Moät ngöôøi coù tinh thaàn quoác teá bình daân tinh teá hôn nhö Robert Reich (1991) nhaän ra raèng lôïi ích cuûa caùc coâng ty Myõ vaø lôïi ích cuûa caùc coâng nhaân Myõ chaúng phaûi l[r]
Trang 1Các sinh viên chưa tốt nghiệp cần biết những gì về ngoại thương?
Paul R Krugman 1
Chẳng có mấy sinh viên chưa tốt nghiệp vốn đã học một giáo trình nhập môn kinh tế học lại tiếp tục nghiên cứu tốt nghiệp trong lĩnh vực này, và thật ra đa số họ thậm chí cũng không học tiếp các giáo trình nâng cao hơn về kinh tế học Thế nên những gì họ biết được về kinh tế học sẽ là những điều mà họ đã nhận thức được trong giáo trình đầu tiên ấy Vậy thì điều quan trọng hơn bao giờ hết là việc đào tạo cơ bản phải bao gồm việc đặt nền tảng vững chắc trên các nguyên tắc của mậu dịch quốc tế Tôi có thể biện minh cho nhận định này bằng cách chỉ ra rằng mậu dịch quốc tế đối với nền kinh tế Hoa Kỳ hiện nay quan trọng hơn nhiều so với trước kia Nhưng có một lý do
khác mà tôi nghĩ thậm chí còn quan trọng hơn nữa: công chúng ngày càng nhận thức
được rằng mậu dịch quốc tế là một vấn đề sống còn Chúng ta sống trong một thời đại
mà người Mỹ bị ám ảnh bởi sự cạnh tranh quốc tế, trong đó Đối đầu của Lester Thurow là một tác phẩm người thật việc thật bán chạy nhất và Mặt trời mọc của Michael
Crichton đứng đầu danh sách các tác phẩm hư cấu Các phương tiện truyền thông đại chúng và tư liệu kinh doanh tràn ngập những cuộc tranh luận về vai trò của Mỹ trong nền kinh tế thế giới
Vấn đề là phần lớn những gì một sinh viên có thể đọc được hay nghe thấy về kinh tế học quốc tế thật là vô nghĩa Điều tôi muốn lập luận trong bài viết này là: cái quan trọng nhất cần dạy cho các sinh viên chưa tốt nghiệp về ngoại thương là làm thế nào phát hiện ra sự vô nghĩa ấy Nghĩa là, nhiệm vụ cơ bản của chúng ta là tiêm chủng phòng ngừa cho tư duy của các sinh viên hầu chống lại những nhận thức sai lầm vẫn chiếm ưu thế trong những thứ được cho là những cuộc thảo luận có trình độ về mậu dịch quốc tế
I Những lời lẽ hoa mỹ của tinh thần quốc tế bình dân
Là điểm khởi đầu, tôi muốn trích dẫn một phát biểu điển hình về kinh tế học quốc tế (Vui lòng bỏ qua những con số trong giây lát.) Phát biểu ấy là: “Chúng ta cần một mẫu hình kinh tế mới, bởi vì ngày nay nước Mỹ là một phần của nền kinh tế toàn cầu thật sự (1) Để duy trì mức sống, nước Mỹ hiện phải học hỏi cạnh tranh trên một thương trường quốc tế khốc liệt hơn bao giờ hết (2) Đó là lý do tại sao năng suất cao và chất lượng sản phẩm trở nên có ý nghĩa thiết yếu (3) Chúng ta cần chuyển nền kinh tế Mỹ vào những lĩnh vực có giá trị cao (4) mà sẽ tạo ra công việc làm (5) cho tương lai Và con đường duy nhất để ta có thể trở nên cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu mới là liệu chúng ta
1 Khoa Kinh tế, Viện Công nghệ Massachusetts, Cambridge, MA 02139
Trang 2có hun đúc được một tinh thần hợp tác mới giữa chính phủ và giới kinh doanh hay chăng (6).”
Được rồi, tôi thú nhận đây chẳng phải là một lời trích dẫn thực sự Tôi đã sắp xếp chúng lại thành một bản tóm tắt những nhận thức sai lầm phổ biến về mậu dịch quốc tế Nhưng chắc chắn nó nghe như thể những gì người ta vẫn đọc được hay nghe được vào mọi lúc – về nội dung và văn vẻ, nó rất gần với bản tuyên ngôn hiện vẫn còn có ảnh hưởng của Ira Magaziner và Robert Reich (1982), hay về mặt chủ đề, nó rất gần với bài thuyết trình của John Sculley thuộc hãng máy tính Apple tại Hội nghị Kinh tế của tổng thốâng mới được bầu, ông Clinton, hồi tháng mười hai vừa rồi (1993) Những người nói những điều đại loại như thế tin rằng mình rất khôn ngoan, tinh tế, và nhìn xa trông rộng Họ không biết rằng họ đang lặp lại một loạt những lời lẽ hoa mỹ gây hiểu lầm mà tôi gán cho cái tên là “tinh thần quốc tế bình dân.”
Thật dễ hiểu tại sao tinh thần quốc tế bình dân ấy lại có sức hấp dẫn phổ thông đến thế Thật ra, nó mô tả nước Mỹ như một công ty từng có nhiều thế lực độc quyền, và do đó có thể thu được lợi nhuận thoải mái bất chấp cách thức kinh doanh luộm thuộm, nhưng hiện đang đứng trước sự công kích dữ dội từ các đối thủ cạnh tranh khác Nhiều công ty ngày nay hiện đang ở trong tình thế đó (cho dù các đối thủ cạnh tranh mới không nhất thiết là nước ngoài), và vì thế hình ảnh ấy nghe có vẻ thật
Đáng tiếc thay, đó là một hình ảnh hết sức gây hiểu lầm, bởi vì nền kinh tế quốc gia chẳng giống gì với một công ty cả Và cái nhìn ở trình độ bình dân của các doanh nhân thì thật chẳng có kiến thức gì về những vấn đề cân bằng tổng quát cố hữu trong kinh tế học quốc tế
Vậy thì các sinh viên chưa tốt nghiệp cần biết gì về ngoại thương? Họ cần biết
rằng cái tinh thần quốc tế bình dân ấy thật là vô nghĩa – và họ cần biết tại sao nó vô
nghĩa
II Những nhận thức sai lầm phổ biến
Tôi ghi thêm những con số vào đoạn trích dẫn tưởng tượng của mình để đánh dấu 6 nhận thức sai lầm phổ biến mà ta có thể xoá bỏ và nên xoá bỏ khỏi các giáo trình kinh tế học nhập môn
1.- “Chúng ta cần một mẫu hình mới…” Tinh thần quốc tế bình dân tuyên bố rằng mọi thứ bây giờ đã khác đi vì rằng Hoa Kỳ là một nền kinh tế mở Có lẽ ý nghĩa quan trọng nhất mà một giáo trình nhập môn có thể truyền đạt về kinh tế học quốc tế là
nó không làm thay đổi những điều cơ bản: ngoại thương chỉ là một hoạt động kinh tế,
phụ thuộc vào cùng những nguyên tắc như bất kỳ một hoạt động kinh tế nào khác
Trong quyển sách giáo khoa của James Ingram (1983) về thương mại quốc tế có một câu chuyện ngụ ngôn dễ thương Ông tưởng tượng rằng một nhà kinh doanh khỏi sự
Trang 3một doanh nghiệp mới sử dụng một công nghệ bí mật để chuyển hoá lúa mì, gỗ, v.v… của Hoa Kỳ thành những mặt hàng công nghiệp tiêu dùng chất lượng cao giá rẻ Nhà kinh doanh được tán dương như một vị anh hùng công nghiệp; cho dù một số đối thủ cạnh tranh trong nước của anh ta bị thiệt hại, mọi người đều chấp nhận rằng tình trạng mất phần thỉnh thoảng xảy ra như thế là cái giá phải trả cho một nền kinh tế thị trường tự do Nhưng rồi khi một phóng viên điều tra khám phá ra rằng điều anh ta thực sự đang làm chẳng qua chỉ là đưa lúa mì và gỗ tới châu Á và dùng tiền bán được mua hàng công nghiệp chế tạo – và thế là anh ta bị lên án là kẻ lọc lừa, người phá hoại công việc làm của Mỹ Dĩ nhiên, vấn đề ở đây là: mậu dịch quốc tế là một hoạt động kinh tế như bất kỳ một hoạt động nào khác, và quả thật nó có thể được xem như một quá trình sản xuất, chuyển hàng xuất khẩu thành hàng nhập khẩu
Không chừng cũng là một điều hay nếu các sinh viên chưa tốt nghiệp có được một nhận thức định lượng thực tế hơn so với nhận thức của những người có tinh thần quốc tế bình dân về việc Hoa Kỳ thực sự trở thành một phần của nền kinh tế toàn cầu tới một chừng mực giới hạn như thế nào Thật ra, hàng nhập khẩu và xuất khẩu vẫn chỉ chiếm khoảng 1/8 sản lượng, và ít nhất 2/3 giá trị gia tăng của Hoa Kỳ là bao gồm những hàng hoá và dịch vụ không thể ngoại thương Ngoài ra, ta nên có một cái nhìn lịch sử nhất định để qua đó có thể chống đối quan niệm ngốc nghếch cho rằng tình thế hiện nay của Hoa Kỳ là hoàn toàn chưa từng có: Hoa Kỳ bây giờ hiện không mở cửa và có lẽ cũng chẳng bao giờ mở cửa ngoại thương được như Vương quốc Anh dưới triều Nữ hoàng Victoria
2.- “Cạnh tranh trên thị trường thế giới”: Một trong những nhận định sai lầm dai dẳng và phổ biến nhất về những con người thực tiển là: các quốc gia đang cạnh tranh với nhau theo cùng một cách thức như các công ty trong cùng ngành đang cạnh tranh với nhau Ricardo đã biết điều này giỏi hơn từ năm 1817 Một giáo trình nhập môn kinh tế học nên nhấn mạnh cho sinh viên hiểu rằng mậu dịch quốc tế không phải bàn về sự cạnh tranh, mà là về sự trao đổi có lợi cho cả đôi bên Thậm chí còn cơ bản hơn, chúng
ta nên dạy cho các sinh viên hiểu rằng chính nhập khẩu là mục đích của ngoại thương, chứ không phải xuất khẩu Nghĩa là, cái mà một quốc gia được lợi nhờ ngoại thương là quốc gia ấy có khả năng nhập khẩu được những gì mình muốn nhập Bản thân xuất khẩu không phải là một mục tiêu: nhu cầu xuất khẩu là một gánh nặng mà một đất nước phải mang vì các nhà cung ứng hàng nhập khẩu thì cũng đủ thô lỗ để yêu cầu thanh toán
Một trong những điều gây lo lắng về sự chuyên chế của tinh thần quốc tế bình dân là: có một loại Qui luật Gresham mà trong đó những khái niệm tệ hại lấn lướt những khái niệm hay ho Lester Thurow là một nhà kinh tế có trình độ, người am hiểu về lợi thế so sánh Nhưng quyển sách mới đây của ông trở thành một tác phẩâm bán chạy nhất chủ yếu là vì nó đề xuất một cách hùng hồn những khái niệm mà vô tình (người ta hy vọng là vô tình) đã nối giáo cho những lời lẽ khuôn sáo của tinh thần quốc
Trang 4tế bình dân: “Cạnh tranh trong những lĩnh vực chuyên môn sâu là một tình huống tất thắng cho mọi người Mỗi người đều có một lĩnh vực nào đó để có thể vượt trội hơn người khác; không ai bị hất ra khỏi việc kinh doanh Sự cạnh tranh đối đầu là một tình huống mà có kẻ được người mất.” (Thurow, 1992, trang 30) Chúng ta nên cố gắng truyền cho các sinh viên một phản ứng tiêu cực bản năng trước những phát biểu như thế này
3.- “Năng suất”: Các sinh viên nên biết rằng năng suất cao thì có lợi, chẳng phải
vì nó giúp một quốc gia cạnh tranh với những quốc gia khác, mà vì nó giúp đất nước sản xuất được nhiều hơn và nhờ đó cũng tiêu dùng được nhiều hơn Điều này sẽ đúng trong một nền kinh tế đóng; nó cũng đúng hệt như thế đối với một nền kinh tế mở, nhưng nó không phải là những điều mà những người có tinh thần quốc tế bình dân tin tưởng
Tôi thấy thật bổ ích nếu ta để cho các sinh viên thực hiện một thử nghiệm tư duy sau đây Thứ nhất, hãy tưởng tượng một thế giới trong đó năng suất tăng thêm 1 phần trăm hàng năm tại tất cả các nước Mức sống ở Mỹ sẽ có xu hướng như thế nào? Các sinh viên chẳng phiền hà gì sẽ đồng ý ngay rằng mức sống sẽ tăng thêm 1 phần trăm một năm Tuy nhiên, giả sử hiện giờ trong lúc Hoa Kỳ tiếp tục tăng năng suất thêm chỉ
1 phần trăm một năm thôi, nhưng phần còn lại của thế giới giỏi xoay xở đạt được sự tăng trưởng năng suất 3 phần trăm một năm Thế thì mức sống của nước Mỹ sẽ có xu hướng như thế nào?
Câu trả lời đúng là vẫn có xu hướng tăng 1 phần trăm, ngoại trừ việc có thể có những ảnh hưởng tinh tế thông qua tỷ giá ngoại thương; và là một vấn đề thực nghiệm, những thay đổi trong tỷ giá ngoại thương của Mỹ gần như không có tác động gì đến mức sống của người Mỹ trong mấy thập niên qua Nhưng chẳng có mấy sinh viên có được kết luận này – điều này cũng chẳng ngạc nhiên, bởi vì gần như mọi thứ họ đọc được hay nghe thấy ở bên ngoài lớp học đều truyền đạt hình ảnh về mậu dịch quốc tế như một môn thể thao đầy cạnh tranh
Có một giai thoại thế này: Khi tôi cho đăng một bài báo có kết thúc mở trên tờ
New York Times năm ngoái, tôi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của năng suất gia tăng
Người trợ lý chủ bút khăng khăng bảo tôi nên “giải thích” rằng chúng ta cần phải có năng suất để “cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu.” Anh ta không sẵn lòng đăng bài báo trừ khi tôi thêm vào cụm từ ấy Anh ta bảo cần phải làm thế để độc giả có thể hiểu lý do tại sao năng suất có ý nghĩa quan trọng Chúng ta cần cố gắng tạo ra một thế hệ sinh viên là những người chẳng những không cần cái kiểu giải thích ấy, mà còn hiểu được tại sao giải thích như thế là sai
4.- “Những lĩnh vực giá trị cao”: Những người có tinh thần quốc tế bình dân tin rằng sự cạnh tranh quốc tế là một cuộc chiến xem ai là người dành lấy những lĩnh vực
“có giá trị cao.” “Thu nhập thực của đất nước chúng ta chỉ có thể gia tăng khi (1) lao động và vốn của ta ngày càng chảy vào những ngành nghề kinh doanh mà làm tăng giá
Trang 5trị trên một lao động nhiều hơn và (2) chúng ta duy trì một vị thế trong những ngành nghề này, vốn dĩ ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh quốc tế của ta” (Magaziner và Reich, 1982, trang 4)
Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể dạy cho sinh viên lý do tại sao đây là một khái niệm ngốc nghếch Lấy ví dụ như một mô hình đơn giản gồm hai mặt hàng của Ricardo chẳng hạn, trong đó một nước có năng suất cao hơn nước kia trong cả hai ngành sản xuất (Tôi đang nghĩ về mô hình được sử dụng trong sách giáo khoa của Krugman và Maurice Obstfeld [1991, trang 20-1]) Dĩ nhiên, đất nước có năng suất cao hơn sẽ có mức lương cao hơn và do đó, bất kể lĩnh vực nào mà đất nước đó chuyên môn hoá sản xuất cũng sẽ là lĩnh vực “có giá trị cao”, nghĩa là, sẽ có giá trị gia tăng trên một lao động cao hơn Liệu điều này có nghĩa là mức sống cao của đất nước là kết quả của việc chọn đúng lĩnh vực, hay nước nghèo hơn sẽ trở nên giàu hơn nếu nước ấy cố gắng đua tranh theo chiều hướng chuyên môn hoá trong lĩnh vực kia? Dĩ nhiên câu trả lời là không
5.- “Việc làm”: Một điều mà cả các bạn hữu lẫn những người chống đối mậu dịch tự do xem ra đều đồng ý là: vấn đề trung tâm vẫn là việc làm George Bush công bố mục tiêu của chuyến đi tệ hại của ông tới nước Nhật là “ việc làm, việc làm, và việc làm”; cả hai phía trong cuộc tranh luận về Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ đều cố gắng đưa ra lập luận theo chiều hướng tạo ra công việc làm Và đáng kinh ngạc là đa số những người ủng hộ mậu dịch tự do lại nghĩ rằng lý do khiến chủ nghĩa bảo hộ xấu xa là bởi nó gây ra tình trạng suy thoái
Cũng có thể nên nhấn mạnh cho các sinh viên hiểu rằng việc làm là một vấn đề kinh tế vĩ mô; trong ngắn hạn, nó phụ thuộc vào tổng cầu, và trong dài hạn, nó phụ thuộc vào tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, mà những chính sách kinh tế vi mô như thuế xuất nhập khẩu có tác dụng ròng không đáng kể Người ta nên tranh luận về chính sách ngoại thương theo tác động của nó đối với tính hiệu quả, chứ không nên tranh luận theo những con số dỏm về tạo ra việc làm hay mất việc
6.- “Một tinh thần hợp tác mới”: Vấn đề mấu chốt đối với nhiều người có tinh thần quốc tế bình dân là vì các công ty Mỹ đang cạnh tranh với các công ty nước ngoài thay vì cạnh tranh với nhau, chính phủ Mỹ nên chuyển từ vị thế bị cho là đối thủ sang vị thế hỗ trợ họ chống lại các đối thủ cạnh tranh nước ngoài Một người có tinh thần quốc
tế bình dân tinh tế hơn như Robert Reich (1991) nhận ra rằng lợi ích của các công ty Mỹ và lợi ích của các công nhân Mỹ chẳng phải là như nhau (bạn có thể thấy khó mà tin
được rằng còn có ai đó cần nêu điều này ra, nhưng trong những người có tinh thần quốc tế bình dân thì điều này được coi là một ý tưởng sâu sắc và còn có thể bàn cãi), nhưng ông ta vẫn chấp nhận tiền đề cơ bản là chính phủ Mỹ nên giúp đỡ các ngành công nghiệp của chúng ta cạnh tranh
Điều mà chúng ta nên dạy cho các sinh viên là cuộc cạnh tranh chủ yếu đang
Trang 6diễn ra là cuộc cạnh tranh giữa các ngành công nghiệp của Mỹ với nhau xem ngành nào
sẽ dành được những nguồn lực khan hiếm về vốn, kỹ năng, và vâng, cả lao động nữa Sự hỗ trợ của chính phủ dành cho một ngành có thể giúp ngành đó cạnh tranh với nước ngoài, nhưng nó cũng thu hút nguồn lực ra khỏi những ngành công nghiệp khác trong nước Điều này có nghĩa là tầm quan trọng của mậu dịch quốc tế ngày gia tăng vẫn không làm thay đổi ý tưởng là chính phủ không thể ưu tiên cho một ngành công nghiệp nội địa nào đó mà không gây tổn thất cho những ngành khác
Bây giờ có những lý do, chẳng hạn như hiệu quả kinh tế theo quy mô bên ngoài, để người ta biện minh cho việc ưu tiên cho một số ngành công nghiệp nào đó Nhưng điều này cũng đúng cho một nền kinh tế đóng Các sinh viên cần hiểu rằng sự tăng trưởng của thương mại trên thế giới không ủng hộ thêm cho quan điểm cho rằng chính phủ nên trở thành một bạn hữu năng động của công nghiệp nội địa
III Chúng ta nên dạy cái gì
Cho tới giờ thì cũng nên nêu rõ sự công kích trong bài thảo luận của tôi Đối với
đa số các sinh viên kinh tế học, mục tiêu của chúng ta nên là trang bị cho họ sự đáp ứng thông minh trước những thảo luận phổ biến về các vấn đề kinh tế Phần lớn các cuộc thảo luận này sẽ là về mậu dịch quốc tế, vì thế mậu dịch quốc tế nên là một phần quan trọng trong chương trình học
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng các cuộc thảo luận của công chúng thì cực kỳ thô sơ Thật vậy, trình độ đó thấp đến nỗi những người lặp đi lặp lại những lời lẽ khuôn sáo ngốc nghếch cứ tưởng rằng mình là những con người tinh tế Điều đó có nghĩa là các giáo trình của chúng ta cần hướng cho sinh viên hiểu càng rõ về những điểm cơ bản càng tốt Các đường cung ngoại thương (Offer curve) và hiệu ứng Rybczinski là những điều hay ho Tuy nhiên, điều mà hầu hết các sinh viên cần được được chuẩn bị cho một thế giới mà ở đó các “chuyên gia” vô tuyến truyền hình, các tác giả có sách bán chạy nhất và các nhà tư vấn lương 30.000 $ một ngày thì không am hiểu
gì cả về các ràng buộc ngân sách, và bỏ mặc các lợi thế so sánh
15 năm qua là một kỷ nguyên vàng cho những đổi mới trong kinh tế học quốc tế Tuy nhiên, tôi phải kết luận một cách ít nhiều đáng buồn rằng những chất liệu mới này không phải là dành cho các sinh viên chưa tốt nghiệp ngày nay Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, những điều mấu chốt để dạy cho các sinh viên vẫn là những ý tưởng của Hume và Ricardo Nghĩa là, ta cần dạy họ rằng thâm hụt mậu dịch sẽ tự điều chỉnh và rằng lợi ích của ngoại thương không phụ thuộc vào việc một nước có lợi thế tuyệt đối
so với đối thủ của mình Nếu chúng ta có thể dạy cho các sinh viên chưa tốt nghiệp biết cau mày khi nghe ai đó nói về “sức cạnh tranh,” ấy là chúng ta đã phục vụ đắc lực cho đất nước