1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích hiệu quả sản xuất của hộ chăn nuôi vịt thịt tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

72 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Giới thiệu tổng quan 1.1 Đặt vấn đề 1.2 Sự cần thiết nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung 2.2 Mục tiêu cụ thể 3. Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Kết quả mong đợi 6. Đối tượng thụ hưởng CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp thu thập số liệu 1. Phương pháp luận và cơ sở lý luận 3. Các phương pháp sử dụng trong phân tích 3.1 Phương pháp phân tích lợi ích chi phí (CBA) 3.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính 3.3 Các tỷ số tài chính CHƯƠNG 3: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1. Khái niệm và vai trò của kinh tế hộ 1.1 Khái niệm về hộ 1.2 Khái quát về kinh tế hộ 1.3 Sự khác nhau giữa kinh tế hộ và kinh tế trang trại 1.4 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay 2. Giới thiệu chung về huyện Trần Văn Thời 2.1 Điều kiện tự nhiên 2.1.1 Vị trí địa lý 2.1.2 Khí hậu và thời tiết 2.1.3 Thủy văn 2.1.4 Nguồn nước 2.1.5 Tài nguyên đất 2.1.6 Tài nguyên rừng 2.1.7 Tài nguyên biển 2.1.8 Khoáng sản 2.1.9 Môi trường sinh thái 2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 2.2.1 Dân số 2.2.2 Lao động 3. Khái quát về tình hình chăn nuôi vịt ở nước ta 3.1 Đặc điểm sản xuất 3.2 Đặc điểm chung về công tác giống vịt ở nước ta 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi vịt 4.1 Giống 4.2 Thức ăn 4.3 Nước 4.4 Chăm sóc 4.5 Thuốc thú y 4.6 Các mầm bệnh ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi 5. Thực trạng của ngành chăn nuôi vịt trong những năm gần đây 5.1 Thuận lợi 5.2 Khó khăn CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 1. Vùng nghiên cứu và mẫu điều tra 2. Thông tin về hộ chăn nuôi vịt 3. Thông tin về đàn vịt 4. Thông tin khác 5. Phân tích hiệu quả chăn nuôi vịt thịt 5.1 Chi phí 5.1.1 Chi phí con giống 5.1.2 Chi phí thức ăn 5.1.3 Chi phí lao động 5.1.4 Một số chi phí khác 5.2 Doanh thu 5.3 Phân tích hiệu quả bằng phương pháp CBA 5.4 Các tỷ số tài chính 6. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 7 Ưu điểm và khuyết điểm của việc chăn nuôi vịt 7.1 Ưu điểm 7.2 Khuyết điểm MỘT SỐ GIẢI PHÁP 1. Tăng chất lượng con giống 2. Giảm chi phí thức ăn 3. Tăng giá bán 4. Giảm tỷ lệ chết 5. Tăng trọng lượng bình quân KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 2. Kiến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1 Giới thiệu tổng quan 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Sự cần thiết nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Kết quả mong đợi 3

6 Đối tượng thụ hưởng 3

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1 Phương pháp thu thập số liệu 4

1 Phương pháp luận và cơ sở lý luận 4

3 Các phương pháp sử dụng trong phân tích 4

3.1 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí (CBA) 4

3.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính 5

3.3 Các tỷ số tài chính 7

CHƯƠNG 3: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 8

1 Khái niệm và vai trò của kinh tế hộ 8

1.1 Khái niệm về hộ 8

1.2 Khái quát về kinh tế hộ 8

1.3 Sự khác nhau giữa kinh tế hộ và kinh tế trang trại 9

1.4 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay 11

2 Giới thiệu chung về huyện Trần Văn Thời 12

2.1 Điều kiện tự nhiên 12

2.1.1 Vị trí địa lý 12

Trang 2

2.1.2 Khí hậu và thời tiết 13

2.1.3 Thủy văn 13

2.1.4 Nguồn nước 14

2.1.5 Tài nguyên đất 15

2.1.6 Tài nguyên rừng 17

2.1.7 Tài nguyên biển 18

2.1.8 Khoáng sản 18

2.1.9 Môi trường sinh thái 19

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 19

2.2.1 Dân số 19

2.2.2 Lao động 20

3 Khái quát về tình hình chăn nuôi vịt ở nước ta 21

3.1 Đặc điểm sản xuất 21

3.2 Đặc điểm chung về công tác giống vịt ở nước ta 22

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi vịt 22

4.1 Giống 22

4.2 Thức ăn 22

4.3 Nước 23

4.4 Chăm sóc 23

4.5 Thuốc thú y 23

4.6 Các mầm bệnh ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi 23

5 Thực trạng của ngành chăn nuôi vịt trong những năm gần đây 23

5.1 Thuận lợi 24

5.2 Khó khăn 25

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

1 Vùng nghiên cứu và mẫu điều tra 26

2 Thông tin về hộ chăn nuôi vịt 26

3 Thông tin về đàn vịt 30

4 Thông tin khác 34

Trang 3

5 Phân tích hiệu quả chăn nuôi vịt thịt 35

5.1 Chi phí 35

5.1.1 Chi phí con giống 35

5.1.2 Chi phí thức ăn 36

5.1.3 Chi phí lao động 36

5.1.4 Một số chi phí khác 37

5.2 Doanh thu 39

5.3 Phân tích hiệu quả bằng phương pháp CBA 40

5.4 Các tỷ số tài chính 41

6 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 42

7 Ưu điểm và khuyết điểm của việc chăn nuôi vịt 46

7.1 Ưu điểm 46

7.2 Khuyết điểm 47

MỘT SỐ GIẢI PHÁP 48

1 Tăng chất lượng con giống 48

2 Giảm chi phí thức ăn 48

3 Tăng giá bán 49

4 Giảm tỷ lệ chết 49

5 Tăng trọng lượng bình quân 50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

1 Kết luận 51

2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 1: Diện tích đất các xã/thị trấn trong huyện 15

Bảng 2: Cơ cấu sử dụng đất của huyện 16

Bảng 3: Lao động làm việc trong các ngành/lĩnh vực 20

Bảng 4: Thông tin về giới tính của người nuôi 26

Bảng 5: Đặc điểm của hộ chăn nuôi vịt 27

Bảng 6: Diện tích đất nông nghiệp 27

Bảng 7: Tình hình sử dụng đất 28

Bảng 8: Số lượng tập huấn 28

Bảng 9: Thông tin về kĩ thuật nuôi 29

Bảng 10: Lý do chọn nuôi vịt 30

Bảng 11: Quy mô đàn vịt 30

Bảng 12: Tình hình nuôi vịt 31

Bảng 13: Giống vịt được hộ chọn nuôi 32

Bảng 14: Nguồn cung cấp con giống 32

Bảng 15: Lý do chọn giống vịt 33

Bảng 16: Hình thức tiêu thụ 33

Bảng 17: Thiệt hại do dịch cúm gia cầm 34

Bảng 18: Giá con giống 35

Bảng 19: Chi phí thức ăn 36

Bảng 20: Chi phí lao động 37

Bảng 21: Một số chi phí khác 37

Bảng 22: Tập hợp các chi phí chăn nuôi vịt 38

Bảng 23: Tỷ trọng các loại chi phí 39

Bảng 24: Giá bán và doanh thu 39

Bảng 25: Kết quả từ hoạt động chăn nuôi vịt 40

Bảng 26: Các tỷ số tài chính 41 Bảng 27: Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ.44

Trang 5

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1 Giới thiệu tổng quan

1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, ở huyện Trần Văn Thời có rất nhiều hộ chăn nuôi vịt, nhưng vấn đề chi phí và thu nhập chưa được hộ nghiên cứu một cách cụ thể, vì vậy cần có một nghiên cứu cụ thể nhằm giúp hộ chăn nuôi có thể biết được thu nhập của họ thu được là bao nhiêu và chi phí bỏ ra bao nhiêu là hợp lý Từ vấn đề này nên em quyết

định chọn đề tài “phân tích hiệu quả sản xuất của hộ chăn nuôi vịt thịt tại huyện

Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” Từ vấn đề nghiên cứu này có thể giúp hộ chăn

nuôi giảm được một số chi phí không cần thiết và họ có thể biết được thu nhập từ một con vịt là bao nhiêu tiền Từ đó có thể đề ra một số giải pháp làm tăng thu nhập của hộ chăn nuôi vịt tại vùng nghiên cứu

1.2 Sự cần thiết nghiên cứu

Việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường đã góp phần thúc đẩy đại đa số nông dân sản xuất ra nhiều nông phẩm hàng hóa Trong đó sản phẩm của ngành chăn nuôi trong những năm gần đây đã gia tăng đáng kể góp phần cung cấp thực phẩm cần thiết cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Việc phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở hộ gia đình được xem là biện pháp hữu hiệu để sử dụng hiệu quả nguồn lực sản xuất, góp phần nâng cao thu nhập cho hộ gia đình

Chúng ta đã và đang có nhiều thuận lợi cơ bản để đẩy nhanh sản lượng gia cầm trên cả nước như thời tiết thuận lợi, nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào phong phú Bên cạnh đó, nước ta còn có nguồn nhân lực dồi dào phục vụ cho việc chăn nuôi ở vùng nông thôn Tuy nhiên nếu đánh giá tổng quan về thực trạng sản xuất kinh doanh sản phẩm gia cầm hiện nay và phân tích triển vọng trong tương lai thì còn khá nhiều bất cập Khó khăn, thách thức hàng đầu đặt ra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm gia cầm hiện nay đó là chưa có một hệ thống tiêu thụ sản phẩm

Trang 6

hoàn chỉnh và chất lượng Các hộ gia đình và trang trại chăn nuôi sản xuất ra được nhiều gia cầm có chất lượng nhưng do ảnh hưởng của dịch cúm nên khâu tiêu thụ vẫn còn hạn chế Từ ngày 1 tháng 3 năm 2007 cả nước đã công bố hết dịch nhưng vẫn có một số nơi vẫn xãy ra dịch nên khi nuôi hộ chăn nuôi cần phải quan tâm chọn những giống gia cầm có chất lượng và phải đăng kí kiểm dịch trước khi nuôi

Một hạn chế lớn nhất là người nông dân chưa có một cơ sở khoa học thực tiễn

về phương pháp nuôi vịt cũng như phương pháp tính hiệu quả sản xuất từ việc chăn nuôi này Họ chỉ biết nuôi vịt mang lại thu nhập cao nhưng họ không biết là bao nhiêu và nó có lợi không khi tính công lao động nhà bỏ ra

Vì vậy việc đầu tư nghiên cứu hiệu quả của việc chăn nuôi gia cầm là điều hết sức cần thiết nhằm giúp cho hộ gia đình và các trang trại tham gia đẩy mạnh sản xuất góp phần tăng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng về việc chăn nuôi vịt lấy thịt của hộ, phân tích hiệu quả sản xuất của hộ thông qua việc phân tích chi tiết các chi phí ảnh hưởng đến việc chăn nuôi, tìm ra khoản lợi nhuận Từ đó đưa ra một số giải pháp có liên quan đến việc chăn nuôi của nông hộ, cần có những chính sách, sự quan tâm của chính quyền địa phương đến việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả sản xuất

từ việc chăn nuôi này hơn nữa

2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Phân tích thực trạng nuôi vịt

+ Phân tích hiệu quả sản xuất nuôi vịt

+ Phân tích những ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

+ Đề xuất các giải pháp như tăng chất lượng con giống và giảm chi phí khi nuôi vịt nhằm làm tăng thu nhập của hộ chăn nuôi

Trang 7

3 Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Giả sử nuôi vịt mang lại thu nhập cao và chúng ta kiểm tra lại bằng cách phân tích từng yếu tố chi phí ảnh hưởng đến việc nuôi vịt và khoản thu nhập mang lại từ việc chăn nuôi này Từ đó đưa ra so sánh với thực tế để được kết quả phân tích

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Nội dung

Nghiên cứu này chỉ giới hạn bởi phần hiệu quả sản xuất của việc nuôi vịt lấy thịt, còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc nuôi vịt nhưng không được xét đến trong đề tài này

4.2 Thời gian

Thời gian bắt đầu của việc nghiên cứu là tháng 3 năm 2007

Các số liệu dùng để phân tích được phỏng vấn trực tiếp từ các hộ chăn nuôi vịt trong thời gian từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 5 năm 2007

4.3 Địa điểm

Đề tài được nghiên cứu tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

5 Kết quả mong đợi

Từ kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các hộ nông dân và chính quyền địa phương Từ đó chính quyền địa phương có thể đưa ra các cơ chế chính sách phù hợp để thúc đẩy người dân đẩy mạnh sản xuất

6 Đối tượng thụ hưởng

Đề tài này nhằm phục vụ cho các đối tượng như: người nông dân, người tiêu dùng và kể cả phục vụ cho các cơ quan ban ngành có liên quan dùng làm tài liệu tham khảo để đưa ra các chính sách phù hợp với người dân Người nông dân thì được học hỏi cách nuôi vịt mới giảm chi phí, mang lại hiệu quả cao Còn người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm vịt có chất lượng

Trang 8

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu phân tích trong đề tài là những số liệu được phỏng vấn trực tiếp từ những

hộ chăn nuôi vịt thịt tại địa bàn nghiên cứu đó là huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Số liệu được thu thập dựa trên phương pháp phi xác xuất mà cụ thể la mới quan hệ mạng lưới

2 Phương pháp luận và cơ sở lý luận:

- Phương pháp 1: sử dụng thống kê mô tả

- Phương pháp 2: phân tích lợi ích - chi phí (CBA)

- Phương pháp 3: sử dụng hàm hồi quy hoặc phân tích nhân tố

- Bên cạnh đó các số liệu trong đề tài còn được thu thập từ các báo cáo của các

cơ quan có liên quan như: báo cáo của các sở nông nghiệp, cục thống kê…, các tạp chí khoa học, thông tin từ mạng internet…

3 Các phương pháp sử dụng trong phân tích

3.1 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí (CBA)

Phân tích lợi ích - chi phí là một kĩ thuật phân tích để đi đến quyết định xem

có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án đã được đề xuất hay không Phân tích lợi ích - chi phí cũng được dùng để đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau

Hay phân tích lợi ích - chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội

Phương pháp này tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực sự mà xã hội có được từ một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ

để đạt được lợi ích đó Theo cách này, đây là phương pháp ước tính sự đánh đổi thực

Trang 9

giữa các phương án, và nhờ đó giúp cho xã hội đạt được những lựa chọn ưu tiên kinh tế của mình

Nói rộng hơn, phân tích lợi ích - chi phí là một khuôn khổ nhằm tổ chức thông tin, liệt kê những thuận lợi và bất lợi của từng phương án, xác định các giá trị kinh tế

có liên quan, và xếp hạng các phương án dựa vào tiêu chí giá trị kinh tế Vì thế phân tích lợi ích - chi phí là một phương thức để thực hiện sự lựa chọn chứ không chỉ là một phương pháp để đánh giá sự ưa thích

Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra

Cơ bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn,

dự án đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai

Trong quá trình phân tích hiệu quả sản xuất của hoạt động nuôi vịt chủ yếu chỉ dựa vào doanh thu thu được từ nuôi vịt và chi phí trong toàn bộ quá trình nuôi để tính ra lợi ích chung của hoạt động nuôi vịt đối với hộ, không phân tích nhiều đến lợi ích và chi phí xã hội

Lợi ích = Doanh thu – Chi phí > 0 @ Có hiệu quả

3.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính

Phương pháp hồi quy tuyến tính là phương pháp dùng để dự đoán, ước lượng giá trị của một biến (được gọi là biến dự báo hay biến phụ thuộc) theo giá trị của một hay nhiều biến khác (được gọi là biến dùng để dự báo, biến độc lập, biến mô tả) Mô hình tổng quát hàm hồi quy tuyến tính có dạng:

Yi = α0 + α1X1i + α2X2i + α3X3i + α4X4i + α5X5i + … + αkXki + ui

= f(X1i,X2i,…,Xki) + ui

Ký hiệu Xki biểu hiện giá trị của biến độc lập thứ k tại quan sát thứ i Các hệ

số α là các tham số chưa biết và thành phần ui là các biến độc lập ngẫu nhiên có phân phối chuẩn với trung bình là 0 và phương sai giống nhau σ2 và độc lập với nhau

Trang 10

Áp dụng cụ thể đối với các nông hộ nuôi vịt thịt tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh

Cà Mau nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ chúng tôi sử dụng hàm hồi quy tuyến tính bao gồm 11 biến độc lập dạng dưới đây:

Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8, X9, X10, X11 )

Trong đó:

- Biến phụ thuộc (Y) là TNR: thu nhập ròng (đồng/con/tháng)

- Biến độc lập là:

+ X1 (CPCT): Chi phí chuồng trại (đồng/con/tháng)

+ X2 (CPCG): Chi phí con giống (đồng/con/tháng)

+ X3 (CPVC): Chi phí vận chuyển (đồng/con/tháng)

+ X4 (CPTA): Chi phí thức ăn (đồng/con/tháng)

+ X5 (CPTTY): Chi phí thuốc thú y (đồng/con/tháng)

+ X6 (CPK): Chi phí khác (đồng/con/tháng)

+ X7 (GB): Giá bán (đồng/kg)

+ X8 (SL): Số lượng nuôi (con)

+ X9 (TLC): Tỷ lệ chết (%)

+ X10 (TLBQ): Trọng lượng bình quân (kg/con)

+ X11 (KN): Kinh nghiệm (năm)

Phương trình hồi quy tổng quát có dạng:

TNR = α0 + α1CPCT + α2CPCG + α3CPVC + α4CPTA + α5CPTTY + α6CPK +

α7GB + α8SL + α9TLC + α10TLTB + α11KN

Các biến số X1…X10 được thiết lập trên cơ sở tập hợp các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí và doanh thu của hoạt động nuôi vịt, bởi vì thu nhập là hiệu số giữa doanh thu và chi phí chưa tính công lao động nhà Còn biến số X11 là kinh nghiệm thể hiện trình độ kỹ thuật của người nuôi nên cũng có tác động đến doanh thu và chi phí do đó cũng có ảnh hưởng đến thu nhập

Kết quả in ra từ phần mềm SPSS có các thông số sau:

9 Multiple R: hệ số tương quan bội, nói lên mối liên hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và tất cả các biến độc lập X R càng lớn, mối liên hệ càng chặt chẽ

Trang 11

9 Hệ số xác định R2 (R – Square): Tỷ lệ % biến động của Y được giải thích bởi mô hình tuyến tính với các biến X

9 Significant F: Là tiêu chuẩn để trắc nghiệm mô hình Sig.F càng nhỏ thì mô

hình càng có ý nghĩa trong việc giải thích biến động của Y

- Tỷ số giữa thu nhập ròng trên tổng doanh thu (TNR/∑DT): trong một đồng doanh thu tạo ra có bao nhiêu đồng thu nhập ròng

Trang 12

Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh tế khác,

do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá đặc biệt

Trong cấu trúc nội tại của hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó, hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và

sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, hộ có thể cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được

1.2 Khái quát về kinh tế hộ

Việt Nam hiện nay có dân số trên 80 triệu dân, trên 70% dân số sinh sống ở nông thôn (www.ipsard.gov.vn) và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp,

tự túc Trong điều kiện đó, hộ được khái niệm như sau:

“Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng” Với tư cách

là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc độ:

- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực, vốn

- Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng, lãnh thổ

- Trình độ phát triển của kinh tế hộ

Trang 13

- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ

- Trong nông thôn Việt Nam hiện nay, hộ bao gồm hộ gia đình và hộ nông dân Trong đó:

+ Hầu hết hộ gia đình ở nông thôn là những người gắn bó ruột thịt, có cùng huyết thống, chủ hộ thường là người ông, bà, cha, mẹ và các thành viên trong gia đình là con cháu

+ Còn hộ nông dân (bao gồm các hộ sản sản xuất nông - lâm - nghiệp) trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia đình (từ một đến nhiều người)

có tên trong bảng kê khai hộ khẩu riêng, gồm có chủ hộ và những người cùng sống trong hộ gia đình ấy

Về mặt kinh tế hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về tài sản, những người sống chung trong một căn hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ đóng góp công sức vào quá trình xây dựng, phát triển của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất được Nếu sản xuất đạt kết quả cao, sản phẩm thu được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp cho chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo qui định của pháp luật, phần thu nhập còn lại trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của gia đình và tái sản xuất lại Nếu kết quả sản xuất không khả quan người chủ hộ chịu trách nhiệm cao nhất và đồng trách nhiệm là các thành viên trong gia đình

1.3 Sự khác nhau giữa kinh tế hộ và kinh tế trang trại

Trên đây là những khái niệm về kinh tế hộ, kinh tế hộ là hình thức sản xuất chủ yếu trong nền nông nghiệp nước ta Tại địa bàn nghiên cứu, những hộ chăn nuôi vịt rất muốn thành lập trang trại chăn nuôi và để giúp cho họ đạt được mong muốn này sau đây là một số thông tin về kinh tế trang trại:

Nghị quyết số: 03/NQ-CP, ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh

tế trang trại Bộ Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra thông tư liên bộ số 69/2000 TTLL – BNN -TCTK quy định hướng dẫn tiêu chí về kinh tế trang trại, trong đó nêu rõ:

Trang 14

Một số hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản được xác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lượng như sau:

- Một là, giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung; từ 50 triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Hai là, quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông

hộ tương ứng với ngành sản xuất và từng vùng kinh tế

Đối với trồng trọt: trang trại trồng cây hàng năm từ 02 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung, từ 03 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên; trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên

Đối với trang trại chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò), chăn nuôi sinh sản, lấy sữa: thường xuyên có từ 10 con trở lên; để lấy thịt thường xuyên từ 50 con trở lên Chăn nuôi gia súc (lợn, dê): chăn nuôi lợn sinh sản có thường xuyên từ 20 con trở lên; đối với dê và cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê từ 200 con trở lên Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngang, ngỗng) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên không tính số đầu con dưới 07 ngày tuổi

Trang trại nuôi trồng thủy sản: diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ

02 ha trở lên, (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 01 ha trở lên) Đối với trang trại sản xuất các loại sản phẩm nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thủy sản đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa

Các đặc trưng chủ yếu của trang trại :

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hoá với quy mô lớn

- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thủy sản hàng hoá

Trang 15

- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

1.4 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay

Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn

do truyền thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm lí đạo đức gia đình, dòng

họ Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ

sở hữu, quan hệ quản lí và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hiệp tác lao động một cách hợp lí

Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao - phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ nông trại và các thành viên trong gia đình Động lực lớn nhất thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia đình Ở Việt Nam, kinh tế nông

hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội rất nhiều sản phẩm quan trọng góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống

Trang 16

cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân, trong đó đề tài “Thị trường nông sản và các giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hoá ở Đồng bằng sông Cửu Long: trường hợp sản phẩm heo ở tỉnh Cần Thơ” (tháng 9/2002) do tiến sĩ Mai Văn Nam - trưởng Khoa Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh trường Đại học Cần Thơ làm chủ nhiệm là một điển hình

2 Giới thiệu chung về huyện Trần Văn Thời

Dựa vào một số tài liệu do phòng nông nghiệp huyện Trần Văn Thời, sở địa chính huyện Trần Văn Thời và một số cơ quan khác cung cấp nên huyện có một số thông tin như sau:

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Trần Văn Thời nằm về phía tây của tỉnh Cà Mau, diện tích tự nhiên 70,024 km2, bằng 13,44% diện tích tự nhiên của tỉnh

- Phía Đông tiếp giáp với thành phố Cà Mau

- Phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan

- Phía Nam tiếp giáp với huyện Cái Nước

- Phái Bắc tiếp giáp với huyện U Minh

Toàn huyện được chia thành 9 xã và 2 thị trấn là: xã Khánh Bình Đông, Khánh Bình, Khánh Hưng, Khánh Hải, Lợi An, Phong Lạc, Khánh Bình Tây, Khánh Bình Tây Bắc, Trần Hợi, thị trấn Trần Văn Thời và thị trấn Sông Đốc Trong đó, xã Khánh Bình Tây Bắc được chia tách ra từ xã Khánh Bình Tây năm 1999

Trên địa bàn huyện có 4 nông trường và 1 lâm ngư trường là: nông trường Sông Đốc, nông trường Khánh Hà, nông trường U Minh, nông trường 402 và lâm ngư trường Trần Văn Thời

Với chiều dài bờ biển dài 36km, có cửa biển Sông Đốc, có các cụm đảo gần bờ

và huyện là địa bàn được lựa chọn làm nơi tiếp bờ của tuyến đường ống dẫn khí PM3 - Cà Mau… nên huyện Trần Văn Thời là một trong những huyện trọng điểm

Trang 17

về kinh tế biển kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng sẽ tạo thế lực tốt hơn để phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo vệ chủ quyền vùng biển của phía Tây Nam của Tổ quốc Địa bàn huyện Trần Văn Thời nằm ở cả 2 vùng quy hoạch chuyển đổi sản xuất của tỉnh Cà Mau nên huyện có điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản một cách đa dạng và có khả năng tăng trưởng nhanh trong những năm sắp tới

2.1.2 Khí hậu và thời tiết

Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm thuận lợi cho cây trồng vật nuôi phát triển Thời tiết có 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng chiếm trên 88% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 với lượng mưa chiếm 12% lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình hàng năm là 2,39mm phân bổ không đều trong các tháng, tháng 8 đến tháng 10 có lượng mưa cao nhất sau đó giảm dần đến tháng 11 Mùa mưa nguồn nước cung cấp dồi dào cho sản xuất nông nghiệp, mùa khô nguồn nước ngọt còn hạn chế, chủ yếu là ngăn mặn và giữ ngọt tại chổ

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 26,50C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 38,30C, nhiệt

độ thấp tuyệt đối là 16,80C Chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa không lớn, những chênh lệch giữa nhiệt độ ngày và đêm khá lớn 8 – 100C Số giờ nắng trung bình trong năm là 2.200 – 2.600 giờ

Lượng bốc hơi nước bình quân 4mm/ngày trong mùa khô và 2,2mm/ngày trong mùa mưa

Ẩm độ không khí tương đối cao và ít biến động, ẩm độ trung bình là 85,6% Chế độ gió thịnh hành theo mùa, mùa khô thịnh hành gió Đông Bắc, mùa mưa thịnh hành gió Tây Nam, trong mùa mưa thường xuyên xảy ra giông, lốc xoáy gió mạnh cấp 6, cấp 7, mưa bão xảy ra ít

2.1.3 Thủy văn

Mặc dù tiếp giáp với vịnh Thái Lan nhưng huyện Trần Văn Thời chịu ảnh hưởng của cả thủy triều vịnh Thái Lan và thủy triều biển Đông Thủy triều vịnh Thái Lan là chế độ nhật triều không đều, đỉnh triều cao 1,4 – 1,6m, chân triều 0,7 – 0,8m, biên độ triều trung bình 0,6 – 0,7m Do có nhiều cửa sông, kênh lớn ăn thông ra biển

Trang 18

như Sông Đốc, Mỹ Bình, Ba Tỉnh, Đá Bạc,… nên tác động của thủy triều vịnh Thái Lan là khá mạnh Đồng thời, huyện Trần Văn Thời còn chịu tác động của triều biển Đông nên tạo ra một số vùng giáp nước

là yếu tố thuận lợi

- Nước ngầm: theo kết quả điều tra của Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam nước ngầm ở huyện Trần Văn Thời được phân chia thành 7 tầng chứa nước: tầng 1

có độ sâu đáy tầng trung bình từ 32 – 45m; tầng 2 có độ sâu đáy tầng từ 89 – 136m; tầng 3 có độ sâu đáy tầng từ 146 – 233m; tầng 4 có độ sâu đáy tầng từ 198 – 306m; tầng 5 có độ sâu đáy tầng từ 300 – 348m; tầng 6 có độ sâu đáy tầng từ 372m; tầng 7

có độ sâu đáy tầng từ 372 – 415m

Bề dày lớp cát chứa nước của các tầng như sau: tầng 1 khoảng 8m, tầng 2 khoảng 26m, tầng 3 khoảng 34m, tầng 4 khoảng 35m

Trên địa bàn huyện Trần Văn Thời hiện đang khai thác nước ngầm ở các tầng

2, 3 và tầng 4 Trong đó, ở thị trấn Trần Văn Thời khai thác nước ở 3 tầng 2, 3, 4 ở

độ sâu từ 85m đến 203m Các xã khác và thị trấn Sông Đốc đang khai thác ở các tầng 2 và 3 có độ sâu từ 70m đến 154m

Về chất lượng nhìn chung hiện trạng nước ngầm từ tầng 2 đến tầng 6 đều tốt, không bị nhiễm mặn, thuộc nhóm nước mềm

Trang 19

2.1.5 Tài nguyên đất

Địa hình toàn huyện tương đối bằng phẳng, chênh lệch độ cao ít, Cao độ trung

bình mặt ruộng từ +0,5m đến +1m, một số liếp vườn có độ cao 1,2 – 1,5m Một số

vùng trong huyện có địa hình thấp trũng như vùng Trấp thuộc các xã Trần Hợi,

Khánh Bình Đông,… Địa tầng địa chất trong vùng tương đối đồng nhất, cấp tải

Nguồn: sở địa chính huyện Trần Văn Thời

Huyện Trần Văn Thời có 2 nhóm đất chính: nhóm đất mặn chiếm 34,5% và

nhóm đất phèn chiếm 65,5% Mặc dù đa số đất đai của huyện bị nhiễm phèn mặn

nhưng với những chế độ canh tác và cơ cấu sản xuất hợp lý vẫn cho phép phát triển

kinh tế nông lâm ngư nghiệp toàn diện Theo điều tra đánh giá kinh tế đất của Phân

viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam thì huyện Trần Văn Thời có thể

Trang 20

lựa chọn các mô hình sản xuất nông nghiệp như: trồng 2 vụ lúa, 1 vụ lúa kết hợp 1

vụ màu, 1 vụ lúa kết hợp cá đồng, 1 vụ vụ lúa kết hợp 1 vụ tôm, cây công nghiệp

(dừa, mía, khóm), trồng tràm kết hợp nuôi cá đồng, nuôi tôm sinh thái,…

Tài nguyên đất của huyện vừa qua được sử dụng tương đối phù hợp giữa tài

nguyên đất và nước, góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích, nhất là sau

khi có chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất Một số diện tích chuyên trồng lúa ở

các xã phía Nam sông Ông Đốc đã chuyển sang nuôi tôm kết hợp trồng lúa theo chủ

trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm ngư nghiệp của tỉnh Giá chuyển

nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp ở những vùng chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ở

khu vực thị trấn, các trục lộ giao thông tăng khá nhanh thúc đẩy kinh tế huyện

chuyển động Tuy nhiên do giá chuyển nhượng tăng nên đã phát sinh tranh chấp đất

đai, giá bồi hoàn giải phóng mặt bằng cao gây khó khăn cho các công trình đầu tư

Nguồn: sở địa chính huyện Trần Văn Thời

Trang 21

Diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp bình quân đầu người của huyện Trần Văn

Thời so với toàn tỉnh đều thấp hơn, riêng bình quân đất chuyên dùng/người cao hơn

bình quân toàn tỉnh, có sự chênh lệch như vậy là do huyện có 2 thị trấn trong đó thị

trấn Sông Đốc phát triển khá nhanh về dân cư, cụ thể như sau (đơn vị tính: m2):

2.1.6 Tài nguyên rừng

Trên địa bàn huyện Trần Văn Thời có 5 đơn vị quản lý sử dụng đất lâm nghiệp

là lâm ngư trường Trần Văn Thời, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Vồ Dơi, Hạt kiểm

lâm rừng phòng hộ Biển Tây, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật rừng ngập

Minh Hải và Kiểm lâm đảo Hòn Chuối Tổng diện tích lâm phần của các đơn vị là

Phân theo địa bàn xã bao gồm: thị trấn Sông Đốc 522 ha, xã Khánh Bình Tây

Bắc 10.234 ha, xã Trần Hợi 3.689 ha, xã Khánh Hải 808 ha và xã Phong Lạc 551 ha

Tài nguyên rừng của huyện có giá trị bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học,

phòng hộ ven biển và kinh tế Mặc dù công tác khôi phục bảo vệ rừng thời gian qua

có những cố gắng nhất định nhưng mức độ đa dạng sinh học, sinh khối rừng chưa

được khôi phục phát triển rõ nét

Nhìn chung rừng của huyện Trần Văn Thời chủ yếu là rừng trồng quảng canh

và tái sinh tự nhiên, độ sinh trưởng chậm, mật độ không đều, trữ lượng thấp (bình

quân chỉ đạt 25,89%m3/1ha đất có rừng), đa số diện tích rừng không được chăm sóc

Trang 22

nuôi dưỡng nên nhiều diện tích bị sậy, dây choại lấn át hiệu quả không cao, rừng dể

bị cháy Vì vậy, để khôi phục bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, đặc biệt là phải sớm thực hiện đổi mới tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp

2.1.7 Tài nguyên biển

Chiều dài bờ biển của huyện dài 36km, bằng 14,3% chiều dài bờ biển toàn tỉnh (là huyện có bờ biển dài thứ 2 trong tỉnh sau huyện Ngọc Hiển) Dọc bờ biển của huyện có một số cửa sông lớn ăn thông ra biển như cửa Sông Đốc, cửa Đá Bạc, cửa

Ba Tỉnh, cửa Mỹ Bình,… đã hình thành các khu dân cư, các cụm kinh tế xã hội ven biển quan trọng của tỉnh, đặc biệt là khu vực thị trấn Sông Đốc Các cửa biển này là những địa bàn có các yếu tố phát triển nhanh về kinh tế xã hội địa phương

Trong vùng biển của huyện có một số cụm đảo gần bờ:

- Cụm đảo Hòn Chuối có tọa độ địa lý 104039’15” kinh độ Đông, 8056’40” vĩ

độ Bắc; gồm có đảo Hòn Chuối và Hòn Hàn, thuộc địa bàn quản lý hành chính của thị trấn Sông Đốc, cách đất liền khoảng 35km, diện tích 158ha, độ cao 154m so với mặt biển Địa hình đảo dốc, có nhiều đá, từ sườn núi lên đỉnh có cây rừng thưa

- Đảo Hòn Đá Bạc cách đất liền khoảng 399m, thuộc địa bàn quản lý của xã Khánh Bình Tây, diện tích tự nhiên 5,2ha

Những cụm đảo trên có vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối vươn ra biển, là điểm tựa để khai thác kinh tế biển và là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc

2.1.8 Khoáng sản

Huyện Trần Văn Thời có 2 loại khoáng sản là than bùn và đất sét

- Về than bùn: Diện tích phân bổ chủ yếu ở khu vực rừng đặc dụng Vồ Dơi và lâm ngư trường Trần Văn Thời Huyện có khoảng 4.000ha đất than bùn, trong đó loại dày và rất dày khoảng 2.000ha (chủ yếu ở khu vực rừng đặc dụng Vồ Dơi) Tuy nhiên do cháy rừng nên diện tích và trữ lượng than bùn của huyện chỉ còn gần 2.500ha, trong đó ở rừng đặc dụng Vồ Dơi khoảng 1.365ha và lâm ngư trường Trần Văn Thời còn khoảng 1.130ha Qua tài liệu một số mẫu phân tích than bùn vùng U Minh hạ cho thấy có thể sử dụng làm chất đốt, phân hữu cơ vi sinh và các chế phẩm

Trang 23

khác Tuy nhiên có nhiều ý kiến không tán thành việc khai thác than bùn hoặc chỉ nên khai thác với quy mô nhỏ vì việc khai thác rất nhạy cảm đối với môi trường đất, nước vùng U Minh hạ, có tác động trực tiếp đến sinh thái rừng tràm Vì vậy, cần điều tra nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ sử dụng một cách hợp lý

- Về đất sét: Ở huyện có một số mỏ đất sét ở các khu vực xã Khánh Bình Đông, Phong Lạc và Lợi An Qua khảo sát sơ bộ nhìn chung đất sét tại các mỏ đều

có chất lượng đảm bảo yêu cầu để sản xuất gạch thẻ và gạch ống, mỗi mỏ đất sét có thể sản xuất với quy mô 300 – 500 ngàn viên/năm đáp ứng một phần vật liệu xây dựng của địa phương

2.1.9 Môi trường sinh thái

Nhìn chung quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên trong nhiều năm qua cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội còn ở mức độ thấp Tình trạng ô nhiễm môi trường nước và không khí tuy chưa vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép nhưng đang diễn biến theo chiều hướng xấu Tình trạng cháy rừng tràm đã làm giảm độ che phủ, mất nguồn than bùn… Một số vấn đề cảnh báo và cần sớm có biện pháp khắc phục là nguy cơ ô nhiễm môi trường khu vực cửa biển Sông Đốc, các vùng nuôi tôm,… do ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa tốt, tình trạng làm nhà, chuồng heo, làm cầu tiêu ven sông, trên kênh rạch xả rác thải, nước sinh hoạt xuống sông rạch còn phổ biến,… Đặc biệt khu vực cửa Sông Đốc có mật độ dân cư cao, số lượng tàu thuyền cập bến lớn gây ảnh hưởng đến môi trường do tình trạng xả nước thải, rác thải, dầu cặn xuống sông Nguồn lợi thủy hải sản có dấu hiệu cạn kiệt, nhất

là vùng ven bờ, quá trình chuyển dịch sản xuất sang nuôi tôm vùng nam Sông Đốc không đồng bộ các giải pháp đầu tư và tổ chức sản xuất gây ô nhiễm nguồn nước, lây lan dịch bệnh…

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân số

Theo số liệu thống kê, đến năm 2006 toàn huyện có 190.695 người, trong đó nam là 91.324 người chiếm 47,9% và nữ là 99.371 người chiếm 52,1%

Trang 24

Dân số thành thị là 37.644 người chiếm 19,7% và nông thôn là 153.051 người

chiếm 81,3% Mật độ dân số trung bình là 367 người/km2 Mật độ tương đối cao so

với các huyện khác trong tỉnh

2.2.2 Lao động

Số người có khả năng lao động của huyện năm 2006 là 95.778 người chiếm

50,2% dân số Trong đó đang làm việc trong các ngành kinh tế xã hội là 91.049

người và được phân bố trong các ngành, lĩnh vực như sau:

Bảng 3: LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TRONG CÁC NGÀNH/LĨNH VỰC

Nguồn: UBND huyện Trần Văn Thời

Dựa vào bảng ta thấy số lượng lao động đang làm việc trong ngành nông

nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao (76,29%)

Nhìn chung lao động của huyện là lao động trẻ, có thể lực tốt nhưng chất

lượng lao động thấp, phần lớn là lao động đơn giản chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động

qua đào tạo mới chiếm khoảng 6% Năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh

và trình độ kĩ thuật còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu

Những năm qua, thông qua các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội,

nhất là chương trình giải quyết việc làm xóa đói giảm nghèo đã giải quyết việc làm

Trang 25

cho khá nhiều lao động, số lao động được giải quyết việc làm hàng năm khoảng trên 2.500 người Tuy nhiên số lao động không có và thiếu việc làm vẫn còn khá lớn, nhất là lao động ở nông thôn

3 Khái quát về tình hình chăn nuôi vịt ở nước ta

3.1 Đặc điểm sản xuất

Ở nước ta ngành chăn nuôi vịt đã có từ lâu đời Đàn vịt thường tập trung lớn nhất là ở khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Theo những thống kê gần đây, hàng năm nước ta nuôi khoảng 30 triệu con vịt Riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long có số đầu vịt chiếm khoảng 60% tổng số vịt của cả nước Đặc điểm nổi bật của Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trũng được bồi đắp phù sa màu mỡ, có hệ thống động vật thủy sinh dồi dào và có sản lượng lúa hàng năm lớn nhất nước nên có điều kiện thuận lợi để phát triển đàn vịt

Trong phương hướng phát triển nông nghiệp vùng, con vịt ở Đồng bằng sông Cửu Long có những điều kiện thuận lợi để phát triển xếp thứ hai sau con heo Ngoài việc chăn nuôi vịt để sản xuất thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, con vịt được xem như một loài động vật có khả năng tiêu diệt nhiều loại sâu rầy gây hại và loại trừ cỏ dại trên ruộng lúa, giúp ích cho người trồng lúa bảo vệ được mùa màng, giảm được chi phí đầu tư mua thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ dại Những phương thức sản xuất kết hợp như vậy đã góp phần tích cực làm cho môi trường trong sạch, hạn chế sự lạm dụng quá mức các chất hóa học sử dụng trong nông nghiệp

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh việc thâm canh cây lúa, những cánh đồng lúa rộng lớn lại là môi trường chăn nuôi rất thuận lợi để phát triển đàn vịt nếu được chăn nuôi đúng cách Nuôi vịt chăn thả hợp lý sẽ góp phần giảm đi áp lực cạnh tranh nguồn thức ăn đối với các loài động vật nuôi khác Đây cũng là ngành sản xuất mang đặc tính khai thác tài nguyên theo hệ sinh thái học đem lại hiệu quả kinh tế cao Mặt khác, nó còn phát huy được những kinh nghiệm chăn nuôi đã được tích lũy lâu đời trong nhân dân Ngoài ra ngành chăn nuôi vịt đã góp phần giải quyết công ăn

Trang 26

việc làm cho lực lượng lao động dư dôi rất lớn, đặc biệt ở các vùng nông thôn trong

cả nước hiện nay

3.2 Đặc điểm chung về công tác giống vịt ở nước ta

Công tác giống vịt ở nước ta nhìn chung chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức Hầu như công tác giống vịt vẫn dựa vào kinh nghiệm của người chăn nuôi và

sự phát triển mang tính tự phát trong sản xuất Hướng giải quyết chung cho các giống vịt nuôi hiện nay là đưa ra các công thức lai tạo nhằm cải thiện một vài đặc tính giống vịt địa phương, đặc biệt chú trọng vào các chỉ tiêu năng suất sản phẩm, tầm vóc, tiêu tốn thức ăn và rút ngắn thời gian chăn nuôi… Những kết quả đạt được

có thể kể đến các sản phẩm của quá trình lai giống tạo ra và hình thành các nhóm giống lai đã được đưa vào sản xuất rộng rãi như vịt Nông nghiệp, vịt Bạch Tuyết… Những kinh nghiệm chọn và nhân giống vịt của tư nhân mặc dù có vụn vặt, mỗi nơi một khác nhưng đều có cơ sở khoa học Ví dụ khi chọn lọc để nhân giống, người ta thường đặt mua vịt con ở những lò ấp nằm trong vùng của người nuôi vịt

có kinh nghiệm chăn nuôi tốt, chọn vịt ở những bầy đàn mạnh khỏe, đẻ sai để làm giống, chọn vịt trống ở những bầy khác sẽ cho đàn con tốt

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi vịt

Trang 27

4.3 Nước

Vịt là loài sống dưới nước nên cần nhiều nước uống hơn gà Ngoài ra vịt còn cần nước để tắm và rỉa lông, thậm chí còn cần cho bơi lội đối với phương thức nuôi vịt chăn thả Vì vậy, cung cấp đủ nước uống cho vịt, nhất là trong khi cho vịt ăn và khi trời nắng nóng là điều cần được quan tâm chú ý

4.4 Chăm sóc

Chăm sóc cũng là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi vịt Nếu vịt được chăm sóc tốt và cho ăn đầy đủ thì vịt sẽ mau lớn và không xảy ra bệnh, nếu vịt không được chăm sóc tốt và thiếu thức ăn thì sẽ xảy ra bệnh nghiêm trọng thậm chí có thể xảy ra đại dịch

4.6 Các mầm bệnh ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi

Bệnh dịch cúm gia cầm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại của vịt Bên cạnh đó, vịt còn gặp một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh tụ huyết trùng, bệnh Phó thương hàn, bệnh bạch lỵ đậu, viêm gân truyền nhiễm,… Vì vậy, nông dân cần chú trọng đến vấn đề phòng chống bệnh dịch và vệ sinh môi trường khi dịch bệnh xảy

ra

5 Thực trạng của ngành chăn nuôi vịt trong những năm gần đây

Chăn nuôi vịt là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như: thịt, trứng,… nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân Bên cạnh đó vịt cũng là sản phẩm dể nuôi và dể tiêu thụ Nó góp phần tăng thu nhập cho hộ nông dân và tăng giá trị xuất khẩu

Trong nông nghiệp, nếu người nông dân có ít ruộng đất mà chỉ sống dựa vào nông nghiệp (trồng lúa) thì không thể có được một cuộc sống khá lên được Ngoài

Trang 28

trồng lúa ra thì họ phải làm thêm một công việc nào đó để kiếm thêm thu nhập Chẳng hạn như họ nuôi heo hoặc nuôi vịt Ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, do tạp quán nên họ chỉ nuôi vịt chứ ít nuôi heo Vì nuôi vịt tận dụng được thức ăn sẵn

có từ nông nghiệp Chăn nuôi vịt và trồng lúa có tác động qua lại với nhau, trồng lúa thì cung cấp thức ăn cho chăn nuôi vịt còn nuôi vịt thì diệt được ốc bươu vàng bằng cách họ thả đàn vịt của họ vào đồng ruộng để cho những con vịt ăn những con ốc bươu vàng sau thu hoạch Vậy là chăn nuôi vịt có tác động qua lại với nhau giúp cho người nông dân giảm được chi phí lao động và tăng thu nhập

5.1 Thuận lợi

- Người nông có rất nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi vịt bởi vì chăn nuôi vịt

đã có có từ rất lâu

- Có nhiều loại con giống có giá trị kinh tế cao

- Nuôi vịt không đòi hỏi cao lắm về trình độ và kỹ thuật

- Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc chăn nuôi: thời tiết thuận lợi, hệ thống sông ngòi chằn chịt, …

- Người nông dân chủ yếu sống nhờ vào trồng lúa nên nuôi vịt tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có dồi dào, phong phú

- Điều kiện giao lưu mua bán thuận lợi vì có nhiều đầu mối và hệ thống giao thông thuận lợi

- Ngày càng có nhiều loại vacxin và dược phẩm tiên tiến có thể phòng ngừa được nhiều loại dịch bệnh đối với gia cầm

- Chuồng trại của vịt chỉ cần xây dựng đơn giản bằng các vật liệu địa phương,

dễ kiếm và rẻ tiền như tre, lá, rơm, rạ… Nếu vịt được nuôi tập trung cao cũng chỉ cần áp dụng những kiểu chuồng trại phù hợp với sức khỏe của vịt, và vẫn còn đơn giản hơn so với việc xây dựng chuồng trại cho gà nhiều Nếu ta nuôi vịt chăn thả vào những mùa vụ có thời tiết thuận lợi, thì việc xây dựng chuồng trại cho vịt còn dễ dàng hơn nữa, thậm chí đơn giản đan bằng tre hoặc lưới nylon để nhốt vịt vào ban đêm sau khi vịt được cho ăn ở ngoài đồng về Bản chất của vịt có tính hợp đàn cao,

Trang 29

rất phù hợp cho việc chăn thả, nhất là phải di chuyển phạm vi chăn thả từ cánh đồng này sang cánh đồng khác nhưng vịt rất ít khi lạc bầy

5.2 Khó khăn

- Giá cả thức ăn ngày càng tăng

- Khí hậu thay đổi thất thường nên dể xảy ra dịch bệnh

- Người nông dân nuôi đa phần chỉ nhằm mục đích tận dụng nguồn thức ăn dư thừa và các phụ phẩm trong nông nghiệp nên sản phẩm làm ra kém chất lượng và năng suất chưa cao

- Trình độ tay nghề của người chăn nuôi thấp nên khó khăn trong việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi

Trang 30

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Vùng nghiên cứu và mẫu điều tra

Trên địa bàn huyện có tất cả 14 xã, thị trấn Số hộ chăn nuôi vịt chủ yếu tập trung ở 2 xã Trần Hợi và Khánh Bình Đông nên 2 xã này mang tính đại diện cho toàn huyện Tiến hành điều tra với tổng số mẫu là 50 và được phân bổ như sau:

• 19 mẫu tại ấp 10A xã Trần Hợi

• 09 mẫu tại ấp Bình Minh II xã Trần Hợi

• 10 mẫu tại ấp Kinh Chùa xã Trần Hợi

• 12 mẫu tại ấp 5 xã Khánh Bình Đông

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số thông tin tổng quát về tình hình chăn nuôi vịt như sau:

2 Thông tin về hộ chăn nuôi vịt

Bảng 4: THÔNG TIN VỀ GIỚI TÍNH CỦA NGƯỜI NUÔI

Giới tính Số mẫu Tỷ lệ (%)

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn chủ hộ nuôi vịt là nam (chiếm 84%) trong khi đó lao động nữ chỉ chiếm 16% bởi vì chăn nuôi vịt rất khó trong việc chăm sóc, phải thường xuyên ra đồng, thậm chí ngủ ngoài đồng nên công việc này phù hợp với nam giới hơn Điều này chứng tỏ vai trò của nam giới quan trọng như thế nào trong quá trình phát triển chăn nuôi vịt ở huyện

Trang 31

Bảng 5: ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘ CHĂN NUÔI VỊT Chỉ tiêu Đơn vị tính Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình

Năm kinh nghiệm Năm 2 20 6,86

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Độ tuổi bình quân của chủ hộ nuôi vịt cũng cao, khoảng 43,22 tuổi, trong đó nhỏ nhất là 26 tuổi và cao nhất là 64 tuổi Kinh nghiệm thể hiện ở số năm mà hộ đã nuôi vịt, cụ thể có những hộ nuôi rất lâu đời là 20 năm, hộ nuôi ít nhất cũng 2 năm

và số năm nuôi trung bình của các hộ là 6,86 năm Nghề nuôi vịt đã có từ lâu đời và

đã trở thành truyền thống nên họ nuôi vịt từ đời này sang đời khác cho nên số năm kinh nghiệm của họ tương đối cao (6,86 năm) Trình độ văn hóa cũng ảnh hưởng rất lớn vào quá trình chăn nuôi, khi trình độ văn hóa của họ thấp thì họ khó có thể áp dụng kĩ thuật nuôi mới vào sản xuất, vì từ nhỏ họ đã theo gia đình nuôi vịt nên trình

độ văn hóa của họ không cao trung bình khoảng lớp 5 Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển sản xuất, khả năng cập nhật thông tin cũng như khả năng tiếp cận với kĩ thuật chăn nuôi

Bảng 6: DIỆN TÍCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP Diện tích đất Số mẫu Tỷ lệ (%)

Không có đất 10 20

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Phần lớn các hộ chăn nuôi vịt có đất trồng trọt rất ít thậm chí không có đất canh tác Số hộ có đất canh tác dưới 2 ha rất nhiều chiếm 86%, trong đó số hộ không

có đất chiếm 20% Phần lớn hộ chăn nuôi ở đây thuộc diện nghèo nên ngoài trồng

Trang 32

lúa ra họ cần phải làm việc gì khác thêm để kiếm thêm thu nhập trang trải cho gia

đình Nuôi vịt là một nghề rất dể nuôi và vốn đầu tư ban đầu cũng ít nên họ quyết

định chọn nuôi vịt Ta thấy, nghề nuôi vịt vô cùng quan trọng đối với những hộ ít

đất và không có đất

Bảng 7: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT Chỉ tiêu Số mẫu Tỷ lệ (%)

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Những hộ có đất họ thường sử dụng đất để trồng lúa (chiếm 80%) bởi vì trồng

lúa nước là một nghề truyền thống và nó mang lại nguồn thu nhập chính cho gia

đình, ngoài trồng lúa ra họ còn nuôi thêm cá chiếm 10% và làm một việc gì khác

nữa trên đất của mình chiếm 6% Những hộ không có đất họ thường sống bằng nghề

nuôi vịt là chủ yếu vì họ tận dụng được những hạt lúa còn sót sau khi gặt của những

hộ sung quanh Đồng thời, họ còn dùng những đàn vịt này ăn những con ốc bươu

vàng trên cánh đồng để họ khỏi phải mất công bắt hoặc xịt thuốc

Bảng 8: SỐ LƯỢNG TẬP HUẤN Chỉ tiêu Số mẫu Tỷ lệ (%)

Không 46 92

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Khi được hỏi người nuôi vịt có được tập huấn hay không thì đa phần trả lời là

không (chiếm 92%) vì họ cho rằng nuôi vịt theo phong trào, thấy người này nuôi có

Trang 33

lời thì người khác bắt chước theo nuôi chứ không có tập huấn gì cả Số người được

tập huấn khi nuôi rất nhỏ chiếm 8% vì những người này có mối quan hệ thân thiết

với cán bộ thú y nên họ được chỉ dạy thêm

Bảng 9: THÔNG TIN VỀ KĨ THUẬT NUÔI Chỉ tiêu Số mẫu Tỷ lệ (%)

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Khi được hỏi “anh/chị biết nuôi từ đâu?” thì đa phần trả lời là biết nuôi từ kinh

nghiệm bản thân khi thấy những người nuôi trước mà học hỏi Ngoài ra, có 86% số

hộ học hỏi thêm người thân và bạn bè Chỉ có 10% số hộ học hỏi thêm từ tivi và

12% số hộ học hỏi từ sách báo có liên quan

Trang 34

Bảng 10: LÝ DO CHỌN NUÔI VỊT

Lí do chọn nuôi Số mẫu Tỷ lệ (%) Xếp hạng

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Hầu hết người dân chọn nuôi vịt với lý do là nuôi vịt dễ nuôi, dễ chăm sóc hơn

những con khác Đồng thời, họ còn khẳng định nuôi vịt không cần nhiều lao động và

cũng không mất nhiều thời gian lắm Đây là 3 lý do chính để người dân nơi đây

chọn nuôi vịt Ngoài ra, còn một lý do khác nữa cũng rất quan trọng quyết định họ

nuôi vịt đó là nuôi vịt tận dụng được thức ăn tự nhiên đó là ốc, khi vừa gặt xong thì

họ cho vịt ra đồng ăn ốc để khỏi mất công bắt, họ cho rằng nếu không nuôi vịt thì

không có quân ngũ nào bắt ốc hết nổi Vì vậy nơi đây người dân nuôi vịt rất nhiều

Trang 35

Qua bảng trên ta thấy những hộ nuôi dưới 500 con chiếm tỉ lệ khá cao 62% bởi

vì đa phần ở đây chỉ nuôi dưới hình thức nuôi nhà và tận dụng thức ăn sẵn có nên

quy mô không lớn Những hộ nuôi trên 1000 con chiếm tỉ lệ rất ít, chỉ 4% Ngoài ra,

như đã nói ở trên, đa phần những hộ nuôi vịt thuộc diện nghèo nên họ không có đủ

vốn để nuôi với số lượng lớn Vì vậy, rất cần được sự quan tâm và giúp đở của các

cấp chính quyền có liên quan để cuộc sống của người dân nơi đây được ổn định hơn

Bảng 12: TÌNH HÌNH NUÔI VỊT Chỉ tiêu Đơn vị tính Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Qua điều tra cho thấy, thời gian nuôi một đàn vịt từ khi mua cho tới khi bán

được trung bình khoảng 75 ngày và thời gian ít nhất để vịt có thể bán được là 60

ngày bởi vì những hộ đã nuôi vịt rất lâu đời nên họ tích lũy được rất nhiều kinh

nghiệm nuôi vịt mau lớn và đồng thời họ có thể đoán được thời gian nào nuôi là hợp

lý nhất để vừa gặt xong là có thể cho vịt ra đồng liền Khi cho vịt ra đồng thì chúng

sẽ ăn những thức ăn sẵn có trên đồng, nếu cánh đồng càng nhiều thức ăn thì chúng

sẽ rất mau lớn và người nuôi giảm được rất hiều chi phí thức ăn Thời gian nuôi tối

đa là 90 ngày

Tỷ lệ hao hụt vịt con khi mua về rất thấp khoảng 8% bởi vì như đã nói ở trên,

những người nuôi vịt ở đây có rất nhiều kinh nghiệm nên khi mua vịt con về thì họ

biết làm như thế nào để vịt con sống và khỏe mạnh được

Trọng lượng bình quân khi bán vịt thấp nhất là 1,5 kg, cao nhất là 2,5 kg và trung

bình là 2,1 kg

Trang 36

Bảng 13: GIỐNG VỊT ĐƯỢC HỘ CHỌN NUÔI Giống vịt Số mẫu Tỷ lệ (%)

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Đa số họ nuôi vịt nơi đây chọn giống vịt nông cồ siêu là chủ yếu chiếm 96%,

chỉ có 4% số hộ chọn nuôi giống vịt trắng Giống vịt nông cố siêu là giống được lai

bởi con cha là con nông nghiệp và con mẹ là con siêu thịt bởi vậy nó mới có cái tên

là nông cồ siêu

Bảng 14: NGUỒN CUNG CẤP CON GIỐNG Nguồn cung cấp Số mẫu Tỉ lệ (%) Xếp hạng

Nguồn: Số liệu điều tra tại huyện Trần Văn Thời năm 2007

Qua bảng trên ta thấy hầu hết người nuôi vịt chọn mua con giống tại các lò ấp

địa phương vì họ tin rằng những con giống từ những lò ấp này có chất lượng hơn

những nguồn cung cấp khác Rất ít người nuôi mua con giống từ những gười bán

dạo chỉ chiếm 4% tổng hộ hộ điều tra Số người mua giống tại lò ấp địa phương

chiếm 72% tổng số hộ điều tra, ta thấy người nuôi vịt rất quan tâm đến chất lượng

con giống Con giống mua từ lò ấp địa phương theo kinh nghiệm nhiều năm của

người nuôi thì có chất lượng và đảm bảo hơn Không có hộ nào tự ấp vì họ không đủ

Ngày đăng: 06/04/2021, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w