1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở rộng từ hán việt cho học sinh qua các văn bản thơ mới trong chương trình ngữ văn THPT

62 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ===o0o=== PHÍ THỊ MINH HỒNG MỞ RỘNG TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH QUA CÁC VĂN BẢN THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o===

PHÍ THỊ MINH HỒNG

MỞ RỘNG TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH

QUA CÁC VĂN BẢN THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o===

PHÍ THỊ MINH HỒNG

MỞ RỘNG TỪ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH

QUA CÁC VĂN BẢN THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ THANH VÂN

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khoá luận được hoàn thành với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của cô giáo - TS Nguyễn Thị Thanh Vân Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô - người đã tận tình giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận

Em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy, cô giáo khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy cho em những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện học tập cho em trong suốt bốn năm học tập tại trường

Trong quá trình thực hiện, do điều kiện về thời gian và kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để khoá luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 13 tháng 05 năm 2019

Tác giả

Phí Thị Minh Hồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh Vân Những tài liệu, những nhận định sử dụng trong khoá luận là hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Tác giả

Phí Thị Minh Hồng

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

THPT : Trung học phổ thông

Tr : Trang NXB : Nhà xuất bản

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của khoá luận 5

8 Bố cục của khoá luận 5

Chương 1 KHÁI QUÁT TỪ HÁN VIỆT VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT 6

1.1 Khái niệm 6

1.2 Lịch sử từ Hán Việt 7

1.2.1 Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ Hán 7

1.2.2 Hệ quả tiếp xúc ngôn ngữ Hán 8

1.3 Đặc điểm từ Hán Việt 12

1.3.1 Đặc điểm về ngữ âm 12

1.3.2 Đặc điểm về nội dung 15

1.3.3 Đặc điểm về sắc thái tu từ 16

1.4 Cách sử dụng từ Hán Việt 18

1.4.1 Sử dụng đúng âm 18

1.4.2 Sử dụng đúng nghĩa 19

Chương 2 KHẢO SÁT TỪ HÁN VIỆT TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ MỚI THUỘC SÁCH GIÁO KHOA THPT 21

2.1 Khảo sát và thống kê từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới thuộc sách giáo khoa chương trình THPT 21

2.1.1 Khảo sát và thông kê từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới 21

Trang 7

2.1.2 Những kiến giải về bảng khảo sát và thống kê từ Hán Việt trong

các văn bản Thơ Mới thuộc sách giáo khoa chương trình THPT 24

2.2 Từ Hán Việt - các hiện tượng từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 28

2.2.1 Từ đồng âm 28

2.2.2 Từ đồng nghĩa 28

2.2.3 Từ nhiều nghĩa 30

Chương 3 MỞ RỘNG TỪ HÁN VIỆT TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ MỚI THUỘC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT 32

3.1 Vai trò của từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới 32

3.1.1 Khái quát về Thơ Mới 32

3.1.2 Vai trò từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới 33

3.2 Thuận lợi và khó khăn trong việc học và mở rộng từ Hán Việt cho học sinh qua các văn bản Thơ Mới 38

3.2.1 Thuận lợi trong việc học và mở rộng từ Hán Việt cho học sinh qua các văn bản Thơ Mới 38

3.2.2 Khó khăn trong việc học và mở rộng từ Hán Việt cho học sinh qua các văn bản Thơ Mới 40

3.3 Giải pháp mở rộng từ Hán Việt cho học sinh qua các văn bản Thơ Mới thuộc chương trình Ngữ văn THPT 42

3.3.1 Thống kê từ Hán Việt 42

3.3.2 Phương pháp chiết tự 43

3.3.3 Từ thuần Việt song tồn từ Hán Việt 44

3.3.4 Những phương pháp học từ Hán Việt 45

3.3.5 Dạy từ Hán Việt theo chủ đề 46

3.3.6 Các dạng bài tập từ Hán Việt 48

3.3.7 Tổ chức các trò chơi học tập 48

KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

TÀI LIỆU KHẢO SÁT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tiếng Việt có lịch sử phát triển lâu đời Trải qua thời gian, tiếng Việt có

sự vận động không ngừng cùng với những biến động của xã hội Bên cạnh kho

từ vựng thuần Việt, người Việt còn vay mượn văn tự khác có quan hệ tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ tiếng Việt Người Việt đã thực hiện việc vay mượn một cách chủ động và sáng tạo để tạo nên một hệ thống ngôn ngữ đa dạng và phong phú như ngày hôm nay Trong số đó, phải kể đến sự vay mượn tiếng Hán, nó

đã tạo ra hệ thống từ Hán Việt Đây là hệ thống từ mang nhiều ý nghĩa, có vai trò ngữ nghĩa quan trọng trong ngôn ngữ Vì thế, từ Hán Việt xuất hiện trong mọi khía cạnh của ngôn ngữ, đặc biệt là trong các tác phẩm văn học, các văn bản văn học trong nhà trường

Ngữ văn là môn học quan trọng nhằm cung cấp những kiến thức về ngôn ngữ dân tộc, vì thế việc hiểu và sử dụng từ Hán Việt trong môn học này là vô cùng cần thiết Từ Hán Việt được sử dụng ở Việt Nam bằng nhiều con đường Chúng ta học từ Hán Việt cũng bằng nhiều con đường khác nhau: tự học hỏi, tìm hiểu và vận dụng trong giao tiếp Tuy nhiên đó chỉ là cách học tự nhiên, mang tính tự phát, chưa có hệ thống Vì thế, cần phải có con đường học tập khác là học tập trong nhà trường, bằng cách này chúng ta sẽ được học và mở rộng từ Hán Việt theo một hệ thống Hiểu được tầm quan trọng của từ Hán Việt,

chúng tôi đã lựa chọn đề tài Mở rộng từ Hán Việt cho học sinh qua các văn bản

Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn THPT với mong muốn giúp các em học

sinh phổ thông có cái nhìn sâu sắc hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của từ Hán Việt, cũng như tầm quan trọng việc mở rộng từ Hán Việt của ngôn ngữ dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

Liên quan đến đề tài này, có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu của các

Trang 10

nhà khoa học Từ Hán Việt được nghiên cứu với các phương diện cụ thể: cấu tạo, đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa…Khuynh hướng này phải kể đến công trình

nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu với cuốn giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng

Việt, Từ vựng học Tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp, công trình Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt của Phan Ngọc Các công trình này đã tập trung nghiên cứu

về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ Hán Việt

Nguyễn Văn Khang với Từ ngoại lai trong tiếng Việt tập trung nghiên cứu

từ mượn tiếng Hán trong tiếng Việt, cách đọc cũng như cách phân biệt âm Hán

- Việt Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt của tác giả Lê Đình Khẩn cũng đã tập

trung khảo sát bốn loại đơn vị gốc Hán quan trọng và cách Việt hoá chúng Nghiên cứu từ Hán Việt gắn với nguồn gốc lịch sử, đây cũng là hướng nghiên cứu của nhiều tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Nguyễn Ngọc San là hai nhà

nghiên cứu có những công trình quy mô nhất Với công trình Một số chứng tích

về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, Nguyễn Tài Cẩn đã chỉ ra vai trò của ngôn ngữ

văn tự Hán khi chia lịch sử mười hai thế kỉ của tiếng Việt thành sáu giai đoạn

cụ thể

Năm 1979, công trình Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán

Việt của Nguyễn Tài Cẩn cũng là công trình quan trọng nghiên cứu về lịch sử

của từ Hán Việt Tác giả đã đưa ra chi tiết lịch sử cách đọc Hán Việt, xuất phát điểm cách đọc Hán Việt,…Tài liệu này đã cung cấp những kiến thức quan trọng

về lịch sử của từ Hán Việt, làm nền tảng để tìm hiểu đặc điểm cũng như cách dạy và học từ Hán Việt trong nhà trường

Nguyễn Ngọc San trong công trình Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử đã trình bày

một số vấn đề cụ thể về ngữ âm lớp từ Hán Việt đặt trong quan hệ với lịch sử phát triển của tiếng Việt

Gắn với việc dạy học ở trường phổ thông, nghiên cứu từ Hán Việt mang

ý nghĩa thực tiễn đã có các công trình nghiên cứu Có thể kể đến: Dạy từ Hán

– Việt cho học sinh THPT của tác giả Trọng Canh; Dạy và học từ Hán – Việt ở

Trang 11

trường phổ thông của Trương Chính; Từ Hán – Việt và vấn đề dạy học từ Hán – Việt trong trường phổ thông của Nguyễn Văn Khang; Xung quanh vấn đề dạy

và học từ ngữ Hán – Việt ở trường phổ thông của Lê Xuân Thại; Đặng Đức

Siêu với công trình Dạy học từ Hán Việt ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, 2000; công trình Rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt và mở rộng vốn từ Hán

Việt, NXB Giáo dục, 2001 của nhóm tác giả với Nguyễn Quang Ninh chủ biên

Đào Ngọc, Đặng Đức Siêu, Lê Xuân Thại, Hoàng Trọng Canh với công trình

Từ Hán Việt và cách dạy học từ Hán Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 2009; Giải thích từ Hán Việt trong sách giáo khoa văn học hệ phổ thông của tác giả

Lê Anh Tuấn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005

Bên cạnh đó còn có nhiều bài nghiên cứu về từ Hán Việt đăng trên các

tạp chí như: Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1994 có bài viết Từ Hán Việt và vấn đề

dạy học từ Hán Việt trong nhà trường phổ thông của tác giả Nguyễn Văn

Khang; Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông của tác giả Trương Chính đăng trên tạp chí Tiếng Việt, số 7/1989; Xung quanh vấn đề dạy và học từ

ngữ Hán Việt ở trường phổ thông của Lê Xuân Thại Các bài viết trên đã đưa

ra những tri thức khái quát về từ Hán Việt để từ đó có được cách dạy và học

từ Hán Việt trong nhà trường một cách hiệu quả Có thể thấy các công trình nghiên cứu đã khái quát tương đối đầy đủ về các phương diện của từ Hán Việt

Tuy nhiên, cho đến nay việc mở rộng từ Hán Việt cho học sinh phổ thông vẫn chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu như một đề tài độc lập Đây cũng chính là cơ sở để khoá luận lấy làm đề tài nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là cung cấp những tri thức về từ Hán Việt

và cách sử dụng từ Hán Việt

Trang 12

Khảo sát từ Hán Việt có trong các văn bản văn học thuộc Thơ Mới của chương trình Ngữ văn THPT, phân biệt các từ Hán Việt và từ gốc Hán, hiện tượng từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa trong các văn bản Thơ Mới ở chương trình Ngữ văn trung học phổ thông

Tìm hiểu từ Hán Việt, cũng như việc khảo sát từ Hán Việt có trong các văn bản Thơ Mới, đồng thời ứng dụng từ Hán Việt vào việc học các văn bản Thơ Mới ở trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu những kiến thức nền tảng về từ Hán Việt: khái niệm, đặc điểm, cách sử dụng để có cơ sở tìm hiểu các hiện tượng của từ Hán Việt

Khảo sát, thống kê các từ Hán Việt có trong các văn bản thuộc Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn THPT Qua khảo sát, phân biệt các từ Hán Việt và

từ gốc Hán, hiện tượng từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa trong các văn bản Thơ Mới ở chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Đưa ra ứng dụng của việc sử dụng từ Hán Việt trong việc học các văn bản Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn THPT

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là từ Hán Việt có trong các văn bản Thơ Mới và ứng dụng trong việc học các văn bản Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn THPT

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là từ Hán Việt có trong văn bản Thơ Mới thuộc chương trình Ngữ văn THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nói trên, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp:

Phương pháp nghiên cứu khoa học chung: diễn dịch, quy nạp, tổng hợp Phương pháp khảo sát, hệ thống, phân loại từ Hán Việt có trong các văn bản Thơ Mới ở chương trình THPT, phân chia chúng thành các hiện tượng của

Trang 13

7 Đóng góp của khoá luận

Tìm hiểu về từ Hán Việt, thống kê từ Hán Việt, chúng tôi muốn hướng tới việc mở rộng từ Hán Việt cho học sinh thông qua các văn bản văn học thuộc Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn THPT Từ đó giúp học sinh phổ thông tìm hiểu, học và mở rộng vốn từ Hán Việt, đồng thời thấy được những khó khăn, thuận lợi trong quá trình học tiếng Việt

8 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Khái quát từ Hán Việt và cách sử dụng từ Hán Việt

Chương 2: Khảo sát từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT

Chương 3: Vận dụng từ Hán Việt trong việc học Văn qua các văn bản Thơ Mới

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT TỪ HÁN VIỆT VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT 1.1 Khái niệm

Từ Hán Việt có lịch sử lâu đời, vì thế cho đến nay có khá nhiều thuật ngữ nói về khái niệm từ Hán Việt Những thuật ngữ về từ Hán Việt có những điểm giống nhau và khác nhau

Theo Phan Ngọc, trong Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2000, có nói: “Xét về mặt lịch sử, một từ

Hán Việt là một từ được viết ra bằng chữ khối vuông của Trung Quốc nhưng lại phát âm theo cách phát âm Hán Việt Hán Việt chỉ là cách phát âm riêng của người Việt về chữ Hán.” [ tr 11]

Tác giả Đặng Đức Siêu trong Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông lại cho rằng: “Từ Hán Việt là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ

- văn hoá Việt Hán diễn ra hàng ngàn năm, trong đó chủ trương “chủ động”

và “Việt hoá” là chiều hướng chủ đạo, bộc lộ rõ tài chí thông minh sáng tạo của tổ tiên ta [tr 6]

Tác giả Nguyễn Văn Khang - Từ ngoại lai trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2007: “tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử

dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đều được coi là từ Hán Việt” [tr 131]

Tác giả Nguyễn Như Ý trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học,

NXB Giáo dục Hà Nội, 2003 đưa ra ý kiến về thuật ngữ từ Hán Việt như sau:

“Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng

Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán” [ tr 369]

Đó là nghiên cứu của nhiều tác giả trong nhiều công trình, nhưng để dạy

và mở rộng từ Hán Việt cho học sinh phổ thông, cần có một khái niệm thống

Trang 15

nhất Các nhà biên soạn sách giáo khoa đưa ra khái niệm từ Hán Việt như sau:

“Từ Hán Việt là từ vay mượn của tiếng Hán, nhưng được đọc theo cách phát

âm của tiếng Việt” Bởi đây là khái niệm ngắn gọn, dễ hiểu và đủ để học sinh

biết thế nào là từ Hán Việt Với đối tượng nghiên cứu là từ Hán Việt có trong các văn bản Thơ Mới ở trung học phổ thông, học sinh cần có một khái niệm ngắn gọn, dễ hiểu Các khái niệm khác nhau chủ yếu tập trung vào lịch sử của

từ Hán Việt nên dài dòng, đây là cản trở đối với việc tìm hiểu từ Hán Việt cho học sinh Vì thế, khái niệm của các nhà biên soạn sách giáo khoa đưa ra không chỉ giúp học sinh phổ thông nhận diện được từ Hán Việt mà nó còn hàm súc, giúp việc học của học sinh trở nên dễ dàng hơn Đề tài nghiên cứu của chúng tôi muốn hướng đến việc học và mở rộng từ Hán Việt cho học sinh phổ thông, cho nên chúng tôi đi sâu vào khái niệm của các nhà biên soạn sách giáo khoa, lấy khái niệm này làm cơ sở để nghiên cứu về từ Hán Việt cũng như việc mở rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh phổ thông

1.2 Lịch sử từ Hán Việt

1.2.1 Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ Hán

Dân tộc ta có bề dày hàng ngàn năm lịch sử, đã chứng kiến bao thăng trầm đất nước Việt Nam từng trải qua ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, từ Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc đến Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở ra thời kì độc lập dân tộc Để đạt được độc lập dân tộc, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra với sự chiến đấu quật cường của nhân dân Việt Nam

Bộ máy chính trị của người Hán vẫn đi theo hướng đó là thống trị ngoại bang Dưới sự cai trị của nhà Hán, lúc đầu chính quyền đô hộ phương Bắc chỉ tập trung cai trị ở cấp trung ương, sau đó ngày càng đi sâu xuống cơ sở Chính sách “Hán hoá” bóp nghẹt tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam, cùng với

sự cai trị hà khắc đã được thực hiện ở Việt Nam Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai

Trang 16

Bà Trưng thất bại, bộ máy cai trị ngoại bang ngày càng hà khắc xuống các quận, huyện; thời nhà Đường đến tận làng xã Đây là nhân tố cản trở xã hội cho đến năm 938 nước ta mới giành được độc lập

Chính sách “Hán hoá” được thực hiện bằng cách đưa các chính sách xã hội, lực lượng người Hán vào xã hội Việt Nam bằng nhiều con đường Chúng đưa người Hán vào sinh sống cùng người Việt, văn hóa Hán dần dần xâm nhập vào xã hội, vì thế có sự tiếp xúc sâu đậm, ảnh hưởng chặt chẽ giữa ngôn ngữ Hán và ngôn ngữ Việt Ngoài việc đưa người Hán sang sinh sống cùng người Việt, những người dân bị bắt đi lính cho chính quyền nhà Hán chiếm số lượng tương đối lớn nên càng có sự tiếp xúc chặt chẽ với văn hoá, ngôn ngữ Hán Người Hán thực hiện chính sách truyền bá văn hoá Hán mạnh mẽ và rộng khắp Nhà nước Âu Lạc vào thời kì phân hoá xã hội, hình thành cơ cấu nhà nước đầu tiên cũng là lúc Triệu Đà mang quân sang xâm lược Chính điều này

đã khiến nhà nước Âu Lạc bị ảnh hưởng bởi yếu tố văn hoá, xã hội Trung Hoa Văn hoá Hán du nhập và lan truyền dễ dàng, mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam lúc đó Xã hội, văn hoá Việt Nam ngày càng thấm sâu văn hoá Hán Có thể kể đến một số dẫn chứng như ngôn ngữ của người Việt lúc này chủ yếu là ngôn ngữ Hán, bởi người Hán mở nhiều lớp dạy con em sĩ phu người Hán để kìm kẹp cũng như tuyển dụng người Việt Trình độ Hán học của Nho sĩ Việt ngày càng được nâng cao Trong giai cấp phong kiến Việt Nam, có một bộ phận rất

am hiểu Hán học, nhờ thế mà họ cũng nắm được các tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Nhờ sự tiếp xúc sớm, gắn bó mật thiết với ngôn ngữ Hán nên sau khi giành độc lập, đây là lực lượng ra sức bảo vệ và duy trì, phát triển những nét văn hoá đã tiếp thu được, củng cố, tuyên truyền giá trị và ngôn ngữ chữ Hán, làm cho chữ Hán ngày càng lan rộng, sự vay mượn và ảnh hưởng của tiếng Hán trong tiếng Việt ngày càng lớn

1.2.2 Hệ quả tiếp xúc ngôn ngữ Hán

Ngôn ngữ Hán theo nhiều ngả đường du nhập vào Việt Nam trong gần

Trang 17

một nghìn năm phong kiến phương Bắc đô hộ, nó đã trở thành ngôn ngữ có địa

vị chính thống trong mọi lĩnh vực: chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế…Tiếng Việt lúc này bị chèn ép nặng nề Vì thế, có thể nói đây là giai đoạn tiếng Việt tiếp nhận tiếng Hán nhưng cũng là giai đoạn tiếng Việt bảo tồn và phát triển tiếng nói của dân tộc để không làm mất đi bản sắc ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên, cuộc tiếp xúc diễn ra trong khoảng thời gian dài nên tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ ngữ Hán, tạo ra một lớp từ gốc Hán, làm cho tiếng Việt phong phú hơn rất nhiều Vay mượn tiếng Hán, người Việt đã Việt hoá nó về mặt âm đọc,

ý nghĩa và phạm vi sử dụng để tạo ra những từ Hán Việt Đây là quá trình bền

bỉ tạo ra ngôn ngữ dân tộc, nó thể hiện sự sáng tạo của người Việt

Quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ Hán trong thời gian dài còn đưa đến hệ quả là tạo ra một lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt Quá trình thâm nhập tiếng Hán vào tiếng Việt có thể chia thành 2 thời kì: trước và sau cuộc đô hộ của nhà Đường Từ Hán Việt có thể được vay mượn trực tiếp, dùng nguyên cách đọc của người Trung Quốc, ví dụ: há cảo, sủi cảo, lẩu, vằn thắn, mù tạt Từ gốc Hán trong tiếng Việt được chia thành 2 bộ phận: các lớp từ đọc theo âm Hán- Việt và các lớp từ không đọc theo âm Hán -Việt

1.2.2.1 Từ gốc Hán đọc theo âm Hán- Việt

Lớp từ này chiếm số lượng nhiều trong kho từ vựng tiếng Việt Âm Hán- Việt được hình thành kể từ khi người Hán mở nhiều trường học ở Giao Châu, các tài liệu Hán được truyền bá rộng rãi như kinh, sử,…Tiếng Hán được truyền

bá qua các nhà chùa, sư tăng, việc giảng kinh Phật…Các tác phẩm kinh Phật được ghi, dịch bằng chữ Hán, đã tác động đến tiếng Việt Trên cơ sở Đường

âm được dạy ở Giao Châu, người Việt đã đọc chữ Hán theo cách riêng bởi vì

có sự tác động của hệ thống ngữ âm tiếng Việt, nó khác hẳn với cách đọc Đường

âm của người Hán, đây là cách đọc mang tính hệ thống và các nhà nghiên cứu gọi đó là cách đọc Hán - Việt Những từ vay mượn của tiếng Hán từ đời Đường

Trang 18

về sau, đọc theo âm Hán Việt thì gọi là từ Hán Việt

Được tiếp nhận từ đời nhà Đường cho đến thế kỉ X, khi Việt Nam giành được tự chủ, độc lập Các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn tiếp tục sử dụng tiếng Hán để xây dựng thể chế chính trị, văn hoá Nhưng ngữ âm Hán Việt du nhập và ổn định giúp lớp từ này được sử dụng phổ biến, từ Hán Việt du nhập

và ngày càng mở rộng được sử dụng trong mọi lĩnh vực: xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục…Ví dụ: Sau năm 1945, người Việt biết đến những từ Hán Việt mới như: hiến pháp(憲法), pháp luật(法律), nhân dân

(人民), cử tri(舉知), thương mại(商賣), minh bạch(明白), ngôn luận(言論), lợi nhuận(利潤), thạc sĩ(碩士), lịch sử(歷史), gia đình(家庭), tự nhiên(自然), cải cách(改革), hợp tác(合作), chuyên viên(專員), độc quyền(獨權), giá trị(價值), hợp tác xã(合作社), đấu tranh(鬪爭),…

Lớp từ Hán Việt chiếm số lượng nhiều, khoảng hơn 60% vốn từ tiếng Việt Đây là lớp từ có cách đọc riêng, bao gồm nhiều loại từ và có tính hệ thống nên người Việt dễ dàng nhận ra nhất và cũng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống

1.2.2.2 Từ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt

Chiếm số lượng ít, chia thành 3 loại và khó phân biệt: từ Hán cổ, từ Hán Việt Việt hoá và lớp từ mượn qua khẩu ngữ, cách phát âm địa phương của tiếng Hán hiện đại

Từ Hán cổ: là những từ tiếng Việt du nhập trước thời nhà Đường thông qua giao tiếp bằng lời nói Lớp từ này khi vay mượn không mượn âm Hán Việt, không đọc theo âm Hán Việt nên có thể gọi là lớp từ tiền Hán Việt Lớp từ tiền Hán Việt được người Việt mượn trực tiếp khi tiếp xúc với ngôn ngữ Hán Một

số ví dụ về từ Hán cổ:

Trang 19

Chè: âm Hán cổ của chữ "茶", cách đọc Hán Việt là "trà"

"Bố" trong "bố mẹ": âm Hán cổ của chữ "父", âm Hán Việt là "phụ" Mùi: âm Hán cổ của chữ "味", âm Hán Việt là "vị"

Buồn: âm Hán cổ của chữ "煩", âm Hán Việt là "phiền"

Từ Hán Việt Việt hoá: đây là lớp từ khó xác định và nghiên cứu nhất vì rất khó để xác định từ Hán cổ và từ Hán Việt Việt hoá Trong số những từ Hán Việt du nhập vào Việt Nam từ đời Đường, một số không ít từ đã bị Việt hoá về

cả ngữ âm và ngữ nghĩa, ví dụ như:

Trang 20

Lớp từ mượn qua khẩu ngữ, cách phát âm địa phương của tiếng Hán hiện đại: lớp từ này chiếm số lượng ít, có được do sự tiếp xúc của người Việt với người Trung Quốc Lớp từ này chủ yếu là các từ gọi tên các món ăn hoặc các sản phẩm liên quan đến sinh hoạt của người Hoa

Ví dụ: mì chính, vằn thắn, xá xíu, tào phớ, lẩu, xì dầu, hoành thánh, …

1.3 Đặc điểm từ Hán Việt

1.3.1 Đặc điểm về ngữ âm

Từ Hán Việt chia thành 2 loại: từ Hán Việt đơn âm tiết và từ Hán Việt đa

âm tiết

1.3.1.1 Từ Hán Việt đơn âm tiết

Đây là lớp từ chiếm số lượng nhiều trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, là

từ cấu tạo bằng một tiếng, sử dụng tự do trong tiếng Việt Những từ Hán Việt đơn âm tiết được sử dụng trong tiếng Việt thường là để gọi tên sự vật, đặc điểm, tính chất nên khi đi vào kho từ vựng tiếng Việt chúng vẫn giữ được khả năng hoạt động tự do Phần lớn từ Hán Việt đơn âm tiết là danh từ Ví dụ:

Danh từ chỉ người: phụ 父(cha), mẫu 母 (mẹ), thúc 叔(chú), bá 伯(bác)… Danh từ chỉ vật: thư 書(sách), môn 門(cửa), xa 車(xe) …

Danh từ chỉ bộ phận cơ thể: nhãn 眼(mắt), nhĩ 耳(tai), chân 足(túc), thủ 手(tay),…

Tính từ và động từ trong từ Hán Việt đơn âm tiết, khi đi vào tiếng Việt, khả năng sử dụng độc lập rất hạn chế Ví dụ:

Trang 21

Ẩm 飲(uống)

Những từ nói trên được người Việt sử dụng thường xuyên trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày cho nên trong tâm thức của người Việt đó là những từ thuần Việt

1.3.1.2 Từ Hán Việt đa âm tiết

Lớp từ này chiếm số lượng nhiều hơn hẳn và được tạo ra bằng nhiều cách

Nó đã tạo ra hai loại từ chủ yếu là từ ghép và từ láy

 Từ ghép: có hai loại từ ghép:

- Từ ghép chính phụ (ghép phân nghĩa): “là những từ ghép được cấu tạo

từ hai hình vị theo quan hệ chính phụ Trong đó một hình vị chỉ loại lớn ( sự vật, hiện tượng, tính chất), hình vị còn lại có tác dụng phân hoá loại lớn thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau và độc lập với loại lớn”

[Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, tr.56]

+ Từ ghép chính phụ: Những yếu tố chính của từ ghép có tính chất từ loại khác nhau, với yếu tố chính là động từ Ví dụ: khai sinh(開生), thưởng thức

(賞識), tốt nghiệp(卒業)

+ Từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau Ví dụ: học sinh (學生), thanh niên (青年), thi sĩ (詩士), …

Các yếu tố chính đứng sau có tính chất từ loại khác nhau

Yếu tố chính là danh từ Ví dụ: quốc ca (國歌), hải quan (海關)…

Yếu tố chính là động từ Ví dụ: bình giảng (評講), hoan nghênh (歡迎),

cổ vũ (鼓舞)…

Yếu tố chính là tính từ Ví dụ: tàn nhẫn (殘忍), xán lạn (燦爛)…

- Từ ghép đẳng lập (ghép hợp nghĩa): “là những từ ghép do hai hình vị tạo

nên, trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào

là hình vị phân nghĩa Các từ ghép này không biểu thị những loại nhỏ hơn, trai

Trang 22

lại chúng biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách riêng” [Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, tr.58]

Đơn giản (單簡) = giản đơn(簡單)

Chung thuỷ (終始) = thuỷ chung (始終)

Thiết tha (切磋)= tha thiết(磋切)

Đấu tranh (鬪爭)= tranh đấu(爭鬪)

Biệt li (別离)= li biệt(离別)

 Từ láy

- Từ láy “là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương

thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, tr.40]

- Những từ láy Hán Việt là những từ phải thoả mãn điều kiện: các thành

tố tạo nên từ láy là yếu tố Hán Việt Như vậy, từ láy Hán Việt có thể được tạo

Trang 23

lam lũ, đinh ninh, hồ đồ…

1.3.2 Đặc điểm về nội dung

Từ Hán Việt có nguồn gốc là tiếng Hán nhưng khi du nhập vào tiếng Việt

đã biến đổi ý nghĩa, không còn giữ nguyên nghĩa của tiếng Hán Có một số trường hợp về nghĩa của từ Hán Việt như sau:

1.3.2.1 Mở rộng nghĩa, phát triển thêm nghĩa mới

Ví dụ:

- “thành thục” (成熟) trong tiếng Hán được hiểu là (cơ thể sinh vật) đã đến giai đoạn có thể sinh sản được, nhưng từ Hán Việt lại được sử dụng để nói đến việc đã thuần thục, nhuần nhuyễn một kĩ năng, một công việc nào đó qua một quá trình luyện tập lâu dài và kĩ càng

- “động” (動) có nghĩa là không đứng yên, trong tiếng Việt nó lại được dùng để nói

+ Sự biến động: biển động dữ dội

+ Một khoảng không gian: hang động

- “tống” (送) trong tiếng hán chỉ hành động “tiễn”, nhưng vào tiếng Việt

nó được dùng với nghĩa chỉ hành động mạnh mẽ, quyết liệt: tống cổ, tống khứ

1.3.2.3 Biến đổi nghĩa

Ngoài khuynh hướng mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa của từ, từ Hán Việt còn

có khuynh hướng biến đổi ý nghĩa

Ví dụ:

Trang 24

- “bồi hồi” (徘徊) được hiểu là “đi đi lại lại” nhưng vào trong tiếng Việt

nó được hiểu theo nghĩa “lo lắng, bồn chồn, không yên”

- “lẫm liệt” (凜冽) trong tiếng Hán có nghĩa là “rét mướt” nhưng vào tiếng Việt được hiểu là “oai phong, oai vệ”

Dùng từ “thổ huyết” (吐血) thay cho “phun ra máu”

Dùng từ “xuất huyết” (出血) thay cho “chảy máu”

Các từ với ý nghĩa chỉ tai nạn: hoả hoạn (火患), thương vong (伤亡)… Các từ chỉ hoạt động sinh lí: tiểu tiện (小便), đại tiện (大便)…

1.3.3.3 Sắc thái khái quát trừu tượng

Một số từ Hán Việt có ý nghĩa khái quát cao, nội hàm lớn mà từ thuần Việt không diễn tả được, nhất là những thuật ngữ khoa học Ví dụ:

Về giáo dục: thạc sĩ (碩士), tiến sĩ (進士), giáo sư (教師)…

Về chính trị: độc lập (獨立), dân quyền (民權), nhân dân (人民), cử tri (舉知)…

Về kinh tế: ngoại thương (外商), thương mại (商賣), độc quyền

Trang 25

(獨權)…

Những từ ngữ này mang tính khái quát cao vì nếu ta thay thế bằng những

từ thuần Việt sẽ dài dòng thậm chí là khó hiểu, khó diễn đạt hết ý nghĩa của nó Một số từ Hán Việt còn mang tính trừu tượng Ví dụ: từ “hàn” (寒) thường làm ta nghĩ đến tính chất lạnh, từ “hoả” (火)làm ta nghĩ đến tính chất nóng Từ

“động” (動) gợi ra ý niệm về sự chuyển động, không đứng im của vật

1.3.3.4 Sắc thái cổ kính

Có những từ Hán Việt dùng trong quá khứ đến nay được sử dụng vẫn mang sắc thái cổ kính Ví dụ: ái phi (爱妃), đồng hương (同鄉), tịch dương (夕陽), đoạn trường (斷腸)

Có thể lấy ví dụ về Bà Huyện Thanh Quan, bà là người đã sử dụng nhiều

từ Hán Việt trong các bài thơ của mình để gợi tâm trạng Như trong bài Qua

đèo ngang nhà thơ đã sử dụng những từ Hán Việt thay vì sử dụng những từ

thuần Việt để gợi khung cảnh vắng vẻ qua đó làm nổi bật lên nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của mình Những từ Hán Việt đó làm cho bài thơ mang sắc thái cổ kính:

“Bước tới đèo ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta”

Những từ: “xế tà, tiều, quốc quốc, gia gia” là những từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính cho bài thơ Làm nên khung cảnh hoang sơ cũng như tâm trạng

Trang 26

buồn, cô đơn, nỗi nhớ nhà của tác giả

Tố Hữu cũng sử dụng từ Hán Việt để nói về truyền thống cổ xưa của dân tộc, các từ “ân tình” (恩情), “nhân nghĩa” (仁義), đã được nhà thơ sử dụng:

“Cảm ơn Đảng cho ta dòng sữa

Bốn nghìn năm chan chứa ân tình Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn bạo chúa Kiếp tì nô vùng dậy chém nghê kình”

Như thế có thể thấy từ Hán Việt mang những sắc thái đối lập với từ thuần Việt Vì thế từ Hán Việt chiếm số lượng lớn, được sử dụng rộng rãi trong tiếng Việt và trở thành bộ phận hữu cơ của tiếng Việt

1.3 Cách sử dụng từ Hán Việt

1.4.1 Sử dụng đúng âm

Dùng từ đúng âm có nghĩa là phải hiểu rõ về cách phát âm và phải phát

âm chuẩn từ Hán Việt Điều này không dễ thực hiện trong đất nước Việt Nam,

vì ở mỗi vùng dân cư, mỗi địa phương lại có cách phát âm khác nhau Do những yếu tố ngoại cảnh như địa lí, thời tiết, thổ nhưỡng… mà mỗi vùng dân cư có sự khác biệt về giọng nói, cho nên không thể phát âm chuẩn từ Hán Việt trên địa bàn cả nước

Trang 27

Ví dụ:

Đơn thương độc mã 單槍獨馬 Đơn phương độc mã

Môn đăng hộ đối 門登户對 Môn đăng hậu đối

Dân cư mỗi vùng có những đặc điểm khác nhau nên việc phát âm từ Hán Việt không giống nhau Để khắc phục được điều này cần phải hiểu rõ nghĩa và viết đúng chính tả để có cách phát âm chuẩn xác nhất

1.4.2 Sử dụng đúng nghĩa

Có nhiều trường hợp do không hiểu rõ ý nghĩa của từ nên dùng từ sai ý nghĩa Từ điển là phương tiện và giải pháp hữu ích giúp chúng ta sử dụng từ Hán Việt đúng nghĩa

Ví dụ:

- “thính giảng”: dùng đúng phải là “thỉnh giảng” (請講) Ðây là từ dùng sai, như trong cách nói “Ngày mai, chúng ta sẽ được học với giáo viên thính giảng” “Thính” 聽 (nghe), như vậy “giáo viên thính giảng” (giáo viên nghe giảng) Điều này là vô lí Dùng đúng phải là thỉnh giảng (thỉnh 請: mời), nghĩa

là “được mời giảng dạy ở một nơi khác, trường khác” “Giáo sư thỉnh giảng”

là giáo sư (ở nơi/trường khác) được mời đến giảng dạy

- Sai giữa “bàng quang” và “bàng quan” “Bàng quang” chỉ bộ phận trên

cơ thể người, còn “bàng quan” có nghĩa là làm ngơ, đứng ngoài cuộc

Trang 28

tiễn” là tình hình hiện có thật sự ở trước mắt Hai từ có ý nghĩa khác hẳn nhau Người ta phải nói “thực tiễn cuộc sống” chứ không phải “thực tế cuộc sống”

- “giả thuyết” (假說) và “giả thiết” (假設) “Giả thuyết” được dùng trong trường hợp muốn nêu một luận điểm trong khoa học để giải thích một hiện tượng nào đó và tạm được chấp nhận, chưa được kiểm chứng Còn “giả thiết” lại là “điều cho trước trong một định lí để sau đó đưa ra kết luận của định lí đó”

Có thể thấy từ Hán Việt chiếm số lượng lớn trong kho từ vựng tiếng Việt,

nó mang nhiều sắc thái tu từ nên cần phải sử dụng đúng Để hiểu và sử dụng đúng từ Hán Việt không phải là điều dễ dàng cho nên cần phải tra từ điển để hiểu rõ nghĩa của từ Từ đó phát âm đúng và sử dụng đúng nghĩa, tránh trường hợp không hiểu nghĩa của từ mà vẫn sử dụng dẫn đến cách hiểu sai lệch Không chỉ vậy nó còn làm mất đi ý nghĩa và sự trong sáng của tiếng Việt, do vậy việc dạy và học từ Hán Việt trong các nhà trường hiện nay là việc cần phải chú ý

Tiểu kết chương 1

Qua việc hệ thống hoá kiến thức về từ Hán Việt, chúng ta có thêm những kiến thức và hiểu tường tận hơn về khái niệm, nguồn gốc lịch sử, đặc điểm và cách sử dụng từ Hán Việt Những tri thức này là cơ sở nền tảng cho việc dạy

và học từ Hán Việt Hiểu rõ được khái niệm, đặc điểm của từ Hán Việt, người học sẽ dễ dàng phân biệt được từ Hán Việt cũng như sử dụng nó một cách chính xác trong các trường hợp cụ thể

Trang 29

Chương 2 KHẢO SÁT TỪ HÁN VIỆT TRONG CÁC VĂN BẢN THƠ MỚI

THUỘC SÁCH GIÁO KHOA THPT 2.1 Khảo sát và thống kê từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới thuộc sách giáo khoa chương trình THPT

2.1.1 Khảo sát và thông kê từ Hán Việt trong các văn bản Thơ Mới

Bảng khảo sát từ Hán Việt trong các văn bản Thơ mới thuộc sách giáo khoa THPT

đương, lượng, chi, đồng nội, nhân gian, tuần hoàn, chia phôi, tiễn biệt, chi

sầu, cồn, vãn, đìu hiu, cô liêu, thân mật, sa, hoàng hôn

nhân ảnh, khách, tình

vạn, phôi pha

thước, khúc khuỷu, oai linh, doanh trại, đuốc hoa, man điệu, hồn, đoàn binh, mộng, oai

Trang 30

hùm, biên giới, biên cương, viễn xứ, đoàn binh, chiến trường, độc hành, chia phôi, áo bào

bồn chồn, phân li, chiến khu, thù, đinh ninh, nghĩa tình, sẻ, liên hoan,

cơ quan, ca vang, gian nan, hoà bình, ân tình, thuỷ chung, thành luỹ,

bộ đội, quân thù, chiến khu, điệp điệp trùng trùng, dân công, đoàn, chiến thắng, chiến dịch, nông thôn, phát động, giao thông, cách mạng, giống nòi, điều quân, phòng, dân quân

đồng bào, khuất, hài hoà, đoàn tụ, san sẻ, hoá thân, xứ sở, muôn, thắng cảnh, cần cù, anh hùng, giản dị, bình tâm, di dân, ngoại xâm, nội thù, bại, nhân dân, ca dao, thần

Trang 31

thoại, trả thù

muôn, đại dương

kinh hoàng, hoang, mộng du, vô cùng

Đọc thêm: Nhớ đồng 11 Hiu quạnh, cồn, yên vui,

vạn, hi vọng, cách biệt,

xa xôi, đơn chiếc, hồn, chất phác, thiệt thà, bát ngát

Xa xôi, tương tư, khuê các, giang hồ, liên phòng

tha, bát ngát, phù sa, khuất, vọng, hành quân, bồn chồn, chiến đấu, hồn hậu, văng vẳng, anh hùng, hi sinh, bình minh

vệ quốc quân, liệm, mịt

mù, trơ trụi, hung tàn, bộ

Ngày đăng: 06/04/2021, 14:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w