, thanh toán vãng lai với các đối tác, chênh lệch do đánh giá tài sản góp vốn liên doanh
Trang 22- Đối với các khoản doanh thu có tính chất định kỳ (tiền cho thuê tài sản, lãi cho vay…): kiểm toán viên cần lập bảng kê doanh thu từng tháng để phát hiện những khoản chưa được ghi chép Nếu do chưa thu được tiền, kiểm toán viên đề nghị đơn vị ghi có tài khoản doanh thu hoạt động tài chính và ghi nợ tài khoản phải thu của khách hàng hay phải thu khác Thủ tục kiểm toán này nhằm xác minh về mục tiêu đầy đủ của doanh thu hoạt động tài chính
2.1.3.3 Kiểm toán thu nhập khác
a) Đặc điểm
Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập tạo ra từ các hoạt động không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu của doanh nghiệp Thu nhập khác bao gồm:
- Thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định
- Thu tiền phạt vi phạm hợp đồng
- Thu tiền bảo hiểm được bồi thường
- Thu từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ
- Thu từ các khoản phải trả không xác định được chủ nợ
- Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót không ghi
sổ kế toán và đến năm nay mới được phát hiện
b) Kiểm toán thu nhập khác
- Kiểm tra các khoản thu nhập khác đã được ghi nhận
+ Cần xem xét các khoản thu nhập đã đủ điều kiện để ghi nhận hay chưa
Vì theo VAS 1 – Chuẩn mực chung, một khoản thu nhập chỉ được ghi nhận khi thu được lợi ích kinh tế tương lai do tăng tài sản hay giảm nợ phải trả và giá trị tăng thêm đó phải xác định được một cách đáng tin cậy Thủ tục này liên quan đến mục tiêu phát sinh của thu nhập
+ Giá trị của khoản thu nhập có được xác định đúng đắn hay không Thí
dụ, trường hợp nhượng bán, thanh lý tài sản cố định thì thu nhập bao gồm toàn
bộ số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán và giá trị phế liệu thu hồi Thủ tục kiểm toán này nhằm phục vụ cho mục tiêu đánh giá thu nhập
- Tìm kiếm các khoản thu nhập khác không được ghi chép
+ Xem xét các nghiệp vụ ghi giảm chi phí trong kỳ: Nhiều đơn vị thay vì hoạch toán vào thu nhập khác lại ghi giảm chi phí trong kỳ Sai sót này tuy
Trang 23không làm ảnh hưởng đến kết quả của đơn vị, nhưng lại gây biến động đối với từng loại lãi hay lỗ
+ Xem xét các nghiệp vụ thu tiền bất thường hoặc có nội dung không rõ ràng: Các khoản thu này có thể là thu nhập khác nhưng đơn vị lại vô tình hay cố
ý ghi vào một nội dung không phải là thu nhập khác
+ Xem xét các khoản phải trả khác trong kỳ: Để chiếm đoạt tiền, nhân viên của đơn vị thay vì ghi vào thu nhập khác lại cố tình ghi vào các khoản phải trả khác
2.1.4 Quy trình kiểm toán doanh thu
2.1.4.1 Chuẩn bị kiểm toán
Đây là giai đoạn đầu trước khi kiểm toán nhằm thu thập thông tin của khách hàng, tìm hiểu về các nhu cầu của khách hàng, đánh giá về khả năng phục vụ, thời gian thực hiện, phí kiểm toán, tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, xác định mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán…để lập kế hoạch và chương trình kiểm toán
Bước 1: Tiếp cận khách hàng
Sau khi khách hàng yêu cầu được kiểm toán, công ty sẽ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để khảo sát tình hình hoạt động của công ty và khảo sát báo cáo tài chính Trong mọi trường hợp, yêu cầu khách hàng sẽ được báo cáo trực tiếp cho Giám đốc hoặc phó Giám đốc để được xem xét và phân công người đi khảo sát theo yêu cầu cụ thể khách hàng
Khi được phân công khảo sát khách hàng, người đi khảo sát cần thực hiện các nội dung sau:
- Thu thập đầy đủ các thông tin theo mẫu khảo sát chung của công ty
- Thu thập thêm các thông tin khác căn cứ vào đặc điểm và yêu cầu riêng của khách hàng
- Đánh giá chung về hồ sơ sổ sách của khách hàng (phức tạp, rõ ràng)
- Các thông tin quan trọng như: khách hàng đang bị kiện tụng, khách hàng đang bị phá sản, tranh chấp nội bộ…cần phải đặc biệt chú ý và ghi nhận vào mẫu khảo sát
Kết quả khảo sát phải được ghi chép rõ ràng, đánh giá về mức độ phức tạp của hồ sơ, thời gian nhân sự dự kiến sẽ thực hiện Trong trường hợp xét thấy
Trang 24công việc kiểm toán có thể gặp nhiều rủi ro, người đi khảo sát có thể đề xuất không ký hợp đồng với khách hàng nhưng phải nêu rõ lý do trong báo cáo khảo sát Kết quả khảo sát được trình cho Giám đốc xem xét và ký duyệt
Bước 2: Gửi thư báo giá
Căn cứ vào kết quả khảo sát, Giám đốc sẽ xem xét và quyết định giá phí Sau khi có ý kiến của Giám đốc, phó Giám đốc kinh doanh sẽ soạn thảo thư báo giá gửi cho khách hàng
Bước 3: Nhận hồi báo và lập hợp đồng kiểm toán
Hồi báo của khách hàng có thể bằng văn thư hoặc bằng điện thoại Mọi trường hợp hồi báo đều phải báo cáo trực tiếp cho Giám đốc
Khi khách hàng đồng ý kiểm toán, công ty sẽ tiến hành soạn thảo hợp đồng kiểm toán để gửi đến khách hàng ký
Bước 4: Tổ chức nhóm kiểm toán
Giám đốc sẽ phân công hợp đồng cụ thể cho từng nhóm trong công ty theo nguyên tắc quan tâm đến việc phục vụ khách hàng liên tục để có thể rút ngắn thời gian thực hiện (các kiểm toán viên chính phải có quyết định phân công công việc
cụ thể cho các thành viên trong nhóm khi thực hiện hợp đồng), sau đó báo cho Giám đốc các quyết định phân công để theo dõi, chỉ đạo khi cần thiết
Bước 5: Lập kế hoạch kiểm toán
Kiểm toán viên chính có trách nhiệm lập kế hoạch kiểm toán, đối với những khách hàng được xác định là trọng điểm, quan trọng, phải bổ sung thêm các công việc vào chương trình mẫu của công ty cho phù hợp với tình hình cụ thể của khách hàng
Để công việc kiểm toán được thực hiện tốt thì các kiểm toán viên phải hiểu biết về hoạt động, về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Xác định mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán Sau đó kiểm toán viên yêu cầu cung cấp một số thông tin chủ yếu về khách hàng như:
Yêu cầu của khách hàng về mục đích kiểm toán
- Giấy phép thành lập công ty
- Các báo cáo tài chính năm kiểm toán của đơn vị
- Các quyết toán thuế hàng năm, đặc biệt là quyết toán thuế trước năm kiểm toán
Trang 25- Tham khảo báo cáo kiểm toán các năm trước (nếu có)
Công ty có mở các loại sổ sách đầy đủ, đúng theo quy định hay không Việc lưu giữ chứng từ, cập nhật các thông tin văn bản có kịp thời, đầy đủ và có hệ thống không…
Dựa trên những thông tin được thu thập và vào kinh nghiệm, kiểm toán viên tiến hàng đánh giá sơ bộ ban đầu về rủi ro kiểm toán và xác định mức trọng yếu bao gồm:
Đánh giá rủi ro kiểm toán (AR) bao gồm:
- Rủi ro tiềm tàng (IR)
- Rủi ro kiểm soát (CR)
- Rủi ro phát hiện (DR)
Rủi ro kiểm toán được xác định theo công thức sau:
Rủi ro phát hiện phụ thuộc vào rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát theo mô hình sau:
Bảng 1: Ma trận rủi ro phát hiện
Rủi ro kiểm soát
(Nguồn: Công ty kiểm toán SGN)
Xác định mức trọng yếu bao gồm:
- Tổng thể báo cáo tài chính (PM )
+ Dựa vào một trong các khoản mục:
Bảng 2: Mức trọng yếu kế hoạch tổng thể báo cáo tài chính
(Nguồn: Công ty kiểm toán SGN)
+ Dựa vào loại hình doanh nghiệp:
AR = IR x CR x DR (1)
Trang 26Bảng 3: Mức trọng yếu kế hoạch dựa vào loại hình doanh nghiệp
Doanh nghiệp có giá trị tài sản/đầu tư lớn 1% - 3% tổng tài sản
(Nguồn: Công ty kiểm toán SGN)
+ Từng khoản mục, từng loại nghiệp vụ (TE)
TE = 50% x PM
Nếu 50% x PM >= số dư khoản mục thì TE = 10% x với số dư khoản mục Trong chính sách về mức trọng yếu của Công ty kiểm toán SGN thì mức trọng yếu được ấn định như sau:
Bảng 4: Mức trọng yếu kế hoạch từng khoản mục
Mức trọng yếu Không trọng yếu Vùng co giãn (*) Trọng yếu
So với lợi nhuận trước
(*) Kiểm toán viên có thể điều chỉnh cho phù hợp với mục đích kiểm toán
(Nguồn: Công ty Kiểm toán SGN)
Sau đó kiểm toán viên lập chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán: Chỉ dẫn mục tiêu kiểm toán từng phần hành, nội
dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cụ thể và thời gian ước tính cần thiết cho từng phần hành
2.1.4.2 Thực hiện kiểm toán
Ở giai đoạn này, kiểm toán viên thu thập những bằng chứng đầy đủ và thích hợp để chứng minh cho ý kiến nhận xét của mình, kiểm toán viên thực hiện loại thử nghiệm là:
a) Thử nghiệm kiểm soát
b) Thử nghiệm cơ bản: Thử nghiệm cơ bản bao gồm thử nghiệm chi tiết và thủ tục phân tích
- Thử nghiệm chi tiết: là việc kiểm tra trực tiếp nghiệp vụ hay các số dư + Kiểm tra nghiệp vụ: được sử dụng khi số phát sinh của tài khoản ít, các tài khoản không có số dư hay trong các trường hợp bất thường Kiểm tra nghiệp
vụ được thực hiện như sau: chọn các nghiệp vụ cần kiểm tra, sau đó kiểm tra chi
Trang 27tiết về các tài liệu, chứng từ của các nghiệp vụ đó và xem xét quá trình luân chuyển của chúng qua các tài khoản
+ Kiểm tra số dư: nhằm đánh giá mức độ trung thực của các số dư, kiểm toán viên phân tích số dư thành từng bộ phận, hay theo từng đối tượng, sau đó chọn mẫu để kiểm tra và đối chiếu với những tài liệu, sổ sách với nhau và đối chiếu với những tài liệu thu thập được từ những người thứ ba Sau đó đánh giá kết quả và xác định số dư cuối kỳ
- Thủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin tài chính, các tỷ lệ, chỉ số
để phát hiện ra các trường hợp bất thường Mục đích của thủ tục này là giúp kiểm toán viên hiểu rõ về hoạt động kinh doanh của khách hàng, xác định các trường hợp bất thường và giới hạn phạm vi kiểm tra chi tiết
Kiểm toán viên chỉ thiết kế và thực hiện thử nghiệm kiểm soát khi đánh giá kiểm soát nội bộ của đơn vị là hữu hiệu, nếu kiểm soát nội bộ yếu kém thì kiểm toán viên không cần thực hiện thử nghiệm kiểm soát mà mở rộng phạm vi áp dụng các thử nghiệm cơ bản có thể là kiểm tra ngay trên số liệu của đơn vị
Thu thập bằng chứng kiểm toán
Để có thể thu được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có hiệu lực kiểm toán viên thường áp dụng các kỹ thuật sau đây:
- Kiểm tra đối chiếu: là sự xem xét các tài liệu ghi chép và các tài sản hữu hình bằng cách rà soát, đối chiếu giữa chúng với nhau, giữa sổ sách và thực tế, giữa quy định và thực hiện
- Quan sát: là sự xem xét tận mắt các công việc các tiến trình thực hiện công việc do người khác làm
- Xác nhận: là sự thu thập các xác nhận của các bên thứ ba về các số dư hoặc các thông tin khác Các bằng chứng thu thập được bằng phương pháp xác nhận có độ tin cậy rất cao
- Phỏng vấn: là thu thập thông tin qua sự trao đổi với những người trong đơn vị như yêu cầu người quản lý đơn vị giải thích về những quy định kiểm soát nội bộ
- Tính toán: là sự kiểm tra lại việc tính toán số học của các thông tin do đơn
vị cung cấp, của các sổ sách kế toán của đơn vị…Kỹ thuật tính toán cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nếu xét riêng về mặt số học
Trang 28- Phân tích: là sự đánh giá thông tin tài chính của đơn vị thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau và giữa các thông tin tài chính với các thông tin không có tích chất tài chính
Mỗi kỹ thuật sẽ giúp cho kiểm toán viên thu thập các bằng chứng kiểm toán khác nhau với độ tin cậy khác nhau Do đó có nhiều trường hợp kiểm toán viên phải phối hợp sử dụng nhiều kỷ thuật
+ Các phần tư có giá trị lớn hoặc quan trọng
+ Tất các phần tử được lấy có giá trị từ một số nào đó trở lên
+ Các phần tử thích hợp
Lấy mẫu kiểm toán
Là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần
tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ sao cho mọi phần tử đều có cơ hội được lựa chọn Lấy mẫu có thể được tiến hành theo phương pháp thống kê hoặc phi thống kê
Lấy mẫu thống kê: Là phương pháp lấy mẫu dựa vào lý thuyết thống kê để
đánh giá kết quả mẫu Lấy mẫu thống kê đòi hỏi các phần tử được lựa chọn vào mẫu một cách ngẫu nhiên
Lấy mẫu phi thống kê: Là phương pháp lấy mẫu dựa trên sự xét đoán của
kiểm toán viên nên còn gọi là lấy mẫu xét đoán Lấy mẫu phi thống kê không đòi hỏi phải lựa chọn các phần tử vào mẫu một cách ngẫu nhiên
Trong từng trường hợp cụ thể, việc lựa chọn lấy mẫu thống kê hay phi thống kê là tuỳ thuộc vào sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên về tính hiệu quả của từng phương pháp trong việc thu bằng chứng kiểm toán
Trang 292.1.4.3 Hoàn thành kiểm toán
Sau khi hoàn thành kiểm toán từng phần hành riêng lẻ, kiểm toán viên chuẩn bị lập báo cáo kiểm toán Kiểm toán viên chính tổng hợp các kết quả của cuộc kiểm toán, đưa ra ý kiến, nhận xét về kết quả của cuộc kiểm toán
Sau đó, kiểm toán viên chính sẽ trình cho giám đốc kiểm toán để kiểm tra lại lần nữa công việc của nhóm kiểm toán, quyết định của giám đốc là quyết định cuối cùng trong báo cáo kiểm toán
Sau khi hoàn tất các công việc, kiểm toán viên chính phát hành bản dự thảo báo cáo kiểm toán gửi cho khách hàng Khi hai bên thống nhất về kết quả của cuộc kiểm toán, công ty sẽ phát hành báo cáo kiểm toán chính thức
Tùy theo kết quả của cuộc kiểm toán, kiểm toán viên có thể phát hành một trong bốn loại báo cáo kiểm toán sau:
- Báo cáo chấp nhận toàn phần
- Báo cáo chấp nhận có loại trừ
- Báo cáo không chấp nhận
- Báo cáo từ chối cho ý kiến
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành quyển luận văn này chủ yếu đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Thu thập tài liệu từ công ty kiểm toán SGN và công ty cổ phần xi măng Cần Thơ Số liệu sơ cấp thu thập từ công ty cổ phần xi măng Cần Thơ, do đặc thù của ngành kiểm toán được quy định bởi các chuẩn mực kiểm toán phải bảo mật cũng như giữ bí mật thông tin số liệu của khách hàng, do đó đề tài chưa nghiên cứu sâu hơn những vấn đề nghiệp vụ chuyên môn, mà chỉ đưa ra những thông tin
cơ bản nhất trong quá trình kiểm toán khoản mục doanh thu
- Quan sát thực tế và trực tiếp tham gia công việc tiến hành kiểm toán
- Thực hiện phỏng vấn các nhân viên công ty kiểm toán SGN và nhân viên
kế toán của khách hàng để thu thập những thông tin cần thiết
- So sánh, phân tích các tài liệu thu thập được để đưa ra nhận định, đề xuất
Trang 30CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KIỂM
TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SGN
3.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN
3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế
Để tạo hành lang pháp lý cho sự ra đời, phát triển và quản lý hoạt động kiểm toán độc lập, Chính phủ đã ban hành nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 về kiểm toán độc lập.Theo nghị định 105/2004 NĐ-CP, doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật theo các hình thức: Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Theo đó, ngày 17 tháng 05 năm 2004 Công ty hợp danh Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán SGN (tên giao dịch là Công ty Kiểm toán SGN) là công ty kiểm toán đầu tiên ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam được thành lập theo nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập và Thông tư số 64/2004/TT-BTC ngày 29/06/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn một số điều của nghị định số 105/2004/NĐ-CP
Ngày 24.10.2007 cùng với xu thế phát triển này và căn cứ vào tình hình thực tiển, căn cứ vào Thông tư số 60/2006/TT-BTC ngày 28 tháng 6 năm 2006
“Hướng dẫn tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp kiểm toán” Công ty kiểm toán SGN chuyển đổi hình thức sở hữu từ công ty hợp danh chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn
Địa chỉ: 137 đường Trần Hưng Đạo quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ Điện thoại: (0710) 765 999
Fax: (0710) 765 799
E-mail: sgn@vnn.vn
Trang 313.1.2. Sơ đồ tổ chức công ty Kiểm toán SGN
Nhân sự lúc mới thành lập 5 nhân viên, hiện nay 15 nhân viên
Tuy mới được thành lập nhưng đội ngũ nhân viên của công ty kiểm toán SGN bao gồm các kiểm toán viên, nhân viên kiểm toán có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và đã từng nắm giữ các chức vụ quan trọng trong một
số công ty kiểm toán tại Việt Nam
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty Kiểm toán SGN
Qua sơ đồ tổ chức của phòng nghiệp vụ cho thấy: Giám đốc kiểm toán là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động chung của công ty, phó giám đốc phụ trách nghiệp vụ sẽ quản lý phòng nghiệp vụ, mỗi khi thực hiện hợp đồng kiểm toán thì giám đốc hoặc phó giám đốc sẽ chỉ định nhân sự, đồng thời yêu cầu nhóm trưởng nhóm kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán và báo cáo kết quả quá trình thực hiện kiểm toán để giám đốc hoặc phó giám đốc kiểm tra lại và ký Báo cáo kiểm toán
Nhờ vào cơ cấu tổ chức đơn giản đã tạo ra môi trường làm việc thoải mái đối với các thành viên trong công ty, mọi người luôn có quan hệ tốt với nhau đặt biệt là nhờ sự bố trí công việc linh hoạt cho nên các thành viên có nhiều cơ hội gần gũi và giúp đỡ nhau để thực hiện công việc chung
3.1.3. Các dịch vụ của công ty Kiểm toán SGN
Công ty có đăng ký thực hiện các dịch vụ kiểm toán sau:
- Kiểm toán báo cáo tài chính;
Giám đốc
Kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán
Kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán
Kiểm toán viên và trợ lý
kiểm toán
Nhóm trưởng Nhóm trưởng Nhóm trưởng
Phòng kế hoạch
tổng hợp Phòng kiểm toán Phòng tư vấn
Trang 32- Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế;
- Kiểm toán hoạt động;
- Kiểm toán tuân thủ;
- Kiểm toán nội bộ;
- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành (kể cả báo cáo tài chính hành năm);
- Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án;
- Kiểm toán thông tin tài chính;
- Kiểm toán thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa thuận trước Ngoài ra Công ty còn đăng ký thực hiện các dịch vụ khác như:
- Tư vấn tài chính;
- Tư vấn thuế;
- Tư vấn nguồn nhân lực;
- Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin;
- Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính
3.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN SGN
3.2.1 Đặc điểm khách hàng
Nhìn chung khách hàng của công ty tương đối ổn định Đến nay công ty hiện có 70 khách hàng ký hợp đồng thường xuyên với công ty, ngoại trừ các khách hàng là công ty cổ phần, hoặc doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần đăng ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Chủ trương của công ty là tập trung giữ vững khách hàng truyền thống, duy trì giá phí hợp lý đồng thời đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ cung cấp
Trang 333.2.2 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của công ty đang dần đi vào ổn định, tốc
độ tăng trưởng về doanh thu trong những năm đầu khá lớn và sẽ ổn định vào các năm tiếp theo Thu nhập bình quân vào năm 2007 của công ty là 7 triệu đồng/người/tháng
Trong những năm qua, công ty đã chấp hành đúng những quy định, hoạt động kiểm toán đã có nhiều thành tựu đáng kể, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu quản lý kinh tế của nhà nước, cũng như các doanh nghiệp
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước
Hệ thống pháp luật, các chuẩn mực hướng dẫn về kế toán ngày càng được hoàn thiện
Việc xử lý vướng mắc phát sinh trong hoạt động kiểm toán rất kịp thời, nhất là sự hỗ trợ, cung cấp thông tin hướng dẫn tận tình của phòng kiểm toán, kiểm toán với tinh thần trách nhiệm cao
3.3 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI
3.3.1 Về khách hàng
Thị trường chiến lược vẫn là Đồng Bằng Sông Cửu Long; ngoài ra:
Nâng cao chất lượng, phát triển quy mô phấn đấu đến năm 2010, sẽ đủ điều kiện kiểm toán các công ty có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Duy trì khách hàng cũ trong đó chú trọng các khách hàng truyền thống ở các ngành nghề: Chế biến thuỷ sản, xây dựng, du lịch, xổ số, lương thực…Mục
tiêu của công ty đến năm 2010 là 120 khách hàng
3.3.2 Về dịch vụ
Nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán và quản lý, xúc tiến tiếp xúc với các đoàn kiểm toán quốc tế chuẩn bị các điều kiện để trở thành thành viên của các tập đoàn kiểm toán quốc tế
Phát triển dịch vụ tư vấn và đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất, thực hiện liên kết với các tổ chức đào tạo trong và ngoài nước để tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về quản lý, tài chính, kế toán, kiểm toán…Trong đó dịch vụ kiểm toán chiếm khoản 80% doanh thu Trong 2 năm tới công ty sẽ mở rộng như sau: Dịch vụ tư vấn chiếm tỷ trọng 20 – 40% doanh thu
Phát triển dịch vụ kiểm toán xây dựng cơ bản
Trang 343.3.3 Về doanh thu và kết quả kinh doanh
Mục tiêu của Công ty kiểm toán SGN là tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm 20% - 40% về doanh thu và 20% - 30% lợi nhuận Đến năm 2010, thu nhập bình quân trên 7 triệu đồng/người/tháng Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt 20%
3.3.4 Về tuyển dụng và đào tạo nhân viên
Số lượng nhân viên tăng bình quân mỗi năm 30% từ đây đến năm 2010, tạo điều kiện tiếp xúc các sinh viên với các trường thông qua việc tiếp nhận sinh viên các đợt kiến tập, thực tập, các cuộc thi học sinh giỏi chuyên ngành kế toán - kiểm toán và cấp học bổng cho sinh viên khá giỏi có hoàn cảnh khó khăn để đầu tư nguồn nhân lực cho lâu dài Mặt khác, tạo điều kiện cho nhân viên theo học các khoá học về kế toán trong và ngoài nước như: ACCA, CPA,…để bổ sung nguồn nhân lực có khả năng và trình độ tiếp cận khu vực và quốc tế
Đến năm 2010 số nhân viên là 25 người trong đó 10 nhân kiểm toán là kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề, và có 3 - 5 thạc sỹ
Trang 35CHƯƠNG 4
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU CỦA CÔNG
TY KIỂM TOÁN SGN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG CẦN THƠ 4.1 CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN
Bảng 5: Bảng phân chia nguồn vốn kinh doanh
(Nguồn: Công ty cổ phần xi măng Cần Thơ)
Vốn đầu tư của chủ sở hữu thể hiện trên bảng cân đối kế toán vào ngày 31/12/2007 là 45.600.000.000 theo đúng tỷ lệ nêu trên
Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 57030000105 do sở kế hoạch
và đầu tư TP Cần Thơ cấp ngày 23 tháng 07 năm 2005, công ty có các chức năng kinh doanh chủ yếu sau:
Sản xuất kinh doanh xi măng và các vật liệu kết dính khác
Kinh doanh vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh
Trang 36Hợp đồng sản xuất kinh doanh của công ty đến thời điểm lập báo cáo này bao gồm sản xuất kinh doanh xi măng và các vật liệu kết dính khác
- Kỳ kế toán: Kỳ kế toán năm
Kỳ kế toán năm của công ty bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán là đồng VN
Xác định mức trọng yếu kiểm toán Báo cáo tài chính dựa trên các quy định
về xác định mức trọng yếu của quốc tế, công ty SGN chưa có văn bản thống nhất chung xác nhận mức trọng yếu như thế nào Việc xác định mức trọng yếu dựa vào hai hướng chính:
- Thông qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, kiểm toán viên biết được chế độ kế toán, các chính sách hay các quy định như: Việc đăng ký chế độ kế toán, nộp thuế, khấu hao tài sản cố định…Đây là cơ sở, thông tin ban đầu để kiểm toán viên tham khảo khi tính mức trọng yếu chung
- Thông qua việc phân tích: Sau khi kiểm toán viên nhận được bản báo cáo tài chính do khách hàng gởi đến, các nhóm trưởng sẽ phân tích đối chiếu với năm trước, xem xét sự biến động của các tài khoản trên bảng cân đối kế toán và trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Đồng thời kết hợp với những thông tin đã tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ ở trên để xác định mức trọng yếu kế hoạch cho toàn bộ báo cáo tài chính
Căn cứ vào báo cáo khảo sát tìm hiểu khách hàng đã được Ban Giám Đốc
ký duyệt, kiểm toán viên chính sẽ xây dựng mức trọng yếu kế hoạch dựa vào sự đánh giá ban đầu về số liệu của khách hàng Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán sẽ căn cứ vào mức trọng yếu này để xét đoán các số liệu kiểm tra
Trang 37Thông thường có hai chỉ tiêu để xác định mức trọng yếu là phần trăm trên doanh thu hay phần trăm trên tổng tài sản, việc lựa chọn chỉ tiêu này tuỳ thuộc vào nhận định của nhóm trưởng Với mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì tỷ trọng giữa các khoản mục doanh thu và tổng tài sản cũng khác nhau Tại công ty
cổ phần xi măng Cần Thơ, chúng ta sẽ chọn phần trăm trên tổng tài sản vì chỉ tiêu này thường ổn định qua các năm và biến động không lớn
Bảng 6: Mức trọng yếu kế hoạch cho BCĐKT 31/12/2007
(Nguồn: Tổng hợp từ công ty cổ phần xi măng Cần Thơ)
PM: Mức trọng yếu kế hoạch: Đây là mức độ trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính
TE: Sai sót có thể bỏ qua: Đây là mức trọng yếu cho từng khoản mục, chẳng hạn như doanh thu, chi phí…
Threshold: Đây là mức trọng yếu có thể bỏ qua cho từng khoản mục, ví dụ như TK 131, 511…
4.1.1.3 Tóm tắt các chính sách liên quan đến doanh thu
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu: Doanh thu thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là doanh thu được ghi nhận căn cứ trên hoá đơn giá trị gia tăng đã lập khi hàng hoá, dịch vụ được cung cấp
Các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp: Theo giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư số 45/CN – CT.UB được UBND TP Cần Thơ cấp ngày 05/08/2005 do chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Công ty được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 15%, được áp dụng trong 12 năm
kể từ khi công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh
Trang 38- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho 8 năm tiếp theo kể từ khi công ty có thu nhập chịu thuế
Năm 2007 là năm thứ 3 công ty được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
4.1.2 Thảo luận sơ bộ với khách hàng
Công ty Kiểm toán SGN đã ký hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính của công ty cổ phần xi măng Cần Thơ cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31/12/2007
4.1.3 Quyết định kiểm toán
Quyết định kiểm toán được phó giám đốc kinh doanh lập và trình cho giám đốc ký Là cơ sở để nhóm kiểm toán trình cho khách hàng khi đến kiểm toán Quyết định ghi rõ nhóm kiểm toán viên, thời gian bắt đầu thực hiện kiểm toán
4.2 THỰC HIỆN KIỂM TOÁN
4.2.1 Bảng ghi nhớ chiến lược
4.2.1.1 Phạm vi và chuẩn mực kiểm toán
Công ty kiểm toán SGN đã ký hợp đồng kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty cổ phần xi măng Cần Thơ cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31/12/2007 theo chế độ kế toán Việt Nam Phương pháp kiểm toán cũng như chuẩn mực kiểm toán được áp dụng theo quy chế kiểm toán độc lập do Bộ tài chính ban hành và các thông lệ về kiểm toán được áp dụng phổ biến ở Việt Nam
4.2.1.2 Các vấn đề kiểm toán và kế toán quan trọng
Số dư đầu năm Đây là năm thứ 2 SGN kiểm toán nên số dư đầu năm sẽ lấy theo năm kiểm toán 2006
Trang 39Doanh thu năm 2007 tăng 11.824.217.652 đồng, tương ứng tăng 5.43% so với năm 2006, doanh thu hoạt động tài chính giảm 12.542.499 đồng, tương ứng giảm 16.46% và thu nhập khác tăng 395.593.154 đồng, tương ứng tăng 557.29% Kiểm toán viên kiểm tra việc ghi nhận doanh thu, doanh thu hoạt động tài chính
và thu nhập khác là trung thực và hợp lý
4.2.1.3 Cơ cấu kiểm soát nội bộ
Đây cũng là năm thứ 2 SGN kiểm toán tại công ty về khoản mục doanh thu nên kiểm toán viên thực hiện việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ như sau: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các cá nhân giữ một số chức vụ quan trọng tại công ty như Giám đốc, kế toán trưởng và các nhân viên ở phòng kế toán, kho hàng, bộ phận giao hàng, nhận hoá đơn của khách hàng, thủ quỹ Kết quả phỏng vấn được thể hiện thông qua bảng câu hỏi được trình bày như sau:
Bảng 7: Bảng câu hỏi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
Trả lời
1 Tất cả các hoá đơn bán hàng có được phê chuẩn bởi trưởng bộ
2 Hàng bán có được kiểm tra về số lượng và chất lượng hay không?
3 Hoá đơn bán hàng có kiểm tra tính chính xác và đối chiếu với
4 Người phụ trách kế toán có độc lập với chức năng thu tiền
5 Có quy định về số tiền tối đa mà một người có trách nhiệm
6 Kế toán có theo dõi thời hạn thanh toán của khách hàng để
7 Các chứng từ có được đánh dấu khi xét duyệt nhằm tránh sử
8 Phương thức tín dụng của khách hàng có được phê chuẩn bởi
Trang 4010 Hàng gửi đi có được theo dõi ghi sổ hay không?
11 Hoá đơn bán hàng, chứng từ vận chuyển có được đánh số
12 Có sự so sánh độc lập giữa lượng hàng gửi ghi trên chứng từ
13 Có sự so sánh độc lập giữa ngày ghi trên các chứng từ vận
14 Hoá đơn chưa thanh toán có được lưu trữ tách riêng với hoá
15 Tất cả các số thứ tự của phiếu tiêu thụ có đều được nhân viên
16 Bản sao hoá đơn bán hàng có được so sánh với hoá đơn vận
chuyển, giá và các phép nhân được kiểm tra hàng ngày hay không?
17 Cuối ngày bộ phận kế toán và thủ quỹ có đối chiếu số tiền thu
18 Có sự phân chia nhiệm vụ giữa kế toán, thủ quỹ, thủ kho và
19 Có đối chiếu số liệu doanh thu của phòng Kế toán với số liệu
(Nguồn: Công ty kiểm toán SGN)
Dựa trên sự kiểm tra các loại tài liệu, sổ sách chứng từ Đối với chứng từ sổ sách kế toán chúng tôi dựa trên hình thức của đơn vị đó là hình thức Nhật ký chung với các sổ sách liên quan tới doanh thu đối chiếu với các chứng từ phát sinh trong đơn vị
Chứng từ gồm đơn đặt hàng, giấy xác nhận đơn đặt hàng, hoá đơn đã lưu, phiếu xuất kho, bảng báo giá
Sổ sách gồm: Sổ Cái, sổ nhât ký chung, sổ chi tiết bán hàng, sổ quản lý hàng tồn kho, bảng điều giải của ngân hàng
Dựa trên sự quan sát các hoạt động kiểm soát và vận hành của các chứng từ trong chu trình doanh thu được thể hiện thông qua lưu đồ sau: