1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật nữ trong chèo cổ việt nam (khảo sát qua “quan âm thị kính”, “chu mãi thần”, “kim nham”)

59 326 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn học dân gian có rất nhiều các thể loại khác nhau như: Truyện cổ tích, ca dao, truyền thuyết, sử thi,… tuy nhiên không thể không nhắc đến một thể loại rất đặc biệt của văn học d

Trang 1

(Khảo sát qua “Quan Âm Thị Kính”, “Chu Mãi Thần”, “Kim Nham”)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

(Khảo sát qua “Quan Âm Thị Kính”, “Chu Mãi Thần”, “Kim Nham”)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Ngọc Lan

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, TS Nguyễn Thị

Ngọc Lan đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi

cho tôi hoàn thành khóa luận

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trần Tiểu Linh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, khóa luận với đề tài Nhân vật nữ trong chèo cổ Việt

Nam được hoàn thành dưới sự cố gắng của bản thân cùng với sự hướng dẫn

tận tình của TS Nguyễn Thị Ngọc Lan cũng như các thầy cô giáo trong Tổ văn học Việt Nam

Khóa luận của tôi không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả nào

đã từng công bố Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trần Tiểu Linh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Nhân vật và nhân vật nữ 6

1.1.1 Khái niệm nhân vật 6

1.1.2 Nhân vật nữ 8

1.2 Chèo cổ Việt Nam 9

1.2.1 Sự ra đời của chèo cổ 9

1.2.2 Quá trình phát triển 12

1.2.3 Các kiểu nhân vật nữ trong chèo cổ 14

Tiểu kết chương 1 16

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT NỮ TRONG CHÈO CỔ 17

2.1 Người phụ nữ gắn liền với các mối quan hệ gia đình 17

2.1.1 Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh 17

2.1.2 Người phụ nữ cam chịu số phận 26

2.2 Người phụ nữ gắn liền với các tiêu chuẩn đạo đức phong kiến 30

2.2.1 Người phụ nữ “công, dung, ngôn, hạnh” 30

2.2.2 Người phụ nữ “nổi loạn” 34

Tiểu kết chương 2 39

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT NỮ TRONG CHÈO CỔ 40

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ 40

Trang 6

3.1.1 Miêu tả ngoại hình 40

3.1.2 Miêu tả tâm lí 42

3.2 Ngôn ngữ, giọng điệu 46

3.2.1 Ngôn ngữ 46

3.2.2 Giọng điệu 48

Tiểu kết chương 3 50

KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hệ thống văn học Việt Nam rất đa dạng và phong phú, trong đó văn học dân gian đã xuất hiện từ lâu và phát triển cho đến tận ngày nay Trong văn học dân gian có rất nhiều các thể loại khác nhau như: Truyện cổ tích, ca dao, truyền thuyết,

sử thi,… tuy nhiên không thể không nhắc đến một thể loại rất đặc biệt của văn học dân gian đó chính là chèo cổ, đây là một trong số các loại hình nghệ thuật tiêu biểu của dân tộc Việt Nam Chèo cổ được hình thành từ lâu và cho đến bây giờ vẫn hiện hữu trong đời sống của người dân đất Việt như một món ăn “tinh thần” thuần túy không thể thiếu Chèo cổ tồn tại không chỉ trong một vài thế hệ mà còn tồn tại ở nhiều thế hệ, không phải trong một hoặc hai thế kỷ mà trải qua nhiều thế kỷ, không phải chỉ ở một số nơi mà khắp cả một vùng châu thổ sông Hồng Dòng nghệ thuật của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc, là thành quả về trí tuệ của dân gian, mang những vẻ đẹp tâm hồn in đậm dấu ấn của con người lao

động, là khát vọng tự do với những lý tưởng nhân văn hướng tới sự chân thiện - mỹ

1.2 Chèo cổ là một ngành nghệ thuật văn hóa và cũng thuộc một trong số những thể loại của dòng văn học dân gian nói chung và trong hệ thống văn học Việt Nam nói riêng Đến với chèo cổ ta được thả hồn về với tinh hoa của dân tộc, vốn văn hóa vùng miền đã được hình thành từ bao đời nay Nhằm khơi gợi lại truyền thống của quê hương, đồng thời gìn giữ, phát huy những truyền thống quý báu và tốt đẹp của văn hóa dân tộc ấy những thế hệ sau đã không ngừng đưa chèo cổ ngày càng phát triển hơn mà còn được nhiều bạn bè quốc tế biết đến Nhắc đến chèo cổ,

có thể thấy rất nhiều vở đặc sắc như: “Trương Viên”, “Kim Nham”, “Quan Âm Thị

Kính”, “Chu Mãi Thần”, “Lưu Bình - Dương Lễ”, để lại nhiều dấu ấn trong lòng

khán giả

1.3 Đọc và thưởng thức chèo cổ ta có thể thấy hệ thống nhân vật trong chèo

cổ khá đa dạng, mỗi vở chèo đều thành công trong việc khắc họa một hình tượng nhân vật trung tâm là nhân vật người phụ nữ Và đã từ lâu người phụ nữ trở thành một đề tài rất thân thuộc, không chỉ xuất hiện riêng ở văn học dân gian mà mạch nguồn về người phụ nữ vẫn tiếp tục chảy cho đến tận ngày nay, đó vẫn là đề tài được nhiều nhà văn lựa chọn trong các sáng tác của mình Những người phụ nữ, họ

đã phải chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh với những hủ tục lạc hậu, nghi lễ thời phong kiến mà họ không dám lên tiếng Vì vậy, người phụ nữ phải được tôn trọng và ngợi

ca trong cuộc sống, ngược lại cũng có số ít người phụ nữ nên bị phê phán do những

Trang 8

thói hư tật xấu Chèo cổ đã góp phần thể hiện rõ những băn khoăn, trăn trở, những cảm xúc trong tâm hồn người phụ nữ khi rơi vào hoàn cảnh cuộc sống khó khăn Nhân vật nữ trong chèo cổ vừa mang những nét chung đồng thời cũng thể hiện cả những nét riêng tạo nên sự độc đáo, có cá tính và chứa đầy bản lĩnh Chính yếu tố đặc biệt này giúp tạo nên sự mới lạ và khác biệt về nhân vật người phụ nữ trong chèo cổ so với những sáng tác về sau Cũng là yếu tố góp phần vào việc hình thành nét độc đáo riêng của thể loại chèo cổ trong cách thể hiện về người phụ nữ, tạo nên những bức tranh màu sắc trong việc tái hiện lại chân dung người phụ nữ Nhận thức

rõ những giá trị của chèo cổ và vai trò quan trọng của người phụ nữ chúng tôi đã

quyết định chọn đề tài: Nhân vật nữ trong chèo cổ Việt Nam (khảo sát qua “Quan

Âm Thị Kính”, “Chu Mãi Thần”, “Kim Nham” làm đối tượng nghiên cứu Với

mong muốn đóng góp thêm cái nhìn cụ thể về hình tượng nhân vật người phụ nữ trong chèo cổ Việt Nam Mặt khác, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được, đề tài của chúng tôi cũng góp phần khẳng định giá trị, ý nghĩa của chèo cổ, từ

đó bồi đắp thêm ý thức gìn giữ loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc này

2 Lịch sử vấn đề

Chèo cổ là một thể loại đã có từ rất lâu, ra đời cách đây khoảng 10 thế kỷ song các công trình nghiên cứu về chèo cổ thì đến thế kỷ thứ XX mới bắt đầu xuất hiện Trước thời điểm này, chèo cổ chỉ được nhắc tới với một vài cuốn sách chép sử

với lời giới thiệu sơ lược

Đầu tiên phải kể đến Nguyễn Thúc Khiêm (?- 1944) với hai bài khảo cứu của ông mang tên “Các bài hát chèo cổ,Khảo về hát chèo và tuồng”được đăng trên tạp chí Nam Phong vào những năm của đầu thế kỷ XX, đây là một trong những ý kiến đầu tiên mang tính chất nghiên cứu về chèo cổ Việt Nam Trong hai bài khảo cứu này, tác giả đã ghi lại một số bài hát phổ biến của chèo cổ và trình bày về những đặc điểm mang tính cốt yếu, cơ bản của hát chèo trong tương quan so sánh với hát tuồng Hai bài khảo cứu dù chưa thật sự sâu sắc, đầy đủ nhưng đã để lại tấm lòng trân trọng thiết tha của nghệ sĩ với văn hóa dân tộc

Sau Nguyễn Thúc Khiêm, lịch sử nghiên cứu chèo cổ gắn với những tên tuổi như: Hoàng Ngọc Phách, Huỳnh Lý, Hà Văn Cầu, Trần Việt Ngữ, Trần Bảng, Tất Thắng, Trần Đình Ngôn, Khi nghiên cứu, các tác giả quan tâm đến nhiều khía cạnh, trong đó vấn đề nguồn gốc, thời điểm ra đời, đặc trưng diễn xướng chèo dưới góc độ một kịch bản văn học và tìm ra những yếu tố văn học đặc trưng của nó Trong các công trình nghiên cứu này đều ít nhiều đề cập đến nhân vật trong chèo cổ

Trang 9

Trong mảng nghiên cứu khi nhắc đến vấn đề nhân vật trong chèo cổ, mặc dù trước đây chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu chuyên sâu một cách cụ thể mang tính

hệ thống và toàn diện về vấn đề này, nhưng tất cả các công trình của nhiều giáo sư, nhiều nhà nghiên cứu đang đứng đầu ngành của làng chèo như: GS Trần Bảng, PGS

Hà Văn Cầu, nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ, TS Trần Đình Ngôn, đều có chung quan điểm khi khẳng định tầm quan trọng của nhân vật trong chèo cổ

Trong cuốn “Chèo và Tuồng”, Hoàng Ngọc Phách và Huỳnh Lý đã thuyết minh ngắn gọn thế nào là chèo, thế nào là tuồng và khẳng định vị trí quan trọng của

nó trong hệ thống văn học Việt Nam Theo đó, sự hình thành và thành phát triển cũng như đặc trưng về nội dung tư tưởng, nghệ thuật của từng loại hình sân khấu trên được giới thiệu vắn tắt Hai tác giả đã cung cấp đến cho độc giả những kiến thức liên quan đến vấn đề cơ bản trong chèo, tuồng, đồng thời cũng đã làm nổi bật nên sự khác nhau giữa hai bộ môn nghệ thuật này Phần còn lại của cuốn sách, giới thiệu những vở và những trích đoạn tiêu biểu của cả chèo và tuồng

Năm 1974, Vũ Khắc Khoan đã cho ra một công trình nghiên cứu mang tên

“Tìm hiểu sân khấu chèo” Tác giả đã đưa ra định nghĩa về kịch nghệ nói chung và khẳng định vị trí của sân khấu chèo Trong đó, tác giả đặt ra vấn đề về nguồn gốc và danh xưng dựa trên cứ liệu là tác phẩm “Chèo đưa linh” (theo tác giả đây là tác phẩm cổ xưa nhất) và “Vũ Trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ (theo tác giả đây là cuốn sách chép sử đề cập tới danh xưng chèo sớm nhất) Lịch sử của sân khấu chèo được Vũ Khắc Khoan khảo sát qua ba giai đoạn: phôi phai, chuyển tiếp và hình

thành kèm theo những đặc tính sân khấu của nó

Tuy nhiên, khi nhắc đến lịch sử nghiên cứu chèo cổ, ta không thể không nhắc đến một tác giả đã dành trọn cả cuộc đời mình để nghiên cứu lĩnh vực này - giáo sư

Hà Văn Cầu Ông đã để lại cho hậu thế nhiều công trình nổi tiếng như: “Tìm hiểu phương pháp viết chèo”, “Chèo cổ tuyển tập”, “Mấy vấn đề trong kịch bản chèo”,

“Cách viết một vở chèo”, Trong cuốn “Tìm hiểu phương pháp viết chèo” tác giả

đã dành một phần nói về nhân vật chèo Tác giả đã cho thấy tầm quan trọng về vai trò của các nhân vật trong những kịch bản chèo cổ để tập trung giải quyết việc phân loại nhân vật Bằng những lí lẽ chặt chẽ của mình, nhà nghiên cứu đã vạch ra được các đặc điểm mang tính nổi bật của chèo cổ trong việc xây dựng các nhân vật một cách riêng biệt của từng vở chèo với sự định hình về tính cách

Trong cuốn “Chèo cổ tuyển tập” nhà nghiên cứu Hà Văn Cầu đã sưu tầm và chú thích lại bảy vở chèo cổ tiêu biểu nhất Những kịch bản này được tác giả ghi lại

Trang 10

dựa trên những vai diễn của các nghệ nhân nổi tiếng và được đối chiếu lại với văn bản chữ Nôm hoặc văn bản chép tay do chính các nghệ nhân Việt Nam cung cấp cho tác giả Theo Hà Văn Cầu tính dị bản của các vở chèo cổ được xuất phát từ việc lựa chọn những lời trò Công trình này cũng đã ít nhiều đi tìm hiểu về các loại nhân vật trong chèo cổ Đây là những văn bản chèo cổ được đánh giá là cơ bản nhất và được nhiều người sử làm tư liệu khi nghiên cứu về chèo truyền thống, trong đó có nghiên cứu về vấn đề nhân vật Năm 2003, tác giả Hà Văn Cầu còn chủ biên công trình “Tổng hợp văn học dân gian người Việt tập 17 - Kịch bản chèo”

Nhìn chung, hình tượng nhân vật nữ trong chèo cổ Việt Nam là vấn đề đã được quan tâm trên một số bình diện có ý nghĩa gợi mở, định hướng đến kiểu nhân vật nữ, một số nét tiêu biểu về tính cách, những cuộc đời đầy bất hạnh và số phận của họ Trong đó, cũng có nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến khía cạnh nghệ thuật khi xây dựng nhân vật nữ Mặc dù các công trình có nghiên cứu cả về nội dung và nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ trong chèo cổ, song những công trình nghiên cứu vẫn chưa đi sâu một cách cụ thể mà chỉ mang tính chất nhỏ lẻ Tuy nhiên, đó chính là những gợi ý quý báu giúp cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu được dễ dàng hơn

3 Mục đích nghiên cứu

- Thứ nhất: Tìm hiểu về nhân vật người phụ nữ trong chèo cổ Việt Nam để thấy được những vấn đề đặc điểm cơ bản về nhân vật người phụ nữ trong chèo cổ Đồng thời nhằm lí giải số phận của những người phụ nữ, họ là những người luôn phải chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh trong cuộc sống, nhưng trong tâm hồn của mỗi người phụ nữ lại luôn chất chứa nhiều suy tư và tình cảm Ở họ là những con người mang tâm hồn cao thượng, trái tim bồ tát, luôn có niềm khao khát về tình yêu thương với một mái ấm gia đình có hạnh phúc

- Thứ hai: Khẳng định vị trí và vai trò của chèo cổ trong nền văn học Việt Nam nói chung và trên lĩnh vực sân khấu nói riêng Trong hệ thống văn học Việt Nam, chèo cổ đã mang lại sự thiết thực với những vở chèo với nhiều ý nghĩa sâu xa

và triết lý về cuộc sống Với vị trí là một loại hình nghệ thuật sân khấu có từ lâu

đời, chèo cổ ngày càng phát triển và được nhiều người tiếp nhận

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nắm được những kiến thức về đặc điểm của chèo cổ Việt Nam và nhận diện được các kiểu nhân vật nữ trong chèo cổ (phụ nữ nạn nhân của hoàn cảnh bất hạnh trớ trêu, thiệt thòi trong cuộc sống hôn nhân gia đình, phụ nữ mang tâm hồn cao thượng luôn thiết tha được yêu thương)

Trang 11

- Chỉ ra một số phương diện nghệ thuật thể hiện về nhân vật nữ trong chèo cổ

Việt Nam

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung tìm hiểu về nhân vật nữ trong chèo cổ Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung: Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi nhận diện một số đặc điểm nhân vật nữ trong chèo cổ đồng thời làm rõ một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật

+ Tư liệu: Chúng tôi tiến hành khảo sát ba vở chèo cổ: “Quan Âm Thị

Kính”, “Chu Mãi Thần”, “Kim Nham”1 Trong đó, chúng tôi tập trung vào một số

đoạn trích tiêu biểu như: “Tuần Ty Đào Huế”, “Xúy Vân giả dại”…

6 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tập trung những phương pháp sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Đặc điểm nhân vật nữ trong chèo cổ

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong chèo cổ

1

Hà Văn Cầu (1976), “Chèo cổ tuyển tập”, Nxb Văn hóa

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Nhân vật và nhân vật nữ

1.1.1 Khái niệm nhân vật

Trong mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng có các nhân vật, bao gồm cả nhân vật chính và nhân vật phụ Nhân vật là một yếu tố quan trọng, tạo nên linh hồn và là cầu nối giúp nhà văn gửi gắm thông điệp đến bạn đọc Vì vậy, khái niệm nhân vật

được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau

Từ trước đến giờ đã có rất nhiều các ý kiến đưa ra khi tiến hành nghiên cứu

về nhân vật trong văn học Trong tiếng Hy Lạp cổ thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện khá sớm, ban đầu thuật ngữ này chỉ mang một nghĩa là “cái mặt nạ” tức là chỉ vật dùng để biểu diễn của các diễn viên Theo dòng chảy của thời gian, chúng ta ngày càng sử dụng nhiều và phổ biến hơn thuật ngữ này khi thể hiện nhân vật ở các tác phẩm văn học Tuy nhiên, một số trường hợp khác nhau các nhà nghiên cứu đã dùng đến thuật ngữ “vai” và “tính cách” để thay thế cho thuật ngữ “nhân vật” trong văn học Thuật ngữ “tính cách” được dùng để nói đến các nhân vật mang tính cách riêng biệt, còn thuật ngữ “vai” thì chỉ hành động của mỗi cá nhân Nhưng trên thực

tế, không phải tất cả các nhân vật trong văn học đều mang những hành động và tính cách thể hiện một cách rõ rệt Vậy nên, ta thấy rằng thuật ngữ “nhân vật” vừa thể hiện nội hàm phong phú, lại có sự đa dạng hơn hai thuật ngữ trên Nên hai thuật ngữ

“tính cách” và “vai” chưa thể hiện được hết sự bao quát về tất cả những biểu hiện

của nhân vật ở mỗi tác phẩm văn học

Các nhà nghiên cứu và nhà phê bình văn học đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhân vật

Tác giả cuốn “Từ điển văn học” định nghĩa “nhân vật” như sau: “Nhân vật là

yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật, do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác

Trang 13

một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong ngôn từ nghệ thuật Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [1-tr.241] Ta có thể thấy rằng, nhân vật văn học

đều được đặt vào mối quan hệ tương quan giữa sự cá tính và sáng tạo, thể hiện phong cách của mỗi nhà văn với nhiều trường phái của các dòng văn học có sự khác nhau

Tìm hiểu cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của các tác giả Trần Đình Sử, Lê

Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, đưa ra định nghĩa sau: “Nhân vật văn học là con người cụ

thể được miêu tả trong tác phẩm Nhân vật văn học có thể có tên riêng hoặc không có tên riêng nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ không thể đồng nhất với con người có thật trong đời sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách con người Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ luôn gắn với chủ thể tác phẩm.” [5-tr.235]

Cuốn giáo trình “Lí luận văn học” GS Hà Minh Đức (chủ biên), có đưa ra

nhận định rằng: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,

đó không phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết, biểu hiện đầy đủ của con người

mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử nghề nghiệp, tính cách, Cũng có khi đó không phải là những con người sự vật cụ thể

mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm.” [4-tr.126]

Không chỉ có vậy, GS Phương Lựu (chủ biên) trong cuốn giáo trình “Lí luận văn học”, khái niệm nhân vật trong văn học được tác giả nhận định như sau: “Nói

đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, được thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm Cám, Thạch Sanh, Đó là những nhân vật mang nội dung và ý nghĩa con người Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng cụ thể trong tác phẩm Nhân vật văn học là một hiện tượng mang tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận ra.” [6-tr.277]

Khái niệm về nhân vật có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả đều thể hiện những điểm chung như sau: Nhân vật chính là đối tượng được nhà văn miêu tả

tỉ mỉ từng chi tiết trong tác phẩm Nhân vật trong các tác phẩm văn chương có khi là những con người cụ thể hoặc cũng có thể là con vật, hiện tượng mang những bóng dáng, tính cách và hành trạng của con người Nó được sử dụng như các phương

Trang 14

thức khác nhau dùng để biểu hiện về con người Để giúp bạn đọc dễ tiếp nhận văn bản, các nhà văn đã khắc họa nhân vật chính một cách nổi bật và nhân vật chính còn

là cầu nối giúp truyền đạt đến bạn đọc hiểu được về nội dung, tư tưởng của nhà văn

Như vậy, mỗi nhân vật trong tác phẩm đều được tác giả thể hiện thành công khác nhau Tùy vào từng thời đại lại có nhiều khám phá mới để thấy được qua những khám phá mới ấy, mỗi nhà văn đã khẳng định được lý tưởng thẩm mỹ của bản thân

và làm phong phú, đa dạng cho nền văn học dân tộc Vì thế mà đã có nhận định rằng: Đối với các nhà văn lớn thì bạn đọc có thể quên đi tác giả, nhưng không thể quên được nhân vật chính trong các tác phẩm mà nhà văn đó xây dựng nên Vậy, đối với tác phẩm văn học yếu tố quan trọng nhất là nhân vật Nó là điều kiện cần và đủ để bạn đọc dễ dàng khám phá, lí giải, đánh giá các văn bản văn học, sự miêu tả của tác giả về đời sống hàng ngày, về nhân vật mang tính nghệ thuật cao, vừa thể hiện sự toàn vẹn và chiều sâu của tác phẩm, lại có sức cuốn hút rất riêng biệt với mỗi người tiếp nhận

1.1.2 Nhân vật nữ

Nền văn học dân tộc từ truyền thống cho đến hiện đại, viết về người phụ nữ đối với các nhà văn nó như một mạch nguồn cảm xúc bất tận Các sáng tác từ ca dao, tục ngữ cho đến thơ văn hiện đại thì nhân vật người phụ nữ luôn được bắt gặp nhiều nhất Có lẽ rằng ở họ luôn gợi lên cho mỗi nhà văn những nguồn cảm xúc dồi dào nhất và cũng chính từ những người phụ nữ ấy mà mỗi nhà viết văn lại có đất diễn riêng cho mình Các tác giả luôn nhìn vào hiện thực của xã hội, những gì được phơi bày ra trước mắt, họ thấu hiểu và cảm thông cho số phận của những người phụ

nữ, để từ đó viết lên những trang văn bất hủ

Ngay từ văn học dân gian chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những câu ca dao như:

“Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”

Hay đến với văn học trung đại cũng vậy, hình ảnh người phụ nữ vẫn tiếp tục được miêu tả với tư tưởng chủ đạo “Hồng nhan bạc mệnh”, đó là một nàng Kiều được bước ra từ những trang thơ Nôm đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du ở tác phẩm “Truyện Kiều”

Không chỉ dừng lại ở nền văn học trung đại, khi chúng ta bước sang thế kỉ

XX văn học Việt Nam tiếp tục phát triển với những sự đổi mới trong việc thể hiện

về hình ảnh nhân vật nữ như: chị Dậu trong tiểu thuyết nổi tiếng “Tắt đèn” - tác giả

Trang 15

Ngô Tất Tố hay chị Út Tịch trong tác phẩm “Người mẹ cầm súng” của nhà văn Nguyễn Thi, cô Nguyệt - một người phụ nữ đẹp trong “Mảnh trăng cuối rừng” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, Tất cả đều là những người phụ nữ kiên cường, dũng cảm dám hi sinh chính mình vì gia đình và đất nước

Sau năm 1975, văn học bước sang một giai đoạn đổi mới Chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học nữ quyền, đã khiến cho nền văn học của thời kỳ xuất hiện nhiều cây bút trẻ nổi tiếng như: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Phan Thị Vàng Anh, và ngoài ra còn rất nhiều những cây bút nữ trẻ khác

Ngược dòng thời gian trở về với cội nguồn của ông cha, xuất phát từ nền văn học truyền thống dân gian mà cụ thể là chèo cổ Việt Nam Nhân vật nữ đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, từ các vở chèo cổ cho đến chèo cách tân luôn lấy người phụ nữ là nhân vật chính xoay quanh các tình tiết của vở chèo

Nhân vật nữ được coi là loại hình nhân vật cụ thể có tính chất riêng biệt Hay hiểu theo cách sau: Nhân vật nữ được xây dựng, miêu tả gắn với những hình ảnh, hành động thể hiện ở trong các văn bản văn học thông qua cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau của mỗi tác giả Nghiên cứu và tìm hiểu về nhân vật nữ, chính là đi nghiên cứu về kiểu nhân vật văn học có cấu trúc đặc thù Nhân vật nữ từ xưa cho đến nay luôn là đại diện điển hình cho cái đẹp Phụ nữ sinh ra đã mang trên mình một sứ mệnh cao cả đó là duy trì sự sinh tồn của các thế hệ sau và luân chuyển của cuộc sống Viết về người phụ nữ từ lâu đã trở thành đề tài rất quen thuộc, nó như mạch nguồn cảm hứng bất tận và dồi dào của các nghệ sĩ trong nhiều sáng tác Trong nền văn học truyền thống nhân vật người phụ nữ có vị thế quan trọng và luôn được coi là tâm điểm

Đối với chèo cổ Việt Nam, nhân vật nữ được khắc họa lên với những hình ảnh hết sức mới lạ, đặc biệt về ngoại hình và tính cách Họ là người đại diện cho tất cả những ước mơ và lý tưởng thẩm mỹ trong cuộc sống Tuy nhiên, những điều gọi là chuẩn mực trong cái đẹp về mặt thẩm mỹ của thời đại xưa vẫn chưa được thể hiện cụ thể, chi tiết khi miêu tả về người phụ nữ Vì thế, khi chúng ta tiếp nhận các văn bản chèo cổ chỉ thấy chủ yếu các nhân vật nữ hiện lên cho độc giả cảm nhận qua một số hành trạng và một số nét tính cách vừa đơn giản, vừa nhất quán

1.2 Chèo cổ Việt Nam

1.2.1 Sự ra đời của chèo cổ

Sân khấu cổ truyền ở Việt Nam có nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: múa rối, tuồng, chèo, hát xẩm, cải lương, Mỗi loại hình nghệ thuật lại thể hiện

Trang 16

những đặc điểm rất sinh động, độc đáo và luôn có sự riêng biệt không bị hòa lẫn vào nhau Hình thành trong một xã hội có nền nông nghiệp lâu đời, sự phát triển của các loại hình nghệ thuật sân khấu tương ứng và phù hợp với trình độ, nhu cầu ở nhiều mặt trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, dường như nó được

ví là một “món ăn tinh thần” đã được ăn sâu vào tiềm thức đối với người Việt Nam bây giờ và mãi mãi về sau Trong đó, sân khấu chèo là loại nghệ thuật truyền thống

có tính đặc sắc cao và có một vị trí quan trọng Theo thời gian chèo cổ ngày càng phát triển mạnh hơn nhằm duy trì truyền thống tốt đẹp của dân tộc không bị mai một, ta sẽ đi tìm hiểu về nguồn gốc và quá trình phát triển của nó Trên thực tế, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của chèo, nhưng ta có thể hiểu về nguồn gốc

và mốc thời gian đánh dấu sự xuất hiện của chèo cổ theo một số ý kiến như sau:

Trong cuốn “Lịch sử nghệ thuật chèo” của Hà Văn Cầu, ông cho rằng:

“Chúng ta không thể nghiên cứu chèo một cách cận thị, chỉ dựa vào bản thân các

dữ liệu có liên quan đến nền sân khấu truyền thống này Những thành tựu khoa học hiện đại cho phép người làm công tác nghiên cứu phải đặt ra vấn đề đối sánh liên ngành trong phạm trù văn hóa Chèo là nghệ thuật ra đời trong hội làng có dính dáng đến khoảng thời gian nhàn rỗi của nhà nông Do đó, phải đặt chèo trong bối cảnh, nói cho đúng hơn, trên cơ tầng văn hóa lúa nước thời xưa.” [3-tr.32]

Nói về nguồn gốc của chèo: Chèo cổ được bắt nguồn từ yếu tố ngoại lai, từ một sự kiện trong trận đánh ở Tây Kết quân ta đã bắt giữ nghệ nhân Lý Nguyên Cát Chèo hình thành khi Trịnh Trọng Tử cho quân hát khúc Long ngân trong lúc tang lễ được diễn ra để tiễn đưa vua Trần Nhân Tông

Hay có ý kiến cho rằng: “Chèo nảy sinh từ nghệ nhân Trung Quốc sang ta dạy

vào đời Lý hoặc đời Trần Trước Cách mạng tháng Tám, ý kiến này được phần lớn học giả đương thời chấp nhận, qua mấy sự kiện ghi trong sử sách hoặc dã sử.” [9-tr.34]

Chèo là động tác khi chèo thuyền, nghiên cứu về nguồn gốc của chèo nó được hình thành trong nghi thức ở các đám tang và trong lao động Ngoài ra, chèo thuộc vào loại hình nghệ sân khấu mang sự thuần tuý, nằm trong kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú và có từ lâu ở Việt Nam Nhắc đến mốc hình thành đã có

nhiều quan điểm cho rằng: “Chèo Việt Nam được hình thành bắt đầu ở thời tiền sử

đến thế kỷ thứ IV trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ I sau Công nguyên, hoặc từ thế kỷ thứ X thời nhà Ðinh hoặc thế kỷ XIV cuối nhà Trần.” [9-tr.48]

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng chèo không phải được bắt đầu hình thành từ nghệ nhân Trung Quốc Lý Nguyên Cát (hay Hứa Tông Ðạo), hoặc được bắt nguồn

Trang 17

gốc từ yếu tố ngoại lai nào, dựa trên những gì ghi chép lại trong sử sách của nhiều đời như nhà Ðinh, Tiền Lê, Lý đến cuối nhà Trần, có một số nhận xét sau:

Trong cuốn “Về nghệ thuật chèo - quyển 1” của tác giả Trần Việt Ngữ cho

rằng: “Nhóm ý kiến của số người căn cứ vào nội dung và nghệ thuật gây cười, chiếm

phần lớn thời gian diễn xuất của chèo cổ đã cho rằng, chèo từ chữ Trào, nghĩa là riễu cợt mà ra.” [9-tr.38] Thời nhà Ðinh tương truyền lại cho sau này có Phạm Thị

Chân, Ðào Văn Xó, ở thời nhà Lý vừa có thế lực, lại có quan hệ qua lại với quý tộc

cũ mới, trong đó có đông đảo tầng lớp tăng lữ, thêm sự tín ngưỡng thời nhà Trần Nho giáo phát triển làm cho đạo Phật bị lấn át, trải qua lịch sử chiến tranh giữ nước

mà tinh thần dân tộc được dâng cao, từ đó chữ Nôm được ra đời giữa sự liên kết của tăng lữ Từ Đạo Hạnh với nghệ sĩ Sai Ất và Nho sĩ Mai Sinh Nhưng các vua thời Lý lại đều thích nghe múa hát của các nghệ nhân như Đào Thị, Đỗ Anh Vũ,

Hai, khi những mảnh trò có tích rất đơn giản xuất hiện, hầu hết các nghệ nhân chuyên nghiệp phát triển lên thành các loại như giáp, đào, lão, mụ, hề, những trò nhại, những bài giáo, Từ đấy có thể tập hợp những người cùng trong nghề để tổ chức giáo phường và những nhóm giáo phường đó nhà nước đều có quyền quản lý

Ba, cùng với hoàn cảnh bấy giờ có người tên là Tây Vương Mẫu đã cất tiếng hát Trung Quốc với những kiểu ăn mặc và biểu diễn cùng với cả một dàn nhạc theo phong cách Trung Quốc, tất cả những điều đó không thể phai nhòa, đây được coi như là mốc khởi điểm cho việc hình thành của thể loại sân khấu mới chứa đầy sự thuần túy của dân tộc như nghệ thuật chèo Với sự khác biệt trong quy trình biểu diễn các tiết mục mang nhiều âm hưởng, hình thức được sách sử ghi chép lại và miêu tả rất cụ thể Khi tìm hiểu về yếu tố nghệ thuật như hình thức hát, múa và diễn

kỹ, chúng ta đều không một ai đủ tinh tế để có thể nhận ra đó là chèo Phải chăng,

do sự mới lạ như cách ăn mặc quần áo, dàn âm nhạc, sân khấu được bố trí và sắp xếp hẳn hoi cùng với việc biểu diễn của các nghệ nhân có kinh nghiệm Tất cả những điều ấy đã góp phần tạo nên cho nền nghệ thuật sân khấu bản địa được phát triển và thích ứng ngày càng nhanh với những yêu cầu và nhu cầu thưởng thức của con người đương thời

Có quan điểm khác cho rằng: “Chèo bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ

thuật dân gian, dân tộc, với sự đóng góp quan trọng của giới trí thức bình dân và quý tộc, từng tồn tại lâu trên đất nước Việt Nam, đúng ra là vùng trung châu và đồng bằng miền Bắc.” [9-tr.112] Thế nhưng chỉ có một số loại hình dân ca có khả

năng phát triển thành chèo chứ không phải tất cả, một số loại như hát nói sẽ mang

Trang 18

đậm chất tự sự và được tiềm ẩn khả năng phát triển thành chèo Tất nhiên, nhiều nghệ nhân chèo lâu năm có kinh nghiệm đều có thể “chèo hóa” bất kỳ điệu dân ca nào đó một cách dễ dàng

Tuy nhiên, ở mỗi vùng khác nhau mỗi người hát tùy ý muốn có thể chuyển hoá chút ít câu từ, giai điệu hoặc thêm một số từ để thành những câu khác hoặc là sẽ đảo nhịp để thêm sự vui nhộn trong câu hát Một số loại dân ca cổ thì chiêm nghiệm qua cách sinh hoạt, từ sự phát triển của mỗi thời kỳ mà có một số loại nghệ thuật cũng khá quen thuộc với chèo cổ như lối hát xoan ở đất tổ Phú Thọ Tất cả những ý kiến trên giúp ta có thể hiểu được phần nào về nguồn gốc ra đời của chèo cổ Việt Nam

Giáo sư Hà Văn Cầu có kết luận rằng: “Chèo là hình thức nghệ thuật dân

gian Việt Nam, hình thành trên cơ sở trò nhại kết hợp với ca múa dân gian của dân tộc Việt (Kinh) Trải qua hàng ngàn năm tiến hóa chậm chạp, tuy có vở đã đạt tới trình độ kinh điển, song căn tính chung của chúng vẫn là: Nông nghiêp - Làng xã - Nghiệp dư, Công nghiệp - Đô thị - Chuyện nghiệp.” [3-tr.410]

1.2.2 Quá trình phát triển

Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian cổ truyền của người Việt

và nằm trong hệ thống văn học dân gian Việt Nam Chèo có lịch sử hình thành từ rất lâu, được đánh dấu từ thế kỷ thứ X dưới thời nhà Đinh, kinh đô Hoa Lư ở Ninh Bình là đất tổ của sân khấu chèo Phạm Thị Trân là người sáng lập ra chèo, một người có tài năng trong hoàng cung nhà Đinh, điều này được ghi lại và lưu truyền trong sử sách, từ thời nhà Đinh, Tiền Lê, Lý đến cuối Trần, chèo ra đời gắn liền với sinh hoạt văn hóa của con người Từ đó, chèo cổ phát triển mạnh ra ở phía Bắc nước ta như châu thổ Bắc bộ và được kéo dài từ Nghệ - Tĩnh trở ra Chèo được bắt nguồn từ làn điệu múa hát dân gian, qua dòng chảy của thời gian nhân dân ta đã làm mới các tích truyện ngắn của chèo dựa trên hình thức nhại lại để có các vở diễn hoàn thiện và đầy đủ

Ở Việt Nam chèo được đánh dấu một mốc quan trọng vào thế kỷ thứ XIV, khi binh sĩ Lý Nguyên Cát bị bắt ở Việt Nam ông là người đã du nhập vào nước ta một dòng nghệ thuật của Trung Quốc được gọi là Kinh dịch Trước đó chèo chỉ được thể hiện bằng lời nói và các khúc ngâm dân ca, sau khi chịu sự ảnh hưởngvề mặt nghệ thuật của người lính bị bắt nên đã có thêm phần hát vào trong chèo Việt Nam

Nhưng về sau do chịu sự ảnh hưởng của đạo Khổng vua Lê Thánh Tông nghiêm cấm không cho chèo biểu diễn ở cung đình vào những năm thuộc thế kỷ

Trang 19

XV Chèo đã quay về cùng người nông dân, nhiều kịch bản chèo được lấy từ những truyện được viết ra bằng chữ Nôm

Ở nông thôn Việt Nam, chèo ngày càng được phát triển mạnh vào thế kỷ thứ XVIII và tiếp tục phát triển lên đỉnh cao ở cuối thế kỷ thứ XIX với nhiều vở chèo nổi tiếng như: “Quan Âm Thị Kính”, “Kim Nham”, “Chu Mãi Thần”, “Lưu Bình Dương Lễ” Ngoài ra, chèo còn bị ảnh hưởng từ tuồng hoặc tích truyện Trung Quốc Đến thế kỷ XX chèo càng phát triển hơn nữa khi được biểu diễn ở sân khấu thành thị và đã trở thành sự văn minh của con người Hiện nay, chèo cổ đã được cách tân và có nhiều vở chèo kinh điển như: “Nàng Sita”, “Ngọc Hân công chúa”,

“Tấm áo bào hoàng đế”,

Lịch sử Việt Nam đã ghi chép lại từ thời nhà Đinh Tiên Hoàng cho đến Tiền

Lê, Lý, Trần đã có những hoạt động như nhảy, múa, ca hát, bơi thuyền, chèo có thể là một bộ phận nghệ thuật ca múa song song với các môn ca múa khác Qua các triều đại và trải qua các thế kỷ chèo ngày càng phát triển và được hoàn thiện hơn Chèo không chỉ phát triển và thịnh hành trong cung đình mà còn ăn sâu vào phong tục, nghi lễ đời sống hàng ngày của con dân đất Việt Cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc chèo đã tự mình vận động vươn lên phát triển phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau để kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển nội tâm của con người cá thể và ngày càng hoàn chỉnh về giai điệu, để trở thành một bộ phận văn học vô cùng quý báu trong kho tàng dân tộc Bởi trong chèo đã phản ánh mọi góc

độ của bản sắc văn hóa dân tộc như: tinh thần lạc quan, lòng nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc thân yêu hay thậm chí là sự lên tiếng phê phán một xã hội đầy những bất công với phụ nữ Chính từ những tư tưởng lành mạnh đó trong chèo có đầy đủ các loại hình văn học như: anh hùng ca, sử thi, trữ tình, thơ ca giáo huấn, chèo có sự phát triển hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, chèo, quan họ

Giáo sư Hà Văn Cầu nhận định: “Trong nhiều thế kỷ qua, chèo đã tiếp thu

nhiều ảnh hưởng sân khấu nước ngoài, song thật rõ ràng, các nghệ sĩ xưa tiếp thu các yếu tố ngoại sinh một cách tự nguyện và có chọn lọc.” [3-tr.411]

Trải qua nhiều thế kỷ, cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc chèo đã

tự mình vận động và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại, để kịp thời đáp ứng những yêu cầu phát triển nội tâm của con người Đồng thời theo thời gian, chèo không ngừng phát triển cả về giai điệu lẫn sự nhuần nhuyễn tinh vi của lời hát, lời thơ, chèo đã trở thành một bộ phận văn học vô cùng quý báu của dân tộc

Trang 20

1.2.3 Các kiểu nhân vật nữ trong chèo cổ

Từ xưa đến nay người phụ nữ Việt Nam luôn là đại diện điển hình của tất cả mọi đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam Vì vậy, người phụ nữ là một hình ảnh đặc biệt được khắc họa rõ nét trong các tác phẩm nghệ thuật ở các thể loại như: thơ

ca, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, sân khấu, đặc biệt là trong chèo

Người phụ nữ trong chèo cổ có vị trí rất quan trọng, họ được hiện lên với những đặc điểm tiêu biểu, rõ nét từ hình dáng bên ngoài cho đến tính cách nội tâm, bởi trong họ mang những nét đẹp riêng khác biệt thể hiện đậm chất chèo Ở họ luôn

ẩn chứa nhiều cảm xúc với những cung bậc tình cảm được thể hiện khác nhau, đặc biệt là tính cách cũng được hiện hữu rất rõ rệt và khác lạ qua mỗi nhân vật nữ Thông qua tính cách của nhân vật ta có thể thấu hiểu được ít nhiều về cuộc đời của mỗi người với số phận hẩm hiu và những khát vọng, ước muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn trong xã hội phong kiến Trong cùng một vở chèo sẽ có nhiều vai diễn khác nhau nhưng thường có bốn vai nữ điển hình: đầu tiên phải kể đến vai nữ chín (gọi là đào thương); tiếp theo vai nữ lệch (gọi là vai đào lệch); sau đó là vai nữ pha (gọi là đào pha) vai nữ này được gọi là đào pha bởi lẽ trong nhân vật mang trong mình hai tâm trạng, tính cách cùng tồn tại trong một nhân vật, lúc thì chín chắn như vai nữ chín, lúc lại phá phách của vai đào lệch nên gọi là đào pha, cuối cùng là vai mụ Vậy, trên đây

là bốn vai nữ tiêu biểu giữ vị trí nòng cốt trong chèo

Tìm hiểu sâu về các vai nữ trong chèo trước tiên phải nói đến vai nữ chín, đây là một trong bốn vai nữ chính mà ở hầu hết các vở chèo đều phải có Theo truyền thống từ thời xa xưa cha ông ta đã cho rằng người phụ nữ phải có đủ tứ đức

“Công, dung, ngôn, hạnh” phải biết khiêm nhường, nhẫn nhục mà chịu đựng Vai trò của nữ chín trong chèo cũng vậy, họ là những người phụ nữ có vị trí quan trọng làm nên một vở chèo hay và đầy sức hấp dẫn Tuy nhiên, hầu hết các nhân vật nữ chín trong chèo đều gánh trên mình một số phận đầy bất hạnh, họ bị xã hội quay lưng, bị chà đạp và yếu thế, đại diện cho loại nhân vật này là vai Thị Kính Ở nàng

ta sẽ nhìn thấy các đức hạnh, sự nhẫn nhịn, cam chịu số phận, những việc làm ấy tất

cả đều để hy sinh cho chồng cho con Người xưa thường có câu: “Oan như oan Thị Kính” mà nàng vẫn lặng im không một lời oán trách, than thở Đã có nhiều người than rằng: “Sao mình không nói trắng ra mình là phụ nữ để cô Thị Mầu kia khỏi đổ oan và tại sao lại phải nhẫn nhịn như thế” Điều đáng trân trọng ở những người phụ

nữ xưa là vì họ luôn biết sống cam chịu, nhẫn nhịn, nhẫn để yêu thương, để được mọi bề, nhẫn để tìm đường lo toan, để vẹn toàn cho tất cả mọi sự việc, luôn sống tốt

Trang 21

với mọi người và không làm khổ hay liên lụy đến bất cứ ai Thị Kính là một trong những nhân vật điển hình cho sự cam chịu, nhẫn nhịn và đức hi sinh cao quý của người phụ nữ Việt Nam

Trái ngược với nhân vật Thị Kính, vai “nữ lệch” cô Mầu - một biểu hiện cho phẩm chất khác của người phụ nữ Việt Nam đó là: niềm khao khát được yêu, vì yêu

là quyền cơ bản nhất ai cũng phải có, không chỉ riêng đối với phụ nữ mà tất cả chúng ta nói chung khi lớn lên phải được tự do tìm hiểu, yêu đương và phải lấy người mình yêu Trong khuân khổ hà khắc của chế độ phong kiến xưa, người phụ

nữ luôn phải tuân theo “Tam tòng” hay kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, họ không

có quyền được lựa chọn tình yêu và hạnh phúc riêng của mình Vậy mà cô Thị Mầu trong chèo cổ đã trở tấm gương điển hình cho lối sống phá phách, dám chống lại những trói buộc hà khắc của chế độ phong kiến để sống với niềm khát khao được yêu đương và ước muốn được hạnh phúc

Nhắc đến Xúy Vân, một nhân vật cũng rất nổi tiếng trong nghệ thuật chèo Việt Nam - nhân vật vai đào pha mang trong mình với kiểu tính cách thay đổi theo hoàn cảnh Bởi vì khi Xúy Vân ở trong nhà Kim Nham nàng là một người phụ nữ thuần túy, nết na như Thị Kính, nàng nhẫn nhịn và chăm lo cho chồng, phục vụ chồng ăn học chu đáo để thi đỗ thành danh Nhưng vì con đường công danh mà Kim Nham để vợ một mình ở thôn quê sống với người mẹ chồng khắc nghiệt luôn

tỏ ra khó chịu và chèn ép Xúy Vân hết sức tàn nhẫn Giống như bao người con gái khác, nàng chỉ mong có một cuộc sống bình dị với ước muốn được yêu và được hạnh phúc Trong hoàn cảnh đầy khắc nghiệt như vậy, khi phải xa chồng, rồi mẹ chồng cũng đối xử không được tử tế, Xúy Vân không còn lựa chọn nào khác, nàng buộc phải trở thành người phụ nữ mạnh mẽ, không còn nhẫn nhịn, thuần túy mà lại quyết tâm “phá cái cũi sổ lồng” để bản thân được tự do Trái tim nàng đã nảy sinh tình cảm rồi bén duyên với Trần Phương ở trên chùa, nhưng buồn thay số phận người phụ nữ bất hạnh, cuộc đời nàng cũng gặp đầy trớ trêu Xúy Vân đã lầm tưởng, thật thà và cả tin nên cuối cùng nàng vẫn là nạn nhân của cuộc tình Vì vậy

mà nàng đã bị điên, lúc thì điên thật, lúc thì giả điên, Xúy Vân giả điên đề cương quyết đòi Kim Nham phải trả tự do cho nàng

Vai nữ cuối cùng trong chèo cổ là vai mụ, vai này thể hiện tính cách rất rõ nét, đó tính cách vừa nanh nọc lại độc ác giống như vai mụ Sùng - mẹ của Thiện Sỹ, vai mụ Kim mẹ của Kim Nham, vai mụ Quán - một con mụ “bán hoa” chuyên dắt bướm Chúng ta thường thấy ở trong chèo các vai mụ đều là nhân vật có tính cách

Trang 22

độc ác, trưởng giả học làm sang, khi có chút tiền cho con ăn học thành đạt thì bản thân mình cũng thay đổi, luôn coi thường người khác, tỏ thái độ chê bai, khinh rẻ người thấp kém hơn mình, không biết trân trọng mọi người xung quanh, Tóm lại, đối với chèo cổ Việt Nam nhân vật nữ thường có tất cả bốn vai diễn chính, trong đó vai nữ chín và nữ lệch giữ vai trò nòng cốt ở các vở chèo Họ làm nên những giá trị riêng biệt cũng như sự đặc sắc của chèo cổ dân tộc Từ những tìm hiểu trên giúp ta biết được về các kiểu nhân vật người phụ nữ trong chèo cổ Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Qua việc tìm hiểu chương 1, ta có thể thấy được những vấn đề lí thuyết căn bản về nhân vật, nhân vật nữ trong văn học cũng như trong chèo cổ - một thể loại văn học dân gian đặc sắc Nhân vật nữ trong chèo được nhận diện qua các vai diễn điển

hình như: nữ chín, nữ lệch, đào pha, mụ Mỗi kiểu nhân vật xuất hiện với một vị trí

và vai trò khác nhau trong tích chèo song đều có ý nghĩa quan trọng trong việc biểu đạt nội dung tác phẩm, thể hiện rõ nét ý đồ sáng tác của người nghệ sĩ dân gian Những khảo sát sơ bộ về nhân vật nữ trong chèo cổ ở chương 1, là cơ sở quan trọng

để chúng tôi triển khai nội dung nghiên cứu ở các chương tiếp theo của khóa luận

Trang 23

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT NỮ TRONG CHÈO CỔ

2.1 Người phụ nữ gắn liền với các mối quan hệ gia đình

2.1.1 Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh

Nhân vật người phụ nữ xuất hiện nhiều trong mạch nguồn sáng tác của người nghệ sĩ, bởi lẽ từ xưa cho đến nay họ luôn là đối tượng trung tâm được các nhà văn quan tâm khai thác từ nhiều góc độ khác nhau Mỗi người phụ nữ là một số phận khác nhau nhưng đều chung cảnh bất hạnh, khi sống trong chế độ phong kiến họ phải chịu rất nhiều thiệt thòi bất Ta dễ dàng bắt gặp những số phận bất hạnh điển hình như một nàng Kiều bạc mệnh, hay là chị Dậu người đàn bà phải chịu sự bất hạnh dưới chế độ phong kiến Riêng với phụ nữ, họ là những người yếu ớt không

có khả năng chống chọi và sức phản kháng của họ đã yếu dần, yếu dần cho đến khi lời cáo buộc trở thành một lời than thân buồn tủi:

“Thân em như tấm lụa đào

Người phụ nữ xưa đã cất lên những lời than thân chứa đầy nước mắt, sự yếu đuối, mỏng manh tựa như khói tỏa vào không gian cho ta cảm nhận được một cuộc sống đầy ngột ngạt và sự bất công Ca dao là loại hình văn hóa dân gian có từ lâu đời, nó đúc kết nhiều tình cảm và những lời than trách về thân phận Tác giả dân gian là người thấu hiểu và cảm thông được nỗi đau đó, vậy nên họ đã thể hiện lòng thương xót của mình với số phận người phụ nữ qua những câu ca dao tục ngữ

Trong kho tàng văn học dân tộc, người phụ nữ không chỉ được nhắc đến trong

hệ thống ca dao Mà từ lâu, bắt nguồn từ trong cái nôi truyền thống của dân tộc đã có nhiều nghệ nhân chèo cổ lấy nhân vật người phụ nữ làm yếu tố nòng cốt của các vở chèo, để từ đó đi sâu vào khai thác dưới nhiều góc độ trong cuộc sống Nhắc đến chèo

cổ chắc hẳn ai cũng không thể không biết đến các vở chèo nổi tiếng như: “Lưu Bình

Dương Lễ”, “Quan Âm Thị Kính”, “Chu Mãi Thần”, “Kim Nham”, là những vở chèo rất nổi tiếng trong hệ thống các thể loại của ngành sân khấu nghệ thuật dân tộc

Ở mỗi vở chèo lại mang đến cho bạn đọc và khán giả những bất ngờ khác nhau, nhưng hầu hết các vở đều có chung một đặc điểm là xoay quanh những người phụ nữ với nhiều mối quan hệ khác nhau trong xã hội Đặc biệt, người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình là một khía cạnh đáng để chúng ta quan tâm và tìm hiểu, bởi chỉ khi

đi sâu tìm hiểu vào tận gốc rễ thì mới hiểu vấn đề sâu sắc hơn

Trang 24

Hôn nhân - gia đình là cầu nối giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, nhưng ngược lại nó cũng lại là nguyên nhân gây ra nhiều nỗi đau và sự bất hạnh của mỗi người phụ nữ không chỉ thời nay mà thời xưa cũng vậy Nhất là khi đất nước còn đang tồn tại dưới một chế độ phong kiến đầy những hủ tục, lề lối lạc hậu thì hôn nhân không còn là hạnh phúc nữa mà là yếu tố gây nên những nỗi đau lớn nhất khiến những người phụ nữ phải chịu tổn thương Họ yêu nhưng không được yêu, là người sống thủy chung nhưng cuối cùng lại bị vướng phải hiểu lầm rồi dẫn đến kết thúc chẳng mấy tốt đẹp Khi nhắc đến vấn đề hôn nhân - gia đình, chúng tôi tập trung nghiên cứu khía cạnh này dưới phạm vi trong một số vở chèo cổ nổi tiếng với các trích đoạn tiêu biểu nhất

“Kim Nham” là vở chèo nổi tiếng, nội dung chính viết về cuộc đời bất hạnh của nàng Xúy Vân trong hôn nhân với chàng Kim Nàng là người con gái nết na, dịu dàng, một con người hội tụ đủ những phẩm chất đẹp và đáng quý, nàng phải xứng đáng được hưởng cái hạnh phúc giản dị của trần thế nhưng rất quý giá đối với người phụ nữ Xúy Vân được gả cho Kim Nham không phải xuất phát từ tình yêu

mà do cha mẹ sắp đặt, nàng là cô gái sống theo khuôn phép “Tại gia tòng phụ” Chính cái khuôn phép của lễ giáo phong kiến suy tàn ấy đã khiến cho rất nhiều người con gái phải đánh đổi bằng chính hạnh phúc của mình Mặc dù ngày đêm bận đèn sách nhưng chàng Kim không quên nàng là vợ mình, chàng đã nói với Xúy Vân những câu từ thật tình nghĩa, tất cả đều là “của vợ công chồng” Ngày đêm chàng miệt mài đèn sách nhưng khi thành dành thì chàng Kim không bao giờ quên đi tình nghĩa vợ chồng đối với Xúy Vân “phu quy, phu vinh em có phận” Bên cạnh đó, nàng vẫn luôn làm tròn bổn phận của một người vợ hiền, nết na, luôn có những lời động viên, khuyên bảo chồng gắng công đèn sách để thi đỗ thành danh:

Kim Nham: “Em ơi, Đạo phu thê gang tấc anh chẳng rời Dẫn dưa muối anh ở cùng em mới phải Nỡ một mai anh chiếm bảng khôi hoa Thì phu quy, phu vinh em có phận.”

Xúy Vân: “Nghe lời chàng dạy Thiếp xin về tẩn tảo sớm khuya Chực phòng không là phận nữ nhi

Trang 25

Khuyên chàng sẽ gắng công đèn sách Trăm lạy chàng thiếp xin than thở.” [2-tr.153]

Là một người phụ nữ đang trong thời xuân sắc nở rộ, tâm hồn nàng Xúy Vân luôn nung nấu với những khát vọng yêu đương mãnh liệt, ngày đêm sục sôi cháy rực trong nàng Thế nhưng phải sống trong cảnh xa chồng tâm trạng của nàng luôn bị lạc lõng, cô đơn, nhiều khi với những tiếng thở dài não ruột, tiếng thở dài của sự trống vắng và cô đơn ở nhà chồng Mang trong mình với nhiều tâm sự mà khó dãi bày thành lời, thật đáng thương thay cho số phận của nàng khi phải sống trong cảnh những tháng năm má còn hồng và môi còn thắm nhưng lại không có chồng bên cạnh

Trong hoàn cảnh đơn côi như vậy, sự xuất hiện của Trần Phương đã xoa dịu

đi sự thiếu thốn về mặt tình cảm cũng như làm cho tinh thần của Xúy Vân trở nên đầy sức sống hơn Con tim nàng rất nhạy cảm khi nghe những lời dụ dỗ ngon ngọt của Trần Phương để rồi từ từ rơi vào cái bẫy của lưới tình Đây lại là thời điểm Kim Nham không có ở nhà, vì vậy mà nàng rất cần có một người đàn ông để được yêu thương, Trần Phương xuất hiện giống như một sự may mắn đối với nàng mà rồi nhẹ

dạ nghe theo những lời dụ dỗ của hắn, nàng sẵn sàng giả điên để từ bỏ chồng mình

Có thể nói “Xúy Vân giả dại” là một trích đoạn đặc sắc trong vở chèo “Kim Nham”, cho ta thấy rõ hơn đời sống tâm lí, tình cảm của nhân vật Từ một người bình thường Xúy Vân đã phải giả dại chỉ vì nàng đang gánh chịu nhiều tổn thương

và bất hạnh trong tình yêu, chính những tổn thương và mất mát mà Kim Nham đã gây ra khiến vết thương trong lòng nàng quá sâu đậm Vậy nên, nàng đã điên vì tình khi nghe những lời nói như rót mật của Trần Phương Những ẩn ức trong tình yêu khiến nàng luôn canh cánh trong lòng bấy lâu nay, được nghe những lời nói ngọt ngào ấy mà Xúy Vân đã bồng bột với những hành động không suy nghĩ, giả điên để được thoát khỏi cuộc sống gò bó của hôn nhân, để được sống tự do với tình yêu của mình Nàng là người phụ nữ có cá tính mạnh khi quyết tâm thay đổi cuộc đời mình, Xúy Vân đại diện cho tiếng nói chung của người con gái như đang muốn phá tung cái lễ giáo phong kiến đầy những luật lệ hà khắc

“Con gà rừng ăn lẫn con công Đắng cay chẳng có chịu được, ức!

Mà để láng giềng ai hay?

Bông bông dắt, bông bông díu

Xa xa lắc, xa xa líu.” [12-tr.130]

Trang 26

“Con gà” và “con công” mặc dù cùng là con vật có lông vũ nhưng lại không thể sống chung với nhau khi chúng khác loài Cũng giống như tình cảnh của vợ chồng Xúy Vân vậy, hai người xa lạ đến với nhau khi cả hai đều không có điểm đương đồng về tâm hồn, dù cho có cố gắng dắt díu nhau thì cũng xa lắc xa lơ Tội nghiệp thay cho nàng Xúy Vân và còn rất nhiều người phụ nữ khác đều muốn có một tình yêu chân thật nhưng lại rơi vào cảnh trớ trêu Bên cạnh đó Xúy Vân bị day dứt trong mối quan hệ mập mờ với Trần Phương nhưng nàng lại là người giữ “đạo hằng”

“Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng Gió trăng thời mặc gió trăng

Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên.” [12-tr 129]

Là một người có tâm hồn nhạy cảm với sức chịu đựng mỏng manh, Xúy Vân cũng chỉ như những người phụ nữ khác, yếu đuối nhưng giàu khát khao về tình yêu Vậy nên, khó mà giữ được đạo thủy chung trong hoàn cảnh ấy, thật vừa thương xót lại vừa cảm thông cho số phận bất hạnh của nàng Hôn nhân không hạnh phúc, mỗi người đều lựa chọn đi theo con đường của riêng mình nhưng đến cuối cùng người phải chịu nhiều đau khổ và thiệt thòi nhất vẫn là người phụ nữ

Thực hiện nguyện vọng của Xúy Vân, Kim Nham đã trả lại tự do cho nàng, Xúy Vân mừng rỡ chạy theo người tình nhưng lúc đó nàng mới nhận ra bộ mặt thật của Trần Phương Nàng đau đớn đến rụng rời, ta hãy nghe tiếng gọi đò của nàng:

“Tôi kêu đò, đò nỏ không thưa Tôi càng chờ càng đợi càng trưa chuyến đò.” [12-tr.129]

Xúy Vân bộc lộ nỗi chờ đợi mỏi mòn và nỗi đau lỡ làng dang dở Số phận của nàng Xúy Vân phải chăng đã được trời xanh an bài, nàng tưởng rằng rời xa Kim Nham khi đến với cuộc tình mới sẽ có được hạnh phúc đích thực, cái “thứ” hạnh phúc mà nàng hằng mong chờ Nhưng trớ trêu thay phận đàn bà, cuối cùng thì nàng

đã bị điên vì tình, vì người người đàn ông mà nàng tin tưởng nhất lại chính là kẻ lừa dối nàng Bi kịch thứ hai mà nàng gặp phải chính là bị Trần Phương phụ bạc, Xúy Vân đã điên thật, điên vì đời đảo điên, điên vì thân phận của nàng giống như:

“Con cá rô nằm giữa vũng chân trâu

Để cho năm bảy cái cần câu châu vào.” [16]

Trong thơ Nguyễn Du có nàng Kiều bất hạnh thì trong chèo cổ lại có nàng Xúy Vân bất hạnh hơn, Xúy Vân điên dại vì bị lừa dối trong tình yêu Những người

Trang 27

phụ nữ sống trong xã hội xưa rơi vào hoàn cảnh như nàng, họ chỉ có một không gian chật hẹp để sinh tồn, bên cạnh đó đầy sự bất tắc Xúy Vân đã hát những lời hát ngược trong điên loạn, thể hiện sự trớ trêu và mất phương hướng mà nàng gặp phải trong cuộc đời Xúy Vân bất hạnh và đáng thương biết bao, từ chỗ là một người đàn

bà có phẩm hạnh, có gia đình, giờ đây đã mất tất cả Xúy Vân trở thành người ăn mày lang thang Khi Xúy Vân đến Tràng An nàng tình cờ gặp Kim Nham, sau khi nhận nắm cơm của Kim Nham và đĩnh bạc do lòng thương hại mà người chồng cũ

bố thí cho, Xúy Vân đau đớn quá, nàng nuốt từng giọt nước mắt mà lòng quặn thắt lại Cuối cùng Xúy Vân tìm đến cái chết như một sự giải thoát cho số phận bất hạnh của mình Cuộc đời nàng phải chịu quá nhiều thiệt thòi, ngay cả hạnh phúc của riêng mình cũng không được lựa chọn, đến khi nàng được yêu thật lòng thì lại gặp một cái kết quá nghiệt ngã

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu bao thiệt thòi bất hạnh, sự ích kỷ của con người với những hủ tục lạc hậu đã đẩy nàng Xúy Vân vào con đường bất hạnh nhất của cuộc đời, cuối cùng Xúy Vân đã điên thật và để giải thoát cho số phận mình, nàng đã tìm đến cái chết Nhắc đến Xúy Vân chắc hẳn ai cũng mang trong mình tâm trạng đầy xót thương và đồng cảm Nhưng một mình nàng Xúy Vân thôi thì dường như “vẫn chưa đủ” Thực tế, ta vẫn bắt gặp đâu đó trong xã hội phong kiến còn rất nhiều người phụ nữ khác với số phận vô cùng bất hạnh giống như nàng Xúy Vân

Trong chèo cổ Việt Nam nhân vật người phụ nữ luôn được lựa chọn làm nhân vật trung tâm cho toàn vở chèo Ngoài việc biết đến một nàng Xúy Vân bất hạnh trong vở chèo cổ “Kim Nham”, ta còn bắt gặp đâu đó bóng dáng một Thị Kính

gặp nhiều oan trái trong cuộc sống gia đình Vở chèo “Quan Âm Thị Kính” từ lâu

đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật sân khấu chèo Việt Nam, đây cũng là một trong số những tác phẩm văn học dân gian xuất hiện từ lâu, được nghệ nhân Hà Văn Cầu ghi

chép lại trong cuốn “Chèo cổ tuyển tập” qua sự biểu diễn của hai nghệ nhân chèo

nổi tiếng là nghệ nhân An Văn Mược và nghệ nhân Phạm Hồng Lô ở chiếng chèo Ninh Bình đọc và chép vào nửa cuối năm 1956 đồng thời có đối chiếu với lời trò của các cụ Trịnh Thị Lan, Nguyễn Văn Thịnh, Trần Văn Toái trong chèo Trung ương tổ chức học tập và xây dựng lại vở chèo đó

“Quan Âm Thị Kính” không chỉ là tác phẩm tiêu biểu trong dòng văn học dân gian mà tác phẩm còn phản ánh được những nỗi oan trái, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ Vở chèo được chia ra làm ba phần, đầu tiên là án giết chồng, tiếp là án mang hoang thai, cuối cùng là oan tình được giải và Thị Kính được

Trang 28

lên tòa sen Xuyên suốt vở chèo đều nói về số phận bất hạnh của Thị Kính nhưng cuối cùng lại mở ra một cái kết có hậu điều này cho thấy sự khác biệt rất rõ trong kết cấu của vở chèo “Quan Âm Thị Kính” và vở chèo “Kim Nham” Mỗi phần trong

vở chèo đều nói lên số phận bi phẫn, cùng cực của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến bị đè nén, áp bức Thị Kính xuất hiện với hình ảnh là người phụ nữ vô cùng bất hạnh, ngay từ lúc bước chân đi lấy chồng đã bị cha mẹ sắp đặt, đến khi về nhà chồng thì mẹ chồng lại khắc nghiệt với nàng, còn chồng nàng là một người ham học, ngày đêm đèn sách chỉ mong có ngày đỗ đạt nên không dành nhiều thời gian cho Thị Kính Cuộc đời nàng Thị Kính có hai nỗi oan lớn nhất mà không ai có thể thấu hiểu và cảm thông được cho nàng, cho đến khi nàng chết rồi thì mọi sự thật mới được sáng tỏ, hai nỗi oan đó là nỗi oan giết chồng và nỗi oan mang hoang thai Đây là hai nút thắt chính của tác phẩm, nếu oan giết chồng nói về số phận của nàng Thị Kính trong quan hệ gia đình, thì án mang hoang thai lại thể hiện số phận của nàng trong mối quan hệ xã hội Án giết chồng mở đầu cho cuộc đời đầy bất hạnh với những tai họa sau này mà Thị Kính phải gánh chịu, đồng thời qua những biến

cố này giúp ta nhận ra được những phẩm chất tốt đẹp của nàng Thị Kính, một người phụ nữ hiền lành, nết na

Mở đầu vở chèo là khung cảnh ấm êm, hạnh phúc của Thiện Sĩ và Thị Kính Nàng may vá, dệt vải, thêu thùa, chồng dùi mài kinh sử: “ Đạo vợ chồng trăm năm kết tóc âu dao bém, thiếp xén tày một mực.”

Khuyên chàng sẽ gắng công đèn sách.” [2-tr.53]

“ Thiếp tôi ngồi xe chỉ, chỉ xe

Đoạn thơ đã cho ta thấy những nét đẹp phẩm chất của Thị Kính, nàng là một người vợ hiền thảo, chăm chỉ khâu vá, chăm sóc chồng chu đáo, lúc Thiện Sĩ học hành vất vả Thị Kính luôn bên cạnh chăm sóc, quạt cho chồng ngủ Không chỉ vậy, nàng là một người thương chồng, coi bổn phận của mình là làm cho chồng đẹp mặt:

Trang 29

Thị Kính ( ngồi quạt cho chồng):

“Đạo vợ chồng trăm năm kết tóc Trước đẹp mặt chồng, sau đẹp mặt ta.” [2-tr.54]

Thị Kính là người luôn coi trọng đạo lý vợ chồng, luôn mong muốn tình cảm

vợ chồng được thuận hòa để vẹn đạo phu thê Vào một hôm khi Thị Kính đang ngồi quạt cho chồng ngủ nàng để ý thấy dưới cằm chồng có một chiếc râu mọc ngược trông rất xấu xí, bởi vì Thị Kính thương chồng nên nàng mới băn khoăn về chiếc râu lạ và định cầm dao xén nó đi.Nhưng khi nàng chưa kịp xén thì Thiện Sĩ choàng tỉnh giấc và kêu rằng nàng định giết chồng Vậy là từ đây tình nghĩa vợ chồng bị tan

vỡ, bao nhiêu ý định tốt đẹp của Thị Kính đã không được chồng và nhà chồng hiểu

mà còn mang trên mình tội danh giết chồng Thị Kính bị chồng hiểu lầm, nàng vô cùng đau khổ, hạnh phúc gia đình của đôi vợ chồng son giờ đây chẳng còn được vẹn toàn, êm ấm như trước kia nữa Chỉ vì nghĩ thương chồng không muốn để cho chiếc râu xấu xí kia mọc ở mặt chồng mình mà nàng Thị Kính đã bị hiểu lầm:

Thị Kính:“Bỗng làm sao râu một chiếc mọc ra

Dị hình lắm dưới cằm mọc ngược .Khéo xa xa kẻo động mình chàng Sẵn dao bén xén tầy một mực.” [2-tr.54]

Thiện Sĩ (giật mình): “Ơi cha, ơi mẹ! Ơi xóm, ơi làng Đêm hôm khuya khoắt

Cớ là sao có sự bất thường Giời đất hỡi cùng là cha mẹ!” [2-tr.55]

Cuộc đời nàng từ đây bước sang một trang mới đầy những giông bão và nhọc nhằn, phải chăng số phận của nàng đã được an bài, đôi khi sự vô tình lại gây ra một hậu quả không thể lường trước được, nàng Thị Kính thật bất hạnh khi mất đi một gia đình hạnh phúc, ấm êm, chỉ vì chồng nàng là một người nhu nhược, không có chính kiến và lòng tin tưởng đối với nàng nên đã để cho sự việc đi quá xa Thị Kính thì chưa kịp giải thích Sùng bà đã lớn tiếng mắng chửi, sỉ vả không lời thương tiếc, không chỉ vậy bà ta còn đẩy Thị Kính ngã xuống đất:

Thị Kính: “Oan con lắm mẹ ơi!”

Bà Sùng: “Thôi đi” [2-tr.55]

Ngày đăng: 06/04/2021, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2006), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
2. Hà Văn Cầu (1976), Chèo cổ tuyển tập, NXb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chèo cổ tuyển tập
Tác giả: Hà Văn Cầu
Năm: 1976
3. Hà Văn Cầu (2005), Lịch sử nghệ thuật chèo, Nxb sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nghệ thuật chèo
Tác giả: Hà Văn Cầu
Nhà XB: Nxb sân khấu
Năm: 2005
4. Hà Minh Đức ( chủ biên) (1992), Lí luận văn học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức ( chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 1992
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
6. Phương Lựu ( chủ biên) (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu ( chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
7. Trần Đình Ngôn (2011), Những nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật chèo, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật chèo
Tác giả: Trần Đình Ngôn
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
8. Trần Việt Ngữ (2012), Kim Nham chèo cổ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Nham chèo cổ
Tác giả: Trần Việt Ngữ
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2012
9. Trần Việt Ngữ (2015), Về nghệ thuật chèo - quyển 1, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghệ thuật chèo - quyển 1
Tác giả: Trần Việt Ngữ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2015
10. Trần Việt Ngữ (2015), Về nghệ thuật chèo - quyển 2, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghệ thuật chèo - quyển 2
Tác giả: Trần Việt Ngữ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2015
11. Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị (1975), Tư liệu tham khảo Văn học Việt Nam tập 1- Văn học dân gian phần II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu tham khảo Văn học Việt Nam tập 1- Văn học dân gian phần II
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
12. Trần Đình Sử (2014), Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao lớp 10 tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao lớp 10 tập 1
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2014
13. Nhiều tác giả (1984), Từ điển văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w