Kết quả thu được về các hình thức giáo viên sử dụng trong việc giáo dục văn hóa giao tiếp qua việc kể chuyện cho trẻ nghe.. Như vậy, vấn đề phát triển ngôn ngữ trong các trường Mầm non n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ MAI ANH
GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA VIỆC KỂ CHUYỆN
CHO TRẺ NGHE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ MAI ANH
GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA VIỆC KỂ CHUYỆN
CHO TRẺ NGHE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành tại khoa Giáo dục Mầm non – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo – PGS.TS Nguyễn Thu Hương đã
chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ bộ môn Phương pháp giáo dục mầm non, cùng các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã động viên, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn BGH Trường mầm non Văn Khê – Mê Linh –
Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận
Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi nhỏ và thời gian có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu xót Kính mong được sự chỉ bảo, đóng góp
ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên để vấn đề nêu trong khóa luận được đầy đủ và hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 5- 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe” này là kết quả
nghiên cứu, tìm tòi của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Nguyễn Thu Hương – Giảng viên khoa Giáo dục Mầm non, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các tài liệu khác nhau để tham khảo Tuy nhiên, những tài liệu đó là cơ sở để tôi rút ra vấn đề cần tìm hiểu cho đề tài của mình Những kết quả trong khóa luận là trung thực chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Anh
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Mục đích nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc khóa luận 5
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1.Văn hóa giao tiếp 6
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa giao tiếp 6
1.1.1.3 Các khía cạnh của văn hóa giao tiếp 7
1.1.2 Vai trò của văn hóa giao tiếp đối với trẻ 5 - 6 tuổi 13
1.1.3 Khái niệm kể chuyện 14
1.1.4 Vai trò của hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe 16
1.1.5 Biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe 17
1.1.5.1 Biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời 17
1.1.5.2 Biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe theo tranh 19
1.1.5.3 Biện pháp kể chuyện sáng tạo 19
1.1.6 Đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi 20
1.1.6.1 Đặc điểm trí nhớ 20
1.1.6.2 Đặc điểm chú ý 21
1.1.6.3 Đặc điểm tư duy 22
1.1.6.4 Đặc điểm ngôn ngữ 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
Trang 71.2.1 Chương trình Giáo dục mầm non với việc giáo dục văn hóa giao
tiếp 23
1.2.2 Thực trạng về việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ mầm non 24
1.2.2.1 Nhận thức của giáo viên về việc giáo dục văn hóa giao tiếp 24
1.2.2.2 Nhận thức của giáo viên thông qua hoạt động kể chuyện 26
1.2.2.3 Hoạt động giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ trên lớp học 27
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO TRẺ QUA VIỆC KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE 31
2.1 Hệ thống các câu chuyện giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 31
2.1.1 Câu chuyện giáo dục cách dùng từ và đặt câu 31
2.1.2 Câu chuyện giáo dục phong cách giao tiếp 32
2.1.3 Câu chuyện giáo dục nghi thức cần thiết trong giao tiếp 34
2.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 35
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục 35
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 35
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 35
2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan và thẩm mỹ 36
2.3 Biện pháp giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe 36
2.3.1 Giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ qua việc kể chuyện bằng lời 36
2.3.2 Giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ qua việc kể chuyện theo tranh 42
2.3.3 Giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ qua việc kể chuyện sáng tạo 49
Kết luận chương 2 59
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Mục đích thực nghiệm 60
3.2 Đối tượng thực nghiệm 60
3.3 Địa bàn thực nghiệm 61
Trang 83.4 Thời gian thực nghiệm 61
3.5 Nội dung thực nghiệm 62
3.6 Quy trình thực nghiệm 62
3.6.1 Chọn lớp để tiến hành thực nghiệm 62
3.6.2 Tiến hành thực nghiệm 62
3.7 Tiêu chí đánh giá 63
3.8 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 67
3.8.1 Đánh giá trên lớp 67
3.8.2 Đánh giá của phụ huynh 70
Kết luận chương 3 73
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Một số khuyến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả nhận thức của giáo viên về việc giáo dục văn hóa giao
tiếp cho trẻ 5- 6 tuổi 25Bảng 2.1 Kết quả thu được về các hoạt động được giáo viên sử dụng
trong việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 26Bảng 2.2 Kết quả thu được về các hình thức giáo viên sử dụng trong
việc giáo dục văn hóa giao tiếp qua việc kể chuyện cho trẻ nghe 27Bảng 2.3 Hệ thống các câu chuyện giáo dục cách dùng từ và đặt câu cho
trẻ 5 – 6 tuổi 31Bảng 2.4 Hệ thống các câu chuyện giáo dục phong cách giao tiếp cho
trẻ 5 – 6 tuổi 33Bảng 2.5 Hệ thống các câu chuyện giáo dục nghi thức cần thiết trong
giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi 34Bảng 3.1 Bảng tiêu chí đánh giá mức độ tiếp thu VHGT của trẻ về ngôn
ngữ 64Bảng 3.2 Bảng tiêu chí đánh giá mức độ tiếp thu VHGT của trẻ về ngôn
ngữ cơ thể 65Bảng 3.3 Bảng tiêu chí đánh giá mức độ tiếp thu VHGT của trẻ về hành
vi ứng xử 66Bảng 3.4 Bảng kết quả khảo sát văn hóa giao tiếp sau khi sử dụng
phương pháp kể chuyện cho trẻ nghe của 25 trẻ lớp 5 tuổi A1 67Bảng 3.5 Kết quả thăm dò ý kiến 25 phụ huynh có con sau khi đã học
thực nghiệm 71
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Trường mầm non Văn Khê – Mê Linh – Hà Nội 60Hình 3.2 Tiến hành thực nghiệm trên 25 trẻ lớp 5 tuổi A1 63
Trang 11Đối với trẻ mầm non cũng vậy, giao tiếp có vai trò rất quan trọng Nó giúp trẻ có thể hòa nhập vào môi trường xã hội dễ dàng Muốn đạt được hiệu quả, bên cạnh đó còn có sự tham gia của văn hóa giao tiếp “Việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ phải được tiến hành ngay từ nhỏ để giúp trẻ hình thành những phẩm chất cho con người trong tương lai Những phẩm chất này
sẽ giúp trẻ tự tin, mạnh dạn, độc lập, sáng tạo, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ thích ứng với môi trường xung quanh”[2] Tuy nhiên hiện nay, công tác giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ mẫu giáo vẫn còn nhiều hạn chế, chưa được sự quan tâm chú ý
Kể chuyện là phương pháp chủ yếu cho trẻ làm quen với văn học Dù
kể chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo hay kể lại chuyện văn học thì sau mỗi câu chuyện đều có một bài học riêng GD VHGT cho trẻ Ví dụ như: Giáo dục ứng xử hành vi giao tiếp phù hợp cho trẻ, giáo dục nghi thức chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi cho trẻ,… Tất cả những điều đó tạo thành thói quen giao tiếp ngôn ngữ lịch sự, có văn hóa
Trẻ 5-6 tuổi là tuổi chuẩn bị vào lớp 1, cần được trang bị kiến thức và
kỹ năng mềm cho việc học tập và giao tiếp ở cấp tiểu học Đây là thời điểm
vô cùng thuận lợi để giúp trẻ phát triển văn hóa giao tiếp của mình Do đó,
Trang 122
việc nghiên cứu sâu về văn hóa giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi là một hoạt động hết sức có ý nghĩa về mặt thực tiễn
Với những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
“Giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, vấn đề ngôn ngữ cho trẻ cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm
Trong cuốn “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của
Nguyễn Xuân Khoa, ông đã đưa ra các lý luận và cơ về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Ngoài ra, Nguyễn Xuân Khoa đã đề cập đến những nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ khác nhau, trong đó có nhiệm vụ dạy trẻ giao tiếp có văn hóa Tác giả đã đưa ra một số biện pháp hướng dẫn trẻ kể chuyện nhằm phát triển lời nói độc thoại cho trẻ: Kể chuyện bằng lời, kể chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo, rất bổ ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này Trong
“Tạp chí ngôn ngữ số 3-4/1984”, ông còn có bài viết “Phát triển năng lực
hoạt động lời nói trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trường” Bài viết đã gây được sự chú ý của nhiều bạn đọc
Luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Thị Lan “Những bước phát triển ngôn
ngữa của trẻ em từ 1-6 tuổi” đã nêu lên những bước phát triển ngôn ngữ về
các mặt: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, Từ đó tác giả đã xây dựng được nội dung, các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ
trong giao tiếp Qua nghiên cứu, tác giả khảng định: “Sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố gia đình và tích cực giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh”
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu cũng nói vể các biện pháp dạy trẻ kể chuyện như:
Trang 133
Trong “Một số biện pháp dạy trẻ 4 - 5 tuổi kể chuyện theo tranh” của
Phạm Hồng Yến đã nêu được những điểm nổi bật khi kể chuyện theo tranh rất hấp dẫn nhằm thu hút sự chú ý của trẻ
Năm 2005, với việc bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Một
số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua kể chuyện theo tranh” của Nguyễn Thị Xuân, Đại học Sư phạm Hà Nội đã điều
tra được các thực trạng về việc sử dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo tranh và sử dụng ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trong luận án “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi kể lại
chuyện văn học nhằm phát triển lời nói mạch lạc” của Âu Thị Hảo đã điều tra
thực trạng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, đề ra một số biện pháp hay để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ, ngoài ra còn tiến thành thực nghiệm sư phạm để đánh giá và kiểm tra thực nghiệm, đồng thời đưa ra kết quả nghiên cứu là khả thi
Như vậy, vấn đề phát triển ngôn ngữ trong các trường Mầm non nói chung và giáo dục văn hóa giao tiếp qua việc kể chuyện cho trẻ nghe nói riêng
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các công trình đã khẳng định vai trò lớn lao của ngôn ngữ đối với quá trình hình thành và phát triển của trẻ em
3 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra cách GD VHGT cho trẻ 5 - 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe Giúp trẻ tạo thói quen giao tiếp lịch sự, có văn hóa, chuẩn bị tâm thế tốt trước khi đến trường phổ thông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng : GD VHGT cho trẻ 5 - 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
Phạm vi: Trẻ 5 - 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
5 Nhiêm vụ nghiên cứu
Trang 144
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
5.2 Khảo sát thực trạng của việc GD VHGT cho trẻ 5 – 6 tuổi qua việc
kể chuyện cho trẻ nghe ở trường mầm non Văn Khê – Mê Linh, Hà Nội
5.3 Đưa ra các biện pháp GD VHGT cho trẻ qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
5.4 Thực nghiệm sư phạm về các biện pháp GD VHGT cho trẻ 5– 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Các tài liệu về cơ sở lí luận gồm: Các tài liệu về lí luận ngôn ngữ cho trẻ em, phương pháp pháp triển ngôn ngữ cho trẻ, các tài liệu về hướng dẫn dạy học và tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, các tài liệu về sự phát triển, đặc điểm của trẻ 5 – 6 tuổi, các tài liệu nghiên cứu giao tiếp cho trẻ và các công trình khoa học khác có liên quan
6.2 Phương pháp điều tra thực trạng
Phát phiếu điều tra trên 20 giáo viên ở trường Mầm non Văn Khê – Mê Linh – Hà Nội nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên về GD VHGT cho trẻ qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
Xây dựng phiếu điều tra trên 25 phụ huynh của 25 trẻ được tiến hành dạy thực nghiệm nhằm tìm hiểu kết quả thực nghiệm
6.3 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động giao tiếp của trẻ trong giờ học để khảo sát khả năng
giao tiếp với cô và với các bạn; Tiến hành quan sát trẻ qua các tiêu chí đánh
giá về ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ cơ thể và ứng xử hành vi để khảo sát văn hóa giao tiếp của trẻ trước và sau khi sử dụng phương pháp kể chuyện cho trẻ
nghe
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 155
Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của đề tài nghiên cứu đã đề ra
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí số liệu, kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm sư phạm làm căn cứ đánh giá định tính kết quả nghiên cứu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Biện pháp GD VHGT cho trẻ 5 - 6 tuổi qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 166
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1.Văn hóa giao tiếp
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa giao tiếp
Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp Trong Tâm lí học, “ Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa quan hệ xã hội giữa người với nhau” [4]
Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nhận định: “Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện,
cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời
nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử…”[4]
Khi định nghĩa về VHGT, có rất nhiều định nghĩa Trong đó, chúng tôi quan tâm đến khái niệm văn hóa giao tiếp của Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị
Tuyết Hoa, “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, thông qua
đó còn người trao đổi với nhau về thông tin, về xúc cảm, tri giác lẫn nhau, tác động qua lại với nhau” [2]
Trong định nghĩa này, có thể hiểu “ Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm
lý giữa con người với con người để nhằm thực hiện các mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách bản thân Giao tiếp nói chung là phương thức hoạt động của con người, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách của trẻ”.[2]
Chu Văn Đức khảng định, VHGT “ còn là cách thức mà con người cư
xử với những người khác trong xã hội, thể hiện trình độ nhận thức và sự tôn trọng với người giao tiếp Văn hóa giao tiếp bao gồm chuẩn mực ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp, phong cách sử dụng ngôn ngữ và các nghi thức cần thiết trong giao tiếp”.[4]
Trang 177
Cha ông ta có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Đó là nói về cách ăn nói, giao tiếp giữa người với người Khi đã mang trong mình cái gọi là “Có văn hóa” thì luôn luôn cư xử đúng mực, kèm theo là cách ăn nói đúng đắn, nói để người khác nghe nên việc giao tiếp có văn hóa cũng là khi người ta biết nói những điều tốt đẹp đưa vào tai nhau
1.1.1.2 Đặc trưng của văn hóa giao tiếp
Như chúng ta đã biết, hội thoại vừa là hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ, vừa thể hiện hiện tượng xã hội
Thứ nhất, “ Khi nói hội thoại là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vì chính trong hội thoại (và độc thoại), thì ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng quan trọng – chức năng giao tiếp Chính trong hội thoại, ngôn ngữ mới được phát huy đầy đủ về đặc điểm, vẻ đẹp, sức mạnh của nó
Nói hội thoại là một hiện tượng xã hội vì nó nảy sinh và tồn tại chỉ trong cộng đồng người chứ không phải ở đâu xa lạ Con người sử dụng hội thoại như một công cụ đắc lực dùng để trao đổi thông tin, giao lưu tình cảm, gắn kết từng cá thể với nhau tạo thành cộng đồng, xã hội Bàn đến đặc trưng của hội thoại là bàn đến chức năng, mục đích và nội dung hội thoại, là gắn hội thoại với các hoạt động xã hội
Hoạt động hội thoại là một phần của văn hóa giao tiếp, gắn kết chặt chẽ với các quy tắc, ứng xử trong xã hội, thể hiện trình độ văn minh của con người Hai đặc trưng này gắn liền đôi khi khó tách biệt đâu là đặc trưng ngôn ngữ, đâu là đặc trưng xã hội”[6]
1.1.1.3 Các khía cạnh của văn hóa giao tiếp
Một là, cách sử dụng từ ngữ
Khi nói về định nghĩa từ ngữ, Đỗ Hữu Châu có viết “Từ vựng – Từ
nghĩa học là một chuyên ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu và từ vựng của ngôn ngữ trong chức năng biểu nghĩa của chúng” [3]
Trang 188
Ngoài ra, ông còn nhận định: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số
âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả cùng với một ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt” [3]
Từ ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi cần nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, biết dùng từ chính xác trong từng hoàn cảnh cụ thể
Ví dụ: Khi cô giáo yêu cầu trẻ miêu tả cảnh biển lúc sáng sớm, trẻ biết dùng từ “bình minh” cho câu văn thêm hay hơn
Giáo viên cần phát triển vốn từ đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa để giúp cho trẻ có khả năng lựa chọn và sử dụng từ chính xác, từ đó nâng cao hiệu quả trong giao tiếp
Ngoài ra cần tích cực hóa vốn từ của trẻ, giáo viên chú ý cần phải dạy trẻ sử dụng được đúng cấu trúc câu Một từ có thể sử dụng trong nhiều câu khác nhau, được tích cực hóa trong hoạt động giao tiếp
Trẻ mầm non hay dùng từ sai vì trẻ chưa hiểu đúng nghĩa, giáo viên cần phân tích chính xác nghĩa của từ, đưa nghĩa đúng của từ đến với trẻ bằng con đường đơn giản và dễ hiểu nhất
Hai là, cách sử dụng câu
Như chúng ta đã biết, “ Câu là đơn vị lớn nhất về mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của ngôn ngữ Câu được nghiên cứu ở cấu trúc cú pháp hình thức với các thuật ngữ: Chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ.” [17]
Trong sinh hoạt hằng ngày và trong bất cứ hoạt động nào, giáo viên cũng cần uốn nắn lỗi trong lời nói của trẻ, trong đó lỗi cơ bản là cách sử dụng câu Tuy nhiên, phương tiện chính của sự hình thành lời nói đúng ngữ pháp là giảng dạy tiết học riêng biệt Giáo viên nên dạy trẻ biết sử dụng mẫu câu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Ví dụ khi trẻ chào cô vào lớp: “Con chào cô ạ,
cô cho con vào lớp ạ” Hay khi nói chuyện với bạn mình về việc trao đổi đồ
Trang 19để uốn nắn, hướng dẫn trẻ sử dụng câu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp:
Đinh Hồng Thái chia sẻ: “ Sử dụng lời nói mẫu là Trẻ học lời nói chủ yếu bằng cách bắt chước Chính vì thế cô phải làm mẫu trước cho trẻ Lời nói mẫu của cô phải đảm bảo chuẩn mực về phương diện ngữ pháp Cô phải lựa chọn một số chủ đề phù hợp với mẫu câu sẽ sử dụng Cần chú ý các mẫu câu phải đa dạng để tránh sự đơn điệu Mỗi giờ học cô phải có nhiệm vụ vừa củng
cố các mẫu câu đã có, vừa cung cấp các mẫu câu mới” [6]
Ví dụ cô kể chuyện theo đề tài “Lễ phép với người lớn” Ngoài các mẫu câu đơn: Chủ ngữ - Vị ngữ Cô phát triển mẫu câu có dạng trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm: Hôm qua, Chú Bình - bạn của bố vào nhà con chơi Con
đã lễ phép chào chú “Cháu chào chú ạ”, chú mỉm cười và xoa đầu con
“Đàm thoại: Cô trò chuyện với trẻ theo một chủ đề nào đó do cô gợi ý, trong khi trò chuyện, cô đặt ra những tình huống để dẫn dắt trẻ vào những mẫu câu mà cô định luyện cho trẻ” [6]
Ví dụ: Trò chuyện với trẻ về những lần trẻ được khen
Trẻ sẽ kể những lần trẻ được bố mẹ, ông bà, cô giáo khen (lễ phép, nhường nhịn em nhỏ, đoàn kết với các bạn trong lớp, ) Cô hướng trẻ sử dụng câu có trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích Từ đó nhắc nhở trẻ sử dụng câu
từ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Trẻ hay mắc lỗi sắp xếp không đúng trật tự trong câu Khi đó, giáo viên cần giải thích mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng cho trẻ hiểu Sau đó yêu cầu trẻ sắp xếp lại trật tự và nối lại cho đúng
Ba là, phong cách giao tiếp
Trang 2010
Theo “Giáo trình kĩ năng giao tiếp” của Chu Văn Đức, “Phong cách
giao tiếp là hệ thống những lời nói, cử chỉ, điệu bộ, động tác, các ứng xử tương đối ổn định của mỗi con người hoặc mỗi nhóm người trong giao tiếp”
[4] Ví dụ: Khi có khách vào chơi nhà, có trẻ thì bước nhanh đến chào đón khách, cúi đầu chào lễ phép, có trẻ thì đứng ở một vị trí, chờ khách vào rồi mới cúi đầu chào
Phong cách giao tiếp còn được thể hiện ở cử chỉ, điệu bộ giao tiếp
Cử chỉ là một hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ hoặc giao tiếp không bằng giọng nói trong đó các hành động cơ thể hữu hình truyền đạt các thông điệp cụ thể thay cho hoặc kết hợp với lời nói Cử chỉ bao gồm chuyển động của tay, mặt hoặc các bộ phận khác của cơ thể Là một phương tiện gây ấn tượng thị giác, cử chỉ có thể gây ấn tượng mạnh cùng giọng nói và thái độ tự tin, tầm hiểu biết về văn hóa giao tiếp lịch sự, văn minh sẽ giúp người nói đạt được hiệu quả giao tiếp Cử chỉ, điệu bộ càng tự nhiên, gọn nhẹ, uyển chuyển bao nhiêu thì càng có sức thuyết phục người nghe bấy nhiêu
Đối với trẻ mầm non, giáo viên cần dạy cho trẻ các cử chỉ, điệu bộ lễ phép trong giao tiếp như: Khi chào người lớn cần khoanh tay, đầu hơi cúi xuống; Khi xin lỗi người khác cần bày tỏ thái độ ân hận bằng cách khoanh tay
Bốn là, các nghi thức cần thiết trong giao tiếp
Theo giáo trình “Giao tiếp với trẻ em” của Nguyễn Văn Lũy và Trần thị Tuyết Hoa thì “Nghi thức giao tiếp là hình thức, cách thức, những quy
định mang tính chất nghiêm túc, theo quy ước của xã hội hoặc theo thói quen, cần phải làm đúng trong giao tiếp” [2]
Các nghi thức cần thiết trong giao tiếp người lớn đó là: Nghi thức chào hỏi, nghi thức bắt tay, nghi thức giới thiệu và tự giới thiệu, danh thiếp và trang phục Còn đối với trẻ mầm non, các nghi thức giao tiếp có văn hóa đó là
Trang 2111
nghi thức chào hỏi, kĩ năng xin lỗi, kĩ năng cảm ơn, kĩ năng thể hiện nhu cầu
cá nhân, kĩ năng tham gia trò chuyện và kĩ năng thể hiện lòng tự trọng
Chào hỏi là nghi thức cơ bản nhất trong các nghi thức giao tiếp Chào hỏi thể hiện sự tôn trọng và văn hóa giao tiếp, thể hiện mối quan hệ tốt đẹp với người khác, ngoài ra còn thể hiện thái độ quan tâm và sẵn sàng trong giao tiếp
“ Đối với trẻ mầm non, cô giáo cần dạy trẻ khi gặp mặt người khác, nếu
là người lớn thân thích, kèm theo nét mặt vui tươi là những lời chào niềm nở, bằng những câu xưng hô đúng với chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ, như: “Cháu chào bác/cô/chú ạ” , với ngữ điệu giao tiếp, mắt nhìn về phía người giao tiếp, đầu hơi cúi xuống (đối với người già), đầu để tự nhiên (đối với người trẻ tuổi), trẻ có thể hôm hôn hoặc chìa má cho người khác hôn để tỏ lòng thân thiết” [2].Cách chào hỏi khi chia tay cũng tương tự như khi gặp mặt nhưng có thể vẫy tay và nói: “Tạm biệt” Nếu khách là người thân thiết thì nói thêm:
“Khi nào có dịp, bác/cô/chú/bạn lại đến nhé”
“ Kĩ năng xin lỗi: Khi làm phiền người khác thì phải xin lỗi bằng câu:
"Bác/cô/chú/bạn có sao không? Cháu (hay con) xin lỗi ạ Với nét mặt nghiêm chỉnh và cử chỉ tỏ ra hối hận” [2]
Khi cô dạy trẻ kĩ năng xin lỗi cũng nên dạy kèm kĩ năng tha lỗi Tha lỗi thể hiện thái độ thông cảm và tôn trọng người có lỗi, thể hiện lòng vị tha của mình đối với họ Rèn luyện cho trẻ khả năng kiên nhẫn và xây dựng đức tính tốt đẹp
“Kĩ năng cảm ơn: Cô dạy trẻ biết nói lời cảm ơn hay khi người khác tha
lỗi cho mình Đó là những lời nói lịch sự với hàm ý biết ơn với đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ “Cháu cảm ơn bác/cô/chú ạ” với cử chỉ tôn kính Đối với bạn bè thì chỉ cần nói “Cảm ơn bạn” là được” [2]
“ Kĩ năng thể hiện nhu cầu cá nhân: Trong cuộc sống hằng ngày, trẻ có
khá nhiều nhu cầu cần được người khác thỏa mãn Để người khác biết nhu
Trang 2212
cầu của mình, trẻ cần nói với họ những lời mang tính khẩn cầu, như: Hãy hộ cháu làm một việc gì đó hay “Cho cháu xin cái cốc ạ”, và nên có thái độ chờ đợi Nếu được đáp ứng thì phải nói cảm ơn, nếu chưa được đáp ứng thì hãy kiên nhẫn chờ đợi, tránh những đòi hỏi vô lí hay những câu nói cộc lốc như ra lệnh hay ăn vạ, từ đó sẽ tạo thói quen xấu cho trẻ” [2]
Khi ai yêu cầu mình làm gì thì trẻ nên vui lòng nhận lời và làm ngay nếu việc đó phù hợp với khả năng của trẻ Nếu có khó khăn hoặc chưa làm ngay thì nên nói khéo: “Con đang dở tay, để một chút nữa có được không ạ?”, hay muốn từ chối “Việc này khó quá con không làm được ạ” Tất nhiên người lớn sẽ sẵn sàng bảo ban để trẻ có thể làm được hay làm cùng với họ, nếu quả thật là việc khó thì người lớn nên tỏ thái độ thông cảm và không bắt trẻ phải làm việc quá sức
Kĩ năng tham gia trò chuyện: Giao tiếp là một nhu cầu quan trọng của
con người Ngay từ những tháng đầu tiên, lúc còn sơ sinh trẻ đã biết hóng chuyện Lớn dần lên, trẻ có thể chủ động giao tiếp với mọi người xung quanh, đặc biệt là khi lên 3 hay vào tuổi mẫu giáo trẻ rất thích tham gia trò chuyện với người lớn, đồng thời cũng muốn kể lại hay nói lại suy nghĩ của mình cho người lớn hiểu “Cô dạy trẻ biết lắng nghe khi người lớn đang nói, không hóng hớt, nói leo Khi nói cho người lớn nghe thì phải nói rõ ràng, không ấp úng , lại càng không được nói trống không hay khua múa tay chân Khi trò chuyện với bạn bè thì giữ thái độ thân mật, bình đẳng, lắng nghe ý kiến của bạn, không quát tháo, cãi cọ hoặc “dùng vũ lực”.”[2]
Ngày nay còn có nhiều trẻ nói chuyện với người khác qua điện thoại Người lớn cần dạy trẻ biết cách sử dụng điện thoại cho đúng, nhất là cách trò chuyện qua điện thoại: Cần chào hỏi, thưa gửi, vâng dạ, không cao giọng, không cộc lốc và vô lễ với người đối thoại
“Kĩ năng biểu hiện lòng tự trọng: Khi lên 3, trẻ đã có xu hướng độc
lập, muốn tự làm các công việc để tự khẳng định “cái tôi” của mình bất chấp
Trang 2313
“dư luận” xung quanh Nhưng khi đã vào tuổi mẫu giáo và càng về cuối tuổi này thì trẻ bắt đầu có lòng tự trọng, cố gắng chống lại những “ham muốn tầm thường” hay những đòi hỏi mà mọi người xung quanh không hưởng ứng Trẻ bắt đầu biết gượng khi bị người lớn hay bạn bè chê bai và lòng tự ái nhiều khi lòng tự ái được biểu hiện một cách vụng về bằng những cử chỉ thô bạo hay những lời nói tục, có khi còn chửi bậy “đối phương”, đó là do ý chí mới được hình thành nên không kiềm chế được hành vi sai trái với đối tượng giao tiếp.”[2]
Ngoài ra, “lời hứa và giữ lời hứa cũng là một trong các biểu hiện của lòng tự trọng vào tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết hứa và làm những điều tốt lành,
có ích cho người thân và giữ lời hứa với họ.Người lớn cần nhắc nhở trẻ biết tôn trọng lời hưa của mình, tránh hứa mà không chịu làm”[2]
Thật thà lễ phép với đối tượng giao tiếp cũng là thể hiện lòng tự trọng Trong thực tế, có trẻ tuy nhỏ nhưng đã biết nói dối và mặt “cứ tỉnh bơ như không” và tính xấc láo cũng đã thành thói quen tự bao giờ Cần cho trẻ hiểu rằng một đứa trẻ nói dối và vô lễ như vậy thường không được ai yêu và bị xa lánh Do đó cần giáo dục các cháu biết thật thà và lễ phép trong mọi hoàn cảnh thì bệnh nói dối và vô lễ sẽ không phát triển được
1.1.2 Vai trò của văn hóa giao tiếp đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Trước hết, chúng ta biết rằng “ Giao tiếp là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người Dù trong cuộc sống hay trong công việc giao tiếp đều là cầu nối giữa con người với con người giúp chúng ta hiểu nhau hơn Một trong những vai trò đặc biệt của giao tiếp
đó là điều kiện tồn tại của cá nhân, xã hội và thông qua giao tiếp con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội.” [2]
GD VHGT là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong xã hội và môi trường giáo dục hiện nay của chúng ta Như chúng ta đã biết, “ Nhiệm vụ cơ
Trang 2414
bản của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách của con người – giao tiếp, tức hình thành con người có năng lực giao tiếp, có khả năng giao tiếp với người khác và giao tiếp với bản thân mình” [8]
Đối với trẻ em, “ Giao tiếp còn có vai trò hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mực, hành vi văn hóa; Điều gì tốt, điều gì xấu; Cần phải ứng xử, giao tiếp với mọi người như thế nào cho phù hợp Tất nhiên không phải sự bắt chước máy móc mà trẻ cần chủ động học hỏi, tiếp thu những giá trị mà trẻ học được từ người lớn Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp trẻ mở rộng giao tiếp Điều này sẽ giúp trẻ có cơ hội học hỏi những điều tốt đẹp xung quanh.”[2]
“Giao tiếp sớm sẽ giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị tinh thẩm mĩ trong thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem lại cho trẻ từ những ngày thơ ấu Giúp trẻ cảm nhận được cái hay, cái
đẹp trong kho tàng văn hóa của nhân loại.” [5]
1.1.3 Khái niệm kể chuyện
Kể chuyện là một dạng hoạt động đặc biệt, có rất nhiều quan điểm về hoạt động này
Theo Nguyễn Hà Kim Giang, “Kể chuyện là một hoạt động nhằm truyền
đạt lại sự kiện, hành động, xung đột của câu chuyện đã được chứng kiến cho người khác nghe” [7] “ Kể chuyện có thể từ nhiều hình thức khác nhau:
Ngôn bản (lời kể của người khác), văn bản (đã in thành sách), hoặc từ những
sự kiến có thật trong cuộc sống.”[5]
Nguyễn Xuân Khoa khẳng định: “Kể chuyện là tường thuật về một sự kiện nào đó, miêu tả một đối tượng hoặc sáng tạo ra một câu chuyện nào đó
Đó là hình thức trình bày một cách có tình cảm về một trình tự sự kiện theo sự phát triển của nó”[7]
Trong giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, Đinh Hồng Thái
có viết: Kể chuyện là một hình thức của dạng lời nói độc thoại Theo ông, đây
là con đường hữu hiệu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Trang 2515
Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời, từ trước khi có chữ viết, ngôn ngữ sống được truyền từ đời này sang đời khác qua truyền miệng Từ những người kể chuyện nổi tiếng trong dân gian, đến những người thân chính trong gia đình chúng ta, bà kể chuyện cho cháu nghe những câu chuyện dân gian, mẹ kể cho con nghe những câu chuyện cổ tích thần kì, Biết bao thế hệ đã gắn liền tuổi thơ của mình với những câu chuyện
kể Nhiều nhà văn theo kinh nghiệm bản thân đã nhận thấy sức tác động mạnh
mẽ của ngôn ngữ đọc lên theo lối nghệ thuật
“ Kể chuyện là một dạng hoạt động ngôn ngữ đặc biệt, là ngôn ngữ độc thoại và hoạt động tâm lý cá nhân vì ngôn ngữ bên trong đóng vai trò phác họa những ý tưởng, ý nghĩ cho lời nói bên ngoài Những ý tưởng được thể hiện bên ngoài qua các hành động (cử chỉ, điệu bộ) và các hành vi biểu cảm (ánh mắt, nét mặt), giọng nói, cách phát âm, sử dụng từ ngữ, cách xây dựng các câu nói khác nhau và trình tự trình bày câu chuyện Chuyện kể được trình bày theo một cấu trúc nhất định với mở đầu, diễn biến và kết thúc sao cho người nghe có thể hiểu được.” [5]
Tóm lại, có thể hiểu kể chuyện như là một dạng hoạt động ngôn ngữ của trẻ mầm non Bước đầu, cô giáo kể chuyện cho trẻ nghe bằng những từ ngữ đơn giản dễ hiểu để trẻ ghi nhớ câu chuyện theo cách hiểu của mình Ngày nay, nghệ thuật đọc và kể chuyện văn học đã và đang đượ sử dụng rộng rãi trong công tác giáo dục trẻ em Người lớn và các nhà giáo dục phải nhìn thấy được những tác động to lớn của ngôn ngữ nghệ thuật đối với sự phát triển toàn diện của trẻ và phải chú ý tới những đặc trưng của cách cảm thụ của trẻ trước tuổi đến trường
Trẻ 5 – 6 tuổi chưa biết đọc Ngôn ngữ nghệ thuật được các em cảm thụ thông qua nghe người lớn đọc và kể, vì vậy cách trình bày cảm xúc và diễn tả tác phẩm văn học có tầm quan trọng đặc biệt
Trang 2616
“ Cũng như đọc thơ, kể chuyện có một vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp các kĩ năng như nghe, nói trong hoạt động giao tiếp.” [5]
Trong hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe, trẻ sẽ dùng tai lắng nghe giáo viên kể chuyện Quá trình diễn ra khi trẻ tiếp nhận lời nói ở dạng có âm thanh.Khi trẻ tiến hành kể chuyện là trẻ đang tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm ở dạng lời nói
1.1.4 Vai trò của hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe
Vui chơi luôn chiếm vị trí chủ đạo trong trường mầm non Còn hoạt động học tập chỉ ở dạng nền móng Ngày nay, giáo viên mầm non không chỉ đơn thuần là chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mà còn là giáo dục trẻ Giáo viên cần dạy dỗ trẻ, giúp các em phát triển toàn diện về nhân cách, cung cấp cho các
em một hành trang tri thức để bước vào lớp Một Các hoạt động giáo dục được xây dựng cho trẻ ở trường mầm non là tiền đề để trẻ tiếp thu các môn học ở bậc Tiểu học sau này
Khám phá khoa học là cơ sở để trẻ học môn Tự nhiên – Xã hội
Làm quen với tác phẩm văn học là cơ sở để trẻ học môn Tiếng Việt Tập tô tạo tiền đề cho trẻ học viết và Chính tả
Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm của trẻ lứa tuổi này, chúng tôi thấy để truyền đạt những kiến thức sơ đẳng cho trẻ trong các hoạt động không dễ dàng, đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ của nhiều phương pháp giáo dục: Nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp trò chơi, nhóm phương pháp thực hành, Ngoài ra còn có một số phương pháp khác cũng được sử dụng và đạt hiệu quả giáo dục nhất định
“ Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu các phương pháp giáo dục được
sử dụng trong trường mầm non, chúng tôi nhận thấy các phương pháp được nêu trên là những phương pháp quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển ngôn
Trang 2717
ngữ cho trẻ Đặc trưng nhất là nhóm phương pháp dùng lời Phương pháp này đang chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong quá trình giáo dục trẻ ở trường mầm non Bởi vì dù cho có sử dụng phương pháp nào cũng cần tới phương pháp dùng lời để trẻ hiểu mục đích, yêu cầu của cô giáo và các nhiệm vụ của trẻ cần thực hiện.” [5]
Việc sử dụng phương pháp dùng lời như: kể chuyện, đọc thơ, trò chuyện, đem lại hiệu quả cao trong chương trình giáo dục trẻ Với trí tưởng tượng phong phú, khả năng tư duy nhạy bén, nhu cầu khám phá thế giới xung quanh, trẻ có thể nghe cô kể những câu chuyện nhẹ nhàng, sâu lắng mang tính chất giáo dục cao Mỗi câu chuyện là những bài học đạo đức sâu sắc mà trẻ học được Giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ và giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp trong xu thế ngôn ngữ của trẻ ngày càng phát triển
Khi trẻ thưởng thức một câu chuyện do cô kể, trẻ sẽ hình dung trong đầu viễn cảnh câu chuyện đó và từng từ, từng câu của câu chuyện sẽ được trẻ liên tưởng một cách cụ thể, các chi tiết sẽ được ghép nối vào với nhau để trẻ
có thể hiểu được nội dung câu chuyện một cách đầy đủ nhất Và khi trẻ được nghe cô kể chuyện kết hợp với tranh minh họa thì sẽ càng hiểu rõ hơn về nội dung, ý nghĩa của câu chuyện Đối với những câu chuyện đưa ra những bài học thực tế về giao tiếp, trẻ có thể học hỏi được rất nhiều điều Ví dụ về các nghi thức chào hỏi, cách sử dụng từ sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, Trẻ biết cách đặt câu hỏi và trả lời, từ đó giao tiếp của trẻ mở rộng hơn, văn minh hơn, trẻ sẽ học được nhiều điều hơn
Như vậy, kể chuyện cho trẻ nghe là một trong những phương pháp giáo dục quan trọng nhất ở trường mầm non Nó sẽ là món quà quý báu mà các tác giả dành tặng cho những bạn nhỏ với những thông điệp ý nghĩa
1.1.5 Biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe
1.1.5.1 Biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời
Trang 2818
Hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời nhằm giúp trẻ nhớ được những tình tiết tạo nên nội dung của tác phẩm cụ thể, đồng thời trẻ cũng được làm quen với văn phong khẩu ngữ rất gần gũi, dễ hiểu
Yêu cầu của biện pháp này, giáo viên cần năm được đặc trưng, đặc điểm của các thể loại truyện Mỗi thể loại truyện lại có những đặc điểm riêng nên khi
kể cũng có những yêu cầu riêng
Bên cạnh đó, giáo viên còn phải linh hoạt trong ngôn ngữ kể Đối với những tác phẩm văn học dân gian, nếu cứ trung thành với ngôn ngữ cổ thì trẻ
sẽ rất khó hiểu Vì thế cô cần tránh những từ ngữ đó và thay vào bằng những
từ ngữ hiện đại
Ngoài ra khi kể cô cần kết hợp với các hình thức nghệ thuật khác để làm câu chuyện thêm hấp dẫn, lôi cuốn trẻ Ví dụ có thể tạo âm thanh mưa, tiếng nhạc vui nhộn không lời, tiếng nước chảy róc rách, hoặc sử dụng ánh sáng lúc mờ, lúc tỏ
Lời kể của cô cũng là chuẩn mực để trẻ noi theo Cần kết hợp với tư thế, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ để trẻ dễ tưởng tượng câu chuyện và hiểu hơn về nội dung câu chuyện Yêu cầu chung là tư thế cần phải đẹp, tự tin và thoải mái Người kể có thể đứng hoặc ngồi những luôn hướng về phía trẻ và không được đi lại trước mặt trẻ Nét mặt vui tươi, cởi mở để tạo sự gần gũi với trẻ Trong khi kể, nét mặt của cô phải biểu lộ cảm xúc của nhân vật để góp phần bộc lộ tác phẩm Cử chỉ, điệu bộ của người kể chuyện sẽ bổ sung cho ngữ điệu và làm sống động thêm cho tác phẩm, được dùng để biểu lộ thái độ đối với các nhân vật, các sự kiện được miêu tả trong câu chuyện và đặc biệt giúp người nghe cảm nhận rõ bằng trực cảm Cử chỉ phải phù hợp với nội dung tác phẩm
Thủ thuật cơ bản của việc kể diễn cảm một câu chuyện bao gồm: Giọng điệu cơ bản, ngữ điệu, nhịp điệu, cách ngắt giọng và cường độ của âm thanh ngôn ngữ kể, kể diễn cảm phù hợp với câu chuyện Muốn thực hiện tốt
Trang 2919
nhiệm vụ này, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo Giáo viên cần nghiên cứu kĩ các câu chuyện, nắm được nội dung và hiểu được tư tưởng của câu chuyện, tiến hành phân tích tác phẩm về mặc ngữ điệu; Từ đó xác định giọng điệu chính để thể hiện trong câu chuyện phù hợp; Xác định giọng điệu cơ bản của từng phần, từng đoạn, từng nhân vật và các lời bình Việc chuẩn bị này đòi hỏi giáo viên phải có trình độ, kĩ năng và trí tưởng tượng nghệ thuật Và bản thân người nghe phải có ý thức tiếp nhận tác phẩm thì quá trình kể chuyện bằng lời mới thực sự có hiệu quả
1.1.5.2 Biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe theo tranh
Ở trường mầm non hiện nay, trẻ đều được học kể chuyện theo tranh vẽ,
đồ vật hoặc tranh có chủ đề “ Nội dung của biện pháp này là cho trẻ quan sát tranh xem bức tranh đó nói về chủ đề gì với mục đích để trẻ hứng thú với bức tranh đó Khi trẻ quan sát bức tranh, cô sẽ kể câu chuyện định kể của mình cho trẻ nghe Trong quá trình nghe cô kể đó, nhận thức của trẻ được củng cố bằng các chi tiết, tình huống xảy ra trong tranh qua một số lời kể của cô giáo
Từ đó trẻ khắc sâu nội dung của câu chuyện Khả năng ghi nhớ có chủ định được phát triển Lời kể của cô có tác dụng lớn đến việc tri giác toàn bộ câu chuyện thông qua bức tranh Trẻ thấy được các nhận vật trong đó với những mối quan hệ xoay quanh nội dung câu chuyện.” [5]
Dạy trẻ kể chuyện theo tranh sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về ngôn ngữ, làm phong phú đời sống tinh thần của trẻ, đáp ứng nhu cầu giao tiếp với mọi người xung quanh Ngoài ra còn phát triển thẩm mĩ cho trẻ với những bức tranh màu sắc phong phú, bố cục cân đối hài hòa có nội dung giáo dục đặc sắc cho trẻ
1.1.5.3 Biện pháp kể chuyện sáng tạo
“ Biện pháp này đặt ra một câu chuyện sáng tạo mà trẻ phải tự nghĩ ra nội dung của nó, tạo ra một cấu trúc logic, thể hiện lời nói tương ứng với nội dung đó Yêu cầu vốn từ cần phải phong phú, đa dạng Các kĩ năng được kết
Trang 3020
hợp với nhau, như kĩ năng thắt nút,mở nút, đỉnh điểm; Kĩ năng truyền đạt lại suy nghĩ của mình chính xác, tập trung chú ý và biểu cảm Những kĩ năng này trẻ được lĩnh hội thông qua các quá trình học tập có hệ thống và bằng những con đường rèn luyện thường xuyên.” [5]
“ Có một số phương án kể chuyện sáng tạo như sau:
Cô kể phần mở đầu, trẻ nghĩ ra phần tiếp theo và kết thúc câu chuyện
Cô nghĩ ra phần kết thúc câu chuyện, trẻ sáng tạo phần mở đầu và thân chuyện
Nghĩ ra câu chuyện theo đề tài và nội dung cô đưa ra (không có dàn ý), phương án này đòi hỏi trí tưởng tượng sáng tạo và độc lập suy nghĩ cao hơn Khi kể chuyện sáng tạo, cô cần hướng trẻ vào nội dung câu chuyện, chú ý cả hình thức và lời nói để truyền đạt nội dung câu chuyện cho trẻ hiểu Cần chú
ý quan sát xem trẻ đã vận dụng từ ngữ đã học vào câu chuyện sáng tạo của mình như thế nào để xây dựng câu chuyện thú vị, đặc sắc.” [5]
Cô nên làm cho trẻ cuốn album những câu chuyện của trẻ, đặt tên thú
vị, ngộ nghĩnh để khuyến khích trẻ Có thể tác động tích cực tới việc chuẩn bị lời nói cho trẻ học tập ở trường phổ thông sau này
1.1.6 Đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi
1.1.6.1 Đặc điểm trí nhớ
Trong tâm lý học, “ Trí nhớ được biểu hiện là sự ghi lại, giữa lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhân thu được trong hoạt động sống của mình Nét đặc trưng nhất của trí nhớ là ghi lại chính xác, đầy đủ nhất những gì cá nhân
đã trải qua Quá trình ghi nhớ bao gồm nhiều quá trình: Đó là quá trình ghi nhớ, quá trình giữ gìn, quá trình tái hiện, quá trình quên Trong đó mỗi quá trình có một chức năng xác định và chúng không đối lập nhau, thâm nhập vào nhau và chuyển hóa qua lại cho nhau.” [14]
Tư duy trực quan hình tượng là loại tư duy diễn ra rõ nét nhất của trẻ mẫu giáo lớn Lúc này trẻ đã biết nhớ lại những biểu tượng cũ mà trẻ đã trải
Trang 3121
nghiệm, được nhìn thấy để suy luận ra những biểu tượng mới mà không cần thử nghiệm trước Đó còn được gọi là cách suy nghĩ nhẩm trong đầu Chẳng hạn khi hỏi một trẻ: Theo con, đôi dép ném xuống nước nổi hay chìm? Trẻ sẽ trả lời ngay được là nổi Vì sao? Trẻ nói “vì con thấy cái khăn thả xuống nước cũng nổi ạ” Như chúng ta đã biết trí nhớ gồm các quá trình: “ Quá trình ghi nhớ (tạo vết), quá trình giữ gìn (củng cố), quá trình tái hiện (từ những dấu vết làm sống lại những hình ảnh) và quá trình quên (không tái hiện được).” [14]
Ở trẻ mẫu giáo bé và đặc biệt là tuổi mẫu giáo nhỡ, quá trình ghi nhớ diễn ra rất nhanh, quá trình tái hiện diễn ra mờ nhạt tuy đã khá hơn ở tuổi mẫu giáo nhỡ Trẻ mẫu giáo lớn thì khác, các quá trình của trí nhớ diễn ra đầy đủ theo trình tự của nó và lâu hơn Đặc biệt là quá trình tái hiện nổi bật hơn so với trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ Một hình ảnh trẻ đã gặp sẽ được tái hiện lại ngay khi có một hình ảnh khác diễn ra tương đồng Lúc này trẻ sẽ so sánh giữa những hình ảnh với nhau và đưa ra kết luận.Trẻ có thể ghi nhớ mọi sự vật hiện tượng mà trẻ yêu thích, ấn tượng và thường thì trẻ sẽ nhớ rất lâu Khi trẻ ghi nhớ được, trẻ có thể đưa chúng vào sản phẩm của mình Đó là tiền đề làm cho các sản phẩm của trẻ được sáng tạo hơn
“ Ở tuổi này, trí nhớ trực quan của trẻ phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ logic Trẻ ghi nhớ những sự vật hiện tượng cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với những lời giải thích dài dòng, máy móc Đây là đặc điểm nổi bật cần lưu ý trong môn kể chuyện cho trẻ.”[14]
1.1.6.2 Đặc điểm chú ý
“Trẻ 5-6 tuổi có chú ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý có chủ
định đã xuất hiện nhưng còn hạn chế Trẻ chỉ tập trung chú ý vào những điều mới mẻ, đặc sắc, các em chỉ thực sự chú ý khi có động cơ cần được thúc đẩy”[13],ví dụ như: Được cô tuyên dương khen thưởng, được bạn bè thán phục, được bố mẹ ông bà biểu dương, thưởng quà bánh, Như vậy, hình thức khen thưởng có ý nghĩa rất lớn để tập trung sự chú ý của trẻ Giáo viên và phụ
Trang 3222
huynh cần chú ý điều này để có thể rèn luyện cho trẻ tính chú ý tập trung vào một vấn đề nào đó
1.1.6.3 Đặc điểm tư duy
Trẻ mẫu giáo phát triển mạnh mẽ và chủ yếu là tư duy trực quan hình tượng Tuy nhiên ở cuối độ tuổi mẫu giáo lớn thì kiểu tư duy này không còn đáp ứng được như cầu nhận thức, tìm tòi khám phá đang phát triển mạnh mẽ
ở trẻ Vì vậy, xuất hiện thêm kiểu tư duy tư duy trực quan – hình tượng mới
đó là kiểu tư duy trực quan – sơ đồ, kiểu tư duy mới này vẫn giữ được tính chất hình tượng, tuy nhiên bản chất hình tượng trở nên khác trước: “Hình tượng đã bị mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh khái quát sự vật chứ không còn sự vật hiện tượng riêng
lẻ Như vậy, khả năng giao tiếp của trẻ đang mở rộng, giáo viên cần nắm bắt
rõ đặc điểm tư duy này để thúc đẩy quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn.”[15]
1.1.6.4 Đặc điểm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của con người Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện để phát triển tư duy, giúp truyền đạt truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế
hệ này sang thế hệ khác Lê Nin đã từng nói: “ Con người muốn tồn tại thì
phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng của con người Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất.” Ngôn ngữ có vai trò quan
trọng trong đời sống con người, chúng giúp trao đổi cho nhau những kinh nghiệm lịch sử xã hội Không có ngôn ngữ, con người không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, đặc biệt là trẻ em – một sinh thể còn non yếu rất cần ngôn ngữ để phát triển về mọi mặt
Trong khả năng ngôn ngữ giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn có nhiều đặc trưng Thứ nhất, trẻ dùng vốn từ phản ánh đặc trưng của sự vật hiện tượng để giao tiếp Càng lớn, trẻ càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm sự vật hiện
Trang 3323
tượng bằng từ ngữ phong phú Tuy nhiên, vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với khối lượng vốn từ của người lớn vì lượng tri thức còn hạn chế
Nhìn chung, “ở độ tuổi mẫu giáo lớn đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm khá đúng giống người lớn Tùy theo từng địa phương có giọng nói, ngữ điệu như thế nào thì trẻ sẽ nói như thế Trẻ biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và có thể nói đúng ngữ pháp phức tạp Bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp, phương diện tu từ, nói mạch lạc.”[15]
Tóm lại, ở lứa tuổi này trẻ đã nắm vững tiếng mẹ đẻ Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều những với những câu chuyện sẽ giúp trẻ tích lũy được vốn từ vựng cần thiết và rèn luyện kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ Từ đó GD VHGT qua các câu chuyện kể cho trẻ nghe Giúp trẻ có thêm các hiểu biết về văn hóa
và các thói quen giao tiếp tốt
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chương trình Giáo dục mầm non với việc giáo dục văn hóa giao tiếp
Với mục tiêu chung của giáo dục mầm non là “giúp trẻ em phát triển
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; Hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối
đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp tiểu học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”[8], Chương trình Giáo dục mầm non đã đi
sâu vào nội dung, phương pháp giáo dục mầm non và đánh giá sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ và lứa tuổi mẫu giáo Qua đó đánh giá được mức độ phát triển ở các lĩnh vực khác nhau của trẻ
Trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu về giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi nằm trong lĩnh vực giáo dục phát triển ngôn
Trang 3424
ngữ và giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội, cụ thể là những mục tiêu và kết quả mong đợi sau:
Sử dụng các từ: “Cảm ơn”; “Xin lỗi”; “Xin phép”; “Thưa”; “Dạ”;
“Vâng” phù hợp với tình huống
Điều chỉnh giọng nói phù hợp với ngữ cảnh
Vâng lời ông bà, bố mẹ, anh chị, muốn đi chơi phải xin phép
Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép
Chú ý nghe khi cô, bạn nói, không ngắt lời người khác
Biết chờ đến lượt; Lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng lời nói,
cử chỉ, lễ phép, lịch sự
Nhận xét và tỏ thái độ với hành vi “Đúng” – “Sai”, “Tốt” – “Xấu” Bày tỏ tình cảm phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong các tình huống giao tiếp khác nhau
Mối quan hệ giữa hành vi của trẻ và cảm xúc của người khác
Tôn trọng, hợp tác, chấp nhận
Những mục tiêu này có điểm chung đều nói về giao tiếp trong phạm vi trẻ với trẻ - Trẻ với người lớn, thể hiện phép lịch sự và thái độ trong giao tiếp qua đó hướng đến sự phát triển toàn diện và tạo cơ hội cho trẻ em phát triển Giúp trẻ phát triển cân đối, hài hòa, cung cấp kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi Từ những mục tiêu và kết quả mong đợi trên có thể thấy rằng, vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ em rất được sự quan tâm của Bộ giáo dục
và đào tạo
1.2.2 Thực trạng về việc GD VHGT cho trẻ mầm non
1.2.2.1 Nhận thức của giáo viên về việc GD VHGT
Hiện nay, bên cạnh các hoạt động giáo dục cho trẻ, việc giáo dục văn hóa giao tiếp còn chưa được quan tâm, chủ yếu nhà trường chú trọng vào các hoạt động học tập
Trang 35Với câu hỏi đó, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau
Bảng 1.1 Kết quả nhận thức của giáo viên về việc giáo dục văn hóa giao
tiếp cho trẻ 5- 6 tuổi
Trang 3626
1.2.2.2 Nhận thức của giáo viên thông qua hoạt động kể chuyện
Khảo sát thực trạng, chúng tôi đưa ra các câu hỏi điều tra nhận thức của giáo viên về việc GD VHGT cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện và thu được kết quả như sau:
Câu hỏi: Trong chương trình giáo dục của nhà trường, việc GD VHGT cho trẻ 5 – 6 tuổi được tổ chức ở các hoạt động nào?
A Hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học
B Hoạt động vui chơi
C Hoạt động góc
D Hoạt động âm nhạc
Bảng 2.1 Kết quả thu được về các hoạt động được giáo viên sử dụng
trong việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ
Hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Qua bảng trên có thể thấy được, việc GD VHGT cho trẻ được giáo viên
sử dụng chủ yếu qua các hoạt động góc, chiếm 40%, các hoạt động âm nhạc chiếm 25%, hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học chiếm 20% và hoạt động ngoài trời chiếm 15% Như vậy có thể thấy rằng giáo viên chưa quan tâm nhiều đến hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học để GD VHGT cho trẻ Các hoạt động vui chơi, hoạt động âm nhạc và hoạt động ngoài trời chiếm số lượng lớn
Câu hỏi: Những hình thức GD VHGT qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
mà cô thường dùng là gì?
Trang 3727
A Kể chuyện bằng lời
B Kể chuyện theo tranh
C Kể chuyện theo với đồ chơi
D Kể chuyện sáng tạo
Hình thức khác:
Bảng 2.2 Kết quả thu được về các hình thức giáo viên sử dụng trong việc
giáo dục văn hóa giao tiếp qua việc kể chuyện cho trẻ nghe
Kể chuyện theo với đồ chơi
Qua bảng trên có thể thấy hình thức giáo viên sử dụng trong việc GD VHGT qua việc kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời chiếm số lượng nhiều nhất trong các hình thức khác (85%) Hình thức kể chuyện theo tranh chiếm 10%
và kể chuyện sáng tạo chiếm 1% Ngoài ra, còn thu được sự đóng góp của các
cô về việc sử dụng lồng ghép tất cả các hình thức với nhau
GV khi dạy kể chuyện cho trẻ nghe chủ yếu là sử dụng lời nói để giáo dục trẻ nên tiết học kể chuyện diễn ra khá nhàm chán, không gây hứng thú và giảm khả năng tiếp thu của trẻ
1.2.2.3 Hoạt động giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ trên lớp học
Hầu hết trong giờ, trẻ được cô giáo nhắc nhở về các kĩ năng giao tiếp chủ yếu là chào hỏi, thưa gửi Khi trẻ đứng dậy trả lời cô giáo về một vấn đề
gì đó, trẻ thường nói “Con thưa cô” Tuy nhiên câu nói đó thường hay bị quên lãng nếu cô giáo không uốn nắn, nhắc nhở trẻ nói thường xuyên
Ngoài thời gian học tập, ở lớp mẫu giáo lớn thường xuyên xảy ra các hoạt động giao tiếp của trẻ Ví dụ trong giờ đón trả trẻ, đây là lúc trao đổi
Trang 3828
giữa giáo viên với phụ huynh và giữa phụ huynh với trẻ Tuy khoảng thời gian này không nhiều và hầu như chỉ xoay quanh một vấn đề nào đó của trẻ ở trên lớp nhưng chính thời gian này lại đem hiệu quả rất to lớn góp phần củng
cố vốn ngôn ngữ cho trẻ
Các hoạt động dạy học của trẻ theo chương trình giáo dục mầm non có liên quan đến giáo dục giao tiếp, tuy nhiên mang tính chất qua loa và còn nhiều hạn chế
Hoạt động giáo dục khoa học cho trẻ chủ yếu giới thiệu các mối quan
hệ giữa người với người, qua đó gián tiếp giáo dục trẻ lễ phép, tôn trọng người lớn và biết giúp đỡ mọi người
Hoạt động giáo dục kĩ năng sống giáo dục trẻ mạnh dạn, tự tin, chủ động trong giao tiếp, các kĩ năng giao tiếp cơ bản nhưng còn sơ sài
Hoạt động cho trẻ làm quen với toán hình thành các biểu tượng sơ đẳng, so sánh kích thước, hình dạng, màu sắc, chất liệu đồ vật, đếm và tách, gộp đối tượng, hình thành các khái niệm về không gian, thời gian,
Hoạt động giáo dục âm nhạc với những bài hát hay về lời chào, lời cảm
ơn, xin lỗi và các động tác vận động phù hợp với lời tạo hứng thú cho trẻ khi cảm thụ âm nhạc, trẻ được thể hiện cảm xúc phù hợp với các sắc thái đa dạng của bài hát Qua đó âm nhạc giáo dục giao tiếp gián tiếp cho trẻ Tuy nhiên trong chương trình khá ít các bài hát đó mà đan xen vào là những bài hát có nội dung về các chủ đề gia đình, trường mầm non, thế giới động vật, thế giới thực vật,
Hoạt động tạo hình chủ yếu cho trẻ làm quen với những bức tranh về đề tài gia đình, bạn bè, thầy cô qua đó giáo dục cho trẻ các cử chỉ, điệu bộ về hành động lễ phép, cảm ơn Trẻ chưa được tiếp xúc nhiều với những kĩ năng
mà chỉ có thể xem được các hình vẽ
Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học gồm có những bài thơ, câu chuyện với nội dung chiếm số lượng lớn giáo dục văn hóa giao tiếp
Trang 3929
cho trẻ Trẻ khi được nghe cô đọc, kể tác phẩm sẽ được hòa mình vào nhân vật trong tác phẩm đó, có thể cảm nhận được ý nghĩa nội dung câu chuyện giáo dục điều gì Trẻ sẽ được nghe giọng nói, âm thanh, ngữ điệu mẫu của cô giáo; theo dõi nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của cô và được thực hành theo Từ đó trẻ sẽ biết sử dụng lời nói và thể hiện kĩ năng giao tiếp lịch sự sao cho đúng yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp
Như vậy, các hoạt động giáo dục trên lớp, phần lớn nội dung giáo dục giao tiếp chiếm đa số ở hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Hoạt động giao tiếp còn thông qua các hoạt động vui chơi, dạo tham quan, hoạt động lao động và vệ sinh hằng ngày Ở các hoạt động này, giáo viên là người hướng dẫn, trao đổi, trò chuyện với trẻ trong quá trình xảy ra các hoạt động và sự giao lưu, trao đổi giữa trẻ với nhau để thống nhất đi tới một mục đích chung mỗi hoạt động đó Qua đó trẻ được giao lưu và tự do nói lên những ý tưởng của mình
Đó là các hoạt động trong quá trình giao tiếp của trẻ diễn ra ở trong lớp mẫu giáo lớn mà tôi đã quan sát Các hoạt động này nhìn chung chưa chú trọng vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp mà chỉ là hoạt động giao tiếp để góp phần củng cố ngôn ngữ cho trẻ
Trang 40GD VHGT cho trẻ 5 – 6 tuổi là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết vì nó giúp trẻ có tâm thế vững vàng trong giao tiếp Trẻ có thể dễ dàng hòa nhập và sớm trở thành những công dân của thế kỉ hiện đại
Việc GD VHGT cho trẻ ở trường mầm non còn nhiều bất cập Các hoạt động giáo dục trên lớp chưa đi sâu vào giáo dục giao tiếp cho trẻ Nhà trường quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ nói chung cũng như việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng Tuy nhiên các giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc dạy trẻ văn hóa giao tiếp vì có quá nhiều số lượng bài dạy kể chuyện trong chương trình dạy học, do đó không thể tập trung vào dạy trẻ một nội dung cụ thể được Các biện pháp dạy trẻ còn chưa đa dạng, lặp đi lặp lại, dẫn đến sự nhàm chán khi tiếp thu kiến thức văn học