Trong một bài viết khác với tên gọi Nội lực Chu Lai, tác giả cũng đưa ra những nhận xét về nhân vật người lính trong tiểu thuyết của Chu Lai: “ Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
DOÃN THỊ THỦY
NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH THỜI HẬU
CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ
CỦA CHU LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
DOÃN THỊ THỦY
NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH THỜI HẬU
CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ
CỦA CHU LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS Nguyễn Phương Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.Nguyễn Phương Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Doãn Thị Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Phương Hà Khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Doãn Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Nhân vật văn học 6
1.1.1 Khái niệm nhân vật 6
1.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học 7
1.1.3 Nhân vật người lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam hiện đại 9
1.2 Tác giả Chu Lai 13
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học 13
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Chu Lai 14
1.2.3 Tiểu thuyết Phố của Chu Lai 17
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG THỂ HIỆN NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH THỜI HẬU CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ CỦA CHU LAI 20 2.1 Người lính với bi kịch ngày trở về 20
2.1.1 Người lính cô đơn, lạc thời 21
2.1.2 Người lính với tâm hồn bị tổn thương 28
2.2 Người lính với những phẩm chất tốt đẹp 34
2.2.1 Người lính vượt lên hoàn cảnh 35
Trang 62.2.2 Người lính trân trọng quá khứ 36
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ CỦA CHU LAI 40
3.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 40
3.1.1 Miêu tả ngoại hình 40
3.1.2 Miêu tả tâm lí 44
3.2 Ngôn ngữ 47
3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 47
3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 50
3.3 Nghệ thuật miêu tả không gian và thời gian 52
3.3.1 Không gian hiện thực xen lẫn không gian tâm tưởng 52
3.3.2 Thời gian hiện tại xen lẫn thời gian quá khứ 56
KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kì đổi mới, văn học cũng có bước chuyển mình mạnh mẽ Văn học phản ánh cuộc sống khách quan, chân thực hơn, đi sâu vào soi rọi những ngõ ngách mà trước đây chưa có cơ hội đề cập đến Trong đó tiểu thuyết về chiến tranh đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên diện mạo mới của văn học thời kì này Ở tiểu thuyết, ngoài bút pháp nghệ thuật, hình tượng nhân vật cũng là một trong những vấn đề được nhiều nhà văn quan tâm Đáng chú ý hơn
cả trong văn học hậu chiến là hình tượng nhân vật người lính Đây là kiểu nhân vật
cũ nhưng lại có cách thể hiện mới Đó là những con người bước ra từ cuộc chiến được các nhà văn khắc họa ở nhiều phương diện khác nhau trong cuộc sống đời thường sau khi chiến tranh kết thúc Đúng như lời khẳng định của nhà văn Xuân
Thiều- một người lính đã từng đi qua hai cuộc chiến tranh của dân tộc: “Âm vang
của chiến tranh không chỉ là nỗi nhớ về quá khứ chưa xa, mà chủ yếu sự tác động của chiến tranh hằn sâu vào đời sông và số phận con người cho mãi đến bây giờ”
Từ đó tạo nên bản sắc riêng cho văn học Việt Nam sau 1975
Trong nền văn học Việt Nam đương đại, Chu Lai được biết đến như một bông hoa lạ, độc đáo, sáng tác và thành công ở thể loại tiểu thuyết Từ những trải nghiệm chân thực của chính bản thân một người đã từng bước chân vào chiến trường, ông trở về mang những suy tư, tình cảm gửi gắm vào văn học Tiểu thuyết của Chu Lai một mặt luôn được điều chỉnh, cách tân cho phù hợp với yêu cầu của lịch sử và thị hiếu của độc giả, mặt khác lại thể hiện cá tính mang đậm phong cách
Chu Lai: “Văn chương của ông là câu chuyện của những cái tận cùng, cố gắng
hướng đến cái tận cũng, nỗi khổ niềm vui, hi vọng và tuyệt vọng, can đảm và yếu hèn, tất cả phải được nổi lên một cách không nhợt nhạt” [10] Điều này đã ghi nhận
những đóng góp không nhỏ của Chu Lai vào sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Ông được tặng giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2006
Tiểu thuyết của Chu Lai sau 1975 đã bám sát những thay đổi chung của văn học, nhân vật người lính vẫn là nhân vật trung tâm trong các tác phẩm nhưng cảm hứng sử thi đã thay thế bởi cảm hứng thế sự đời tư Người lính trở về từ cuộc chiến
phải đối diện với cuộc sống đời thường, những bi kịch không thể chữa lành Phố là
một tiểu thuyết nổi bật viết về nhân vật người lính Trong đó, ông khắc họa sâu nhất tình cảnh của người lính thời hậu chiến gắn với khu phố “nhà binh”, khu phố mà tưởng như sẽ mãi mãi lặng lẽ uy nghiêm đứng giữa lòng Hà Nội như một biểu
Trang 8tượng của sự trang nghiêm của những con người lịch sử nhưng cuối cùng cũng không kháng cự lại được với sự biến đổi như vũ bão của thời buổi kinh tế thị trường
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Nhân vật người lính thời hậu
chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho người
viết nói riêng và độc giả quan tâm đến Chu Lai nói chung có cái nhìn sâu sắc về nhân vật người lính thời hậu chiến và cách thức thể hiện hình tượng nhân vật của tác giả Qua đó, giúp thấy được tài năng và những đóng góp của Chu Lai đối với sự phát triển của văn họcViệt Nam đương đại Đồng thời, đây cũng là nguồn tư liệu cần thiết cho giáo viên trung học phổ thông trong việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975
2 Lịch sử nghiên cứu
Sau 1975, đề tài chiến tranh và người lính vẫn được coi là cảm hứng sáng tác chủ đạo trong văn học thời kì này, song các nhà văn đã có cách thể hiện mới mẻ cho mảng đề tài quen thuộc đó Ít miêu tả hiện thực chiến tranh rộng lớn, văn học hậu chiến đi sâu vào đời sống cá nhân, thế giới nội tâm của những người lính trở về
Trong bài viết Với chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi được giải, tác
giả Tôn Phương Lan đánh giá: “Càng lùi về thập kỷ 80 sự thật trong văn chương về
chiến tranh càng được biểu hiện theo một hướng khác Một mặt ở chủ đề sáng tạo, quan niệm về hiện thực không có nghĩa là sự sao chép về hiện thực ngoài đời Mặt khác, bản thân người đọc cũng muốn đi vào tìm hiểu thế giới tinh thần của con người trong những diễn biến phức tạp Con người trở thành đối tượng khám phá của cả người viết lẫn người đọc, và hiện thực chiến tranh với đầy đủ tính chất ác liệt của nó đã được hiện lên qua số phận và thế giới nội tâm của con người”[18]
Chu Lai là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam đương đại Đánh giá chung về tiểu thuyết của ông, hầu hết độc giả và giới nghiên cứu đều đi đến khẳng định sự thủy chung của Chu Lai với mảng đề tài chiến tranh và người lính
PGS TS Lý Hoài Thu trong tác phẩm Văn nhân quân đội đã nhấn mạnh tư
chất nghệ sĩ - chiến sĩ của nhà văn Chu Lai thể hiện qua các tác phẩm của ông:
“Trước đề tài chiến tranh, anh không chỉ là viết, là tiếp cận mà là sống, là day dứt, vật vã bằng tâm linh và máu thịt của chính mình” [27] Tư chất đó cũng từng được
tác giả Trần Quốc Huấn khẳng định trong bài viết Người chiến sĩ hôm nay – đội
ngũ kế tục những nhà văn chiến sĩ: “Trong truyện Chu Lai, cái vốn tri thức văn
Trang 9hoá, trí tuệ sáng suốt của người lính trẻ đã thấm nhuyễn một cách tự nhiên vào từng chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết”[9] Hơn thế tài
năng và sự thành công của Chu Lai còn được minh chứng ở việc tiểu thuyết của ông
ra đời luôn nhận được sự quan tâm đón nhận của không ít độc giả yêu văn học như:
Đêm tháng hai, Sông xa, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Khúc bi tráng cuối cùng, Mưa đỏ và đặc biệt là Phố Tiểu thuyết Phố ra đời
năm 1992, là một tác phẩm gặt hái được nhiều thành công trong hệ thống các sáng tác về đề tài người lính sau chiến tranh của Chu Lai Tác phẩm đã đạt giải B do Nhà xuất bản Hà Nội bình chọn năm 1993
Đánh giá về tiểu thuyết của Chu Lai, trong bài Một đề tài không cạn kiệt, tác
giả Bùi Việt Thắng đã nhận thấy sự gắn bó của Chu Lai với đề tài chiến tranh và đánh giá cao sự sáng tạo của ông trong việc đưa “ yếu tố đời tư” vào trong tiểu
thuyết: “ Tiểu thuyết Chu Lai giới thiệu nhiều vấn đề đáng quan tâm trên đề tài
chiến tranh với ý nghĩa như một đề tài lịch sử ( ) Chu Lai làm người đọc bất ngờ vì những khám phá nghệ thuật của mình Nhân vật trong tác phẩm Chu Lai thường tự soi tỏ mình, khám phá mình,khám phá một bản ngã hay một con người trong con
người”[24] Trong một bài viết khác với tên gọi Nội lực Chu Lai, tác giả cũng đưa
ra những nhận xét về nhân vật người lính trong tiểu thuyết của Chu Lai: “ Nhân vật
người lính trong tiểu thuyết Chu Lai thường ăn sóng nói gió, thường bị cuộc đời quăng quật đều được tôi luyện qua lửa đỏ và nước lạnh-vì thế họ trở nên rắn rỏi, từng trải, quyết đoán bên trong cách hành xử” [25]
Không chỉ thành công trong việc triển khai nội dung, tạo dựng tình tiết và xây dựng hình tượng nhân vật người lính, các sáng tác của Chu Lai còn đặc biệt thành công ở phương diện nghệ thuật Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong bài viết
Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kì đổi mới đã ghi nhận những đóng góp
của Chu Lai cho tiểu thuyết đương đại Việt Nam ở phương diện nghệ thuật: “Tiểu
thuyết của Chu Lai không chỉ đa dạng trong các phương thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, dòng ý thức, nghệ thuật đồng hiện và có những thành công nhất định”[4]
Với bài viết Chu Lai: Nhà văn- người lính, tác giả Vũ Trung khi đề cập đến tiểu thuyết Phố, tác giả cho rằng: “Phố là một tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai nói
về cuộc sống của những người Hà Nội giai đoạn đầu đổi mới ( ) Phố được coi là
một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Chu Lai viết về cuộc sống của những người bộ đội thời hậu chiến hố Lý Nam ế, à Nội bây giờ người ta ít gọi tên
Trang 10như theo tên tác phẩm mà thay vào đó gọi nó là phố nhà binh ó là một phần thưởng của Chu Lai Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Pháp với tên Rue des soldats (Phố nhà binh) và được chuyển thể thành bộ phim truyền hình được yêu
thích Người Hà Nội”[29]
Tác giả Nguyễn Hương Giang trong bài Người lính sau thời hòa bình trong
tiểu thuyết chiến tranh thời kì đổi mới chỉ ra rằng: “ Phố của Chu Lai là một cuốn
tiểu thuyết trong tiểu thuyết: Một cuốn về gia đình Nam-Thảo với sự phá vỡ làm tan nát những giá trị truyền thống, một cuốn về cuộc đời Lãm, một người lính từ hai bàn tay trắng đi lên, bảo vệ và tha thiết giữ những giá trị ấy”[6] Điều này đã cho
thấy sự thành công của tiểu thuyết Phố trên cả hai phương diện nội dung và nghệ
thuật đồng thời khẳng định tài năng của Chu Lai
Nhìn chung những nhận xét, đánh giá về các tác phẩm của Chu Lai nói
chung và tiểu thuyết Phố nói riêng là khái quát, chủ yếu còn mang tính chất riêng
lẻ, rời rạc, đặc biệt chưa đi sâu nghiên cứu kĩ vấn đề nhân vật người lính thời hậu chiến Vì thế trong khuôn khổ khóa luận này chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài
Nhân vật người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai với mục
đích chứng minh, làm nổi bật hình tượng người lính hậu chiến, qua đó góp phần khẳng định tài năng và những đóng góp của Chu Lai đối với văn học đổi mới sau
1975
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài Nhân vật người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết
Phố của Chu Lai, chúng tôi đặt ra những mục đích sau:
_ Tìm hiểu nhân vật người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu
Lai
_ Chỉ ra một số phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện nhân vật người
lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khóa luận đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu về khái niệm, vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học, nhân vật người lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam hiện đại, quan niệm nghệ thuật về con người trong các sáng tác của Chu Lai
Trang 11Thứ hai: Tìm hiểu các phương diện nội dung thể hiện nhân vật người lính thời
hậu chiến trong tiểu thuyết Phố với hai nội dung chính: Người lính với những bi
kịch ngày trở về, người lính với những phẩm chất tốt đẹp
Thứ ba: Tìm hiểu một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật người lính
thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố: Nghệ thuật miêu tả nhân vật, ngôn ngữ trần
thuật và nghệ thuật miêu tả không gian, thời gian
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Như tên gọi của đề tài, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu: Nhân vật người lính
thời hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tiểu thuyết Phố_Chu Lai (Nhà xuất bản Văn học, 2017)
Đồng thời trong quá trình triển khái đề tài, chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu với các tác phẩm khác và các tác giả khác trong cùng giai đoạn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp:
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp bình giảng
Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Nội dung của khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Một số phương diện nội dung thể hiện nhân vật người lính thời hậu
chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật người lính thời
hậu chiến trong tiểu thuyết Phố của Chu Lai
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Nhân vật văn học
1.1.1 Khái niệm nhân vật
Khái niệm nhân vật được sử dụng rất phổ biến trong đời sống văn hóa nghệ thuật của con người Nó không chỉ xuất hiện trong văn học mà còn được sử dụng trong nhiều loại hình nghệ thuật khác Trong nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc ), nhân vật dùng để chỉ hình ảnh con người, các sự vật, hiện tượng được tái hiện thông qua màu sắc, đường nét, hình khối trong tác phẩm Nhân vật được người nghệ sĩ tái hiện mang tính khách quan có sự tương đồng tương đối rõ nét với hiện thực Đối với nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, nhân vật được hiểu là hình ảnh con người hiện lên thông qua sự diễn xuất của diễn viên Nhân vật có ngôn ngữ, hành động, tính cách tương ứng được thể hiện theo dụng ý nghệ thuật của người sáng tạo tác động chủ yếu vào thị giác, thính giác của người thưởng thức Trong văn học, nhân vật là một phạm trù quan trọng, là yếu tố trung tâm thuộc cấu trúc của tác phẩm Có nhiều khái niệm được đưa ra về nhân vật trong văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục, 2015), tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “ Nhân vật văn học là con người cụ thể
được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng ( Tấm, Cám, chị Dậu, anh ha), cũng có thể không có tên riêng như: thằng bán tơ, một mụ nào trong “Truyện Kiều” ( ) thể hiện quan niệm nghệ thuật và liên tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại ó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với nhân vật khác Cho nên nhân vật luôn gắn liền với cốt truyện” [7-tr.235]
Tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (Nxb Quốc gia,
1999) lại đưa ra quan điểm về nhân vật văn học như sau:“Nhân vật văn học là đơn
vị nghệ thuật mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thực ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần nguyên mẫu có thật Nhân vật
là sự thể hiện quan niệm của nhà văn về con người Nó có thể được xây dựng trên
cơ sở quan niệm ấy”[1-tr.250]
Trang 13Trong giáo trình Lí luận văn học (Nxb Giáo dục, 2007), Hà Minh Đức chủ
biên, đưa ra định nghĩa về nhân vật văn học như sau:“Nhân vật văn học là một hiện
tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách ( ) đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm, hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để thể hiện con người” [5-tr.126]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung những quan niệm này
có một số nội hàm thống nhất Thứ nhất, nhân vật văn học là hình ảnh con người đời sống được đưa vào tác phẩm văn học bằng con đường trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các hình ảnh ẩn dụ: con vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn của con người đời sống được tái hiện qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, được thể hiện thông qua các phương tiện cơ bản là ngôn ngữ Thứ hai, nhân vật văn học là hình tượng mang tính ước lệ và cách điệu mang màu sắc chủ quan thể hiện cá tính, con người, dụng ý nghệ thuật và ý đồ tư tưởng của người nghệ sĩ Nhân vật văn học
là hình tượng mang tính tổng hợp có khả năng tác động vào mọi giác quan của độc giả, người đọc không chỉ nhìn thấy, nghe thấy mà còn cảm thấy sự hiện diện của nhân vật trong trái tim mình Nhân vật văn học có khả năng diễn tả mọi sự thay đổi, vận động của con người không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn cả những diễn biến tâm lí sâu bên trong, tạo nên sự lay động mạnh mẽ cho tác phẩm văn học
1.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học
Trong tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó là yếu tố cơ bản để văn học miêu tả thế giới con người một cách hình tượng Bản chất của văn học là một quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện đời sống qua những chủ thể (nhân vật) nhất định, đóng vai trò như những mô hình của thực tại Nhà văn Tô Hoài cho rằng:
“Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Bởi thế nhân vật là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực đời
sống Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân, về một loại người, hay một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định Chính vì vậy, nhân vật văn học mang tính lịch sử, ở mỗi thời kì khác nhau lại xuất hiện những kiểu nhân vật khác nhau Trong thời kì cổ đại, khi nhận thức của
Trang 14con người về thế giới còn nhiều hạn chế, ta thấy xuất hiện nhiều nhân vật “thần thánh”, cụ thể là ở thể loại thần thoại Có nhiều hiện tượng tự nhiên mà con người chưa thể lí giải được nên họ đã mượn hình ảnh các vị thần ( Lạc Long Quân và Âu
Cơ đẻ ra trăm trứng sinh ra con người, Nữ Oa đội đá vá trời, Các ông tát bể ) để giải thích Từ đó đã tạo ra văn hóa “ thờ thần” ở nhiều quốc gia đặc biệt ở phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Qua đó thể hiện khát vọng muốn lí giải thế giới xung quanh của con người cổ đại
trong những ngày tháng đánh giặc giữ nước thì nhân vật trong văn học cũng là những con người anh dũng, lao động và chiến đấu vì lí tưởng cao cả của dân tộc Cái tôi cá nhân nhường chỗ cho cái ta chung vì mọi người, vì cộng đồng Điển hình như nhân vật chị Lý, mẹ Tơm, trong thơ Tố Hữu, Nguyệt và Lãm trong tác phẩm
Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, chị Sứ trong tác phẩm Hòn đất của
nhà văn Anh Đức, nhân vật Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của nhà văn Nguyễn
Thi và nhiều nhân vật lí tưởng khác xuất hiện trong văn học thời kì này
Sau chiến tranh con người được trở về với cái tôi bản thể, chính vì lẽ đó nhân vật trong văn học hiện đại lại là những cá nhân riêng biệt với những nét tính cách khác nhau Họ không đơn thuần là những anh hùng mà nhân vật văn học thời kì này
có sự đa dạng về sắc thái thẩm mĩ, được khai thác ở khía cạnh như một con người bình dị trong cuộc sống đời thường Đó là kiểu nhân vật người lính bước ra từ cuộc
chiến như nhân vật ông Thuấn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp , Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,Thảo và Nam trong Phố của Chu Lai
Tất cả đã tạo nên sự phong phú và phát triển cho văn học
Thứ hai nhân vật văn học là hình ảnh điển hình của con người trong xã hội, chức năng của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người Tính cách là sản phẩm của môi trường vì vậy nhân vật văn học là những người dẫn dắt độc giả bước vào các môi trường khác nhau của đời sống Đó có thể là môi trường mà độc giả đã thấy trong cuộc sống của chính mình, cũng có thể là những môi trường mới,
từ đó mang đến cho người đọc nhiều trải nghiệm khác nhau
Thứ ba tính cách của nhân vật có vai trò quan trọng trên cả phương diện nội
dung và hình thức đối với tác phẩm văn học Hêghen từng nói: “Tính cách là điểm
trọng tâm của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức” Xét về nội dung, nhân vật
văn học với tính cách của nó là phương tiện để thể hiện tư tưởng của tác phẩm Quan niệm nghệ thuật về con người luôn được nhà văn gửi gắm thông qua nhân vật
Trang 15Văn bản văn học mang tính chủ quan của người viết, vì vậy việc lựa chọn, sắp xếp các chi tiết, sự kiện trong tác phẩm đều hướng đến mục đích làm nổi bật tính cách của nhân vật Thông qua đó, nhà văn bộc lộ tư tưởng, đánh giá của mình về nhân vật nói riêng và một kiểu, một hiện tượng trong xã hội nói chung Chẳng hạn qua
những nhân vật phản diện, những nhân vật có tính cách tiêu cực như Tám Hàn (Đất
trắng) của Nguyễn Trọng Oánh, Huấn (Vòng tròn bội bạc) của Chu Lai, nhà văn
thể hiện sự phê phán, đả kích với những con người tha hóa, biến chất trong xã hội Ngược lại thông qua những nhân vật với tính cách và phẩm chất đáng tự hào như
nhân vật Linh (Nắng đồng bằng), Tùng, Hai Thanh (Sông xa) của Chu Lai, nhà văn
bày tỏ thái độ ngợi ca và trân trọng những người dám vượt lên trên hoàn cảnh để vươn tới những điều cao cả Xét về hình thức, việc nhà văn lựa chọn sử dụng các phương tiện nghệ thuật từ thể loại, kết cấu, ngôn ngữ cho đến các biện pháp khác tất
cả đều hướng đến mục đích là làm nổi bật lên được hình ảnh nhân vật Vì thế, nhân vật được coi là hạt nhân của sự sáng tạo, là trọng điểm để xây dựng các biện pháp nghệ thuật phù hợp
Về phía tác giả, nhân vật là yếu tố mang theo cảm hứng nhân văn, là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Về phía độc giả, nhân vật luôn là chìa khóa để giải mã những vấn đề hiện thực mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm Nó cho thấy vai trò toàn diện của nhân vật, đối với cả mối quan hệ giữa nhà văn- tác phẩm- độc giả
Như vậy có thể khẳng định rằng nhân vật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tác phẩm văn học Thông qua nhân vật, độc giả không chỉ nắm bắt được nội dung, nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm mà còn thấy được tư tưởng thẩm mĩ của tác giả, thấy được sự thay đổi của con người phụ thuộc vào hoàn cảnh và những sáng tạo mới của người nghệ sĩ
1.1.3 Nhân vật người lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam hiện đại
Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước bước vào thời kì hội nhập và phát triển Cùng với đó, văn học Việt Nam cũng bắt kịp với xu thế đổi mới chung của thời đại và có sự khởi sắc mạnh mẽ Hoàn cảnh xã hội thay đổi, văn học theo đó không còn có thể khoác mãi chiếc áo ca ngợi hào hùng, chất sử thi lãng mạn dần khiến bức tranh văn chương nhàm chán và đơn điệu Nhà văn và độc giả mong muốn một nền văn học nhìn vào hiện thực, gắn với đời sống và đa chiều, đa màu hơn Bởi thế, hơn lúc nào hết, mỗi nhà văn đều tự đào sâu, khám phá đời sống đa
Trang 16chiều hơn, không chỉ là cuộc sống sinh hoạt hàng ngày mà còn là mọi mặt của tâm hồn con người
Nhìn chung văn học từ sau 1975 đã phát triển theo hai chặng Chặng đầu kéo dài trong khoảng mười năm từ 1975-1985 và chặng sau là từ năm 1986 trở đi Ở cả hai giai đoạn này tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính vẫn chiếm vai trò chủ yếu, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn cách thể hiện nhân vật người lính thời hậu chiến lại
có điểm khác biệt Nhân vật người lính thời hậu chiến được các nhà văn khai thác trên nhiều phương diện, khía cạnh tạo nên cái nhìn toàn cảnh về người lính ngày trở
về với những con người, số phận khác nhau
Đây được coi là giai đoạn chuyển tiếp trong văn học từ chỗ “trượt theo quán tính cũ” đến chỗ dần xác định cho mình con đường mới Bên cạnh những tác phẩm
mô tả chân thực và sắc nét hiện thực chiến tranh rộng lớn, khốc liệt, gian nan, để đi
đến chiến thắng như: Vùng trời ( Hữu Mai), Đất Miền Đông ( Nam Hà), Năm 75
họ đã sống như thế ( Nguyễn Trí Huân) thì những tác phẩm viết về người lính
thời hậu chiến cũng bắt đầu được quan tâm và thể hiện như: Miền cháy, Những
người đi từ trong rừng ra ( Nguyễn Minh Châu), Sao đổi ngôi ( Chu Văn) Nhìn
chung trong những tác phẩm này, nhân vật người lính vẫn được nhìn nhận bằng nhãn quan sử thi Đó là những con người lí tưởng, tuy có gặp phải bi kịch sau ngày trở về nhưng họ vẫn giữ bản chất tốt đẹp của người lính Cuộc sống thời hậu chiến với nhiều phức tạp khiến cho người lính sau khi trở về cảm thấy xa lạ, khó hòa nhập
vào cuộc sống đời thường giống như nhân vật Liễu trong tác phẩm Sao đổi ngôi Cô
là một thiếu nữ xinh đẹp, tỏa sáng như bông hoa mai rực rỡ giữa những cánh rừng đầy sương khói và mưa đạn Không chỉ xinh đẹp, nhân vật Liễu còn là một nữ công binh anh hùng, gan dạ trong những trận chiến Trong chiến tranh cô là một người phụ nữ lí tưởng nhưng khi trở về với cuộc sống hỗn loạn và dối trá sau chiến tranh
cô lại như một người vô hình Yếu đuối, cô đơn và lạc lõng cô chối bỏ thực tại bằng cách tìm về những năm tháng quá khứ cùng đồng đội tung hoành nơi cánh rừng Trường Sơn Với Liễu, khoảng thời gian đáng sống và ý nghĩa nhất của cuộc đời chính là những năm tháng được sống và chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp Nhân vật
Hiển trong tiểu thuyết Những người đi từ trong rừng ra, từ người chỉ quen với
việc cầm súng, cầm xẻng dò gỡ mìn giờ được đặt vào môi trường của đời sống thường nhật với những nhu cầu, những quan hệ phức tạp cả xã hội và riêng tư, anh
đã gặp không ít những bỡ ngỡ, lúng túng, có cả vấp ngã Nhưng rồi những phẩm
Trang 17chất của người lính được hình thành và rèn luyện trong bao nhiêu năm chiến tranh
đã giúp Hiển đứng vững và tìm thấy vị trí của chính mình trong xã hội Điều này cho thấy tính sử thi trong văn học vẫn còn hiện hữu nhưng đã có những cố gắng, bứt phá, dịch chuyển dần trên cách thể hiện chân thực, sâu sắc và mới mẻ hơn
Văn học giai đoạn này được gọi tên “văn học đổi mới”, “văn học đương đại”
Về đề tài trong văn học đã có sự thay đổi rõ rệt Thay vì cảm hứng sử thi, văn học
đề cập đến cuộc sống thường ngày, về thân phận cá nhân Nếu như ở giai đoạn trước các sáng tác văn học chủ yếu tập trung xây dựng hình ảnh người lính trong cuộc chiến thì đến giai đoạn này nhân vật người lính hậu chiến lại được đặc biệt quan tâm và phản ánh Điều đó bắt nguồn từ tâm thức hậu chiến, mà theo Bôrit
Vatxiliep- một nhà văn của Liên Xô cũ cho rằng: “Những cuộc chiến tranh lớn có
bắt đầu nhưng chẳng bao giờ có kết thúc Nó dai dẳng trên nước mắt những người
vợ góa, người mẹ, nỗi buồn của trẻ mồ côi, tiếng rên rỉ của người lính bi thương Những vết thương trên mặt đất biến dần, bãi chiến trường xưa thay bằng luống cày mới, nhưng rất lâu, rất lâu, trong mẩu bánh mì vẫn lưu lại mùi vị chua của bụi đất
và thương đau”[20] Cùng với sự nở rộ tài năng của các tác giả văn học là hàng loạt
các tiểu thuyết ra đời: Nỗi buồn chiến tranh ( Bảo Ninh), Bến không chồng ( Dương Hướng), Thời xa vắng ( Lê Lựu), Ăn mày dĩ vãng, Vòng trong bội bạc,
Phố ( Chu Lai), Chim én bay ( Nguyễn Trí Huân) Tất cả đều thành công khi
nhìn lại cuộc chiến, nhìn lại quá khứ, khi đặt người lính vào hòa bình cũng như soi
chiếu những góc khuất trong tâm hồn họ Trong truyện Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp, nhân vật ông Thuấn khi ở chiến trường là một vị tướng giỏi chỉ huy hàng trăm người làm nên những chiến thắng lẫy lừng cho dân tộc nhưng khi trở về gia đình sau cuộc chiến vị tướng ấy hiện diện trong cuộc sống như một con người
“thừa” Mọi hành động của ông đều phải dò qua thái độ của các con, ngay cả những việc nhỏ nhất cũng không còn phù hợp với suy nghĩ của lớp trẻ bây giờ Đặc biệt
trong suy nghĩ của Thủy-con dâu ông: “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng Cha
là chỉ huy Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ” Chính suy nghĩ, thái độ vô tâm của các
con làm ông “sợ hãi” Tất cả đi ngược lại với lí tưởng cao đẹp mà trong cuộc chiến ông luôn xây dựng, phấn đấu Ông Thuấn dường như bị gạt ra khỏi chính gia đình của mình tạo ra bi kịch của người lính lạc thời
Trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, là hình ảnh của nhân vật Kiên- một
người lính ám ảnh về quá khứ, để rồi tái nhận thức chiến tranh, dựng lại khuôn mặt
Trang 18chân thực của chiến tranh nghiệt ngã trong đó có cả sự đối trọi giữa bản năng và nghĩa vụ Con người hiện lên như một “nạn nhân” của chiến tranh với những chấn thương tâm lí nặng nề Qua đó, Bảo Ninh đã cho người đọc thấy một khía cạnh khác
về người lính trở về sau ngày trở về
Thời xa vắng của Lê Lựu lại mô tả bi kịch hôn nhân của người nông dân mặc áo
lính Khác với khuynh hướng miêu tả tình yêu lãng mạn đẹp đẽ, tình yêu của Giang Minh Sài gặp nhiều trớ trêu và bất hạnh Anh đánh mất tình yêu với Hương vì không có can đảm đấu tranh cho tình yêu của mình, buộc mình phải lấy Tuyết vì sự sắp đặt của gia đình mà không có tính yêu, vội vàng đến với Châu mà không biết cô chỉ chọn anh như vật thế vai Sài luôn thụ động luôn đưa cuộc đời mình vào tay người khác sắp đặt mà không có can đảm tự quyết định Để rồi mọi nỗ lực tìm kiếm hạnh phúc của anh đều không thành và cuối cùng nhận ra số phận bi thương của mình
Nhà văn Nguyễn Trí Huân trong tiểu thuyết Chim én bay lại xây dựng hình ảnh
người lính đau khổ với những ước mơ về hạnh phúc bình dị mà không thể thực hiện được thông qua nhân vật Quy Vào chiến trường từ khi mới mười ba tuổi, những năm tháng chiến đấu, bị bắt, bị tra tấn thậm chí là cưỡng hiếp đã trở thành vết thương mãi không lành trong tâm hồn và thể xác của chị Sau khi trở về, cũng như bao người phụ nữ khác, chị cũng mơ ước được làm vợ, làm mẹ thế nhưng hậu quả chiến tranh đã tước đi ước vọng đó mãi mãi Cuộc sống của chị là những chuỗi ngày dài trong nỗi cô đơn, buồn tủi và cuối cùng chết vì căn bệnh quái ác
Nhìn chung, đến văn học sau 1986, nhân vật người lính thời hậu chiến hiện
ra với một diện mạo hoàn toàn khác trước Bên cạnh cảm quan sử thi, chủ nghĩa anh hùng cách mạng là cảm quan thế sự đời tư Văn học hậu chiến đã miêu tả người lính bước ra khỏi cuộc chiến đấu, sống trong thời bình nhưng cuộc sống của họ vẫn không hề bình yên, họ phải đối mặt với nhiều bất hạnh, bi kịch Đúng như lời khẳng
định của tác giả Nguyễn Đức Thuận trong bài viết Về hình tượng người lính trong
văn học mấy năm gần đây:“Trước 1975, hình tượng người lính là những người
giàu chất lý tưởng, hầu như không có những mâu thuẫn xung đột nội tâm Sau chiến tranh, hình tượng người lính được nhìn nhận lại với nhiều điểm mới, mà rõ nét nhất
là sự “vênh lệch” giữa phẩm chất người lính, người anh hùng thời chiến trước đây với những ứng xử của họ trong cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ riêng tư… Những người lính trước đây được khắc họa là những người “làm chủ hoàn cảnh”, có khả năng khắc phục mọi trở ngại để đạt được mục tiêu, lý tưởng, thì, nói
Trang 19một cách khái quát, người lính sau chiến tranh chịu sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh, tác động đến số phận và tính cách của con người họ”.[28]
1.2 Tác giả Chu Lai
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học
Chu Lai tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh ngày mùng 5 tháng 2 năm 1946 tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên Ông sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống nghệ thuật, kế thừa niềm đam mê văn chương từ cha - là nhà viết kịch Học Phi Chu Lai bén duyên nghệ thuật từ rất sớm Trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, mới học hết năm đầu Đại học Quân y ở Cầu Tó, Chu Lai đã tạm gác lại chuyện đèn sách lên đường nhập ngũ Vốn là người có năng khiếu nghệ thuật, ông trở thành một diễn viên kịch, công tác trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị, rồi quyết định xin ra trận, trở thành lính đặc công hoạt động ở vùng ven Sài Gòn Sau năm 1973, Chu Lai về làm trợ lí tuyên huấn quân khu VII Đến cuối năm 1974, ông tham dự trại sáng tác văn học Tổng cục Chính trị Sau khi giải phóng Miền Nam, Chu Lai trở về tiếp tục con đường học tập tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa I Đây là nơi tài năng của Chu Lai được bồi đắp và ngày càng phát triển Mang trong mình tâm thế của một người lính sống trong cả hai thời chiến và bình, Chu Lai đã
có những cảm thức sâu sắc về người lính và xã hội thể hiện rõ nét qua sáng tác ở các chặng đường văn học của ông
Chu Lai là nhà văn tài năng, sáng tác trên nhiều thể loại, sự nghiệp văn chương của Chu Lai có thể chia làm 3 chặng đường chính
tay từ khi còn rất sớm Năm 17 tuổi, ông đã cho ra đời vở kịch Hũ muối người Mơ
Nông (1963) Đến năm 1975, truyện ngắn Kỉ niệm vùng ven ra đời Giai đoạn này
Chu Lai sáng tác rất ít tác phẩm chủ yếu là để đăng trên báo chứ không xuất bản Đây được coi là bước tập dượt đầu tiên trong sự nghiệp sáng tác của Chu Lai
của Chu Lai trong sự nghiệp cầm bút, với các tác phẩm tiêu biểu trên nhiều thể loại
như : Người im lặng (1976), tiểu thuyết Nắng đồng bằng (1977), tiểu thuyết Đôi
ngả thời gian (1982), Vùng đất xa (1983), tiểu thuyết Út Teng (1983), tiểu thuyết Gió không thổi từ biển (1985) Đề tài chiến tranh và người lính đóng vai trò chủ
đạo trong sáng tác của Chu Lai, nhưng nhìn chung tác phẩm của Chu Lai thời kì này vẫn mang tính sử thi và chất lãng mạn, ảnh hưởng từ văn học chiến tranh trước đó
Trang 20 Chặng 3: Từ sau 1986: Tiếp nối đề tài chiến tranh và người lính nhưng sáng tác của Chu Lai thời kì này đã mang một hơi thở mới, bắt kịp với xu thế đổi mới của văn học nói chung Hầu hết các tác phẩm đi sâu vào số phận người lính trong và sau chiến tranh, nỗi đau đớn, dằn vặt, vấp ngã, trăn trở của họ khi trở về cuộc sống đời thường Giai đoạn này Chu Lai đặc biệt sáng tác thành công trên thể loại tiểu
thuyết gây được tiếng vang lớn: Sông xa (1986), Bãi bờ hoang lạnh (1990), Ăn
trang (Hội Nhà văn) với tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (1993); giải thưởng Nhà nước
về Văn học nghệ thuật năm 2007… Hiện ông là Trưởng Ban sáng tác Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam
1.2.2.Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Chu Lai
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng, được nói
đến rất nhiều trong văn học GS.Trần Đình Sử trong cuốn Giáo trình thi pháp học
cho rằng: “Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất
quan niệm rất cụ thể” và “ ình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng” [23-tr.23] Quan
niệm nghệ thuật về con người là vấn đề then chốt để nhà văn sáng tạo nên tác phẩm,
là yếu tố cốt lõi xuyên suốt quá trình sáng tác của nhà văn để tạo nên tổng thể một tác phẩm toàn vẹn, thống nhất Quan niệm nghệ thuật về con người phản chiếu cách nhìn nhận của nhà văn với con người người thời đại Đây được coi là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm văn học nói riêng và thành tựu của người nghệ sĩ nói chung
Cùng với yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước mà Đại hội Đảng khóa VI (1986) đã đề ra, với sự đổi mới về văn học nghệ thuật, nhà văn Chu Lai cũng có
Trang 21những quan niệm nghệ thuật mới về con người in dấu ấn mạnh mẽ trong các tiểu thuyết của ông
Trước hết, Chu Lai nhìn nhận con người với tư cách là những con người cá nhân và đặc biệt chú ý tới bi kịch của họ Bi kịch của con người có thể hiểu là sự mâu thuẫn giữa ước mơ, lí tưởng với hiện thực cuộc sống Hiện thực cuộc sống không đủ điều kiện để con người thực hiện khát vọng, mong muốn của mình, vì vậy nhân vật rơi vào bi kịch Bi kịch của nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai được miêu
tả ở nhiều khía cạnh khác nhau: số phận bi kịch, hoàn cảnh bi kịch và tính cách bi kịch Mỗi nhân vật là một con người cá nhận, riêng biệt với số phận khác nhau nhưng cuộc đời của họ đều có chung hai chữ “bi kịch” Đó có thể là bi kịch bị tổn
thương như nhân vật Bảy Thu trong tiểu thuyết Ba lần và một lần Cô trao trọn cả
trái tim lẫn thân xác cho Năm Thành nhưng cuối cùng chỉ nhận lại sự phản bội, vết thương lòng khó mà phai mờ bám theo người con gái ấy từ cuộc chiến sang đến thời bình Đau khổ hơn khi cô chứng kiến sự phản bội của người mình yêu với Tổ quốc Tình yêu, mặc cảm và sự căm hận luôn giằng xé trong tâm can người con gái nhỏ bé
ấy, tạo nên bi kịch cho cuộc đời cô Nhân vật Linh với bi kịch lạc lõng trong chính
cuộc sống của mình trong tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc Trở về Hà Nội, về với gia
đình sau hơn mười năm chiến đấu xa nhà, Linh ngày càng cảm thấy mình lạc lõng giữa xã hội và giữa cả những người thân của anh Đứa cháu mà anh hết lòng thương yêu coi anh như người thuộc thế giới khác Người cha mà Linh kính trọng lại cảm thấy chán ngán và thất vọng về anh Ngươi mẹ tảo tần luôn yêu thương chồng con những có lúc cũng ái ngại và xa lánh anh Phải chăng, mười năm chiến trường đã hình thành nên một khoảng trống vô hình ngăn cách anh và gia đình Chính điều đó đẩy Linh rơi vào bi kịch
Nếu như Út Loan trong tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc rơi vào bi kịch đánh mất mình vì đồng tiền, danh lợi thì nhân vật Ba Sương trong Ăn mày dĩ vãng lại
đánh mất mình vì hào quang quá khứ, khiến cô phải tự chối bỏ tên thật của mình để trở thành Tư Lan, một người đàn bà giàu có, sang trọng, tìm mọi cách để chạy trốn quá khứ, chạy trốn chính mình Có thể thấy viết về bi kịch của người lính cũng chính là cách Chu Lai thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá của mình về những con người trong xã hội, phơi bày hiện thực xã hội đương thời đồng thời bộc lộ tư tưởng nhân văn của nhà văn trước số phận của những người lính trong và sau chiến tranh
Từ đó mang đến cho người đọc cái nhìn đa diện hơn về con người đặc biệt là hình ảnh người lính
Trang 22Không chỉ quan tâm đến số phận bi kịch của con người, Chu Lai còn nhìn nhận con người trên góc độ là sản phẩm của lịch sử Tính cách, phẩm chất của con người được hình thành phần lớn là do yêu cầu của thời đại Lịch sử xã hội như thế nào sẽ sản sinh ra những con người như thế ấy Nếu con người được đặt để đúng thời đại của mình họ có thể phát huy toàn bộ sức mạnh của bản thân và ngược lại khi đặt con người sai môi trường phù hợp thì rơi vào bi kịch là điều khó tránh khỏi Nhiều trang viết trong tiểu thuyết của Chu Lai đã đi vào phân tích số phận của con người khi được đặt trong những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau Đất nước trong những năm chiến tranh ác liệt đã sinh ra những người anh hùng, không cho phép mình bị khuất phục trước bất kì thế lực nào Danh dự lính chiến và nhân phẩm không cho phép họ phản bội lại lí tưởng cao cả, phản bội lại bạn bè thân yêu Đúng
như lời của nhân vật Hai Hùng trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng nói: “ Chúng tôi,
những con trai con gái từ hậu phương lam lũ và đau thương tình nguyện từ trái tim chân thật vào đây để thực hiện ý tưởng giải phóng quê hương ( ) Chúng tôi đã ngã xuống, sẽ còn ngã xuống và có thể ngã xuống tới ngày cuối cùng nhưng không hề oán thán không hề đánh mất đi lòng trung kiên” [17-tr.252] Những con người thời
kì đó phải chịu không ít những tổn thương do chiến tranh gây ra nhưng họ chưa bao giờ hối hận thậm chí chấp nhận hi sinh vì dân tộc vì đồng đội Tuy nhiên, vẫn là những người anh hùng chiến trận đó nhưng khi bước vào thời bình không ít người
đã rơi vào bi kịch vì thước đo giá trị của xã hội mới đã không còn phù hợp với người lính
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Chu Lai còn thể hiện ở việc miêu tả con người mang thuộc tính nhân loại Nhà văn quan tâm đến con người trên tinh thần nhân bản, vì thế ông luôn phân tích hành vi ứng xử cũng như nắm bắt
số phận con người bằng cái nhìn độ lượng và sự thông cảm sâu sắc Khác với con người trong văn học trước 1975 luôn được nhà văn khoác lên mình vầng hào quang
lí tưởng, thay vào đó con người trong quan niệm của Chu Lai trở nên đời thường hơn, chân thực hơn Quan niệm này của Chu Lai được thể hiện rõ ràng qua lời nói
của nhân vật Hai Hùng trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng: “ Chẳng thằng nào đẻ ra
đã là anh hùng Mà anh hùng không biết sợ chết, không biết trao đảo, không biết đôi lúc ngã lòng rồi cắn răng gượng lại thì không phải anh hùng”[17-tr.154] Với
quan niệm ấy, nhân vật trong tiểu thuyết của ông không thiếu những hành động xuất phát từ bản năng con người Những con người ấy cũng có lúc trở nên sợ hãi trước
hiện thực chiến tranh ác liệt như Tuấn trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng “Nửa người
nhô lên khỏi miệng hầm, hai cẳng tay dơ cao, cứng đơ, tạc vào nền trời trống hoác
Trang 23hình thù một tượng đài oán thân” [17-tr.132] Tuấn sẵn sàng khiến mình bị thương
thậm chí mong mỏi để bị thương chỉ vì muốn được thoát ra ngoài, ra được khỏi cuộc chiến, được cáng ra Bắc và trở về nhà Làm gì cũng được, miễn là được trở về, được sống Ngay cả Hai Hùng nhiều lúc muốn tìm đến sự “què cụt” cho mình mà không thành Những hành động đó của nhân vật tất cả xuất phát từ bản năng khao khát sự sống của con người Miêu tả con người bản năng nhưng lại biết vượt lên nó
để hi sinh cho dân tộc, qua đó càng đề cao phẩm chất dũng cảm, kiên cường của nhân vật người lính trong tác phẩm của Chu Lai Viết về những vấn đề xoay quanh bình diện con người mang thuộc tính nhân loại, Chu Lai không chỉ dừng lại ở mối quan hệ giữa con người và chiến tranh, con người với con người mà còn đi sâu lí giải tình yêu mang tính nhân loại Nhiều tiểu thuyết của ông đã xuất hiện những tình
yêu đẹp: Linh- Thúy trong tác phẩm Nắng đồng bằng, Vũ Nguyên- Hà Thương trong tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm, Nam- Thảo trong tiểu thuyết Phố Không chỉ
là tình yêu trong sáng, mơ mộng mà Chu Lai không ngần ngại đả động đến vấn đề tình dục như một nhu cầu mang tính bản năng của con người dù ở bất kì ở thời đại nào Những người lính, họ cũng là những con người bình thường Sau mỗi trận đánh
ác liệt, ở những khoảng lặng hiếm hoi được nghỉ ngơi thì những ham muốn rất đời
thường lại bùng lên mãnh liệt Nhân vật Thu trong tác phẩm Ba lần và một lần
thỉnh thoảng lại mắc căn bệnh kì lạ: “ ang ngồi lau súng đột nhiên lăn đùng ngã
ngửa ra, bọt mép sôi xèo xèo trên miệng, tay chân chòi đạp bấn loạn, cái cạp quần ni- lông trễ xuống dưới hông để hở ra cả một mảng bụng lẫn mảng ngực trắng lốp”
[11-tr.21], căn bệnh ấy chỉ có bàn tay đàn ông mới có thể chữa khỏi được Chính sự khám phá tình yêu, tình dục của con người như một thôi thúc bản năng đã giúp cho nhân vật trong tác phẩm của Chu Lai được thể hiện chân thực, gần gũi hơn
Có thể thấy Chu Lai là một nhà văn có nhiều sáng tạo trong việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Ông quan tâm đến số phận bi kịch của con người, coi con người là sản phẩm của lịch sử xã hội và nhìn nhận con người với tư cách là những cá nhân tự nhiên, nhân bản nhất Điều này đã giúp cho thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông phong phú, hấp dẫn Qua đó thể hiện nhãn quan nhân sinh tiến bộ, phù hợp với yêu cầu đổi mới văn học, nhìn nhận con người ở nhiều phương diện, trên tổng hòa các mối quan hệ xã hội của Chu Lai
1.2.2 Tiểu thuyết Phố của Chu Lai
Tiểu thuyết Phố của Chu Lai sáng tác năm 1992, dựa trên truyện ngắn Phố
nhà binh Ban đầu nhà văn đặt tên cho cuốn tiểu thuyết là Phố lính, sau đó đổi tên
Trang 24thành Phố Phố được coi là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Chu Lai
viết về cuộc sống của những người lính thời hậu chiến Tác phẩm đã đạt giải thưởng tiểu thuyết do Nhà xuất bản Hà Nội bầu chọn năm 1993
Bối cảnh của tiểu thuyết là cuộc sống của những người lính hoặc cựu chiến binh sống trên phố Lý Nam Đế, con phố tập trung các cơ quan và khu tập thể của quân đội ở Hà Nội, giai đoạn đầu những năm đầu 1990 Đó là giai đoạn mà hoàn cảnh kinh tế khó khăn buộc những người bộ đội vốn chỉ quen với việc cầm súng và chiến đấu giờ lại phải làm quen với việc kiếm tiền để đảm bảo cuộc sống mới
Xuất hiện trên những trang đầu của cuốn tiểu thuyết là cuộc sống của đôi vợ chồng quân nhân Nam - Thảo cùng cô con gái Niên Thảo Cuộc sống tuy nhiều khó khăn nhưng vẫn tràn đầy tình, sự trân trọng dành cho nhau Mối tình của Nam và Thảo được nảy sinh từ hồi còn ở chiến trường Đi qua bom đạn quân thù ngọn lửa tình yêu ấy vẫn âm ỉ cháy và thổi bùng lên một cách mạnh mẽ khi họ được gặp lại nhau một lần nữa ngày hòa bình và nến vợ nên chồng Đứng giữa sự thay đổi từng ngày của con người cũng như phố phường, cuối cùng đời sống khó khăn, chật vật
đã bủa vây lấy ngôi nhà nhỏ của Nam và Thảo Vì tương lai, Thảo phải đi lao động nước ngoài ba năm, để lại người chồng với tình yêu nồng cháy và đứa con thơ nhớ hơi mẹ ở lại
Hết thời hạn lao động, cuối cùng Thảo cũng trở về trong sự mừng rỡ của cả gia đình Thảo trở về vẫn là cô gái xinh đẹp ngày nào nhưng tâm hồn lại đổi khác, chính Nam cũng cảm nhận được sự thay đổi từ trong lời nói và suy nghĩ của vợ Trong buổi tân gia nhà mới cũng là ngày Thảo thừa nhận tình cảm với người đàn ông khác
đó là Hùng Cuối cùng, cảm giác tội lỗi với gia đình cũng khiến cho Thảo quyết định chia tay Hùng bằng chuyến đi chơi cuối cùng tại Sầm Sơn Tại đây, cả Thảo và Hùng đã bị vòng xoáy của bão biến cuốn ra xa bờ Bất ngờ Lãm xuất hiện và cứu Hùng thoát chết, nhưng bản thân lại không giữ được tính mạng Thảo và Lãm ra đi mãi mãi Hùng cũng phát điên trong mặc cảm tội lỗi Tác phẩm khép lại trong nỗi đau của những người ở lại
Phố không chỉ là câu chuyện riêng của gia đình Nam – Thảo mà ở đó còn là câu
chuyện của nhiều gia đình, nhân vật khác Trong đó có câu chuyện về gia đình Lãm Lãm xuất thân là một người lính đã từng tham gia chiến tranh biên giới Sau khi giải ngũ anh bị chính người bố ruột cuả mình đuổi khỏi nhà vì cưới một cô gái người miền ngược có nhiều điều tiếng làm vợ Hai vợ chồng anh phải sống tạm bợ ngay trên vỉa hè của con phố Lý Nam Đế Thậm chí, họ còn cho ra đời hai đứa con ngay
Trang 25trên chính hè phố này Nhờ sự nỗ lực, cố gắng, trải qua những ngày tháng khó khăn
chật vật, Lãm đã vươn lên chiến thắng hoàn cảnh Phố còn là câu chuyện về Trọng
Bình- biên kịch điện ảnh, cựu phóng viên quay phim chiến trường và là bạn thân của Nam Luôn quan tâm đến người khác và nói rất hay về triết lý cuộc sống nhưng Bình lại có cuộc sống riêng không hạnh phúc Bình luôn có một ước mong trong cuộc đời của mình đó là làm một bộ phim về đề tài chiến tranh Bất chấp sự lạc thời của đề tài phim ảnh mà anh theo đuổi, Bình đã dành toàn bộ những gì mình có để làm nên bộ phim ấy nhưng anh thất bại
Tiểu thuyết Phố giống như một thước phim chính luận quay chầm chậm các
ngóc ngách của các gia đình trong khu phố lính, không bi tráng, hào hùng nhưng lại
thâm trầm và sâu sắc:“ Phố hiện lên không phô trương, màu mè, không bi tráng,
lãng mạn, không thô tục, phố lính là nơi tập hợp những ngôi nhà nhà binh, những giáo tranh của giá trị cũ- cái truyền thống và các giá trị mới trong thời buổi đất nước mới mở cửa chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Cái chất tình người lính với nhau cũng như nhịp đập nhanh gấp, trầm lắng của mọi người trong khu phố Các xung đột luôn được đẩy nhanh, mừng vui, bi kịch chuyện của
nhân vật chính, phụ Tất cả các chi tiết đan xen với nhau tạo nên Phố hay một bức
tranh chung của toàn xã hội”[3] Qua tác phẩm, Chu Lai đã dựng nên một câu
chuyện dữ dội, sâu cay và thấm đẫm tình người, tình đời Đọc tiểu thuyết này, chúng ta sẽ cảm nhận được sau chiến tranh có những thứ còn đáng sợ hơn cả bom đạn, khói lửa, khiến cho người đọc có những chiêm nghiệm xoay quanh các giá trị đạo đức cơ bản của con người mà ngày nay đôi khi chúng ta vẫn còn tự phân vân, chưa xác định rõ
Trang 26CHƯƠNG 2: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG THỂ HIỆN NHÂN
VẬT NGƯỜI LÍNH THỜI HẬU CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ
CỦA CHU LAI
Có thể nói, Chu Lai đã thể hiện sự nhạy bén của mình trong việc tiếp nối tư tưởng, cách thức thể hiện nhân vật người lính thời hậu chiến trong văn học Việt Nam sau 1975 đồng thời cũng có không ít cách tân sáng tạo, đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người Từ đó, bức chân dung về người lính thời bình cũng được khắc họa một cách rõ nét hơn, được soi chiếu vào cả những góc khuất tận sâu tâm hồn Nhà văn đã khắc họa những chấn thương tâm hồn và những bi kịch của người lính Khi trở về, họ tưởng mình sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn nhưng lại phải đối mặt với một cuộc chiến mới, cuộc chiến của những kẻ cô đơn, lạc thời với cuộc sống xã hội đang thay da đổi thịt ngày một nhanh chóng, cuộc chiến của những con người với tâm hồn bị tổn thương với những nỗi đau của cuộc đời mình Trong cuộc đấu tranh câm lặng mà khắc nghiệt đó, có người bằng ý đã vươn lên chiến thắng trước hoàn cảnh, nhưng cũng có người không đủ bản lĩnh trước sự cám
dỗ đã tự đánh mất mình
Bằng con mắt tinh tế của mình, Chu Lai đã thu nạp hết thảy những mảnh đời,
hoàn cảnh của người lính hậu chiến vào trong các sáng tác của mình Phố là một
cuốn tiểu thuyết trong đó hình tượng nhân vật người lính thời hậu chiến được nhà văn xây dựng kĩ càng trên cả phương diện nội dung và hình thức Những người lính được Chu Lai đem vào đặt giữa cuộc sống xô bồ thời mở cửa của vùng đất thủ đô
Hà Nội Đó là phố Lý Nam Đế- khu phố của riêng những người mặc áo lính những ngày trở về Qua cuốn tiểu thuyết, từng hoàn cảnh, từng số phận nhân vật hiện lên sắc nét trong tâm trí người đọc
2.1 Người lính với bi kịch ngày trở về
Trong quan niệm nghệ thuật về con người của Chu Lai, có thể dễ dàng nhận
thấy việc nhà văn đặc biệt quan tâm đến bi kịch của người lính Tiểu thuyết Phố
chính là một trong những tác phẩm được nhà văn thể hiện rõ nhất quan điểm này
Nhìn từ tương quan các sáng tác của Chu Lai có thể nhận ra sự đối lập rõ nét trong cách thức xây dựng nhân vật thuộc hai thời kì trong chiến tranh và hậu chiến Khi đặt nhân vật trong hoàn cảnh chiến tranh, nhà văn chủ yếu dùng ngòi bút sử thi, lí tưởng hóa để miêu tả nhân vật Dù là nam hay nữ, dù ở độ tuổi nào nhưng ở họ vẫn ánh lên những phẩm chất cao cả như nhân vật Hai Hùng, Ba Sương, Năm Thành
Từ tư thế của người chiến thắng nhưng sau khi kết thúc chiến tranh bước vào cuộc
Trang 27sống mới họ lại trở thành những người thua cuộc Sống trong xã hội mà ranh giới giữa cái cao cả và thấp hèn giờ đây chẳng còn phân định nổi, quá khứ bị chôn vùi một cách tàn nhẫn Giữa thời buổi đảo điên ấy, người cố giữ mình cũng rơi vào bi
kịch, kẻ lao theo vòng xoáy của cuộc đời cuối cùng cũng vẫn là bi kịch Phố chính
là minh chứng rõ ràng cho quan điểm nghệ thuật về con người của Chu Lai- con người với số phận bi kịch
2.1.1 Người lính cô đơn, lạc thời
Xã hội biến đổi nhanh chóng, cuộc đối trọi giữa cái tốt và cái xấu giữa cái cũ
và cái mới đã dẫn đến sự bất đồng trong lối sống của con người Sự mấp mé trên bờ vực chìm xuống của những giá trị cũ, những giá trị đã theo người lính suốt cả thời
kì chinh chiến dần đẩy con người rơi vào tình cảnh cô đơn, lạc lõng Đây là tình trạng thường thấy của những người lính ngày trở về họ cô đơn do không tìm được tiếng nói chung, sự đồng cảm với mọi người giữa xã hội và ngay cả trong gia đình
mình Trong tiểu thuyết Phố, Chu Lai cũng đã xây dựng nên nhân vật người lính cô
đơn, qua đó làm nổi bật lên số phận bi kịch của họ
Dưới ngòi bút của Chu Lai, người lính hiện lên giữa lòng Thủ đô mà sao lại
cô đơn thế Trong thời buổi kinh tế thị trường, giữa cái ngổn ngang bề bộn của cuộc sống, thiên hạ đang tự thoát xác để lao vào làm ăn thì tình yêu thương thôi là chưa
đủ Chỉ với mấy cái bản vẽ công trình phụ của Nam thì không đủ để lo cho cuộc sống gia đình Anh xót xa nhìn người phụ nữ của cuộc đời mình phải nhẩm tính từng đồng, nhìn vào nước da xanh xao của đứa con gái nhỏ, thân là người đàn ông của gia đình mà anh cũng chẳng làm gì được Dù đã cố gắng tự cắt giảm những nhu cầu của bản thân từ việc thôi hút thuốc, thôi ăn sáng, thôi cả thói quen uống nước chè để mong có thể bù đắp phần nào cho con nhưng cũng chẳng thấm thoát vào đâu Nam đành ngậm ngùi để vợ đi xuất khẩu lao động Là trụ cột của gia đình ấy vậy
mà anh lại phải đặt gánh nặng cơm áo lên đôi vai của vợ Nam cảm nhận được sự cô
đơn, bất lực của mình trong cuộc sống hiện tại: “Như Bình nó đã có lần nói, thà rau
cháo đói khát, thà buôn lậu trấn lột để sống còn hơn là để vợ đi cu li cho người ta, ( ) Làm thằng chồng, thằng đàn ông như vậy còn dám ngẩng mặt nhìn ai?”[15-
tr.45] Nam có hoàn cảnh riêng của mình, anh không giống như Bình, anh còn có tương lai của con trước mắt Nam chấp nhận từ bỏ những lí tưởng của bản thân để đổi lấy một tương lai tốt hơn cho gia đình Trong nỗi cô đơn của một người chồng
xa vợ, Nam chỉ biết trông ngóng vào những trang thư vợ gửi về, đối với anh, những
tờ giấy mỏng tanh này còn ngàn lần quan trọng hơn những chiếc vali, những cái
Trang 28Mifa, cái kích được đều đặn gửi về Sự sống, niềm vui nỗi buồn của hai cha con gắn liền với những lá thư đến nỗi có lần Bình- một người bạn thân của vợ chồng
Nam phải thốt lên rằng: “ Thương cho mày, rất thương Nam ạ! Người ta thì vọng
phu mày lại tính tạc một cái tượng đài vọng thê dớ dẩn ngay giữa lòng Hà Nội ngổn ngang chẳng ai vọng ai này hay sao thế”[15-tr.82] Câu nói ngay thẳng có phần bộc
trực của Bình dường như đã đánh trúng vào trái tim đang mỏi mòn vì nhiều nỗi ưu
phiền của Nam, anh chỉ cười mà ánh mắt cứ im lịm dõi vào trong Nam âm thầm
lặng lẽ, gặm nhấm nỗi cô đơn của mình, không nói ra những tất cả đã được thể hiện
ra qua đôi mắt đau đáu của Nam mỗi lần nhìn con, trong ánh mắt đó có cái gì khổ
sở khó nói ra của một người lính
Rõ ràng, Chu Lai đã diễn tả thành công nỗi cô đơn của nhân vật Nam trong
sự bất lực của một người đàn ông là trụ cột gia đình nhưng phải để vợ đi nước ngoài làm kinh tế Từ đó, cho thấy một trong những kiểu bi kịch hoàn cảnh của người lính ngày trở về, để có được tương lai họ phải đánh đổi nhiều thứ
Chu Lai không chỉ miêu tả sự cô đơn của người lính trong cuộc sống mà còn tái hiện một bi kịch khác của họ đó là bi kịch lạc thời Sự vênh lệch trong quan niệm, suy nghĩ giữa các thế hệ của những con người trong gia đình hay giữa con người với môi trường sống đã tạo nên nỗi đau lạc thời cho họ Nhà văn Chu Lai đã miêu tả những nhân vật này từ điểm nhìn bên trong để nhận ra nỗi buồn chất chứa ở sâu tâm hồn của mỗi nhân vật Tuy đã trở về hòa nhập với cuộc sống mới nhưng không ít người vẫn giữ những thói quen cũ như ngày còn làm lính, từ cách ăn mặc,
đi đứng nói năng cho đến cả tính cách Chất lính đã ngấm sâu vào máu thịt, bản thân họ cũng không muốn thay đổi mình như còn muốn níu giữ, nhắc nhở về một thứ gì vô hình mà thiêng liêng của quá khứ, của kí ức chiến trận khó phai trong lòng Trước sự thay đổi chóng mặt của xã hội, họ bỗng chốc trở thành những kẻ khác thường, bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời và ngay chính gia đình mình
Nam không chỉ cô đơn mà còn trở thành một người lạc thời trong chính mối quan hệ với vợ mình Anh lúc nào cũng vậy vẫn giữ sự hồn hậu của một người lính thật thà giản dị, điều mà trước đây đã chinh phục được Thảo Thời gian qua đi chính cách sống, cách suy nghĩ đơn giản hóa mọi chuyện của Nam lại là một vấn đề nghiêm trọng, đẩy anh rơi vào hết bi kịch này đến bi kịch khác Trong cuộc sống gia đình, Khi Thảo đang phải lo lắng trước những khoản tiền ngày một gia tăng theo
cơn bão thị trường thì Nam lại có cách giải quyết nghe có phần đơn giản: “Vị chi tất
cả có hơn một trăm Ăn uống, sắm sanh, quà cáp vào đó nữa, cứ tạm cho là hai
Trang 29trăm đi.( ) Ổn thôi! ( ) cứ sống theo kiểu lính rừng ngày xưa mình sống là đủ”[15-tr.13] Nam vẫn vậy vẫn hồn nhiên như cây cỏ, vẫn ồn ã nắng gió như trước,
nhưng Thảo thì khác Cô thức thời hơn Nam, sớm nhận ra thực tế cuộc sống ngày hôm nay không có tiền, đồng nghĩa với đói nghèo mà đã nghèo thì không thể sống nổi, không thể củ khoai, nắm rau rừng mà qua ngày như trước được nữa, quan trọng hơn là còn tương lai của bé Niên Thảo Trong mắt vợ, Nam là một người quá dễ dãi trong mọi việc từ cái ăn, cái mặc cho đến cả chuyện công việc, địa vị, chưa từng
biết tranh giành của ai hay tính toán để được bất kì ích lợi gì cho mình: “ Người đâu
mà dễ dãi quá thể! Kỹ sư giỏi, cống hiến nhiều, huân chương bằng khen chất đầy hộc tủ mà thế nào cũng xong, làm sao cũng được”[15-tr.15] Nhưng sống trong xã
hội đua chen, những con người như Nam khó mà tồn tại được Chính vì lẽ đó mà Thảo đã quyết định ghi tên đi lao động nước ngoài nhằm mong có hội thay đổi cuộc sống gia đình
Thảo đi lao động bên Đức Ba năm ấy là là những chuỗi ngày cô đơn không
gì bù đắp được của Nam Những chiếc vali chứa đầy những món đồ sang trọng của đất nước tư bản giàu có được Thảo đều đặn gửi về Cuộc sống nhẹ nhàng hơn, có tiền hơn nhưng Nam vẫn chẳng hề thay đổi phong cách lính tráng ngày xưa Nam vẫn giữ nó như một điều tất yếu của con người mình mà không biết rằng nó đã trở nên không còn phù hợp với thời đại và không phù ngay cả trong con mắt của Thảo
Tất cả đã được Chu Lai dự báo trước qua lời của nhân vật Loan: “ Cho đến tận bây
giờ mà anh vẫn không từ bỏ được cái nếp sống quân nhân mô phạm, khô cứng thì cũng lạ thật đấy ( ) Bà chị sắp về rồi anh cũng chuẩn bị lo lột xác đi, kẻo không may ngay lần đầu gặp nhau đã chẳng còn tìm thấy nhau nữa Anh nhớ là chị ấu sắp
từ một đất nước tư bản trở về chứ không phải như trước kia, xách ba lô từ trong rừng ra”[15-tr.222]
Chu Lai đã đẩy bi kịch lạc thời của Nam lên một bậc cao hơn từ ngày Thảo trở về Nhìn từ bên ngoài Nam và Thảo đều thấy được sự nguyên vẹn từ đối phương nhưng khoảng cách hai người nằm ở chính cảm nhận và suy nghĩ Giờ đây, Thảo thực dụng, tính toán nhiều hơn và chẳng còn thích những thứ cũ kĩ của ngày xưa Nam vẫn nhớ Thảo từng rất thích phong lan rừng nhưng khi anh gợi ý trồng chúng
trên sân thượng Thảo lại bật lên một chuỗi cười trong vắt: “Sao lại cứ là phong
lan? Cũ rồi”[15-tr.260] Từ trong những lời nói của Thảo, Nam chợt nhận ra rằng
cô đã dần đổi khác Nhớ ngày khánh thành ngôi nhà mới của gia đình khi tất cả mọi người đều diện những bộ đồ tây sang trọng lịch lãm thì Nam vẫn trung thành với bộ
Trang 30đồ màu lính cũ, chẳng biết nhảy nhót như những người tân thời Nam để vợ nhảy với một người đàn ông khác và không biết rằng bi kịch của anh dần đi đến với một hồi kết đau đớn không chỉ là với anh mà còn với vợ, với con gái Đó là kết quả tất yếu được Chu Lai dự báo qua nhân vật, giữa cái mới và cái cũ khó mà tìm được tiếng nói chung, khó có thể tồn tại và chung sống trong cuộc sống hiện tại
Nếu như Nam là nhân vật lạc thời trong lối sống thì Chu Lai còn xây dựng nên những nhân vật lạc thời trong tâm tưởng, là hình ảnh con người sống với những giá trị cũ, với những lí tưởng cao cả Cái gì có thể thay đổi để sống thì thay đổi nhưng dứt khoát họ không cho phép danh dự, nhân phẩm cốt cách của một người lính bị xã hội hỗn độn này chà đạp, khinh thường Tâm hồn đẹp là vậy nhưng lí tưởng của họ chẳng mấy ai hiểu để rồi cũng rơi vào cảnh lạc thời giữa chính gia
đình, khu phố của mình Ở tiểu thuyết Phố, người đọc bắt gặp hình ảnh một vị
tướng lạc thời trong cuộc sống xô bồ, phức tạp giống như nhân vật Thuấn trong
truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp Cha của Thảo cũng là một vị
tướng, người hi sinh cả tuổi trẻ, hạnh phúc gia đình để tham gia cuộc chiến gian khổ cho đến tận ngày giải phóng Là tướng nên ông luôn gương mẫu trong cả cách hành xử và suy nghĩ Hồi ở chiến trường, ông là tấm gương sáng cho đồng chí, đồng đội noi theo Mang trên mình niềm tự hào ngày trở về, ông đại tướng sau đó cũng nhanh chóng rơi vào hố sâu của sự tuyệt vọng, chán chường, lạc thời trước những thay đổi nhanh chóng của phố xá và tư tưởng con người Bằng cách đó, Chu Lai đã chứng minh một mẫu số chung cho thân phận người lính thời hậu chiến Nhưng ở
nhân vật của Chu Lai cũng có điểm khác, nếu như tướng Thuấn (Tướng về hưu),
khi về hưu ở chung với con cái, mọi việc mà ông làm đều phải dò hỏi qua ý kiến
của cô con dâu thì ông đại tướng- cha của Thảo (Phố) lại khác Ông không muốn
phiền hà đến con cái, độc lập trong việc làm và cách nghĩ Chính sự độc lập ấy lại
tạo ra một khoảng cách giữa ông với cuộc sống hiện tại Về hưu, ông xoay ra: “bán
cà phê cùng người vợ già ngay tại ngay căn phòng mặt tiền rộng có hơn chục thước vuông của mình Nếu bà vợ đứng bán thì ông lụi cụi đập đá, chế nước sôi Nếu khách đông ông sẽ tự tay bưng bê cho thiên hạ”[15-tr.54] Thực ra, ông mở quán
bán cà phê chỉ là để vơi đi nỗi nhớ chiến trường, nhớ công việc ngày còn ở rừng, vơi đi nỗi buồn chán cô đơn khi nhìn xung quanh chẳng còn mấy ai cùng thế hệ,
chẳng còn mấy ai hiểu được nỗi lòng sâu kín của vị tướng già: “Về hưu bắt đầu
thấy buồn quá! Ngày trước mỗi buổi sáng dậy là bốc điện thoại gọi đi hàng chục nơi ( ) thế là nảy ý muốn làm một cái gì đó chứ không ngày nào cũng ngồi nhìn nhau thì chán ốm”[15-tr.55] Mong muốn giản đơn của cả đời tướng sau khi về hưu
Trang 31là chỉ mong cốt kiếm được ba triệu đủ tiền làm ma cho hai ông bà là nghỉ Phải làm cái nghề bưng bê cho kẻ khác cốt kiếm được đồng tiền nhưng ông chưa bao giờ đánh mất lòng tự trọng và danh dự của một người lính Thảo đi nước ngoài gửi về
cũng kha khá tài sản nhưng ông nhất định không chịu nhận: “Có thể bố lạc hậu, bố
lạc lõng vỡi thời cuộc nhưng phải nhận những thứ đồ tư bản này, quả thật bố thấy như đang phản bội lại anh em đồng chí mình” [15-tr.210] Ông không bao giờ quên
được những người đồng đội đã bỏ lại tất cả để lên đường chiến đấu, mãi mãi nằm lại nơi chiến trường xa xôi chỉ vì lòng tham của những quốc gia tư bản Ông cho rằng nhận tiền từ những quốc gia đó là một sự phản bội đối với những người đồng đội xưa Tư tưởng cao cả là vậy nhưng trong xã hội bấy giờ lại là một sự lạc thời,
ngay chính Loan- cô con gái thứ hai của ông đã nói: “Bố dại rồi Hàng hóa nó có
tội vạ gì đâu mà bố tẩy chay nó?( ) dại gì mà bố không nhận? Bố không nhận, cứ
để con”[15-tr.210] Cùng với sự phá vỡ của hàng loạt các giá trị thiêng liêng khác
những người lính như ông giờ chẳng còn nhiều Cái cuộc sống ngổn ngang ngoài kia đã thọc gậy cả vào quan hệ gia đình, khiến cho nếp sống trước kia bị xáo trộn, người lính quay cuồng cố bám víu vào những giá trị xưa để tồn tại nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch Về hưu, chứng kiến sự đổi thay của xã hội, các cửa quán, nhà hàng đèn xanh, đèn mờ mọc lên tỉ lệ thuận với sự suy giảm về đạo đức con người, người lính đứng trước hoàn cảnh đó không tránh khỏi những giây phút bàng hoàng, hụt hẫng Ông đại tướng trở về, cố gắng hòa nhập với cuộc sống mới mà khó thành, một ngày ông bị gã thanh niên xúc phạm Trước những lời lẽ và hành động khiếm nhã của hắn, ông đại tướng cố gắng nín nhịn, cho đến khi hắn xúc phạm đến tư cách
người lính: “Chắc ngày xưa bố là lính hả? Lính thì mới có cái lối căng cứng ngớ
ngẩn như thế Bố không biết, đằng này bảo cho mà biết, bố lại cứ gân giọng, chỉ có
mà chết đói”[15-tr.266] Choáng váng trước sự thật của cuộc đời, sự thật về sự vô
ơn, vô tình của con người phơi bày trước mắt khiến ông cay đắng nhận ra bi kịch
của chính mình: “Sự tò mò cộng thêm tí ti kính trọng về một ông tướng bán cà phê
dần dà sẽ qua đi, cái còn lại dưới con mắt ráo hoảnh của người đời, ông tướng ấy cũng chỉ là một ông già bưng bê không hơn không kém Bưng bê khéo thì người ta khen, bưng vụng thì người ta chán,người ta tẩy chay theo đúng luật đào thải Dại!”[15-tr.267] Từ lần ấy ông quyết định thôi hẳn cái việc bán cà phê Ông không
để có thêm bất kì kẻ nào xúc phạm đến danh dự người lính, cũng không bán đứng bạn bè một thuở uống máu ăn thề để kiếm được mấy đồng bạc đáng xấu hổ ấy cho
dù trong mắt thiên hạ, thậm chí trong mắt cả gia đình, ông có trở thành kẻ lỗi thời,
lạc hậu: “Tôi không còn đủ sức để nghe bọn mất dạy nó so sánh tôi với mấy con đĩ
Trang 32ở quán bên kia Không có ba triệu đồng ma chay như dự kiến, bỏ Không đủ ăn đủ mặc, cũng bỏ Ít nhất mấy năm cuối đời cũng còn giữ lại cái danh dự làm thằng người chứ không phải làm con chó suốt ngày chạy nhông nhông đi đú với thiên hạ”[15-tr.271] Từ khi nhận ra sự lạc thời của mình, không người bầu bạn chia sẻ
ông sống thu mình hơn trước: “thường xuyên ngồi kín ở buồng trong, không muốn
đi đâu, không muốn tiếp xúc với ai, càng không muốn bước chân ra phòng ngoài để phụ bán cà phê với vợ”[15,tr.265] Sự bất lực và bi kịch của nhân vật được hiện rõ
khi giờ đây ông chỉ còn biết trốn chạy Trốn chạy khỏi vợ con, khỏi bạn bè và cả xã hội Bi kịch của ông đại tướng mang tính điển hình chung cho những người sống nhầm thời Nó phù hợp với quan niệm nghệ thuật coi con người là sản phẩm của lịch sử của Chu Lai
Rơi vào bi kịch lạc thời không chỉ có Nam, ông đại tướng mà còn cả anh đạo diễn Trọng Bình Nếu như Nam lạc thời trong cuộc sống, ông đại tướng lạc thời ở
tư tưởng, quan điểm sống thì ở Bình lại là con người lạc thời trong ước mơ, hoài bão Giống như nhiều người ở khu phố nhà binh này, Bình cũng từng là một người lính Khác với nhiều người lính sau cuộc chiến phải lao đao kiếm tiền để cuộc sống gia đình khá hơn, Bình chỉ sống một mình, vài gói mì tôm và chén nước chè qua
ngày cũng xong Bi kịch của Bình bắt nguồn từ ước muốn cháy bỏng của anh: “
Rắp tâm quay các phố này như quay toàn bộ xã hội Việt Nam đương đại”[15-tr.25]
Nhớ hồi trong chiến tranh, Bình xông pha chiến trường để thu lại những thước phim
mà anh phải đánh đổi bằng máu mới có được Khi đất nước thống nhất, anh khao khát thực hiện làm một bộ phim về đề tài người lính như tâm nguyện của cả đời mình nhưng cũng không dễ dàng gì Giờ đây, người ta thích những bộ phim giải trí đâu còn chỗ những bộ phim chính luận của Bình Không đủ khả năng tiền bạc nhưng anh sẵn sàng từ chối sự giúp đỡ của người khác Theo anh, nghệ thuật phải là thứ nghệ thuật thực sự, trong trẻo không bị chi phối bởi bất kì điều gì đặc biệt là
đồng tiền: “Tiền bạc và nghệ thuật, hai cái đó không sống chung được
đâu”[15-tr.174] Điều này chứng tỏ Bình là một người nghệ sĩ chân chính có một ước mơ cao đẹp mang trái tim một người nghệ sĩ và ý trí của một người chiến sĩ
Sau khi nghe lời khuyên từ bạn bè, nghe kĩ cả lòng mình anh tạm thời dẹp bỏ cái ý đồ làm phim về khu phố lính để vào miền Nam, thị trường tiêu thụ điện ảnh của cả nước với ý đồ khác không kém phần quyết liệt, huy động vốn của bạn bè
thực hiện một bộ phim truyện về chiến tranh với quyết tâm: “ hải làm một bộ phim
truyện ra phim truyện về đề tài đang bị khinh rẻ này cho thiên hạ biết
Trang 33mặt”[15-tr.248] Bi kịch của Bình chính là ước mơ làm nên một tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ
về người lính đã đặt sai thời đại Bước chân vào đây, nhìn thấy cuộc sống thật sự
của thứ gọi là nghệ thuật, Bình đã thực sự chán nản, muốn trở về: “ Mới bảng lảng
đi qua mấy cái cửa rạp trung tâm, ghé tai nghe dăm lời bình phẩm của khán giả là cái tự tin đó rạn nứt hoàn toàn”[15-tr.302] Nếu như buổi chiều mưa ấy anh không
vô tình rẽ vào cái trụ sở làm phim trung ương đóng đại diện ở trong này thì có lẽ bi kịch của Bình đã không đau đớn hơn nữa Nhìn những đoàn làm phim Hà Nội khăn
gói quả mướp kéo nhau vào hết đây: “ Anh nhận ra những khuôn mặt đạo diễn, diễn
viên đã một thời là niềm sáng giá của quốc gia, thậm chí quốc tế Sao lại như thế? Sao lại phải kéo cả vào đây để moi móc đồng tiền cuối cùng mong mua được một ngôi sao bản xứ? Sao lại bắt cô gái quan họ vùng Kinh Bắc cũng phải nói tiếng Nam? Nếu không thì sao? Chả lẽ lại chết đói cả à?”[15-tr.303] Những suy nghĩ
nhức nhối về thời thế, về nghệ thuật đã quất thẳng vào danh dự nghề nghiệp của anh Bình quyết định sẽ trụ lại ở chính cái rốn cơn lốc phim trường này để khẳng định chính mình, khẳng định cái gì đó còn cần thiết hơn mình Cái đó là chân lí nghệ thuật Anh tìm đến người bạn cũ vốn là một nhà văn, một nhà biên kịch có tài nhưng giờ cũng chỉ nằm nhà chìm đắm vào khói thuốc phiện để xin một kịch bản chiến tranh, cuốn bản thảo đầy bụi và cứt gián như số phận hẩm hiu của người viết
ra nó Bình đã khóc khi đọc tác phẩm, khóc cho một tuyệt tác vậy mà lại bị người đời vứt bỏ, lãng quên Từ khi đó, quyết tâm tạo nên một tác phẩm nghệ thuật thực
sự hoành tráng về người lính lại càng cháy bỏng trong tâm hồn người nghệ sĩ ấy Anh đi huy động vốn từ bạn bè cũ, chiến hữu cùng thời để tạo nên một tác phẩm khiến tất cả mọi người phải tự hào về người lính Cứ ngỡ rằng có ước mơ chính đáng, có quyết tâm và đạo đức nghệ nghiệp bộ phim ấy phải thành công vang dội, làm rung động làng phim ảnh nước nhà, ấy vậy mà mọi việc đều khác Anh chỉ làm bằng trái tim của một người yêu nghệ thuật và một người lính điều đó đã dẫn đến
hàng loạt sai lầm: “ ãy chân thật như cuộc sống nó vốn như vậy Không ngờ đây
chính là sai lầm thứ nhất mà anh cố tình đưa chân vào Cái lầm thứ hai là anh kiên quyết tước bỏ ráo trọi những cái gì gọi là câu khách rẻ tiền của phim như tắm táp, mông đùi, bệnh hoạn tình dục của những nhân vật nữ trong phim Chưa hết, sai lầm thứ ba anh mắc tiếp là không triệt để sử dụng tiếng trong này mà cho thoải mái người vùng nào cứ nói tiếng thổ âm của vùng đấy ”[15-tr.305] Bộ phim quay ba
tháng thì cơ bản xong nhưng khổ nỗi chẳng ai mua, hết tiền đoàn phim giải thể, Bình mắc nợ “ba trăm triệu” Hệ quả này có thể lí giải bởi ước mơ của Bình đi ngược với thị hiếu của thời đại, người lính có tâm có tài nhưng ý tưởng lạc thời Tác
Trang 34phẩm hay, ý nghĩa nhưng không phù hợp với số đông dân chúng cũng trở nên vô
nghĩa lí “Bây giờ người ta nhất là giới trẻ, có ma nào chịu chui vào rạp, đốt cháy
thời gian, đốt cháy nửa vạn đồng bạc cho những cảnh chết chóc, máu đổ đầu rơi của một thời đã tạo nên niềm tự hào của cả dân tộc? Họ vào rạp cốt để giải trí, để nghỉ ngơi, để được chứng kiến những cảnh huống yêu đương bùi ngùi, ái ân thác loạn, hay ít nhất cũng là những màn dã sử siêu nhân kích thích thói tò mò bạo lực”[15-tr.301] Cũng như những người lính lạc thời khác, Bình trở nên chán
chường, tuyệt vọng Bộ phim anh dành tất cả tâm huyết, sức lực cuối cùng của đời mình để thực hiện gửi gắm biết bao suy tư về những vấn đề mang tính nhân văn, cả niềm tự hào về một thời kì oanh liệt của đất nước có những con người làm nên lịch
sử đã thất bại Bình thậm chí đã nghĩ đến cái chết như một sự giải thoát, giải thoát khỏi đống nợ nần và quan trọng hơn là giải thoát khỏi cảm giác áy náy, xấu hổ của
anh với những người đồng đội còn sống cũng như đã chết: “Vậy chỉ còn cách tốt
nhất là chết Mà chết đối với anh cũng đâu có gì mới áng lẽ ngày xưa anh đã nhiều lần phải chết rồi kia mà”[15-tr.307] Chu Lai đã cho người đọc thấy bi kịch
lạc thời của người lính đau đớn đến thế nào đặc biệt đó còn là bi kịch của ước mơ, hoài bão bị tiêu tan, điều đó đau đớn hơn cả cái chết
Tóm lại nhà văn Chu Lai bằng những trải nghiệm và sự thấu hiểu của mình khi viết về những nhân vật người lính cô đơn, lạc thời đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với cảnh ngộ của người lính Viết tiểu thuyết, nhà văn không chỉ miêu tả những trận đánh nóng bỏng, ác liệt mà đi sâu vào từng số phận nhân vật để thấy được cuộc sống của người lính trở về sau chiến tranh Đặc biệt quan tâm đến bi kịch tinh thần của người lính, nhìn bên ngoài họ có vẻ vẫn vững chắc và kiên cường nhưng thực chất nội tâm lại có nhiều vết thương đang rỉ máu Chiến tranh đi qua những vết thương của chiến tranh dần được hàn gắn, những vùng đất chết nay được hồi sinh nhưng nỗi cô đơn ẩn chứa trong tâm hồn người lính thì không bao giờ mất Không phải họ không nhận ra bi kịch của mình mà là không thể thoát khỏi bi kịch, tất cả chỉ vì hai chữ “thời thế” đã đổi khác
2.1.2 Người lính với tâm hồn bị tổn thương
Với quan điểm đổi mới văn học là nhìn thẳng vào sự thật và khám phá hiện thực, Chu Lai đã không ngần ngại xoáy sâu ngòi bút vào những góc khuất của số phận người lính trở về sau chiến tranh Trong các tác phẩm của Chu Lai nói chung
và tiểu thuyết Phố nói riêng xuất hiện một loại nhân vật đặc biệt mà trước đó còn
thưa thớt và mờ nhạt trong văn học: kiểu nhân vật bị chấn thương Những nhân vật