1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ mầm non

65 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học - theo cách tiế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

ĐOÀN THỊ THU HUYỀN

THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEM

CHO TRẺ MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Hà Nội, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

ĐOÀN THỊ THU HUYỀN

THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEM

CHO TRẺ MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học:TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo – T.S Nguyễn Thị Hương, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Giáo dục Mầm non đã hết lòng giảng dạy, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận nghiệp

Em xin được cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các cô giáo cùng các cháu trường mầm non đã tạo điều kiện cho em điều tra, khảo sát thực nghiệm để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn khuyến khích và động viên em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019 Người thực hiện

Đoàn Thị Thu Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành do sự cố gắng,

nỗ lực của bản thân em cùng với sự hướng dẫn tận tình của T.S Nguyễn Thị

Hương

Khóa luận của em không trùng với bất kì đề tài nào khác Nếu sai em

hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Người thực hiện

Đoàn Thị Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu, khách thế nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Giả Thiết nghiên cứu 3

8 Cấu trúc khóa luận 3

PHẦN 2 NỘI DUNG 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEM CHO TRẺ MẦM NON 4

1.1.Khái quát về giáo dục STEM 4

1.1.1 Khái niệm STEM 4

1.1.2 Phân loại giáo dục STEM 4

1.1.3 Mục tiêu của giáo dục STEM 5

1.2 Đặc điểm của trẻ mầm non 8

1.2.1 Đặc điểm tâm lí - sinh lí trẻ Mầm non 8

1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non 10

1.2.3 Đặc điểm về thể chất của trẻ Mầm non 12

1.3 Hoạt động giáo dục và thiết kế hoạt động giáo dục trẻ Mầm non 12

1.3.1 Hoạt động giáo dục 12

1.3.1.1 Khái niệm hoạt động giáo dục 12

1.3.1.2 Vai trò của hoạt động giáo dục đối với sự phát triển của trẻ Mầm non 12

Trang 6

1.3.2 Thiết kế hoạt động giáo dục trẻ Mầm non 14

1.3.2.1 Nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục 14

1.3.2.2 Quy trình thiết kế hoạt động giáo dục cho trẻ 14

1.4 Đặc điểm chương trình giáo dục trẻ Mầm non 14

1.4.1 Nội dung chương trình giáo dục trẻ Mầm non 14

1.4.2 Đặc điểm chương trình giáo dục 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEM CHO TRẺ MẦM NON 19

2.1 Khái quát thực trạng 19

2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng 19

2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng 19

2.1.3 Nội dung khảo sát 19

2.1.4 Phương pháp khảo sát 19

2.2 Kết quả khảo sát 19

2.2.1 Hiểu biết của giáo viên về STEM 20

2.2.2 Hiểu biết của giáo viên về hoạt động giáo dục 21

2.2.3 Hiểu biết của giáo viên về nguyên tắc thiết kế hoặt động giáo dục 22

2.2.4 Hiểu biết của giáo viên về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục 23

Kết luận chương 2 26

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEM CHO TRẺ MẦM NON 27

3.1 Nguyên tắc đề xuất quy trình thiết kế 27

3.1.1 Đảm bảo đăc trưng của hoạt động giáo dục STEM cho trẻ 27

3.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc trưng của trẻ Mầm non 28

3.1.3 Đảm bảo phù hợp với các tiêu chí giáo dụcError! Bookmark not defined

Trang 7

3.2 Quy trình thiết kế giáo dục STEM 28

3.2.1 Xác định vấn đề, bối cảnh thực tiễn 28

3.2.2.Mục tiêu hoạt động giáo dục STEM 28

3.2.3 Các hoạt động 28

3.2.4 Thiết kế hoạt động giáo dục STEM mẫu 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 1: Hiểu biết của giáo viên về STEM 20

Biểu đồ 1: Hiểu biết của giáo viên về STEM 20

Bảng 2: Hiểu biết của giáo viên về hoạt động giáo dục 21

Biểu đồ 2: Hiểu biết của giáo viên về hoạt động giáo dục 22

Bảng 3 Hiểu biết của giáo viên về nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục 22

Biểu đồ 3: Hiểu biết của giáo viên về nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục 23

Bảng 4 Hiểu biết của giáo viên về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục 23

Biểu đồ 4 Hiểu biết của giáo viên về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục 24 Bảng 5: Thực trạng của giáo viên về việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM 24

Biểu đồ 5 Thực trạng của giáo viên về việc thiết kế hoạt động giáo dục 25

STEM 25

Trang 9

cũng như chất lượng giáo dục ở các cấp học tiếp theo”

Trong xã hội ngày nay, trẻ em phát triển rất khác nhau, không có đứa trẻ nào giống với đứa trẻ nào Có trẻ học toán rất giỏi, có sở thích với những con số, với những trò chơi trí tuệ nhưng lại rất kém trong giao tiếp hoặc không giỏi khi tham gia các hoạt động về thể chất Có trẻ vẽ rất đẹp, hát rất hay nhưng lại không giỏi về các môn khoa học Có trẻ tiếp thu kiến thức thông qua nhìn, có trẻ tiếp thu kiến thức thông qua hành động điều này ảnh hưởng rất lớn tới công việc và cuộc sống của trẻ sau này bởi vì mục đích trên hết của giáo dục là đào tạo ra những con người toàn diện Chính vì những sự khác nhau đó mà các nhà giáo dục đã nghiên cứu và khẳng định rằng ở mỗi một đứa trẻ sẽ có một loại hình thông minh đa dạng khác nhau Trong thời gian gần đây giáo dục mầm non không ngừng thay đổi và phát triển

để phù hợp với sự phát triển của xã hội Với tư cách trực tiếp đào tạo ra nguồn nhân lực tương lai cho xã hội, giáo dục mầm non cần phải đổi mới, đổi mới liên tục, đổi mới trước tiên là từ chương trình giáo dục mầm non Như vậy một trong những vấn

đề có tính cấp thời của giáo dục mầm non hiện nay chính là phát triển các chủ đề giáo dục trong chương trình mầm non để tạo ra các hoạt động giáo dục vừa thể hiện

rõ tinh thần tích hợp đã được xác lập, vừa định hướng phát triển trí tuệ, kỹ năng sống cho trẻ, vừa phải làm cho các hoạt động giáo dục ấy có hơi thở của thực tiễn, gần gũi, gắn bó với đời sống của trẻ, vừa phải phù hợp với trẻ ở từng độ tuổi, từng vùng miền khác nhau

“STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người

học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học - theo cách tiếp cận liên môn và người học có thể áp dụng để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày”

Có thể nói giáo dục STEM không hướng đến mục tiêu đào tạo để học sinh trở thành nhà toán học, nhà khoa học, kỹ sư hay những kỹ thuật viên mà chủ yếu là

Trang 10

“Giáo dục STEM là một cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, ở đó học sinh áp dụng các kiến thức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học vào các bối cảnh cụ thể, giúp kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu để từ đó phát triển các năng lực trong lĩnh vực STEM và khả năng cạnh tranh trong nền kinh kế mới” (Theo Hiệp hội các Giáo viên dạy khoa học Mỹ-NSTA)

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường Mầm non vẫn chưa tổ chức được các hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm Non

Chính vì vậy nên chúng tôi chọn đề tài: “ Thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất quy trình thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học cho trẻ

3 Đối tượng nghiên cứu, khách thế nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy trẻ Mầm non học tập và khám phá

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận về thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non

4.2 Tìm hiểu về thực trạng của việc tổ chức các hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non

4.3 Đưa ra quy trình thiết kế hoạt động giáo dục và thiết kế mẫu 1 hoạt động giáo dục STEM cho trẻ mầm non

Trang 11

3

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lí luận của đề tài cần nghiên cứu

- Cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên cứu thực tiễn

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp phỏng vấn

7 Giả Thiết nghiên cứu

Nếu quy trình thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ đạt hiệu quả thì sẽ giúp trẻ hứng thú, tích cực tiếp thu Từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đồng thời hình

thành ở trẻ những kiến thức, kỹ năng liên quan đến các lĩnh vực khoa học

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non

Chương 2: Thực trạng của việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non

Chương 3: Quy trình thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non

Trang 12

4

PHẦN 2 NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO

DỤC STEM CHO TRẺ MẦM NON 1.1.Khái quát về giáo dục STEM

1.1.1 Khái niệm STEM

“STEM là môt chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng giáo dục học sinh theo

4 chuyên ngành cụ thể - Khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học- theo cách tiếp cận liên ngành và ứng dụng Thay vì dạy 4 môn học như các môn học riêng biệt và rời rạc, STEM tích hợp chúng vào 1 mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng

trong thế giới thực”

“Giáo dục STEM là 1 cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, khi đó các học sinh áp dung các kiến thức trong khoa học , công nghệ,

kỹ thuật và toán học vào trong các bối cảnh cụ thể, nhằm kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển các năng lực trong lĩnh vực STEM và đồng thời cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền kinh tế

mới”

1.1.2 Phân loại giáo dục STEM

- Trên phương diện mục tiêu/mục đích giáo dục STEM có các loại:

+ Giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực cụ thể

+ Giáo dục STEM phát triển thói quen tư duy kĩ thuật

+ Giáo dục STEM nhằm hướng nghiệp

- Trên phương diện nội dung giáo dục STEM có các loại:

+ Giáo dục STEM tích hợp đầy đủ ( còn gọi là STEM đầy đủ): Khi mà trong một chủ đề học sinh có cơ hội huy động kiến thức và kỹ năng của cả 4 lĩnh vực S,T,E,M để giải quyết vấn đề

+ Giao dục STEM tích hợp không đầy đủ ( còn gọi tắt là STEM khuyết): Khi

mà trong các chủ đề không đề cập đầy đủ cả 4 lĩnh vực STEM

- Trên phương diện phương pháp dạy học có các loại:

+ Hoạt động thực hành xây dựng kiến thức trong các môn học STEM

+ Hoạt động tự chế tạo sản phẩm đơn giản của học sinh ( hands on activities) + Dự án giáo dục STEM: Được tổ chức để học sinh tham gia chế tạo các sản phẩm hoặc đưa ra các ý tưởng sáng tạo thông qua các cuộc thi

- Trên phương diện không gian tổ chức các hoạt động STEM có các loại:

Trang 13

5

+ Giáo dục STEM trong lớp học: Với loại hình này giáo viên là người chủ động lồng ghép vào nội dung bài học của mình các hoạt động dạy học có tính tích hợp, trong đó yêu cầu học sinh vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong bài học để giải quyết những vấn đề cụ thể, gắn với cuộc sống Khó khăn khi thực hiện loại hình STEM này là khung chương trình bị giới hạn thời gian

+ Giáo dục STEM tại các câu lạc bộ trong trường: Đây là loại hình STEM được nhiều trường triển khai bởi tính linh hoạt và đa dạng trong các hoạt động Hạn chế nhất của loại hình này là khó có thể tổ chức với quy mô lớn hay toàn bộ học sinh trong trường tham gia

+ Giáo dục STEM tại các trung tâm: Song hành với nhà trường, các trung tâm giáo dục STEM tại các thành phố lớn cũng phát triển mạnh mẽ Các hoạt động giáo dục STEM tại các trung tâm thường linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của học sinh tới tham gia

Việc tham gia tại các trung tâm này đối với học sinh dựa trên tinh thần tự nguyện và thông thường là phải trả kinh phí Ở một số quốc gia, có những trung tâm giáo dục STEM do nhà nước tổ chức và điều hành, là nơi định hướng, hỗ trợ hoạt động STEM cho các trường phổ thông trong khu vực

- Trên phương diện phương tiện phục vụ giáo dục STEM có các loại:

+ STEM tái chế: Là loại thuật ngữ được đưa ra do một số trung tâm về giáo dục STEM để nói đến việc học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng để chế tạo các sản phẩm từ các nguyên vật liệu đã qua sử dụng

+ STEM robtic: Là lĩnh vực giáo dục STEM thực hiện các chủ đề về lập trình, điều khiển robot

+ STEM trong phòng thí nghiệm: tùy theo điều kiện từng trường , có thể có các không gian sáng chế hoặc xây dựng phòng thí nghiệm để tham gia vào mạng lưới toàn cầu

1.1.3 Mục tiêu của giáo dục STEM

a, STEM literacy

“STEM literacy” có thể hiểu là mục tiêu khái quát nhất của giáo dục STEM, bao gồm khả năng huy động kiến thức, kĩ năng về khái niệm, tiến trình khoa học và toán học trong việc ra quyết định cá nhân, tham gia vào xã hội với tư cách là một công dân và tạo dựng sản phẩm cho nền kinh tế Có thể hiểu thuật ngữ này là “năng lực STEM” bao gồm việc vận dụng cả tri thức về nội dung và tri thức về quá trình trong lĩnh vực STEM để giải quyết những vấn đề của cá nhân, vấn đề xã hội và vấn

Trang 14

6

đề toàn cầu Cũng có thể hiểu thuật ngữ này là “ học vấn STEM”, là toàn bộ “ tri

thức STEM”, “ kĩ năng STEM” mà học sinh có được khi tham gia giáo dục STEM

Bybee cũng miêu tả “STEM literacy” bao gồm những thành tố sau:

- Huy động kiến thức về kĩ năng và thái độ để phát hiện và giải quyết các vấn

đề trong cuộc sống, lí giải tự nhiên và thiết kế thế giới, rút ra các kết luận có căn cứ

về những vấn đề liên quan đến STEM

- Hiểu biết đặc trưng của các lĩnh vực STEM như là một dạng của tri thức , khám phá và thiết kế của nhân loại

- Nhận thức cách các lĩnh vực STEM định hình thế giới vât chất, tinh thần và môi trường văn hóa của chúng ta

- Sẵn sàng tham gia vào các vấn đề liên quan đến STEM với các ý tưởng về khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học như một công dân có trách nhiệm với tinh thần xây dựng

Với cách hiểu như vậy STEM literacy là mục tiêu chung nhất bao trùm, định hướng mọi hoạt động giáo dục STEM

b, Thói quen tư duy STEM

“Có 16 thói quen tư duy được nhóm nghiên cứu mô tả về cách mà người thông minh suy nghĩ, hành động và quan sát về thế giới” Bằng cách phỏng vấn các học viên về khoa học, kĩ thuật, 6 thói quen của các chuyên gia kĩ thuật đã được xác định: “ Tư duy hệ thống, giải quyết vấn đề, trực quan hóa, cải thiện, giải quyết vấn

đề mang tính sáng tạo, thích nghi”

c, Cơ hội phát triển năng lực trong giáo dục STEM

Dạy học phát triển năng lực tuân theo một số nguyên tắc nhất định, một trong những nguyên tắc quan trọng đó là học sinh cần phải được trải nghiệm quá trình hoạt động thực tiễn đề từng bước hình thành và phát triển năng lực của mình Việc phát triển năng lực môn học sẽ được mô tả trong các phần sau:

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Đây là năng lực gắn chặt với giáo dục STEM Thông qua năng lực này ta có thể dễ dàng nhận ra sự tương đồng giũa thành tố của năng lực này với mục tiêu của giáo dục STEM

Khi học sinh tham gia vào quy trình thiết kế kĩ thuật để xây dựng các sản phẩm nhằm đáp ứng các nhu cầu của thực tiễn thì đồng thời học sinh sẽ lần lượt được trải nghiệm quá trình giải quyết vấn đề ở mức độ cao

Trang 15

7

Việc phân mức độ tương ứng với các cấp học: Mầm non, Tiểu học, Trung học

cơ sở, Trung học phổ thông cũng là các hướng dẫn để xây dựng các hoạt động STEM đảm bảo tính vừa sức và hứng thú đối với từng đối tượng học sinh

Ví dụ: Chủ đề “Chế tạo xe đua” có thể thực hiện ở các cấp khác nhau, tuy

nhiên yêu cầu với từng cấp học lại rất khác nhau, cụ thể như sau :

+ Đối với trẻ Mầm non: trẻ được giáo viên hướng dẫn từng chi tiết và được cùng giáo viên chế tạo một chế tạo một chiếc xe đua có thể chạy được bằng các nguyên liệu sẵn có trong cuộc sống

+ Đối với cấp tiểu học: Học sinh được yêu cầu chế tạo xe đua từ các nguyên vật liệu sẵn có, theo các bảng hướng dẫn bằng văn bản, bằng video clip Sản phẩm thu được đem ra thi về khả năng chạy nhanh hay chậm, đi được quãng đường dài hay ngắn

+ Đối với cấp THCS: Học sinh được yêu cầu thiết kế chế tạo xe đua từ các nguyên vật liệu có sẵn trong cuộc sống Mô tả nguyên lí hoạt động của xe về mặt vật lí Sản phẩm thu được để thi về khả năng leo dốc, đi được quãng đường trong khoảng thời gian xác định Tối ưu hóa về mặt khối lượng, chi phí chế tạo, khả năng tải trọng

+ Đối với cấp THPT: Học sinh được yêu cầu chế tạo xe từ các nguyên vật liệu sẵn có, kết nối với bộ phận điều khiển bằng arduino Học sinh làm rõ nguyên lí cấu tạo và hoạt động của xe về mặt vật lí, kĩ thuật và công nghệ Sản phẩm thu được cần thi đi theo quỹ đạo đã lập trình, xe có thể đi chính xác theo các vận tốc, độ cao, quỹ đạo, tránh chướng ngại vật …

- Năng lực tự chủ và tự học (TCTH)

Năng lực tự chủ và tự học theo chương trình giáo dục phổ thông mới nằm trong nhóm các năng lực chung Đó là những năng lực nền tảng và thường làm tiền

đề để phát triển các năng lực khác

Ví dụ: Khi ta nói học sinh có năng lực tự chủ và tự học thì ta cần nói học sinh

có thể tự chủ trong việc thực hiện hành động nào, ví dụ tự học sử dụng máy vi tính,

tự học làm thí nghiệm Như vậy phát triển năng lực này thường gắn với các năng lực chuyên môn khác

Trong giáo dục STEM học sinh có nhiều cơ hội để phát triển năng lực tự học

và tự chủ

- Năng lực giao tiếp và hợp tác (GTHT)

Đây là năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua hoạt động nhóm một thế mạnh của giáo dục STEM Trong bối cảnh hội nhập, khả năng hợp

Trang 16

 Vai trò của giáo dục STEM cho trẻ

Giáo dục STEM không phải biến học sinh trở thành nhà khoa học hay kỹ sư

mà là để chuẩn bị cho công dân toàn cầu mới

STEM giúp trẻ vừa học tập vừa kết hợp với ứng dụng thực tế Ngoài ra, STEM còn giúp trẻ biết cách áp dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống Đồng thời giúp trẻ giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở khoa học chặt chẽ và có tính ứng dụng thực tế rất cao Giáo dục định hướng STEM có thể áp dụng với trẻ nhỏ đến học sinh cấp 3, tuy nhiên ở mỗi cấp học lại có cấp độ khác nhau:

* Ở bậc Mầm non: Giáo dục định hướng STEM theo chủ đề học của trẻ: Chủ

đề động vật, chủ đề thực vật, chủ đề giao thông, chủ đề gia đình,…

* Ở bậc tiểu học: Giáo dục định hướng STEM thường tập trung giúp trẻ làm

quen, tạo hứng khởi cho trẻ và các lĩnh vực STEM

* Ở bậc trung học cơ sở: Giáo dục định hướng STEM ở giai đoạn này sẽ có chủ

đề và thử thách rõ ràng Ở cấp học này sẽ nhận thức rõ hơn về ứng dụng các lĩnh vực STEM trong thực tế Qua đó trẻ sẽ định hướng được rõ hơn về nghề nghiệp trong tương lai thông qua những hiểu biết đa dạng về STEM

* Ở bậc trung học phổ thông: Trẻ đã biết được sự liên hệ giữa các lĩnh vực STEM một cách rõ ràng, trẻ hoàn toàn có thể giải quyết được các bài toán STEM thách thức hơn với kiến thức và kĩ năng đã có

1.2 Đặc điểm của trẻ mầm non

1.2.1 Đặc điểm tâm lí trẻ Mầm non

- Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lí của trẻ

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lí của trẻ Sự phát triển tâm lí của trẻ có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như ảnh hưởng bởi nền văn hóa Đối với mỗi nền văn hóa khác nhau sẽ có tác động ảnh hưởng tới suy nghĩ, tâm lí khác nhau của trẻ

Tâm lí của trẻ cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các hoạt động và tính di truyền Các hoạt động thường ngày mà bé tham gia cũng ảnh hưởng tới tâm lí của trẻ Trẻ sẽ trở nên hòa đồng, vui vẻ với các bạn hơn nếu như hàng ngày bé được vui chơi với bạn

bè Ngược lại, nếu trẻ ít được vui chơi với bạn bè, chỉ chỉ chơi một mình thì sẽ dẫn

Trang 17

9

đến việc trẻ bị khó hòa nhập với bạn bè khi tới trường Tam lí của trẻ mang tính di truyền, nếu như cha mẹ của trẻ ít nói thì cũng rất có thể dẫn đến việc bé cũng trở nên nhút nhát, ít nói giống cha mẹ

Bên cạnh đó, tâm lí của trẻ cũng dễ bị ảnh hưởng bởi cách chúng ta giáo dục trẻ hàng ngày nữa Nếu như một đứa trẻ được chúng ta giáo dục tốt thì sẽ trở thành một đứa trẻ tốt và ngươc lại

Ở mỗi giai đoạn phát triển của trẻ đều có những đặc điểm tâm lý giống nhau

để giúp giáo viên và cha mẹ có thể giao tiếp tốt với trẻ Khi hiểu rõ được những đặc điểm tâm lý trẻ mầm non, giáo viên sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy, định hướng và giúp trẻ phát triển đúng với từng giai đoạn

- Các biểu hiện tâm lí của trẻ

+ Học hỏi kĩ năng giao tiếp

Ở lứa tuổi này trẻ bắt đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài, trẻ lần đầu được biết cách giao tiếp với mọi người Ở giai đoạn này trẻ thường rất hay để ý và quan sát người lớn giao tiếp hàng ngày và học theo Do vậy, cha mẹ và thầy cô giáo cần phải hết sức chú ý đến lười nói của bản thân cùng với những hành vi của mình khi giao tiếp với trẻ, tránh nói những lời lẽ thiếu lịch sự, tế nhị trước mặt trẻ vì như thế trẻ sẽ học theo điều đó

+ Tâm lí sợ đi học

Đối với trẻ em việc đi học sẽ trở nên rất thú vị nếu như ở trường có nhiều bạn

bè và thầy cô quan tâm, chơi cùng, hoặc là ở trường có điều gì đó tạo hứng thú cho trẻ Tuy nhiên, một số trẻ rất sợ đi học Vì vậy, cha mẹ cần chú ý khi trẻ có những biểu hiện như đau bụng mỗi khi sắp tới giờ đi học, nhưng khi bạn cho bé nghỉ học thì bé lại hết đau Hoặc trẻ có biểu hiện rõ ràng hơn như khóc khi phải tới trường

+ Trẻ tò mò khám phá thế giới xung quanh

Thế giới xung quanh trẻ chứa vô vàn những điều thú vị mà trẻ luôn mong muốn được khám phá Trẻ bắt đầu biết quan sát và khám phá các vật xung quanh mình Bất kì sự vật, hiện tượng mà trẻ nhìn thấy đều có thể trở thành đề tài để thắc mắc như tại sao mây màu trắng, bầu trời màu xanh, bông hoa có màu đỏ …Trẻ thích các trò chơi như nghịch nước, ném bóng, đồ chơi, nếm thử mùi vị của đồ ăn…Chính vì vậy mà trí tưởng tượng của trẻ ngày càng trở nên phong phú và đa dạng hơn

Giai đoạn này, các giáo viên nên chú ý việc để dụng cụ học tập, đồ dụng nguy hiểm xa tầm với của trẻ để tránh những hậu quả nghiêm trọng

+ Trẻ thích được yêu thương

Trang 18

10

Trẻ bắt đầu được tiếp xúc với thế giới bên ngoài nên đặc điểm tâm lí trẻ mầm non ở giai đoạn này là sợ hãi và cần được sự yêu thương của gia đình, giáo viên và mọi người xung quanh Vì vậy, khi trẻ sợ hãi giáo viên nên động viên, an ủi trẻ, khi trẻ mắc sai lầm thì giáo viên nên nhẹ nhàng phân tích để trẻ hiểu, tránh quát mắng làm các em hoảng sợ

+ Trẻ bắt đầu hình thành ý thức cá nhân

Tuy còn nhỏ như trẻ đã bắt dầu hình thành ý thức cá nhân của mình Trẻ có thể tự đưa ra nhận xét của mình khi xem một bộ phim hay nghe một bản nhạc hay Ngoài ra, trẻ cũng rất chú ý đến những lời nhận xét của người khác dành cho mình

- Trẻ bắt đầu tự lập

Trẻ thích được thể hiện cái tôi cá nhân của mình, thích tự mình làm những việc như: mặc quần áo, đánh răng, rửa tay, tự ăn, đi vệ sinh, vứt rác,…Chính vì vậy giáo viên nên để trẻ tự làm những việc trong khả năng của mình và khuyến khích trẻ giúp đỡ gia đình với những việc phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe

Thông qua sự phát triển về tâm lí- sinh lí của trẻ ta nhận thấy trẻ ở lứ tuổi này rất thích tò mò khám phá, rất thích học hỏi và trẻ đã bắt đầu biết tự lập chính vì vậy hoạt động STEM rất là thách thức dối với trẻ

1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non

Từ kết quả nghiên cứu của tâm lí học, trong giáo dục học trervem giai đoạn từ

0 đến 6 tuổi được phân thành hai thời kì lớn, đó là giai đoạn từ 0-3 tuổi và giai đoạn

từ 3-6 tuổi Mỗi giai đoạn lại được phân thành các giai đoạn nhỏ hơn và mỗi giai đoạn lại có những đặc trưng và đặc điểm phát triển nhất định

* Lứa tuổi nhà trẻ (0 đến 3 tuổi)

Trẻ lứa tuổi nhà trẻ được đặc trưng bởi tốc độ phát triển nhanh về mặt thể chất

và tâm lí Sự phát triển thể chất có quan hệ và ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển trí tuệ của trẻ

Ở lứa tuổi nhà trẻ nhận thức thông qua cảm giác và tri giác, hai quá trình này tạo điều kiện cho sự phát triển nhận cảm của trẻ Trước khi biết nói trẻ đã biết chỉ tay vào đối tượng để trả lười câu hỏi của người lớn (Ví dụ: Người lớn hỏi mũi con đâu trẻ đã biết chỉ tay lên mũi của mình)

Trẻ lứa tuổi nhà trẻ đã lĩnh hội ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với phát triển tư duy Những biểu hiện đầu tiên của tư duy xuất hiện vào cuối năm thứ nhất và đầu năm thứ 2 khi trẻ đã lĩnh hội được các hoạt động thực hành và định hướng vào việc làm rõ mối quan hệ giữa các đối tượng Đây là tư duy trực quan

Trang 19

11

hành động Cũng ở giai đoạn này trẻ đã phát triển các quá trình tâm lí khác như: chú

ý, trí nhớ Chúng đảm bảo cho trẻ nhận thức thế giới đầy đủ và chính xác hơn

Ở tuổi này hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ vật Thông qua đó, trẻ lĩnh hội cách sử dụng các công cụ và phương tiện vật chất Cùng với giao tiếp hoạt động với đồ vật là cơ sở cho sự xuất hiện trò chơi sáng tạo ở tuổi mẫu giáo

* Lứa tuổi mẫu giáo ( 3 đến 4 tuổi)

Việc tiếp xúc của trẻ với thế giới bên ngoài được mở rộng hơn Trẻ bắt đầu tìm hiểu thế giới của chính con người và dần dần khám phá ra các mỗi quan hệ đa dạng giữa người với người Trẻ đã nhận biết được vị trí của mình trong gia đình và trong trường, lớp mẫu giáo

Tư duy của trẻ ở lứa tuổi này đã đạt tới ranh giới của tư duy trực quan hình tượng nhưng các hình tượng và biểu tượng của trẻ còn gắn liền với hành động, vì vật cần giúp trẻ tích lũy những biểu tượng thông qua quan sát, tiếp xúc với thế giới xung quanh để cho thế giới hình tượng ngày càng phong phú Trẻ ở lứa tuổi này đã biết phân biệt các sự vật, hiện tượng bằng dấu hiệu bên ngoài tiêu biểu, nhận ra sự khác nhau rõ rệt giữa 2 đối tượng Trẻ hay đặt câu hỏi “Tại sao?” là vì tư duy của trẻ chư cho phép tìm ra nguyên nhân khách quan Đối với trẻ mọi vật đều có hồn, có tính tình và ý thích Khi nhìn sự vật trẻ không bao quát được sự vật đó là gồm nhiều chi tiết mà chỉ để tâm lần lượt tới từng chi tiết một và không liên kết các chi tiết ấy lại với nhau thành một tổng thể Trẻ mẫu giáo rất thích thú khi quan sát các sự vật, hiện tượng xung quanh, thích bắt chước những vận động, hoạt động ngộ nghĩnh, mới lạ

* Lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4 đến 5 tuổi)

Mẫu giáo nhỡ là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư duy trực quan hình tượng Trẻ có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật, hiện tượng

để giải bài toán nhận thức ngày càng đa dạng, phong phú Trẻ mẫu giáo cũng có khả năng suy luận mặc dù những kết luận của trẻ còn rất ngây thơ, ngộ nghĩnh Trẻ chưa

có khả năng tư duy trừu tượng, trẻ chỉ dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận những vấn đề mới, nhưng chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài chứ chưa đi sâu vào bản chất bên trong

Trẻ mẫu giáo biết so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hai đối tượng Trong giao tiếp trẻ đã có ý thức đối với hành động và lười nói của mình Đối với trẻ cái đẹp, cái tốt chỉ là một, vì vậy để giáo dục đạo đức cho trẻ cần sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, sinh động và hấp dẫn

* Lứa tuổi mẫu giáo lớn ( 5 đến 6 tuổi )

Trang 20

12

“Ở lứa tuổi này trẻ đã biết tương đối về bản thân, biết điều khiển những cảm xúc và hành vi, điều đó tạo cho sự chủ động của hành vi” Ở mẫu giáo lớn, kiểu tư duy trực quan hình tượng vẫn mạnh mẽ, vào cuối tuổi mẫu giáo lớn xuấ hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ Nó cho phép trẻ đi sâu vào những mối liên hệ phức tạp của sự vật và mở ra khả năng nhìn thấy bản chất của sự vật, hiện tượng giúp trẻ lĩnh hội kiến thức ở trình độ khái quát cao nhưng vẫn nằm trong phạm vi của tư duy trực quan hình tượng nói chung

Qua đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ ta thấy ở từng lứa tuổi thì trẻ đã có những phát triển về nhận thức khác nhau Trẻ đã biết nhận thức thông qua cảm giác và tri giã, nhận thức thông qua ngôn ngữ, thông qua việc tiesp xúc với thế giới bên ngoài Chính vì vậy các hoạt động STEM rất phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ

1.2.3 Đặc điểm về thể chất của trẻ Mầm non

Trẻ Mầm non phát triển các mặt về thể chất như:

- Chiều cao và cân nặng

- Đại não, tim, phổi

1.3 Hoạt động giáo dục và thiết kế hoạt động giáo dục trẻ Mầm non

1.3.1 Hoạt động giáo dục

1.3.1.1 Khái niệm hoạt động giáo dục

“Hoạt động giáo dục là quá trình được tổ chức dưới hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu”

1.3.1.2 Vai trò của hoạt động giáo dục đối với sự phát triển của trẻ Mầm non

Vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự phát triển của trẻ thể hiện:

 Giáo dục định hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của cá nhân

“Sự định hướng của giáo dục không chỉ thích ứng với những yêu cầu của xã hội hiện tại mà còn phải thích hợp với yêu cầu phát triển của tương lai để thúc đẩy

Trang 21

13

sự tiến bộ của xã hội Vì vậy, giáo dục phải đi trước, đón đầu sự phát triển Muốn đi trước, đón đầu sự phát triển, giáo dục căn cứ trên những dự báo về gia tốc phát triển của xã hội, thiết kế nên mô hình nhân cách của con người thời đại với hệ thống định hướng giá trị tương ứng”

 Giáo dục can thiệp, điều chỉnh các yếu tố khác nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển của trẻ

“Các yếu tố bẩm sinh - di truyền, môi trường và hoạt động các nhân đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên yếu tố giáo dục lại có thể tác động đến các yếu tố này để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển của trẻ””

* Đối với di truyền

-“Giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để những mầm mống của con người có trong chương trình giáo dục được phát triển Chẳng hạn, trẻ được di truyền cấu tạo cột sống, bàn tay và thanh quản … nhưng nếu không được giáo dục thì trẻ khó có thể đi thẳng đứng bằng hai chân, biết sử dụng công cụ hay phát triển ngôn ngữ…”

* Đối với môi trường

-“Giáo dục tác động đến môi trường tự nhiên qua việc trang bị kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường của con người, khắc phục được sự mất cân bằng sinh thái, làm cho môi trường tự nhiên trở nên trong lành, đẹp đẽ hơn”

- “Giáo dục còn làm thay đổi tính chất của môi trường xã hội nhỏ như gia đình, nhà trường và các nhóm bạn bè, khu phố…, để các môi trường nhỏ tạo nên những tác động lành mạnh tích cực đến sự phát triển nhân cách con người Hiện nay công tác giáo dục xã hội đang chú tâm xây dựng gia đình là một mái ấm dân chủ, bình đẳng, ấm

no, hạnh phúc; nhà trường là một môi trường thân thiện đối với học sinh, cộng đồng dân cư là khu vực văn hóa của một xã hội văn minh tiến bộ”

* Đối với hoạt động cá nhân

- Giáo dục tổ chức nhiều loại hình hoạt động giao tiếp bổ ích, lành mạnh nhằm phát huy những phẩm chất và năng lực cá nhân (sân chơi ở các nhà văn hóa cho mọi lứa tuổi, các câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc tại địa phương, …); xây dựng những động cơ đúng đắn của cá nhân khi tham gia hoạt động, giao tiếp đồng thời hướng dẫn cá nhân lựa chọn các hoạt động và giao tiếp phù hợp với khả năng của bản thân Đặc biệt công tác giáo dục luôn xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa thầy trò, giữa bạn bè với nhau đồng thời tổ chức và định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi để thúc đẩy sự phát triển nhân cách”

Trang 22

14

- “Giáo dục tạo tiền đề cho tự giáo dục của cá nhân Tự giáo dục thể hiện tính chủ thể của cá nhân khi con người đáp ứng hoặc tự vận động nhằm chuyển hóa các yêu cầu của giáo dục thành phẩm chất và năng lực của bản thân Nếu cá nhân thiếu khả năng tự giáo dục thì các phẩm chất và năng lực của họ sẽ hình thành ở mức độ thấp hoặc thậm chí không thể hình thành Trình độ, khả năng tự giáo dục của cá nhân phần lớn bắt nguồn từ sự định hướng của giáo dục Giáo dục đúng đắn và đầy

đủ sẽ giúp con người hình thành khả năng tự giáo dục, đề kháng trước những tác động tiêu cực của xã hội để phát triển nhân cách mạnh mẽ “Chỉ có những người biết tự giáo dục mới là những người thực sự có giáo dục.””

1.3.2 Thiết kế hoạt động giáo dục trẻ Mầm non

1.3.2.1 Nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục

Thiết kế hoạt động giáo dục cho trẻ cần tuân thủ theo các nguyên tắc:

- Nguyên tắc tự giác và tích cực

- Nguyên tắc trực quan

- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa hoc, hệ thống và toàn diện

-Nguyên tắc củng cố và nâng cao

- Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong quá trình dạy và tập luyện cho trẻ

1.3.2.2 Quy trình thiết kế hoạt động giáo dục cho trẻ

Quy trình thiết kế một hoạt động giáo dục cho trẻ Mầm non bao gồm các bước:

- Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu

Ở bước này cần phải xác định được kiến thức, kĩ năng, tháo độ học tập trẻ

- Bước 2: Chuẩn bị ( Đồ dùng của cô và đồ dùng của trẻ )

1.4 Đặc điểm chương trình giáo dục trẻ Mầm non

1.4.1 Nội dung chương trình giáo dục trẻ Mầm non

Trang 23

“+ Tên gọi, chức năng một số bộ phận trên cơ thể người

+ Tên gọi, đặc điểm nổi bật, công dụng và cách sử dụng 1 số đồ dùng quen thuộc của trẻ

+ Tên gọi, đặc điểm nổi bật của 1 số con vật, hoa quả quen thuộc với trẻ + Một số màu cơ bản (Đỏ, vàng, xanh), kích thước ( to, nhỏ), hình dạng ( tròn, vuông), số lượng( một , nhiều), và vị trí không gian ( trên- dưới, trước- sau) với bản thân trẻ

+ Bản thân và những người gần gũi”

* Giáo dục phát triển thể chất

- “Phát triển vận động

+ Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp

+ Tập các vận động cơ bản và phát triển các tố chất vận động ban đầu

+ Tập các cử động bàn tay, ngón tay”

- “Giao dục dinh dưỡng và sức khỏe

+ Tập luyện nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt

+ Làm quen với một số việc tự phục vụ và giữ gìn sức khỏe

+ Nhận biết và tránh một số những nguy cơ không an toàn”

- “Giao dục phát triển ngôn ngữ

+ Nghe: Nghe các giọng nói khác nhau, nghe và hiểu các từ và câu chỉ đồ vật quen thuộc và một số loại câu đơn giản Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với đội tuổi của trẻ

+ Nói: Phát âm các âm khác nhau, trả lời và hỏi một số câu đơn giản, thể hiện nhu cầu, cảm xúc của bản thân thông qua lời nói”

- “Giao dục phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội và thẩm mĩ

+ Phát triển tình cảm: ý thức về bản thân, nhận biết và thể hiện một số trạng thái cảm xúc

+ Phát triển kĩ năng xã hội: Mối quan hệ tích cực giữa con người và sự vật gần gũi, hành vi văn hóa và thực hiện các quy trình đơn giản trong giao tiếp

+ Phát triển cảm xúc, thẩm mĩ: Nghe hát, hát và vận động đơn giản theo nhạc

Vẽ nặn, xé dán, xếp hình và xem tranh”

Trang 24

16

b, Chương trình giáo dục mẫu giáo

- “Nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe

+ Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp

+ Tập các vận động cơ bản và phát triển các tố chất vận động ban đầu

+ Tập các cử động bàn tay, ngón tay

- Giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe

+ Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe

+Tập làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt

+ Danh lam, thắng cảnh và các ngày lễ hội”

* “Giáo dục phát triển ngôn ngữ

- Nghe:

Trang 25

17

+ Nghe các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất hoạt động của các từ biểu cảm, từ khái quát

+ Nghe lười nói trong giao tiếp hằng ngày

+ Nghe kể chuyện, thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với lứa tuổi

- Nói:

+ Phát âm rõ các tiếng trong tiếng việt

+ Bày tỏ nhu cầu, cảm xúc của bản thân bằng các câu khác nhau

+ Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện

+ Lễ phép, chủ động và tự tin trong giao tiếp

* Làm quen với việc đọc, viết

- Làm quen với cách sử dụng sách, bút

- Làm quen với một số kí hiệu thường dùng trong cuộc sống

- Làm quen với chữ viết, với việc đọc sách”

1.4.2 Đặc điểm chương trình giáo dục

* Tính tích hợp

- “Tích hợp theo chủ đề là việc tổ chức các hoạt động xung quanh một nội dung nào đó, giúp giáo viên tìm ra các cách dạy mới, sáng tạo hơn và đạt hiệu quả nhất”

+ Mẹ và những người thân yêu của bé

+ Bé đi khắp nơi bằng các phương tiện giao thông

Trang 26

18

+ Mùa hè đến rồi

+ Bé lên mẫu giáo

- “Lứa tuổi mẫu giáo:

- Mẫu giáo bé 3-4 tuổi

- Mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi

- Mẫu giáo lớn 5-6 tuổi”

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày được tổng quan các cơ sở lí luận của

đề tài bao gồm:

1.1 Bản chất của “giáo dục STEM là 1 cách tiếp cận liên ngành trong quá

trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, khi đó các học sinh áp dung các kiến thức trong khoa học , công nghệ, kỹ thuật và toán học vào trong các bối cảnh cụ thể, nhằm kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển các năng lực trong lĩnh vực STEM và đồng thời cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền kinh tế mới” Chính vì vậy, giáo dục STEM rất là phù hợp với sự phát

triển của trẻ

1.2 Thông qua các đặc điểm phát triển của trẻ Mầm non ta thấy rằng ở độ

tuổi này tâm lí- sinh lí của trẻ ngày càng phát triển đồng thời nhận thức của trẻ ngày càng được nâng cao Trẻ rất thích tò mò, khám phá thế giới xung quanh, thích được trải nghiệm Chính vì vậy, việc đưa các hoạt động STEM vào chương trình dạy cho

trẻ là rất phù hợp và cần thiết

Trang 27

19

1.3 Để có thể thiết kế được một hoạt động giáo dục cho trẻ thì cần đảm bảo

các điều kiện: Giáo viên cần phải nắm được các nguyên tắc để thiết kế hoạt động giáo dục, bên cạnh đó lớp học cần phải được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ để có thể đáp ứng được các tiết dạy Ngoài ra trẻ cần phải được tham gia vào các hoạt động

một cách thoải mái, hứng thú và được thỏa sức mình trải nghiệm

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC STEM

CHO TRẺ MẦM NON 2.1 Khái quát thực trạng

2.1.1 Mục đích khảo sát thực trạng

Xác định được thực trạng của việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ

Mầm non Trên cơ sở đó, định hướng cho những đề xuất mới về việc thiết kế hoạt động giaó dục STEM cho trẻ Mầm non

2.1.2 Đối tượng khảo sát thực trạng

Đối tượng khảo sát là các giáo viên Mầm non đang công tác trên địa bàn Huyện Mê Linh, thành phố: Hà Nội

+ Trường Mầm non Tiền Phong A, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

+ Trường Mầm non Tiền Phong B, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nôi

+ Trường Mầm non Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành Phố Hà Nội

2.1.3 Nội dung khảo sát

2.1.3.1 Khảo sát mức động hiểu biết của giáo viên về STEM

2.1.3.2 Khảo sát mức độ hiểu biết của GV về hoạt động giáo dục

2.1.3.3 Khảo sát mức độ hiểu biết của GV về các nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục

2.1.3.4 Khảo sát mức độ của GV về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục

2.1.3.5 Khảo sát thực trạng của việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ

2.1.4 Phương pháp khảo sát

Để đánh giá thực trạng của việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ Mầm non, chúng tôi thiết kế phiếu điều tra và tiến hành khảo sát trực tiếp các giáo viên ở các trường Mầm non

Tổng số phiếu phát ra là 65 phiếu Những số liệu thu được sử dụng phương pháp thống kê toán học trên cơ sở đó khái quát thực trạng Ngoài ra để tăng sức thuyết phục cho các kết luận thu được còn sử dụng thêm các phương pháp hỗ trợ như là quan sát, phỏng vấn và nghiên cứu sản phẩm hoạt động

2.2 Kết quả khảo sát

Trang 28

20

Qua điều tra thực tiễn, chúng tôi thu được các kết quả như sau:

2.2.1 Hiểu biết của giáo viên về STEM

Nội dung điều tra: Câu hỏi 1 (Phụ lục 1)

Thông qua quá trình điều tra và phỏng vấn các giáo viên chúng tôi đã thu được những hiểu biết về STEM và được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1: Hiểu biết của giáo viên về STEM

A “STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng

trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan

đến ( các lĩnh vực) khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán

học”

B “STEM là dạy cho người học những kiến thức, kĩ năng

liên quan đến ( các lĩnh vực) khoa học, công nghệ”

C “STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng

trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan

đến ( các lĩnh vực) khoa học, toán học”

Biểu đồ 1: Hiểu biết của giáo viên về STEM

A.STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến ( các lĩnh vực) khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học

B.STEM là dạy cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến ( các lĩnh vực) khoa học, công nghệ

C.STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến ( các lĩnh vực) khoa học, toán học

43,07%

29,23%

24,6%

3,08%

Trang 29

21

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, có tới 16/65 GV tương ứng với 24,6% còn chưa từng nghe, chưa từng biết gì về STEM Chỉ có 19 GV được hỏi thực sự hiểu về

STEM, đó là: “STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho

người học những kiến thức, kĩ năng liên quan đến ( các lĩnh vực) khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học” Những GV còn lại thì hiểu một cách mơ hồ và chưa rõ

ràng về STEM là gì? Điều này cũng dễ hiểu vì ở nước ta khái niệm này được biết đến khá muộn, hơn nữa ở lĩnh vực giáo dục vẫn chưa thực sự chú trọng tới việc phát triển hoạt động giáo dục này

2.2.2 Hiểu biết của giáo viên về hoạt động giáo dục

Nội dung điều tra: Câu hỏi 2(Phụ lục 1)

Thông qua quá trình điều tra và phỏng vấn các giáo viên chúng tôi đã thu được những hiểu biết về hoạt đông giáo dục và được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2: Hiểu biết của giáo viên về hoạt động giáo dục

A “Hoạt động giáo dục là hoạt động được thực hiện theo một

chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người

học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm

chất, năng lực của người họ”

15 23,07

B “Hoạt động giáo dục là quá trình được tổ chức dưới hình

thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một

nhóm người được trao truyền cho nhau từ thế hệ này sang thế

hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu”

43 66,15

Trang 30

22

Biểu đồ 2: Hiểu biết của giáo viên về hoạt động giáo dục

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, có tới 43/65 GV tương ứng với 66,15% đã hiểu

về hoạt động giáo dục, đó là: “ Hoạt động giáo dục là quá trình được tổ chức dưới hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu” Những GV còn lại thì hiểu một cách mơ hồ và chưa rõ ràng về

hoạt động giáo dục là gì? Điều này cho thấy phần đa các GV Mầm non đã nắm được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục

2.2.3 Hiểu biết của giáo viên về nguyên tắc thiết kế hoặt động giáo dục

Nội dung điều tra: Câu 3 (Phụ lục 1)

Bảng 3 Hiểu biết của giáo viên về nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục

D Đảm bảo tính tự giác và tích cực, tính trực quan, tính khoa

Hoạt động giáo dục là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết

kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người họ

Hoạt động giáo dục là quá trình được tổ chức dưới hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu

Trang 31

23

Biểu đồ 3: Hiểu biết của giáo viên về nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, có tới 35/65 GV tương ứng với 53,85% đã biết

được các nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục, đó là: “Để thiết kế một hoạt động giáo dục giáo viên cần phải tuân theo các nguyên tự giác, tích cực, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, hệ thống và toàn diện” Số ít những GV

còn lại thì hiểu một cách mơ hồ và chưa rõ ràng về các nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục Điều này cho thấy phần đa các GV Mầm non đã năm được nguyên tắc thiết kế hoạt động giáo dục

2.2.4 Hiểu biết của giáo viên về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục

Nội dung điểu tra: Câu 4 ( Phụ lục 1)

Bảng 4 Hiểu biết của giáo viên về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục

Đảm bảo tính tự giác và tích cực, tính trực quan, tính khoa hoc, hệ thống và toàn diện

53,85%

20%

13,84%

12,31%

Trang 32

24

Biểu đồ 4 Hiểu biết của giáo viên về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, có tới 34/65 GV tương ứng với 52,31% đã biết

được quy trình thiết kế hoạt động giáo dục bao gồm 5 bước Số ít những GV còn lại

thì hiểu một cách mơ hồ và chưa rõ ràng về quy trình thiết kế hoạt động giáo dục Điều này cho thấy phần đa các GV Mầm non đã nắm được quy trình thiết kế hoạt động giáo dục

2.2.5 Khảo sát thực trạng của giáo viên về việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM cho trẻ mầm non

Nội dung điều tra: Câu 5 (Phụ lục 1)

Bảng 5: Thực trạng của giáo viên về việc thiết kế hoạt động giáo dục STEM

52,31%

21,54%

16,92%

9,23%

Ngày đăng: 06/04/2021, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Quyết định số 522/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án “Giáp dục hướng nghiệp và đinh hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025”. Thủ tướng Chính phủ, ngày 14 tháng 5 năm 208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáp dục hướng nghiệp và đinh hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025
5. Quyết định số 4045/QĐ- BGDĐT về việc phê duyệt Đề án “Phát triển thiết bị dạy học tự làm giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2010 – 2015”. Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 16 tháng 9 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thiết bị dạy học tự làm giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2010 – 2015
12. Nguyễn Thị Tố Khuyên (2016) Dạy học chủ đề tích hợp STEM “Nano và đời sống” ở trường THCS, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nano và đời sống
1. Chỉ thị soos/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiesp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Thủ tướng Chính phủ, ngày 04 tháng 5 năm 2017 Khác
3. Chương trình tổng thể. (Kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành chương trình giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 26 tháng 12 năm 2018) Khác
4. Quyết định sô 32/2018/TT-BGDĐT về việc ban hành quy chế công nhận phòng học bộ môn trung học đath chuẩn quốc gia. Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 24 tháng 9 năm 2004 Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huán Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường trung học cơ sở môn hóa học, Hà Nội Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), tài liệu Hội thảo, Định hướng giáo dục STEM trong trường Trung học, Hải Phòng Khác
8. Đỗ Hương Trà & các cộng sự (2016). Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh – Quyển 1, Khoa tự nhiên, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Khác
9. Lê Xuâ Quang (2017). Dạy học môn Công nghệ phổ thông theo định hướng giáo dục STEM, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
10. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hƣng, Phạm Xuân Quế (2002). Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Hằng, Tưởng Duy Hải, Đào Thị Ngọc Minh (2016). Tổ chức hoạt động trải ghiệm trong nhà trường phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2015). Báo cáo tổng kết nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ: Xây dựng 15 chuyên đề kiến thức tích hợp để phục vị bồi dƣỡng, nâng cao năng lực dạy học tích hợp của giáo viên trug học; mã số B2014 – 17 – 05NV Khác
14. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2018). Phát triển năng lực trong môn sinh học 6. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2018). Phát triển năng lực trong môn sinh học 7. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
16. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2018). Phát triển năng lực trong môn toán 6. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2018). Phát triển năng lực trong môn toán 7. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2018). Phát triển năng lực trong môn vật lý 6. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Văn Biên và cộng sự (2018). Phát triển năng lực trong môn vật lý 7. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
20. Nguyễn Văn Biên (2015). Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp về khoa học tự nhiên. Tap chí khoa học Đại học Sƣ phạm, Hà Nội, 60 (2), 61-66 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w