1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản vội vàng (ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực

81 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được điều này đòi hỏi các nhà giáo dục phải tích cực tìm tòi những hình thức, phương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, hình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

KIỀU THỊ HUẾ

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN

BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11) THEO

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

KIỀU THỊ HUẾ

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN

BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11) THEO

HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

ThS - GVC NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo

ThS - GVC Nguyễn Thị Mai Hương, người hướng dẫn em hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin gửi đến các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trong tổ Phương pháp

dạy học Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lời để tôi hoàn thành khóa luận

Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Kiều Thị Huế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng cá nhân tôi

dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS - GVC Nguyễn Thị Mai Hương Khóa luận với đề tài “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ

văn 11) theo hướng phát triển năng lực” chưa được công bố trong công trình

nghiên cứu nào Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Tác giả khóa luận

Kiều Thị Huế

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1 HĐTN Hoạt động trải nghiệm

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Dự kiến đóng góp 4

9 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Hoạt động trải nghiệm 6

1.1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm 6

1.1.1.2 Quy trình thiết kế và tổ chức triển khai HĐTN 7

1.1.1.3 Những hình thức HĐTN trong nhà trường phổ thông 8

1.1.2 Năng lực 10

1.1.2.1 Khái niệm năng lực 10

1.1.2.2 Phân loại 10

1.1.2.3 Cấu trúc 11

1.1.3 Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh 12

1.1.3.1 Nguyên tắc dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh 12

1.1.3.2 Biện pháp dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực học sinh 13

1.1.3.3 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng 13

1.1.4 Văn bản trữ tình và đặc điểm văn bản trữ tình 15

1.1.4.1 Khái niệm văn bản trữ tình (thơ) 15

1.1.4.2 Đặc điểm văn bản trữ tình Xuân Diệu 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

Trang 7

1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản Vội vàng của Xuân Diệu trong nhà trường

THPT hiện nay 19

1.2.2 HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu theo định hướng phát triển năng lực 20

1.2.2.1 Thuận lợi 20

1.2.2.2 Khó khăn 20

Tiểu kết chương 1 22

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 23

2.1 Vị trí văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11 23

2.2 Bố cục và nội dung dạy học văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11 23

2.3 Các hình thức hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực 24

2.3.1 Hoạt động trải nghiệm trong giờ học 24

2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc diễn cảm phát triển NL ngôn ngữ 24

2.3.1.2 Hoạt động 2: HS đóng vai chuyên gia phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo 25

2.3.1.3 Hoạt động 3: HS hoạt động nhóm phát triển NL hợp tác 27

2.3.1.4 Hoạt động 4: Tổ chức hoạt động đàm thoại phát triển NL giao tiếp 37

2.3.2 Hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học 39

2.3.2.1 Hoạt động 1: Trình bày nhận thức bản thân cảm nhận được sau khi học văn bản Vội vàng của Xuân Diệu (NL nhận thức về giá trị của thời gian, tuổi trẻ) 39

2.3.2.2 Hoạt động 2: cuộc thi sưu tầm thơ Xuân Diệu phát triển NL tự học 42

2.4 Ý nghĩa của HĐTN qua đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu theo hướng phát triển năng lực 42

Tiểu kết chương 2 43

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM 44

Tiểu kết chương 3 52

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ GD-ĐT “Về

đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã quán triệt tinh thần đổi mới “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương

pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Từ đó hình thành và phát triển phẩm chất, NL cho người học Để làm được điều này đòi hỏi các nhà giáo dục phải tích cực tìm tòi những hình thức, phương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, hình thành và phát triển ở người học những NL cần thiết trong cuộc sống

1.2 Trải nghiệm là một hình thức học tập hiệu quả trong việc phát triển năng lực học sinh

Học tập thông qua trải nghiệm là một phương pháp học hiệu quả, tích cực, thích hợp cho mọi môn học đặc biệt là môn Ngữ văn nhằm mục đích phát triển những NL đặc thù môn học cho HS HĐTN là hoạt động giáo dục trong đó, dưới sự hướng dẫn của GV, HS được trải nghiệm trực tiếp trong những tình huống thực tế, vừa hoạt động cá nhân, vừa phải hoạt động theo nhóm, qua đó phát triển NL chung cũng như NL chuyên biệt cho HS Như vậy, HĐTN trong dạy học lấy HS làm trung tâm Phương pháp này lôi cuốn HS vào các hoạt động đòi hỏi tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và ra quyết định trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể Thông qua HĐTN nguồn kiến thức HS thu được không chỉ là kiến thức lý thuyết trên sách vở

Trang 9

hay từ thầy cô giáo mà còn từ thực tiễn khiến việc học trở nên gần gũi với cuộc sống Ngoài ra, HĐTN còn tạo nên hứng thú học tập cho HS góp phần mang lại hiệu quả học tập cao

1.3 Khó khăn trong việc dạy học văn bản thơ

Từ xưa đến nay, thơ ca luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc cũng như trong đời sống tinh thần của nhân dân ta Tuy nhiên việc dạy học đọc hiểu văn bản thơ trong nhà trường đã và đang là một thách thức lớn đối với cả GV và

HS do đặc điểm ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, “ý tại ngôn ngoại” Chính vì vậy để hiểu sâu sắc nội dung bài thơ, tâm trạng của nhân vật trữ tình, tư tưởng tình cảm mà nhà thơ gửi gắm đòi hỏi HS phải có sự trải nghiệm cùng tác phẩm Để làm được điều này nhà giáo dục cần phải tìm ra những cách thức đọc hiểu mới mẻ tạo được hứng thú học tập cho HS Và đặc biệt HS phải đóng vai trò trung tâm của quá trình đọc hiểu Trong trường hợp này, học qua trải nghiệm chính là biện pháp tối ưu nhất Thông qua HĐTN, HS được trải nghiệm trực tiếp cùng tác phẩm, sống trong tác phẩm để phát hiện ra những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật từ đó hình thành và phát triển NL cho HS

Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Hoạt động trải nghiệm

trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận Với đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ

góp phần vào việc đổi mới PPDH bộ môn Ngữ văn, đồng thời góp phần rút ngắn khoảng cách giữa văn bản văn học với HS

2 Lịch sử vấn đề

Trên cơ sở đổi mới PPDH theo hướng hiện đại, việc ứng dụng HĐTN vào tổ chức HĐDH đã và đang được đẩy mạnh trong các chương trình dạy học Đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tạo nền tảng mở ra những con đường tiếp cận và giảng dạy mới mẻ, phong phú, hiệu quả hơn

Trong bài nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc

tế và vấn đề của Việt Nam” PGS TS Đỗ Ngọc Thống đã giới thiệu kinh nghiệm tổ

chức HĐTN sáng tạo trong chương trình THPT ở Anh và Hàn Quốc

Công trình “Dạy - học Ngữ văn qua trải nghiệm” của cô Hoàng Lan Anh đã

có những đóng góp đáng kể cho việc đổi mới PPDH: “Học tập nên là một trải

nghiệm sống, để kiến thức, kĩ năng, cảm xúc có được sẽ trở thành những ấn tượng không thể nào quên trong mỗi HS Dạy học Ngữ văn qua trải nghiệm là một hoạt động không chỉ khơi dậy những cảm xúc cá nhân trong khám phá tác phẩm văn

Trang 10

học, mà còn hình thành và rèn luyện những NL cần thiết đáp ứng yêu cầu của cuộc sống với của các em”[1]

Cô Hoàng Thị Hà cũng đã đóng góp hay trong việc ứng dụng HĐTN vào dạy

học thông qua sáng kiến “HĐTN trong dạy học các văn bản thơ ở nhà trường

THPT theo định hướng phát triển NL HS”

ThS Bùi Ngọc Diệp trong bài “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm

sáng tạo trong nhà trường phổ thông”, cũng đưa ra quan niệm về HĐTN trong nhà

trường phổ thông: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là các hoạt động giáo dục thực

tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông” [4]

Trong bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong quá

trình giáo dục phổ thông mới” PGS.TS Lê Huy Hoàng có đề cập tới quan niệm về

HĐTN sáng tạo là “hoạt động mang xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục

trong nhà trường để HS tự trải nghiệm trong tập thể qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực” [7 -tr.62]

Đặc biệt, nói tới phương pháp học qua trải nghiệm thì không thể không nhắc tới nhà lý luận giáo dục người Mỹ David A.Kolb Các công trình nghiên cứu của ông tập trung vào học tập kinh nghiệm Ông đã đề xuất một công trình về học tập

dựa vào trải nghiệm: “Học qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn học hỏi và phát

triển” Trong đó, David A.Kolb cũng chỉ ra rằng “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.

Như vậy, các công trình nghiên cứu trong nước và thế giới đều đề cập đến vai trò quan trọng của HĐTN trong dạy học Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các công

trình nghiên cứu này chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Hoạt động trải nghiệm

trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực”

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận hướng tới mục đích là xác lập các hoạt động và các biện pháp tổ

chức HĐTN đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) hướng đến hình thành và phát

triển NL cho HS Đồng thời làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức HĐTN

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học đọc hiểu văn

bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực học sinh” chúng tôi

xin xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

Trang 11

- Nghiên cứu tính khả thi trong việc hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản Vội

vàng theo hình thức HĐTN

- Xây dựng các hoạt động phù hợp trong giờ dạy học đọc hiểu văn bản Vội

vàng theo định hướng phát triển NL nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng

tạo của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương

- Thiết kế giáo án HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn

11) theo định hướng phát triển NL

5 Đối tượng nghiên cứu

HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng

phát triển NL cho HS

6 Phạm vi nghiên cứu

Gắn với nội dung đề tài chúng tôi xác định khóa luận tập trung nghiên cứu các

HĐTN cho HS trong quá trình đọc hiểu văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ

văn 11, hướng đến hình thành cho học sinh một số NL như NL đọc hiểu văn bản thơ,

NL thẩm mĩ, NL hợp tác, NL vận dụng tri thức văn học vào thực tiễn đời sống

7 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được tiến hành bằng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để xác định những cơ sở lí luận chung cho đề tài nghiên cứu Phương pháp này được thực hiện chủ yếu ở chương 1 Phương pháp này được thực hiện thông qua các thao tác: phân tích - tổng hợp, thống kê

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn được thể hiện thông qua hoạt động thiết

kế giáo án tổ chức các HĐTN vào việc dạy học văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11)

theo hướng phát triển NL

Trang 12

9 Bố cục khóa luận

Bố cục khóa luận gồm ba phần:

Mở đầu

Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh qua đọc

hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển năng lực

Chương 3: Thiết kế thực nghiệm

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Hoạt động trải nghiệm

1.1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm

Như chúng ta đã biết, chương trình giáo dục phổ thông trang bị cho mỗi cá nhân người học sự đầy đủ và toàn diện về kiến thức, kĩ năng và thái độ Những nội dung giáo dục này được triển khai thông qua các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) Gọi tên hai hoạt động nhưng thực chất chúng luôn đi song

hành với nhau bởi “trong dạy có giáo, trong giáo có dạy” Trong chương trình THPT hiện hành “Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có kế

hoạch, có chủ đích hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện qua những cách thức phug hợp để chuyển tải nội dung tới người đọc nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục” [3, tr72] Còn “hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) gồm: hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh); hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục, hoạt động giáo dục hướng nghiệp…” [3] Trong chương trình THPT mới, các mục tiêu giáo dục chỉ được thực

hiện trong một dạng hoạt động được gọi là HĐTN

Như vậy, căn cứ vào định nghĩa về hoạt động giáo dục trong các chương trình THPT hiện hành của Việt Nam, của một số các nước khác như Anh, Mỹ và Hàn Quốc…; căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục và mục tiêu, nhiệm vụ của

HĐTN, có thể khẳng định: “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng

dẫn của nhà giáo dục , từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động , qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình” [3, tr.5]

HĐTN là hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông gắn với thực tiễn, thông qua thực tiễn để hình thành những kiến thức mới, những cảm xúc mới và những kĩ năng mới, phát triển NL cho HS

HĐTN có thể được hiểu như một hình thức tổ chức giáo dục; một nội dung giáo dục; bản chất của một hoạt động hay tương đương với một môn học trong chương trình… Nếu coi HĐTN là một hình thức tổ chức HĐDH thì đây là hoạt động mà HS được trực tiếp tham gia để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và

Trang 14

phát triển NL… Nếu coi HĐTN là một nội dung giáo dục thì HĐTN là tổng hòa các nội dung được thiết kế theo mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách HS như: đời sống, xã hội, văn hóa - nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí, khoa học - kĩ thuật công nghệ, lao động hướng nghiệp… Nếu coi HĐTN là một hoạt động thì đây là một hoạt động trọn vẹn với đầy đủ chủ thể, mục đích, đối tượng và kết quả hoạt động; Nếu coi HĐTN tương đương một môn học xuyên suốt trong chương trình thì đây là một môn học có đầy đủ nội dung, phương pháp, đánh giá… được thiết kế nhằm mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh, đây là môn học mà người học trực tiếp tham gia hoạt động, tự hình thành, bồi dưỡng, phát triển những NL chung và NL đặc thù dưới sự hướng dẫn của GV

1.1.1.2 Quy trình thiết kế và tổ chức triển khai HĐTN

Theo TS Ngô Thị Thu Dung - Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE) việc xây dựng thiết kế các HĐTN được gọi là thiết kế HĐTN cụ thể được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức HĐTN

Công việc này bao gồm:

- Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, GV cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành

- Xác định đối tượng thực hiện Việc này tạo cơ sở để GV thiết kế HĐTN phù hợp với lứa tuổi HS, đồng thời dự kiến các biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra đối với HS

Bước 2: Đặt tên cho hoạt động

Đây là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động góp phần làm nổi bật lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động Đồng thời, nó cũng tạo

ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tâm lý hào hứng cho HS Vì vậy, đòi hỏi nhà giáo dục cần suy nghĩ khi đặt tên hoạt động

Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn

- Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động

- Tạo được ấn tượng ban đầu cho HS

Bước 3: Xác định mục tiêu cho hoạt động

Các mục tiêu của HĐTN cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ khác nhau của mục tiêu cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng NL

Trang 15

Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động

Để xác định nội dung của hoạt động cần dựa vào chủ đề, mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của HS

Từ đó, xác định phương pháp, phương tiện cần để tiến hành hoạt động Sau đó là lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp

Bước 5: Lập kế hoạch

Lập kế hoạch chính là bước nhằm mục đích hiện thực hóa các mục tiêu

- Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm nguồn nhân lực, thời gian, không gian… cần thiết cho việc hoàn thành mục tiêu

- Dự kiến chi phí thực hiện hoạt động Đặc biệt chú ý tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu

- Đảm bảo tính cân đối của kế hoạch

Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy

Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động

- Kiểm tra lại toàn bộ chương trình hoạt động từ nội dung, tiến trình, thời gian thực hiện, đồng thời xem xét tính khả thi của từng hoạt động

- Điều chỉnh những sai sót, những bất cập

- Cuối cùng cụ thể hóa chương trình hoạt động bằng giáo án

Bước 8: Lưu kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh

1.1.1.3 Những hình thức HĐTN trong nhà trường phổ thông

HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức đều có những thế mạnh riêng và mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một số hình thức tổ chức HĐTN trong nhà trường phổ thông

- Hoạt động câu lạc bộ

Câu lạc bộ là hình thức tổ chức HĐTN của một nhóm HS có chung sở thích, năng khiếu, nhu cầu…Tổ chức câu lạc bộ nhằm hướng đến mục đích tạo môi trường giao lưu học tập tích cực giữa HS với HS, HS với GV… Và hơn hết là giúp HS có cơ hội chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân Đặc biệt, câu lạc bộ không chỉ

là nơi các em được học tập mà các em còn được thỏa sức vui chơi, tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ… Đối với GV, câu lạc bộ là nơi giúp họ thấu hiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng… của HS Câu lạc bộ được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: câu lạc bộ văn học nghệ thuật, câu lạc bộvăn học dân gian, câu lạc bộ bóng rổ, câu lạc bộ võ thuật…

Trang 16

- Tổ chức trò chơi

Trò chơi là hình thức HĐTN vừa có tính chất giải trí đồng thời cũng là một nội dung giáo dục với kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo được bầu không khí thân thiện, môi trường giao lưu cởi mở, tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn, chủ động, tích cực… Một số trò chơi như: trò chơi ô chữ, rung chuông vàng,

đố thơ…

- Tổ chức diễn đàn

Diễn đàn là một trong những hình thức học tập mang lại hiệu quả thiết thực Thông qua diễn đàn, HS có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến của bản thân mình về một vấn đề, một lĩnh vực nào đó mà các em quan tâm với mọi người Diễn đàn đồng thời cũng tạo cơ hội để các em có dịp lắng nghe và học tập lẫn nhau Diễn đàn tạo điều kiện cho GV, cha mẹ HS… nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và nguyện vọng của các em để từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp hơn

Sân khấu tương tác

Sân khấu tương tác là một HĐTN được thực hiện thông qua việc trình diễn, biểu diễn Thông thường phần biểu diễn chỉ đưa ra tình huống trong phần mở đầu, phần còn lại sẽ do người tham gia sáng tạo Điều này đã tạo nên một cuộc trao đổi, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, tức là nó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả Hoạt động này thúc đẩy HS đưa ra quan điểm, cách suy nghĩ, ứng xử của mình trong các tình huống… Đồng thời qua hoạt động này,

HS có sự so sánh giữa văn bản văn chương với kịch bản sân khấu

- Tham quan, dã ngoại

Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn thu hút đông đảo HS tham gia Hoạt động này nhằm mục đích để HS được trực tiếp tham quan, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc trực tiếp với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… giúp các em có cơ hội tích lũy những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống

- Tổ chức các hội thi/ cuộc thi

Hội thi/ cuộc thi là hoạt động mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể từ đó kích thích tinh thần học tập tích cực của HS Chính vì vậy, việc tổ chức các hội thi, cuộc thi cho HS là việc làm cần thiết của nhà trường, của GV trong quá trình tổ chức HĐTN

Trang 17

Hội thi được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: thi vẽ tranh, thi viết, thi đố vui, thi kể chuyện, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi sáng tác thơ, sáng tác bài hát, hội thi học sinh thanh lịch, hội thi bí thư chi đoàn giỏi, hội thi sáng tạo STEM Tuy nhiên, cần phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện hoạt động

1.1.2 Năng lực

1.1.2.1 Khái niệm năng lực

Theo PGS.TS Bùi Minh Đức, NL là một khái niệm được sử dụng phổ biến

và có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau Cụ thể:

Theo Tâm lí học: “NL là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của

nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”

Theo Wikipedia “NL là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực hiện

một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức kĩ năng và hành

vi ứng xử trong thực hành Nói một cách khái quát, NL là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể”

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì NL có thể được hiểu theo hai nét nghĩa như sau: 1) NL là khái niệm chỉ một “khả năng, điều kiện chủ

quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” 2) NL là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15, tr.660-661]

Chúng tôi lựa chọn cách định nghĩa trong Dự thảo Chương trình GDPT tổng

thể của bộ GD và ĐT như sau:

“NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy đông tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [3, tr.6]

1.1.2.2 Phân loại

Phân loại NL là một vấn đề khá phức tạp Tùy theo quan điểm tiếp cận mà người ta chia NL thành các dạng thức khác nhau Tuy nhiên cách phân loại phổ biến nhất là chia thành hai loại NL chung và NL riêng.Theo tìm hiểu chương trình giáo dục ở nhiều nước trên thế giới ta thấy hầu hết các nhà giáo dục đều lựa chọn cách phân loại này Cụ thể:

Trang 18

- “NL chung là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì người nào cũng cần có để

sống, học tập Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và HĐTN), với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các NL chung của HS” [5] Ngoài ra NL này Có tên gọi khác là “NL xuyên chương trình”

bởi nó được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học Hệ thống những NL chung bao gồm: “NL tự học, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo; NL thẩm mĩ; NL thể chất; NL giao tiếp; NL hợp tác; NL tính toán; NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)” [5]

- “NL riêng (NL chuyên biệt) là NL cụ thể, chuyên biệt được hình thành và

phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó, là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như NL toán học, văn học, âm nhạc, thể thao…”

Hai loại năng lực này bổ sung, hỗ trợ cho nhau Bản dự thảo chương trình

cũng đã đưa ra quan niệm: “Việc đánh giá mực độ đạt được các yêu cầu về phẩm

chất và NL chung của HS từng cấp học được thực hiện thông qua nhận xét các biểu hiện chủ yếu của các thành tố trong từng phẩm chất và NL… Từng cấp học, lớp học đều có những yêu cầu riêng, cao hơn và bao gồm cả những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó về từng thành tố của các phẩm chất, NL” [3, tr.8,9] Và “Mỗi môn học đều đóng góp vào việc hình thành và phát triển các phẩm chất và NL chung… Các NL đặc thù môn học thể hiện vai trò ưu thế của môn học được nêu ở các chương trình môn học” [3, tr.9]

- Thái độ là những nhận thức, giá trị sống và định hướng hành vi của HS sau khi học xong một nội dung nào đó

-

Trang 19

1.1.3 Dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh

1.1.3.1 Nguyên tắc dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Trong khoảng 50 năm trở lại đây đọc hiểu văn bản là một nội dung nghiên cứu

đã thu hút tâm sức của rất nhiều nhà khoa học giáo dục trên thế giới Các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về đọc hiểu Song đọc hiểu văn bản

thực chất là “quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó thông qua hệ

thống các hoạt động, hành động, thao tác nhất định Hoạt động đọc hiểu đòi hỏi người học cần tích cực, chủ động khám phá, phải là những độc giả thực sự (chứ không phải là những thính giả bất đắc dĩ nghe người khác truyền đạt kết quả đọc của họ)” [8, tr19] Muốn làm được điều này cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, định hướng về người học: Đảm bảo HS là trung tâm của quá trình dạy học, chủ động chiếm lĩnh tri thức

Thứ hai, định hướng về người dạy:

GV đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cho HS, góp phần duy trì, thúc đẩy một môi trường học tập tích cực, tăng cường tính hợp tác

và cạnh tranh giữa các cá nhân HS

Chú trọng nâng cao các phương pháp, cách thức dạy học để HS tích cực, chủ động tìm kiếm tri thức, thu thập thông tin để tích lũy những tri thức mới, tự tìm những cách thức thích hợp để giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống

Theo định hướng NL, quan điểm “học đi đôi với hành” rất cần phải được coi trọng, trong đó hoạt động “hành” không chỉ dừng lại ở các tình huống giả định, những bài

tập có tính minh họa thuần túy cho lí thuyết mà đi vào các tình huống thực tiễn trong cuộc sống có liên quan đến kiến thức, kĩ năng của bài học

Đẩy mạnh phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác nhằm mục đích tạo môi trường học tập tích cực để HS có cơ hội hoạt động tư duy nhiều hơn, làm việc nhiều hơn và bộc lộ bản thân qua nhiều hoạt động hơn Điều đó có nghĩa là mỗi HS vừa có cơ hội hoạt động độc lập vừa có cơ hội hợp tác với nhau trong quá trình tiếp cận, tìm tòi, phát hiện kiến thức mới

Ngoài ra GV cũng cần kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá Chú trọng đánh giá quá trình, đánh giá vì sự tiến bộ của HS, đánh giá như chính việc dạy học; hạn chế đánh giá tái hiện, tăng cường đánh giá vận dụng; đa dạng hóa các hình thức đánh giá kết hợp với đổi mới các đề kiểm tra theo hướng mở và gắn với các vấn đề của đời sống

Trang 20

Thứ ba, định hướng về chương trình, nội dung và HĐDH: Chương trình, nội dung và HĐDH phải có liên hệ mật thiết với thực tiễn cuộc sống giúp HS tăng cường vận dụng, ứng dụng kiến thức, kĩ năng có được trong giờ học Ngữ văn vào giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn cuộc sống

Thứ tư, định hướng cho nhà trường: Nhà trường cần thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với phụ huynh HS và cộng đồng để chung tay vào quá trình giáo dục

1.1.3.2 Biện pháp dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực học sinh

Để việc đọc hiểu văn bản đạt hiệu quả cao hướng đến phát triển NL HS chúng ta có thể vận dụng một số biện pháp sau:

- Kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Trong toàn bộ quá trình dạy học, việc phối hợp đa dạng các phương pháp, hình thức dạy học là một trong những biện pháp hàng đầu để phát huy tính tích cực, chủ động của HS và nâng cao chất lượng dạy học Bởi mỗi phương pháp, hình thức học tập đều có những thế mạnh riêng trong việc phát triển NL cho HS

- Vận dụng dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn

Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn là dạy học những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học Quan điểm dạy học này có tính thực tiễn cao nên có ưu thế trong việc tạo hứng thú học tập cho HS Học theo hình thức này, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Qua đó, phát triển NL cho HS

- Hướng dẫn HS vận dụng linh hoạt hệ thống chiến thuật đọc hiểu văn bản

“Chiến thuật đọc hiểu chính là những biện pháp, những thủ thuật, những cách thức, thao tác nhất định nhằm dẫn dắt quá trình nhận thức của HS để chiếm lĩnh, kiến tạo ý nghĩa của văn bản một cách tích cực, chủ động, hiệu quả” [8, tr.57] Hơn nữa mỗi chiến thuật đọc hiểu lại có những ưu thế riêng vì vậy có thể vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào dạy học

đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông

1.1.3.3 Những năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng

a Năng lực chung

Thực hiện chương trình đổi mới PPDH theo định hướng phát triển NL cho

HS, các hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng hướng tới hình thành và phát

triển tổng hợp các NL chung, trong đó chúng tôi chú ý đến hai năng lực sau:

Trang 21

Thứ nhất, NL thẩm mĩ Đây được coi là một NL quan trọng, là mục tiêu cơ bản của rất nhiều chương trình đào tạo hiện nay nói chung và cũng là thế mạnh đặc

thù của môn Ngữ văn nói riêng Người xưa thường nói “thi trung hữu nhạc”, “thi

trung hữu họa” nghĩa là trong thơ có nhạc, trong thơ có họa Văn bản Vội vàng

(Ngữ văn 11) là một thi phẩm có những cách tân nghệ thuật về hình ảnh, âm điệu và đặc biệt là ngôn ngữ thơ Có thể nói Xuân Diệu đã tạo ra cho thơ mình một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính, sáng tạo về hình ảnh, nhịp điệu, hình thức tổ chức câu thơ cùng những lời lẽ, cách nói năng mà hầu như trước đây người ta chưa thấy xuất hiện

trong thơ ca truyền thống Bên cạnh đó HS còn được tiếp cận với những cách kết

hợp từ ngữ đầy mới mẻ, độc đáo Ngoài ra, Xuân Diệu còn khiến người đọc rung động mạnh bởi nhạc điệu trong thơ bằng cách sử dụng linh hoạt các cách ngắt nhịp, nghệ thuật điệp, nghệ thuật chuyển loại từ, đảo ngữ… Việc dạy văn chính là giúp cho các em thấy được cái đẹp trong tác phẩm văn chương, yêu thích cái đẹp, sống theo cái đẹp Như vậy, NL thẩm mỹ sẽ giúp các em cảm nhận và có kĩ năng sống tốt phù hợp với cuốc sống hiện đại

Thứ hai, NL hợp tác Đây được xem là một trong những NL quan trọng của con người thời hiện đại NL hợp tác được hiểu là khả năng tương tác, phối hợp của

cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể trong hoạt động chung của nhóm Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ giúp phát huy tinh thần tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập; tạo môi trường học tập sôi nổi, ở đó các em có thể chia sẻ kiến thức, hiểu biết của bản thân để giải quyết các nhiệm vụ học tập GV đánh giá

NL hợp tác của HS thông qua sản phẩm nhóm và quát sát hoạt động, thái độ của HS khi làm việc chung

b Năng lực đặc thù

Văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) chúng tôi tập trung định hướng phát triển

NL đọc hiểu, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo văn bản thơ Đó là những NL quan trọng trong dạy học văn bản thơ trữ tình cho HS THPT Hình thành NL đặc thù đọc hiểu

văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) với mục đích giúp HS:

- Nắm được tri thức lí luận cơ bản và cách thức đọc hiểu văn bản thơ trữ tình

- Đọc và chỉ ra hình tượng nghệ thuật đặc sắc của bài thơ

- Lí giải, phân tích, cắt nghĩa và cảm nhận về hình tượng nghệ thuật được nhà thơ xây dựng trong văn bản

- Rút ra được ý nghĩa tư tưởng và quan niệm mà tác giả gửi gắm trong văn bản

- Bày tỏ được tình cảm, thái độ và cách đánh giá của bản thân về các khía cạnh nội dung và nghệ thuật của bài thơ

Trang 22

- Liên hệ, vận dụng nội dung tư tưởng của nhà thơ trong văn bản vào thực tiễn cuộc sống của bản thân

- Biết tích cực, chủ động làm việc cá nhân và hợp tác với các bạn trong việc giải quyết các nhiệm vụ đọc hiểu

1.1.4 Văn bản trữ tình và đặc điểm văn bản trữ tình

1.1.4.1 Khái niệm văn bản trữ tình (thơ)

Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản

ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mãnh liệt bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [6, tr.254]

Nhà thơ Anh Wordsworth (1770 - 1850) nói rằng: “Thơ là sự biểu lộ của

tình cảm mãnh liệt” Nhà thơ Chi Lê Pablo Neruda cũng khẳng định: “Làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt” Lê Quý Đôn lại có nhận định về thơ khá sắc sảo: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” Các ý kiến trên đã khẳng định vai trò quan trọng

của tình cảm trong thơ.Tình cảm là nguồn sống của thơ

Như vậy, xét về mặt nội dung, có thể thấy tác phẩm trữ tình thường đi sâu khám phá thế giới nội tâm, cảm xúc bên trong rất đa dạng, mơ hồ của con người Xét về mặt hình thức, tác phẩm trữ tình thường có hình thức ngắn gọn mang tính chất tâm tình, giàu hình ảnh, nhạc điệu, ngôn ngữ mang tính cách điệu, cô đọng, tư tưởng được mã hóa vào những biểu tượng nghệ thuật đầy ý nghĩa

1.1.4.2 Đặc điểm văn bản trữ tình Xuân Diệu

Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận định về thơ Xuân Diệu: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dạt dào chưa từng

có ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” [16, tr.117] Xuân Diệu đã

để lại cho hậu thế một sự nghiệp sáng tác lớn cùng phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểm chính

Thứ nhất, Xuân Diệu - hồn thơ đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian Với Xuân Diệu mỗi khoảnh khắc qua đi là cả một nỗi niềm xót xa, tiếc nuối khôn cùng Thi sĩ nhận thức được rằng thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại; nhận thức được mâu thuẫn giữa cái vô hạn của trời đất và cái hữu hạn của đời người Đây là một quan niệm mới mẻ khác với quan niệm thời gian tuần hoàn trong thơ ca gia đoạn trước:

Trang 23

“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”

(Vội vàng) “Cái bay không đợi cái trôi;

Từ tôi phút trước, sang tôi phút này ”

(Đi thuyền)

Nhà thơ đã cảm nhận được thời gian trôi đi ngay trong từng khoảnh khắc ở hiện tại Thậm chí, ngay trong gặp gỡ đã có mầm mống của sự li biệt:

“Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;

Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;

Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;

Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.”

(Giục giã)

Từ nhận thức đó nên Xuân Diệu luôn thúc giục mọi người hãy mau lên, vội vàng lên để sống thật có ý nghĩa cho mỗi giây phút trôi qua

“Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!

Em, em ơi! Tình non sắp già rồi…”

(Giục giã) “Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”

(Vội vàng)

Thứ hai, Xuân Diệu - một trái tim luôn hướng tới tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu cuộc sống đến đam mê và khát khao giao cảm mãnh liệt GS

Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận xét về thơ Xuân Diệu “Xuân Diệu là nhà thơ của

niềm giao cảm hết mình giữa con người và con người, một phát hiện về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế đã ban phát cho nhân loại” Nhà thơ Huy Cận

cũng đã từng nói “Xuân Diệu đã sống để mà yêu và yêu để mà sống” Bởi vì thế nên

cảm xúc trong thơ Xuân Diệu bao giờ cũng sôi nổi và mãnh liệt

“Ta ôm choàng, ôm riết bánh thần tiên,

Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn, Làm giây da quấn quít cả mình xuân;

Trang 24

Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần, Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất”

(Thanh niên)

Xuân Diệu là một hồn thơ khát sống, thèm yêu, khát khao giao cảm Ông luôn khao khát một tình yêu, thứ tình yêu trần thế nhưng không bị trần tục hóa Ông

đã kêu gọi:

“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt”

Từ đó ông khao khát sống mãnh liệt:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”

(Vội vàng)

Ông kêu gọi mọi người phải biết tận hưởng, biết sống hết mình với cuộc đời này

Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”

(Thanh niên)

Thứ ba, Xuân Diệu - nhà thơ của những nỗ lực cách tân thơ Việt và “thức nhọn giác quan”

Không phải ngẫu nhiên Xuân Diệu được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá

là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” và cũng không phải ngẫu nhiên độc

Trang 25

giả yêu thơ biết đến một thi sĩ Xuân Diệu như “con chim sơn ca” của thơ mới Bởi

“ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo” [11, tr.21] Nhà thơ luôn nhận thức được điều quan trọng và tuyệt vời trong cảm xúc của con người đó là hành trình thức nhọn giác quan để sống một cách

“toàn tâm, toàn trí, toàn hồn”

Xuân Diệu có những cách tân nghệ thuật trên nhiều phương diện:

Ở phương diện đề tài: tình yêu, tuổi trẻ và thời gian là đề tài quen thuộc trong những sáng tác của Xuân Diệu Cách xử lí đề tài của Xuân Diệu có những điểm độc đáo so với các thi sĩ khác Chẳng hạn, ở đề tài tình yêu, Xuân Diệu quan niệm khác với những nhà thơ khác Tình yêu trong thơ Xuân Diệu đòi hỏi sự đồng cảm của hai tâm hồn, đòi hỏi cái vô tận, vĩnh cửu Nói như GS Nguyễn Đăng

Mạnh: “Xuân Diệu không quan niệm tình yêu là sự giao cảm xác thịt mà còn là sự

giao cảm của những linh hồn mà đấy mới là cái khát vọng cao nhất, cái đích cao nhất trong tình yêu”

Xuân Diệu xây dựng được hệ thống hình tượng, hình ảnh và các mô típ nghệ thuật đặc trưng: Đó là hình tượng cái tôi độc đáo: Một cái tôi tích cực, thiết tha yêu

đời, yêu cuộc sống; Cái tôi cô đơn ngay chính giữa cuộc đời: “Ta là Một, là Riêng,

là Thứ Nhất/ Không ai chi bạn bè nổi cùng ta”; cái tôi cô đơn vì tình phụ: “Lòng anh là một cơn mưa lũ/ Đã gặp lòng em là lá khoai…” Đó là hình tượng người tình

- một người tình trần thế Ngoài ra, trong thơ Xuân Diệu còn có sự xuất hiện của

hình tượng thế giới với hai diện mạo phổ biến: “mảnh vườn tình ái và sa mạc cô

liêu” [17, tr.52]

Điểm độc đáo nữa ở Xuân Diệu là ông luôn có ý thức làm mới những hình

ảnh đã quen thuộc trong thơ ca Chẳng hạn, hình ảnh giọt lệ - Trái đất: “Trái đất ba

phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung…”

Đặc biệt, Xuân Diệu còn thường xuyên sử dụng những thủ pháp, biện pháp nghệ thuật quen thuộc một cách hiệu quả và mang cá tính sáng tạo riêng Đặc biệt Xuân Diệu đã sử dụng triệt để biện pháp chuyển đổi cảm giác trong quá trình khám phá những vẻ đẹp của cuộc sống trần thế

Về phương diện ngôn ngữ, Xuân Diệu cho rằng mỗi nhà thơ “phải là nhà kỹ thuật lớn về ngôn ngữ” Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu không chỉ mới ở từ ngữ mà còn mới cách tổ chức câu thơ

Trang 26

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”;

(Vội vàng) “Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò ”

“Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;”

(Đây mùa thu tới)

Thơ Xuân Diệu đã tiếp thu được những mặt tích cực của hai dòng văn học đông tây, đối với phương Đông ông tiếp thu được cái cảm xúc của lời thơ còn ở phương Tây ông tiếp thu được trường phái thơ tượng trưng Đó là sự tương giao của cảm giác và lời thơ giàu nhạc điệu

“Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn;”

(Huyền diệu)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản Vội vàng của Xuân Diệu trong nhà trường THPT hiện nay

Xuân Diệu được gọi với những danh hiệu như “ông hoàng thơ tình”,

“hoàng tử của tình yêu”, “đệ nhất tình nhân”… Sở dĩ có những danh hiệu đó là bởi

khối lượng thơ viết về tình yêu ông để lại cho hậu thế Trong số đó Vội vàng là bài

thơ để lại ấn tượng sâu sắc nhất và được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ

văn 11, tập 2 Tuy nhiên, bài thơ Vội vàng nói riêng và môn Văn nói chung đang

đứng trước thực trạng đáng buồn Có thể khẳng định rằng: đây là một bài thơ hay nhưng để “truyền lửa” cho HS để các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái mới của hồn thơ Xuân Diệu là một thách thức không nhỏ Vì vậy việc giảng dạy của GV cũng như việc tiếp nhận bài thơ của HS còn tồn tại một số hạn chế sau:

- Về phía GV

Chưa hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà một cách cụ thể

Chưa hướng dẫn cách đọc tích cực cho HS

Hầu hết các bài giảng vẫn được xây dựng theo lối truyền thống, rập khuôn,

áp đặt nặng nề Điều này đã bó hẹp tính tích cực, sáng tạo của HS

Trang 27

Một bộ phận GV dạy Văn hiện nay chưa thực sự yêu thích bộ môn của mình Vốn kiến thức đối với thể loại thơ trữ tình được viết theo thể loại tự do còn hạn chế nên một số giáo viên còn lúng túng trong quá trình dạy học

Ngoài ra cần phải kể đến một số GV còn áp đặt máy móc ý kiến chủ quan của mình cho tác phẩm Bên cạnh đó GV còn nặng về thuyết giảng, khả năng gợi mở chưa tốt nên chưa tạo được không khí học tập tích cực để HS chủ động khám phá kiến thức, phát huy NL đọc hiểu một bài thơ trữ tình

- Về phía HS:

Chưa đọc bài thơ theo đúng nhịp điệu nên chưa nắm được mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình

Chưa nắm được đặc trưng của một số thể loại mới, đặc biệt là thể loại thơ tự

do như bài thơ Vội vàng

Một bộ phận các em HS thường có sẵn tâm lý chán nản khi học văn Hơn nữa, cuộc sống hiện đại với rất nhiều điều mới mẻ, thú vị đang thu hút sự quan tâm, chú ý của các em Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, chỉ cần một cú nhấp chuột HS đã có thể nhận được hàng trăm bài văn mẫu, sách tham khảo Điều này đã vô hình đã thủ tiêu óc sáng tạo, tính tích cực chủ động của HS và thay vào đó chính là sự lười biếng, ỉ lại và thụ động trong quá trình học Văn

Để thay đổi thực trạng đáng buồn này đòi hỏi GV - HS chúng ta cùng thay đổi

GV phải khơi gợi được niềm say mê, hứng thú cho HS để từ đó các em tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức

1.2.2 HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu theo định hướng phát triển năng lực

1.2.2.1 Thuận lợi

- Học qua trải nghiệm là một hình thức học tập mang lại hiệu quả học tập cao được hầu hết các trường THPT chú trọng và đầu tư

- Đọc hiểu văn bản Vội vàng qua HĐTN giúp HS phát huy tính tự học, tích cực,

sáng tạo, tính tự giác, sự tự tin và đặc biệt tạo hứng thú học tập cho HS

1.2.2.2 Khó khăn

- Khó khăn về thời gian tổ chức: Thời lượng mỗi tiết học theo quy định của

Bộ Giáo dục là 45 phút, thời lượng này là không đủ để GV tổ chực HĐTN cho HS

Trang 28

Hơn nữa, GV cần phải tuân thủ thứ tự bài học được in trong sách và phân phối thời lượng ở phân phối chương trình Vì vậy việc sắp xếp quỹ thời gian hợp lí cho HĐTN đang là vấn đề khá khó khăn

- Khó khăn về không gian tổ chức: HĐTN thường được tổ chức ở nhiều không gian, địa điểm khác nhau Các địa điểm được lựa chọn cần đảm bảo rộng rãi,

an toàn, là nơi HS vừa có thể học tập trải nghiệm vừa có thể vui chơi giải trí Tuy nhiên khoảng cách giữa trường học với các địa điểm này là một chướng ngại lớn đối với các nhà giáo dục

- Khó khăn về kinh phí thực hiện: HĐTN có thể tổ chức tại nhiều thời gian, không gian khác nhau tùy vào quy mô, nội dung, với những địa điểm xa đòi hỏi kinh phí di chuyển, ăn uống… Tuy nhiên kinh phí dành cho HĐTN ở các trường phổ thông hiện nay còn khá eo hẹp

- Khó khăn từ phía người học: Hình thức học tập qua trải nghiệm vẫn còn khá mới đối với HS ở nhiều địa phương hiện nay Vì vậy, khi tổ chức các HĐTN nếu không có sự chuẩn bị về tâm lí và phương pháp, các em HS sẽ dễ rơi vào trạng thái thụ động khi tham gia hoạt động

Vì vậy để đạt được mục đích, yêu cầu và hiệu quả của HĐTN cần xây dựng chương trình, kế hoạch và phương pháp tổ chức thực sự khoa học và phù hợp Khi xây dựng chương trình học cần chú ý sắp xếp và tổ chức xen kẽ với HĐTN sao cho vừa hợp lí vừa hiệu quả

1.2.2.3 Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc tổ chức các hoạt động trải

nghiệm dạy học đọc hiểu văn bản “Vội vàng” (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển

năng lực

Học qua trải nghiệm là xu hướng, phương pháp dạy học mới đã và đang thu hút sự quan tâm chú ý của những người làm giáo dục Để tổ chức HĐTN qua dạy

học đọc hiểu văn bản Vội vàng theo hướng phát triển NL người học cần đảm bảo

những yêu cầu có tính nguyên tắc sau:

Thứ nhất, tổ chức HĐTN phải đảm bảo được tiến hành theo định hướng phát triển NL cho HS Trong đó NL đặc thù là NL đọc hiểu văn bản thơ trữ tình GV tổ chức các HĐTN hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản cần hướng đến hình thành và phát triển cho

HS khả năng đọc hiểu một văn bản thơ tương tự trong hoặc ngoài chương trình

Thứ hai, tổ chức HĐTN bám sát đặc trưng thể loại Chương trình SGK Ngữ văn 10, 11, 12 đã lựa chọn những văn bản tiêu biểu cho nhiều thể loại khác nhau như:

Trang 29

thơ lục bát, thơ tự do, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, khúc ngâm, trường

ca, văn xuôi… Từng thể loại đều chứa đựng những đặc trưng riêng cho nên HS có thể vận dụng tri thức về thể loại để đọc hiểu nhiều văn bản thơ khác cùng thể loại

Thứ ba, đảm bảo bám sát quy trình tổ chức HĐTN trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ GV thay vì việc bình giảng thơ, truyền thụ kiến thức một chiều như cách dạy truyền thống thì người GV Ngữ văn hiện nay chỉ có nhiệm vụ là tổ chức, hướng dẫn HS, còn HS giữ vai trò trung tâm của quá trình học tâp

Thứ tư, tổ chức các HĐTN gắn với các tình huống từ thực tiễn đời sống Mục đích chính của HĐTN là giúp cho HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của bản thân Vì thế HĐTN phải gắn với các tình huống trong thực tiễn, điều này đòi hỏi HS phải hòa mình vào tình huống để giải quyết vấn đề từ đó hình thành và phát triển NL cho HS

Đồng thời, việc gắn HĐTN với đời sống thực tiễn giúp HS thấy được ý nghĩa, giá trị của bài thơ đối với đời sống trong hiện tại, tương lai Đó có thể là bài học về đạo lý làm người, về lẽ sống, cách cư xử, kinh nghiệm, trải nghiệm hữu ích, thú vị… Hoạt động thực tiễn chính là thước đo của NL Vì vậy GV cần tăng cường cho HS trải nghiệm bằng các bài tập tình huống mang tính thực tiễn cao

Thứ năm, chủ đề HĐTN phải nằm trong “tầm với” kiến thức của HS GV

cần xây dựng HĐTN nằm trong phạm vi kiến thức, hiểu biết của HS để các em phát huy được khả năng của mình

Thứ sáu, không quá ôm đồm kiến thức và phải chọn được nội dung phù hợp

để tổ chức HĐTN Nội dung kiến thức của bài học thường rất phong phú và đa dạng bởi vậy ngay từ khâu thiết kế giáo án đòi hỏi GV phải cân nhắc lựa chọn nội dung phù hợp để thiết kế HĐTN Từ đó HS nắm vững được kiến thức trọng tâm cũng như những kĩ năng cần thiết của bài học

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày một số lí luận chung cho đề tài, liên quan đến HĐTN, NL và việc dạy học đọc hiểu theo hướng phát triển NL qua HĐTN, ứng với thể loại thơ trữ tình Những cơ sở lí luận và thực tiễn này là nền tảng vững chắc để đề tài đưa ra những biện pháp tổ chức HĐTN hiệu quả nhất trong

dạy học đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11) theo hướng phát triển NL góp

phần nâng cao chất lượng dạy và học

Trang 30

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VỘI VÀNG (NGỮ VĂN 11)

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

2.1 Vị trí văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11

Văn bản Vội vàng (Xuân Diệu) được đưa vào giảng dạy trong chương trình

SGK Ngữ văn 11 tập 2 Đây là thi phẩm xuất sắc của pnhong trào thơ mới nói chung, là đại diện tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu nói riêng Bài thơ chứa đựng giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc

Về giá trị nội dung:

Bài thơ Vội vàng giống như một lời kêu gọi, thúc giục hãy sống vội vàng để tận

hưởng mọi vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời Và cùng với đó là sống hết mình để cống hiến bản thân làm đẹp cho đời, hãy trân quý từng giây phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến mãnh nhiệt

Về giá trị nghệ thuật:

Điểm độc đáo về nghệ thuật trong bài thơ là: sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch

cảm xúc và mạch luận lí, Vội vàng chứa đựng dòng cảm xúc dạt dào của thi nhân

nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, trình bày cả một quan niệm nhân sinh

về lẽ sống vội vàng; giọng điệu say mê, sôi nổi; những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ…

Với những nét đặc sắc về mặt nội dung và nghệ thuật, văn bản Vội Vàng của

Xuân Diệu ngày càng khẳng định vị trí của nó trong hệ thống chương trình cũng như trong lòng những độc giả yêu thơ

2.2 Bố cục và nội dung dạy học văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn

- Về bố cục của bài thơ:

Vội vàng là một thi phẩm khá dài nhưng dựa theo mạch cảm xúc và sự thay đổi trong giọng điệu khi đọc bài thơ, có thể chia bài thơ làm ba phần:

Trang 31

+ Mười ba câu đầu: Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết

+ Mười sáu câu tiếp: Quan niệm mới mẻ về thời gian

+ Mười câu còn lại: Lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt

- Về nội dung dạy học văn bản Vội vàng trong chương trình Ngữ văn lớp 11:

Sau khi HS đã phát hiện được kết cấu nội tại của bài thơ, GV hướng dẫn HS chiếm lĩnh bài thơ bằng cách phân tích kết cấu nội tại đó Từ đó phát hiện mạch cảm xúc của tác giả: từ mong muốn níu giữ đến sung sướng, ngây ngất trước cảnh sắc trần gian; băn khoăn, lo âu về sự mong manh, ngắn ngủi của kiếp người đến thảng thốt và cuối cùng là sự bùng cháy mãnh liệt của cái tôi đầy ham muốn

2.3 Các hình thức hoạt động trải nghiệm qua đọc hiểu văn bản Vội vàng (Ngữ

văn 11) theo hướng phát triển năng lực

2.3.1 Hoạt động trải nghiệm trong giờ học

2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc diễn cảm phát triển NL ngôn ngữ

- Mục đích

Đọc diễn cảm chính là một phương tiện giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo cho cả GV và HS trong quá trình học văn Đọc diễn cảm (cách gọi khác là đọc hay) là một hình thức giúp bộc lộ khả năng cảm thụ văn bản Vì vậy,

GV có thể đo được mức độ cảm thụ của HS qua việc đọc diễn cảm Kĩ năng đọc diễn cảm của HS sẽ được hình thành trong quá trình phân tích tác phẩm văn học và trong quá trình “biểu diễn” tác phẩm đó Nghĩa là việc rèn luyện đọc diễn cảm sẽ có tác dụng góp phần hoàn thiện NL ngôn ngữ của HS, giúp HS nghe tốt - nói tốt - đọc tốt - viết tốt tiếng Việt

- Cách thức tiến hành

Trước khi đọc: GV cần lưu ý cho HS rằng Vội vàng là bài thơ được viết theo

thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn đan xen, ý thơ đa dạng không bị gò bó bởi bất kì một khuôn khổ, luật lệ nào mà linh hoạt theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình.Điều này dẫn đến sự thay đổi nhịp điệu trong bài thơ theo mạch cảm xúc của nhà thơ Nhịp điệu bài thơ sẽ chi phối cách đọc bài thơ HS sẽ cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài thơ nếu đọc bài thơ theo đúng nhịp điệu

GV mời ba HS trong lớp đọc ba phân đoạn của bài thơ Các bạn còn lại lắng nghe và nhận xét

Trang 32

GV yều cầu HS nêu cảm nhận ban đầu của mình về bài thơ

Cuối cùng GV nhận xét và kết luận về cách đọc phù hợp với mạch cảm xúc trong bài thơ:

+ Bốn câu thơ đầu: là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn táo bạo của thi nhân cần đọc với giọng nhanh, chất giọng khỏe khoắn, chú ý nhấn mạnh vào các

từ: “muốn”, “tắt”,” buộc”, “đừng” (chữ “đừng” kéo dài hơn một chút tạo cảm

giác như muốn níu giữ), đọc liền mạch, không ngắt nhịp

+ Từ câu 5 đến câu 13: Phần này tác giả đã phơi bày là tất cả những gì đẹp đẽ, ngọt ngào nhất của nhân gian nên cần đọc với giọng hào hứng, hân hoan, say mê, tự tin, khẳng định tràn đầy một niềm lạc quan, yêu đời và cách ngắt nhịp 3/5 Chú ý nhấn mạnh từ “này đây” để thấy được sự đầy đủ, phong phú bất tận những vẻ đẹp của

cuộc sống Riêng hai câu thơ cuối cần lưu ý: câu thơ “Tôi sung sướng Nhưng vội

vàng một nửa:” bị gãy ra ở giữa dòng bởi một một dấu chấm, vì vậy vế đầu vẫn đọc

với giọng hào hứng, còn vế sau hơi hạ giọng nhằm tạo trạng thái hụt hẫng

+ Từ câu 14 đến câu 29: Là sự cảm nhận về sự trôi chảy của thời gian, quy luật của tạo hóa, sự hữu hạn của đời người nên cần đọc với giọng tranh biện, trầm

buồn, nuối tiếc và đọc hơi chậm hơn so với đoạn đầu Nhấn mạnh các từ “nghĩa

là”, “nhưng”, “bâng khuâng”, “tiếc”, “hờn”; cách ngắt nhịp 3/5

- Phần cuối bài thơ: Khép lại bài thơ là những ham muốn cháy bỏng, mãnh liệt, là khao khát tận hưởng cuộc sống mãnh liệt của nhà thơ Chính vì vậy HS cần đọc với giọng sôi nổi, cường độ nhanh, mạnh, dứt khoát để diễn tả được cái lòng ham sống, khát vọng sống đang trào dâng mãnh liệt trong trái tim rạo rực tình yêu

của thi sĩ Nhấn mạnh điệp ngữ “Ta muốn” và các động từ: “ôm”, “riết”, “say”,

“thâu”, “cắn” Chú ý cách ngắt nhịp thơ không đều nhau

2.3.1.2 Hoạt động 2: HS đóng vai chuyên gia phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Mục đích

Đóng vai chuyên gia là phương pháp dạy học dựa trên việc giao cho người học giải quyết một vấn đề cụ thể thông qua hình thức đóng vai Phương pháp đóng vai chuyên gia được sử dụng trong phần này nhằm mục đích mở rộng hiểu biết và nâng cao nhận thức cho HS về tác giả Xuân Diệu Đặc biệt trong thực tế dạy - học hiện nay, người học thường ít khi chủ động đặt câu hỏi hay nêu những thắc mắc của

họ Vì vậy việc vận dụng phương pháp này sẽ khắc phục được điểm yếu đó một

Trang 33

cách dễ dàng Điều này giúp cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn, tạo điều kiện để

HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

- Cách thức tiến hành

Để thực hiện hoạt động hiệu quả, trước khi đến lớp HS phải tự nghiên cứu tài liệu, tự phát hiện, tự nắm bắt một phần kiến thức về chủ đề (tác giả Xuân Diệu) Trên lớp HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành nhóm “chuyên gia” Trên cơ sở đã tìm hiểu bài ở nhà các bạn HS còn lại trong lớp đặt câu hỏi cho nhóm “chuyên gia” để từ đó có sự so sánh, đối chiếu, khắc sâu kiến thức Trong hoạt động này GV đóng vai trò là người hướng dẫn để HS tự nghiên cứu tìm ra kiến thức và tự thể hiện mình trong lớp học GV là người kết luận và kiểm tra kết quả của HS Sau khi trao đổi, hợp tác với bạn bè và dựa vào kết luận của GV, HS tự sửa chữa, tự điều chỉnh, đồng thời tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết

vấn đề cho bản thân

Dự kiến câu hỏi và câu trả lời:

+ Những nét chính về tác giả Xuân Diệu?

Xuân Diệu (1916 - 1985) còn có bút danh là Trảo Nha, tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu Cha là Ngô Xuân Thọ,một nhà nho, quê ở làng Trảo Nha (nay là xã Đại Lộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; mẹ ông là bà Nguyễn Thị Hiệp quê ở Gò Bồi,

xã Tùng Giản, huyện Tùy Phước, tỉnh Bình Định

Với hai tập thơ “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Xuân Diệu đã có được

một chỗ đứng nhất định trong phong trào thơ mới Ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” “đệ nhất tình nhân”… với những bài thơ viết về tình yêu được nhiều người yêu thích

+ Cuộc đời và con người của Xuân Diệu?

Xuân Diệu lớn lên ở quê mẹ Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự lực văn đoàn (1938 - 1940)

Năm 1944, Xuân Diệu tham gia Mặt trần Việt Minh Ông hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

Năm 1983, Xuân Diệu được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật cộng hòa dân chủ Đức Tham gia đoàn đại biểu Việt Nam dự “Tuần lễ văn hóa Việt Nam” tại Liên Xô trở về, ông đi thăm miền Nam lần cuối cùng và từ trần ngày 18/12/1985 tại Hà Nội, sau một cơn đau tim đột ngột, thọ 69 tuổi

Trang 34

Trong lễ truy điệu của nhà thơ Xuân Diệu vào ngày 21/12/1985 nhà văn Hà Xuân Trường đã đọc bài điếu văn để bày tỏ sự thương tiếc trước sự ra đi của một nhà

thơ lớn: “Một cây lớn nằm xuống, làm cho cả khoảng trời trống vắng” Sự ra đi của

Xuân Diệu là một tổn thất lớn khó có thể bù đắp được

Ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996) Hiện nay, tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội, một con đường ở thành phố Quy Nhơn (Bình Định) và cũng được lấy làm tên cho một ngôi trường THPT ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và một trường THCS ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Ngoài ra, tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình cũng có một con đường ở phường Nam Lý mang tên Xuân Diệu Bên cạnh đó ở làng Trảo Nha, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã dựng nhà tưởng niệm, nhà thờ ông Những địa danh này đã thể hiện sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc của hậu thế đối với nhà thơ Xuân Diệu

+ Cảm nhận về phong cách thơ và những tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu?

Trước Cách mạng:

Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh)

“Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết” [11, tr.21] Ông ca ngợi tình yêu và qua đó ca ngợi sự

sống, niềm vui, tuổi trẻ, mùa xuân…

Sau Cách mạng, thơ Xuân Diệu tập trung “hướng mạnh vào thực tế đời sống

Các tập văn xuôi: “Phấn thông vàng” (1939), “Trường ca” (1945)

Các tập tiểu luận phê bình, nghiên cứu: “Những bước đường tư tưởng của

tôi” (1958), “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, hai tập (1981, 1982), “Công việc làm thơ” (1984)…

2.3.1.3 Hoạt động 3: HS hoạt động nhóm phát triển NL hợp tác

- Mục đích

Trang 35

Tổ chức cho HS làm việc nhóm kết hợp với thảo luận toàn lớp là một trong những giải pháp hiệu quả tạo môi trường học tập sôi nổi, tích cực.Ở đó HS đọc, phát hiện, lí giải tác dụng của các biên pháp tu từ nghệ thuật trong việc khắc họa hình tượng văn học, cảm nhận về vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật Đồng thời thông qua việc hoạt động nhóm còn giúp HS phát triển ý thức làm việc tập thể, hợp tác với các bạn trong việc giải quyết các nhiệm vụ đọc hiểu Qua đó HS được rèn luyện NL hợp tác

Qua việc sử dụng thảo luận nhóm tìm hiểu văn bản Vội vàng giúp các em

HS cảm nhận được nội dung, tư tưởng mà tác giả gửi gắm thông qua quá trình phân tích, cắt nghĩa văn bản

- Cách thức tiến hành

GV chia lớp thành bốn nhóm để giải quyết các nhiệm vụ học tập, có thể là nhiệm vụ chung cho cả bốn nhóm cũng có thể là nhiệm vụ cho từng nhóm Các nhóm tiến hành thảo luận trong khoảng thời gian quy định Trong quá trình thảo luận GV yêu cầu tất cả các thành viên đều phải tham gia hoạt động, đóng góp ý kiến

để giải quyết nhiệm vụ học tập Lúc này, GV cần quan sát thái độ làm việc của HS;

hỗ trợ, hướng dẫn HS khi cần thiết Kết thúc thời gian thảo luận, kết quả thảo luận

sẽ được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung Cuối cùng GV nhận xét và chốt lại vấn đề

Nhiệm vụ 1(Cả 4 nhóm): Tìm hiểu về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong mười ba câu thơ đầu

Mở đầu bài thơ là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn táo bạo của thi sĩ Đó là ước muốn tước quyền của tạo hóa, đoạt quyền vũ trụ:

“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”

Từ “tôi muốn” được điệp lại hai lần như để nhấn mạnh hơn nữa khát khao

cháy bỏng đến ngông cuồng của thi sĩ “Nắng”, “gió” vốn là những hiện tượng vĩnh hằng của tự nhiên, chúng có sức mạnh riêng mà con người không thể chinh phục

nổi Ấy vậy mà Xuân Diệu lại muốn “tắt nắng”, “buộc gió” Đây quả là ước muốn

kì lạ, táo bạo, phi lí và ngông cuồng Ước muốn ấy đã thể hiện một cái tôi đầy khao khát đoạt quyền năng của tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên để níu giữ vẻ đẹp,

Trang 36

hương sắc của cuộc đời Bởi lẽ Xuân Diệu biết rằng sắc thắm nào rồi cũng sẽ tàn phai Không muốn những vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời mất đi, Xuân Diệu đã bày

tỏ ước muốn táo bạo Đằng sau ước muốn ấy ta thấy được một trái tim tràn đầy niềm yêu thương vô bờ bến đối với thế giới thắm đượm hương sắc này Biệp pháp

tu từ điệp ngữ, điệp cấu trúc đã nhấn mạnh, làm nổi bật khao khát thiết tha, cháy bỏng của nhà thơ

Sau ước muốn táo bạo, Xuân Diệu đã vẽ ra bức tranh thiên nhiên cuộc sống nơi trần thế đẹp tựa thiên đường

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần;”

Nếu như bốn câu thơ đầu được viết theo thể thơ năm chữ, âm điệu dõng dạc, dứt khoát thì đến dây các câu thơ được nới rộng ra tám chữ để diễn tả một bức tranh mùa xuân tươi đẹp, tràn trề nhựa sống đang phơi bày, trải rộng trước mặt Bức tranh mùa xuân hiện ra với những hình ảnh tươi sáng, những sắc màu rực rỡ, căng tràn sức sống Ong bướm từng đôi, từng cặp bay lượn tình tứ, hạnh phúc như trong tuần

tháng mật ngọt ngào, đong đầy yêu thương Giữa đồng nội “xanh rì” - một màu

xanh mênh mông, màu sắc tươi thắm của những cách hoa càng trở nên nổi bật rực

rỡ Cây cối khi xuân về đâm chồi nảy lộc tạo nên những cành lá tơ non mềm mại phất phơ mỗi khi có cơn gió nghẹ thoáng qua Cùng tô điểm để làm đẹp thêm cho bức tranh mùa xuân ấy là những âm thanh réo rắt, ngất ngây của chim yến, chim oanh với khúc nhạc tình rạo rực, mê đắm Hòa cùng với hình ảnh, âm thanh là ánh sáng của buổi sớm mai rực rỡ, tinh khôi, tươi thắm tràn đầy sinh khí dưới cái nhìn tình tứ của Xuân Diệu, không phải được tỏa ra từ vầng dương rực rỡ mà là từ đôi mắt huyền ảo, từ hàng mi của người thiếu nữ kiều diễm Bức tranh mùa xuân tươi đẹp, dạt dào sức sống lãng mạn, tình tứ, tràn đầy xuân sắc, rộn rã xuân tình đang trải rộng trước mặt như gọi mời Hương thơm, màu sắc, âm thanh, ánh sáng tất cả hòa quyện tạo nên một vẻ đẹp thật quyến rũ Như vậy Xuân Diệu đã nhìn thiên nhiên

với cặp mắt “xanh non”, “biếc rờn” với lăng kính của tình yêu để rồi thổi vào đó

Trang 37

niềm hân hoan, rạo rực, đắm say của lòng mình Một loạt các tính từ với các mức độ đậm nhạt khác nhau đã diễn tả được một sức sống căng mọng, tràn trề của cảnh vật

Sự sống ngập tràn những sắc những hương đang phơi bày, hiển hiện như mời mọc, quyến rũ Ta có cảm giác Xuân Diệu đã mở rộng mọi giác quan để cảm nhận,

thưởng thức mọi sắc hương trong vườn địa đàng ấy Điệp từ “của” cùng điệp ngữ

“này đây” được lặp đi lặp lại trong các dòng thơ cùng với phép liệt kê đã diễn tả

được sự phong phú tuyệt vời của hương sắc Đồng thời gợi ra cảm giác hân hoan, thích thú, vui sướng của nhà thơ khi phát hiện ra một thiên đường thần tiên nơi mặt đất Con người xưa nay cứ mãi tưởng tượng cho mình một thiên đường ở chốn bồng lai, cõi niết bàn, cựa lạc hay chốn hão huyền nào đấy Bị ảnh hưởng bởi quan điểm này nên rất nhiều nhà thơ trung đại đã thể hiện tư tưởng muốn lánh đời ở ẩn để tìm được sự bình an trong tâm hồn Một số nhà thơ cùng thời với Xuân Diệu cũng mang

tư tưởng chối bỏ thực tại cho rằng thực tại này không đáng sống Chẳng hạn như

Nguyễn Tuân với “Vang bóng một thời”, Nguyễn Bính với “Chân quê” đã chối bỏ

thực tại bằng cách đi tìm về những vẻ đẹp của một thời xa xưa nay chỉ còn vang bóng; còn Chế Lan Viên, Tản Đà đã chối bỏ thực tại bằng cách tìm đến một cõi giới

khác “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nửa rồi” Ngược lại,

Xuân Diệu đã có một quan điểm rất mới mẻ, ông phát hiện thiên đường ngay trên mặt đất này, hơn nữa là ngay trong tầm tay của mỗi con người chúng ta, bày ra chào

mời chúng ta… Chính bởi vậy mà Hoài Thanh đã có lời khẳng định rằng: “Xuân

Diệu đốt cảnh bồng lai, xua ai nấy về hạ giới để yêu thương tận hưởng cuộc đời”

Vậy là hạnh phúc chính là những gì đang hiện hữu xung quanh ta, hãy tận hưởng ngay đi Tận hưởng cuộc sống từ những điều bình thường và giản dị nhất Ấn tượng hơn là hai câu thơ

“Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”

Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được nhìn thấy ánh mặt trời là ngày vui Nhà thơ chào đón mỗi buổi sớm, mỗi ngày mới như chào đón thần Vui gõ cửa

nhà mình với bao bồn chồn, hân hoan, háo hức Chữ “Vui” được viết hoa vừa thể

hiện thái độ tôn trọng của nhà thơ vừa liên tưởng đến vị thần trong thần thoại Hy

lạp xưa Đặc biệt, sáng tạo hơn cả là câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi

gần” và tính từ “ngon” cùng với nghệ thuật chuyển đổi cảm giác đã cụ thể hóa, vật

chất hóa vẻ đẹp, sức hấp dẫn của tháng giêng, của mùa xuân để từ đó gợi lên trong lòng người đọc niềm khát khao tận hưởng Xuân Diệu đã so sánh tháng giêng, tháng khởi đầu của mùa xuân với cặp môi gần của người thiếu nữ Đây thực sự là một

Trang 38

hình ảnh so sánh đầy táo bạo, mới mẻ của Xuân Diệu đã diễn tả được vẻ mơn mởn, tươi non đầy quyến rũ của mùa xuân khi mới bắt đầu Tình yêu mùa xuân, tuổi trẻ

đã được nhà thơ thể hiện thật táo bạo qua hình ảnh so sánh nhuốm màu sắc nhục cảm ấy Câu thơ còn thể hiện quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về chuẩn mực của cái đẹp.Nếu như trong thơ ca xưa, các nhà thơ luôn lấy thiên nhiên làm chuẩn mực

cho cái đẹp hoàn hảo Chẳng hạn như trong câu ca dao: “Những người con mắt lá

răm/Lông mày lá liễu, đáng trăm quan tiền” Hay Nguyễn Du khi miêu tả vẻ đẹp

của chị em Thúy Kiều cũng mượn hình ảnh của thiên nhiên để so sánh, ví von:

“Làn thu thủy, nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Còn với

Xuân Diệu thì không thế, ông xem con người giữa tuổi trẻ, trong tình yêu mới là chuẩn mực của mọi vẻ đẹp trên thế gian này Quả là một quan niệm thẩm mĩ vừa mới mẻ vừa có ý nghĩa nhân bản, nhân văn sâu sắc Ta còn bắt gặp quan niệm này trong nhiều bài thơ khác của ông

Đến hai câu thơ tiếp theo giọng thơ bỗng trùng xuống, cảm xúc rạo rực, hân hoan, say đắm đã lắng lại

“Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

Dấu chấm đột ngột xuất hiện giữa dòng thơ khiến câu thơ bị ngắt làm đôi tạo nên phút lặng, độ ngưng của cảm xúc và cũng giống như một sự giật mình của

thi nhân trước một niềm vui không trọn vẹn Từ “nhưng” mang ý nghĩa tương phản

đánh dấu sự thay đổi của tâm trạng, cảm xúc Niềm vui sướng lúc trước vẫn còn lắng xuống bởi nhà thơ linh cảm trước về sự phai tàn, chia xa nên phải vội vàng, hối

hả Tâm trạng ấy đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất trong một trái tim luôn nồng nhiệt niềm yêu, vui sướng khi được tận mắt chứng kiến, chiêm ngưỡng, tận hưởng

cả một thiên đường nơi mặt đất… cảnh sắc thiên nhiên trong mùa xuân quả là tươi đẹp, cuộc sống tựa như một trái chín mọng đang gọi mời Nhưng nhà thơ lại thấy âu

lo, tiếc nuối, vội vàng bởi thời gian vẫn đang chảy trôi mà con người lại không thể tước đoạt quyền năng của tạo hóa để thời gian ngừng trôi, để màu sắc, hương vị của cuộc đời còn lại mãi mãi Đây là câu thơ bản lề khép lại cảm xúc si mê, nồng nhiệt, say đắm để chuyển sang nỗi buồn bã, vội vàng, gấp gáp Thông thường mọi người chỉ ngậm ngùi, nuối tiếc mùa xuân khi xuân tàn, hạ tới Nguyễn Trãi ngày trước:

“Trong tiếng quốc kêu xuân đã muộn”; hay Nguyễn Khuyến cũng viết “Có phải tiếc xuân mà đứng gọi” Còn Xuân Diệu, nỗi ám ảnh bởi sự chảy trôi của thời gian,

bởi sự hữu hạn của kiếp người khiến nhà thơ có thái độ sống thật tích cực “không

Trang 39

chờ nắng hạ mới hoài xuân” Ông yêu xuân, tiếc xuân ngay khi đương xuân, khi nó

vẫn đang được căng tràn, đẹp đẽ Bởi lẽ nhà thơ ý thức được rằng cùng với sự chảy trôi của thời gian, vẻ đẹp của mùa xuân sẽ tàn phai và tuổi trẻ của con người cũng

sẽ ra đi Thế nên nhà thơ muốn tận hưởng vẻ đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ ngay ở hiện tại chứ không đợi đến lúc nó đã qua đi mới tiếc nuối Phải là người hiểu rõ giá trị của cuộc sống Xuân Diệu mới có thể có được thái độ sống tích cực như vậy

Như vậy, mười ba câu thơ đầu đã vẽ nên trong tâm tưởng người đọc một bức tranh mùa xuân đẹp đẽ, tinh khôi, căng tràn sức sống Tất cả đều ngọt ngào, say đắm, tràn đầy xuân sắc, xuân tình Bức tranh mùa xuân đẹp tựa thiên đường ấy được Xuân Diệu vẽ nên bởi những chất liệu bình dị, gần gũi, đời thường Với niềm yêu đời, ham sống, với cảm xúc lãng mạn, nồng nhiệt qua đoạn thơ người đọc cảm thấy

rõ một cái tôi Xuân Diệu trẻ trung, yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết Đồng thời còn giúp ta thấy được những quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về mùa xuân, tuổi trẻ và cuộc đời để từ đó thêm trân trọng, trân quý những giá trị mà cuộc đời trao tặng

Nhiệm vụ 2 (Nhóm 1 và nhóm 3): Quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian?

Nếu như ở đoạn thơ đầu tiên Xuân Diệu thể hiện niềm say mê nồng nhiệt với mùa xuân và cuộc sống nơi trần thế đẹp tựa thiên đường thì đến đoạn thơ tiếp theo nhà thơ đã thể hiện những quan niệm mới mẻ về thời gian Các nhà thơ trung đại quan niệm vũ trụ vĩnh cửu, thời gian luôn tuần hoàn với chu trình bốn mùa luôn

chuyển “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng” Bởi thế con người thời trung

đại luôn ung dung, bình thản trước thời gian, chẳng bao giờ ta thấy họ vội vã Xuân Diệu có quan niệm thật mới mẻ và tiến bộ về thời gian

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Xuân Diệu đã nhận thức rõ sự đối lập giữa thời gian của vũ trụ với thời gian của đời người Thời gian của vũ trụ thì vô thủy, vô chung, tuần hoàn, vĩnh cửu còn thời gian của đời người là hữu hạn, tuyến tính Nhịp ngắt 3/5 cùng với kiểu câu định nghĩa được lặp lại hai lần đã khẳng định sự trôi chảy, vận động của thời gian Các

cặp từ tương phản, đối lập “xuân tới” - “xuân qua”; “xuân non” - “xuân già”;

“xuân hết” - “tôi mất” đã diễn tả tâm trạng âu sầu của nhà thơ Ý thơ nghe có vẻ

phi lí nhưng thực ra lại mang chân lí sâu sắc Bởi lẽ, từng giây, từng phút xuân đang đến cũng đồng thời là lúc từng giây, từng phút xuân đang trôi qua, đang bị đẩy lùi

Trang 40

vào quá khứ Xuân vừa mới đến, xuân vẫn còn non tơ nhưng chắc chắn một ngày không xa xuân sẽ già, sẽ qua đi Nếu hai từ “đương” ở câu thơ trước diễn tả quan hệ đồng thời cùng lúc ở hiện tại thì cặp từ “còn - sẽ” ở câu thơ sau đã hướng cái nhìn đến cả tương lai chứ không còn dừng lại ở hiện tại Là nhà thơ luôn đắm say, rạo rực, tha thiết và muốn tuổi trẻ nên Xuân Diệu đã khẳng định:

“Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng, nhưng lượng đời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian,”

Mùa xuân là mùa của sự sống căng mọng, tràn trề và tuổi xuân là gia đoạn đẹp nhất, dạt dào sức sống nhất Thế nên khi mùa xuân phai tàn, khi tuổi trẻ qua đi

thì cuộc sống với Xuân Diệu dường như không còn ý nghĩa, Sự đối lập “lòng tôi

rộng” - “đời chật” đã khắc họa nghịch lí giữa khát vọng khôn cùng của lòng người

với quy định ngặt nghèo của tạo hóa Đồng thời thể hiện tâm trạng chán nản, âu sầu, thất vọng của nhà thơ khi ước mong không được thỏa đáp Những câu thơ này của Xuân Diệu đã đem đến cho chúng ta một quan niệm mới về giá trị của cuộc sông Giá trị của đời sống không phải ở chiều dài của những năm tháng tồn tại mà chính

là ở tuổi trẻ, ở những giá trị mà mỗi chúng ta tạo ra ở tuổi trẻ

Tiếp đó, Xuân Diệu đã chán nản phủ nhận:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!”

Giọng thơ nghe có ý hờn giận, trách cứ Ngay trước trong chùm thơ “Tiếc cảnh” Nguyễn Trãi có viết:

“Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên”

Hồ Xuân Hương cũng từng ngao ngán:

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại”

Nhưng đến Xuân Diệu ông đã dứt khoát phủ nhận quan niệm của người xưa cho rằng thời gian “tuần hoàn” Từ đó, ông khẳng định thời gian là tuyến tính, thời gian chẳng thể quy hồi Xuân của đất trời thì “tuần hoàn” nhưng mùa xuân của đời người thì lại “chẳng hai lần thắm lại” Muốn kéo dài những năm tháng tươi đẹp của tuổi trẻ mà không được nên hối tiếc, ngậm ngùi và nỗi buồn bỗng cứ trào dâng

Ngày đăng: 06/04/2021, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Ngọc Diệp (2015), Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Số 113/02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Bùi Ngọc Diệp
Năm: 2015
5. Bùi Minh Đức (2013), Năng lực và phân loại năng lực trong các nghiên cứu hiện nay, Tạp chí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và phân loại năng lực trong các nghiên cứu hiện nay
Tác giả: Bùi Minh Đức
Năm: 2013
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển Thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Phạm Thị Thu Hương (2012), Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2012
9. Mã Giang Lân, Xuân Diệu, những lời bình, NXB Văn hóa - thông tin, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu, những lời bình
Nhà XB: NXB Văn hóa - thông tin
10. Phan Trọng Luận (2007), Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
11. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2007), Ngữ văn 11 cơ bản tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 cơ bản tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
12. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2007), Ngữ văn 11 nâng cao tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 nâng cao tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Đăng Mạnh, Xuân Diệu và niềm khao khát giao cảm với đời, Báo Văn nghệ số 29 ngày 20/7/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu và niềm khao khát giao cảm với đời
15. Hoàng Phê, (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
16. Hoài Thanh, Hoài Chân (2000), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
Năm: 2000
17. Chu Văn Sơn (2005), Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính -Hàn Mặc Tử, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính -Hàn Mặc Tử
Tác giả: Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
18. Trần Đình Sử (chủ biên) (2002), Lí luận văn học tập 2, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học tập 2
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2002
19. Nhiều tác giả (2014), Lí thuyết hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Báo công nghệ Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2014
1. Hoàng Lan Anh, Dạy - học Ngữ văn qua trải nghiệm Khác
3. Bộ GD-ĐT (2017), Chương trình Giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể) Khác
7. PGS.TS Lê Huy Hoàng, Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong quá trình giáo dục phổ thông mới Khác
13. Phương Lựu (chủ biên) (1996), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w