là một trong những khía cạnh quan trọng của hướng nghiên cứu đó, từ đây có thể đánh giá khá hoàn chỉnh và chuẩn xác về những tác phẩm được nghiên cứu cũng như những đóng góp của tác giả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Việt Hằng
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp Và đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
TS Nguyễn Thị Việt Hằng đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa
luận này
Trong quá trình hoàn thành khóa luận dù đã rất cố gắng xong do trình
độ lý luận và kinh nghiệm vẫn còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được góp ý của các quý thầy cô và bạn đọc để nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Phan Thị Ngọc Hân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào đã từng được công bố trước đó
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình!
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Phan Thị Ngọc Hân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 5
1.1.1 Tiểu sử 5
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 7
1.2 Giới thuyết về không gian và thời gian nghệ thuật trong văn học trung đại 11
CHƯƠNG 2 SỰ THỂ HIỆN KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGÔ NHƠN TĨNH 15
2.1 Không gian nghệ thuật 15
2.1.1 Không gian thiên nhiên, vũ trụ 15
2.1.2 Không gian lữ thứ 21
2.1.3 Không gian đời thường 28
2.2 Thời gian nghệ thuật 32
2.2.1 Thời gian đơn vị 32
2.2.2.Thời gian hồi tưởng 38
2.2.3.Thời gian khoảnh khắc 43
KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6là một trong những khía cạnh quan trọng của hướng nghiên cứu đó, từ đây có thể đánh giá khá hoàn chỉnh và chuẩn xác về những tác phẩm được nghiên cứu cũng như những đóng góp của tác giả trong văn học trung đại Việt Nam
Vào thế kỷ XIX Ngô Nhơn Tĩnh cùng Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định được người đời tôn vinh là “Gia Định tam gia” bởi những thành tựu về văn chương mà ba tác giả đã đạt được Trong đó Ngô Nhơn Tĩnh đóng góp vào kho tàng văn chương ở mảnh đất Gia Định với hồn thơ trong sáng với một tính cách đạm bạc, thâm trầm đầy nghệ sĩ, những lời thơ của ông chan chứa tình cảm về đạo nghĩa quân thần, về quê hương, đất nước và cả những tâm sự khó giãi bày của một tâm hồn đa cảm Nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Liễn
từng nhận xét: “Trong “Gia Định tam gia” thi, Ngô Nhân Tĩnh là người có
nhiều tâm sự trăn trở nhất và cũng là nhà thơ hay nhất Ông làm quan tới Thượng thư mà vẫn bị vua ngờ vực, không tin tưởng.”[15,303]
Hiện nay Ngô Nhơn Tĩnh cũng như các tác giả trong “Gia Định tam gia” phần lớn là được quan tâm bởi giới nghiên cứu chuyên sâu chứ chưa phổ quát một cách rộng rãi Đặc biệt ở trong các chương trình Đại học, phổ thông thì chưa được đề cập đến vì thế việc nghiên cứu về tác giả giúp cho chúng tôi
có thêm những kiến thức về tác giả cũng như thơ ca của ông Với những tác phẩm để lại có rất nhiều phương diện để nghiên cứu về cả nội dung và nghệ thuật thơ Ngô Nhơn Tĩnh, tuy nhiên chúng tôi chọn hướng nghiên cứu về không gian và thời gian nghệ thuật để nhìn nhận và đánh giá thơ của ông
Nghiên cứu đề tài này người viết có cơ hội hiểu thêm về con người, tính cách của tác giả Ngô Nhơn Tĩnh cũng như các tác phẩm của ông Là một sinh viên khoa văn khóa luận này giúp ích cho việc học tập cũng như giảng dạy sau này của tôi đồng thời cung cấp thêm cho bạn đọc những tư liệu về tác giả Ngô Nhơn Tĩnh cũng như không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ của ông
Trang 72
2 Lịch sử vấn đề
Ngô Nhơn Tĩnh là một tác giả trong “Gia Định tam gia” nên khi nghiên cứu các chuyên gia thường đặt ông trong nhóm này để tìm hiểu và đánh giá, ngoài ra cũng có những nghiên cứu riêng về ông tuy nhiên chưa nhiều
Trước năm 1975 thơ của Ngô Nhơn Tĩnh chưa được tìm hiểu cũng
như giới thiệu nhiều đa phần là đặt trong “Gia Định tam gia” để nghiên cứu
“Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm, có nhắc đến Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tĩnh là những nhà thơ, danh thần triều Lê Mạt - Nguyễn Sơ với thông tin sơ giản [4,345]
“Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển xuất bản năm 1957, nhận xét
về “Gia Định tam gia” là “những bậc công thần có công xây dựng cõi Nam, đua nhau nâng cao nền văn hiến Việt Nam” [19,34]
Sau năm 1975 các công trình nghiên cứu về “Gia Định tam gia” đã
xuất hiện nhiều hơn, ngoài việc tìm hiểu một cách tổng quát thì cũng đã có những nghiên cứu riêng biệt về các tác giả trong “Gia Định tam gia”
“Người xưa bàn về văn chương” [8] của Đỗ Văn Hỷ tiếp nối công việc
mà các tác giả đã làm trong cuốn sách “Từ trong di sản” [21] xuất bản năm
1981 Với mục đích là sưu tầm và giới thiệu những phát biểu bàn về văn chương của người xưa, tác giả cũng trích dịch bài tựa của Bùi Dương Lịch viết cho tập “Thập Anh thi tập” của Ngô Nhơn Tĩnh
Năm 1990, “Những danh sĩ miền Nam” của Hồ Sĩ Hiệp và Hoài Anh cũng đã dành khá nhiều trang viết về tác giả và điểm qua một vài tác phẩm của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tĩnh
“Tiến trình văn nghệ miền Nam” của Nguyễn Quang Thắng cũng có giới thiệu về Ngô Nhơn Tĩnh cùng với Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức cũng như các tác phẩm trong “Gia Định tam gia” [22]
“Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh, Gia Định tam gia” của tác giả Hoài Anh [1], xuất bản nhân dịp trùng tu và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa văn miếu Trấn Biên, Đồng Nai, cũng đóng góp đáng kể vào công
Trang 8Những bài viết được đăng trên tạp chí và báo về Ngô Nhơn Tĩnh cũng chưa nhiều:
“Công thần triều Nguyễn: Ngô Nhân Tĩnh” của Nguyễn Triệu đăng trên báo Tri Tân số 6, ngày 8-7-1941 [24]
“Gia Định tam gia trong tiến trình văn học Hán Nôm Nam bộ” và “Ngô
Nhân Tĩnh và tâm sự một nho thần” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học,
số 6 - 2009 của Lê Quang Trường [26]
Từ đây ta thấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến thơ ca Ngô Nhơn Tĩnh còn chưa tập trung đến phương diện nghệ thuật đặc biệt là không gian và thời gian nghệ thuật Vì thế chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này để đánh giá những đóng góp của tác giả một cách toàn diện hơn chính xác hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tác giả Ngô Nhơn Tĩnh, chúng tôi sử dụng văn bản thơ của ông được in trong cuốn “Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, “Gia Định tam gia” (Hoài Anh, nhà xuất bản Đồng Nai)
Thành tựu thơ của Ngô Nhơn Tĩnh nhiều nhưng ở khóa luận này chúng
tôi chú trọng tới không gian và thời gian nghệ thuật trong tập “Thập Anh
đường thi tập”
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện khóa luận này với mục đích là để hoàn thành một nghiên cứu về không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Ngô Nhơn Tĩnh
Trang 94
Để thực hiện được mục đích đó chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau: Tập hợp các tài liệu để khái quát về tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Ngô Nhơn Tĩnh Trên cơ sở đó chúng tôi đi vào phần tích một cách kỹ lưỡng về không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ của ông
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp so sánh đối chiếu
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Sự thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Ngô Nhơn Tĩnh
Trang 105
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.1.1 Tiểu sử
Về tên gọi của tác giả hiện nay có nhiều tài liệu với những cách đọc tên khác nhau như: Ngô Nhơn Tịnh, Ngô Nhân Tĩnh, Ngô Nhân Tịnh, Ngô Nhơn Tĩnh Văn bản chúng tôi tìm hiểu các tác giả sử dụng tên gọi là Ngô Nhơn Tĩnh bởi vậy tôi tôn trọng những nỗ lực dịch và tìm hiểu về tác giả của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi thống nhất trong toàn bộ khóa luận của
mình tên tác giả là Ngô Nhơn Tĩnh
Về năm sinh của tác giả thì các nhà nghiên cứu vẫn chưa rõ Ngô Nhơn Tĩnh sinh năm nào, ông mất năm1813 Tên tự của ông là Nhữ Sơn, hiệu Thập Anh, là một trong “Gia Định tam gia” thi” thuộc nhóm Bình Dương thi xã, và
là một vị quan ở triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam Ngô Nhơn Tĩnh là người gốc ở Minh Hương, nguyên tổ phụ là người Quang Đông khi nhà Minh bị nhà Thanh đánh đổ, tiên tổ ông lánh sang Gia Định lập nghiệp và ông
ra đời tại đây Lúc thiếu thời, ông theo học với thầy Võ Trường Toản ở làng Hòa Hưng (Gia Định), và là đồng môn với Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Tùng Châu Ông dùng tài trí của mình ra giúp nước cũng với hai người bạn học đó là Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đồng thời nhận chức Hàn lâm viện Thị độc
Tháng 6 âm lịch năm Mậu Ngọ (1798) nhờ học vấn giỏi giang và phẩm hạnh ngay thẳng ông được thăng chức Binh bộ Hữu tham tri và cử sang Trung Quốc đi sứ, lãnh quốc thư, theo thuyền buôn sang Quảng Đông thì nghe tin vua Lê băng hà liền quay trở về Sau lần đi sứ đó Ngô Nhơn Tĩnh tỏ ra là người hiểu biết, đúng mực dù thời gian đi sứ ngắn Trên chặng đường đi sứ đầy gian khổ này, Ngô Nhơn Tĩnh cũng đã sáng tác khá nhiều bài thơ với những người bạn ở Trung Quốc, nhưng kín đáo bày tỏ nỗi niềm của người bầy tôi xa quê hương, mong vua biết đến tấm lòng trung thành của mình và
Trang 11ấn sách mà nhà Thanh đã phong cho nhà Tây Sơn Tuy nhiên do đi biển gặp bão nên đến tháng 7 mới đến Hổ Môn quan Đồng thời, đoàn sứ thần cũng giải theo các cướp biển Tề Ngôi giao cho nhà Thanh Trong khi tiếp xúc với các xứ thần của nhà Thanh, Ngô Nhơn Tĩnh thể hiện mình là người thông minh, tài chí và khéo léo Ông dùng tài đối ứng, đấu kế để giữ gìn danh dự cho tổ quốc đồng thời sử dụng văn chương để thuyết phục vua quan của nhà Thanh Năm Gia Long thứ 6 Đinh Mão (1807), ông được sung làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Trần Công Đàn sang Chân lạp, đem sắc ấn đến thành La Bích phong cho Nặc Ong Chân làm Cao Miên quốc vương
Đến năm Tân Mùi (1811), Gia Long năm thứ 10, ông lãnh chức Hiệp Trấn tỉnh Nghệ An Ông làm quan thanh liêm, mẫu mực, không dung túng kẻ tham ô, hết lòng lo cho dân cho nước Khi thấy đời sống nhân dân thảm khổ, ông dâng sớ về kinh xin hoãn nộp thuế, tất cả đều được vua Gia Long phê chuẩn Cũng trong thời gian này ông cùng Đốc Học Nghệ An là Bùi Dương Lịch soạn quyển “Nghệ An Phong Thổ Ký.”
Năm Nhâm Thân (1812), Gia Long thứ 11 ông được thăng làm Thượng thư bộ Công kiêm Hiệp Hành Tổng Trấn tỉnh Gia Định đi kiểm soát tiền lương và văn án các dinh cùng với Tham tri bộ Hộ Lê Viết Nghĩa
Năm Quý Dậu (1813), Gia Long thứ 12, ông cùng Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt (1764-1832) đem hơn 13.000 quân binh hộ tống Quốc vương Nặc Chăn về nước Cùng năm này, sau khi đi hội đàm cùng Xiêm
La (Thái Lan) bàn việc Chân Lạp Đến khi ông về thì bị vu tội tham ô, ăn của đút lót của Chân Lạp và Xiêm La Tổng trấn Lê Văn Duyệt tin thực đem lên tâu vua dù không có bằng cớ, vua Gia Long không quở trách gì, nhưng từ đó vua có ý không tin dùng nữa Chính điều này làm ông đau khổ, uất hận đêm
Trang 127
ngày lo nghĩ mà không sao thanh minh được sự trong sạch của mình mà sinh
ra bệnh, qua mùa xuân năm 1813 ông chết vì bệnh nặng và được an táng ở Gia Định Trong sử sách thì không có ở đâu ghi về đám tang cũng như những nghi lễ được làm trong đám tang của ông Có thể là vua Gia Long lúc đó vẫn còn không hài lòng vì những tin đồn về ông nên những nghi lễ cho đám tang của một công thần đã không được tổ chức
Sau đó nhiều lần Trịnh Hoài Đức có xin vua truy tặng cho Ngô Nhơn Tĩnh nhưng không được vua đồng ý Mãi đến năm Tự Đức thứ 5 (1852), ông mới được phụ thờ vào miếu thờ Trung hưng công thần ở Huế
Sau này khi mộ của ông bị khai phá Người ta thấy có tấm triệu trải trên quan cữu, chữ trên tấm triệu đó có ghi là:
“Hoàng Việt tán trợ công thần, đặc tiến Kim tử đại phu, Chính trị Vinh
lộc thượng khanh Khâm sai Công bộ Thượng thư, hiệp hành Gia Định thành Tổng trấn sự Tĩnh Viên hầu, thụy Túc Gian Ngô phủ quan chi cữu
Hiếu tôn Ngô Tế Thế, Ngô Nhơn Thọ” [1,369]
Nghĩa là:
“Linh cữu của ông quan họ Ngô là một vị công thần giúp đỡ Việt Nam được phong tới chức Kim tử đại phu Chính trị Vinh lộc thượng khanh Khâm sai Công bộ Thượng thư Hiệp Tống trấn thành Gia Định, tước Tĩnh Viên hầu, thụy Túc Gian
Cháu Ngô Tế Thế, Ngô Nhơn Thọ”
đã thất lạc rất nhiều Sự nghiệp văn chương của ông để lại đến hiện tại cho nền văn học nước nhà gồm có:
Trang 138
- Thập Anh đường văn tập: gồm 81 bài kinh nghĩa, lấy đề tài từ Kinh
thi, Kinh thư dùng làm mẫu, tài liệu cho những người đi thi tham khảo
- Thập Anh đường thi tập: gồm 187 bài thơ chữ Hán chủ yếu làm trong
thời gian đi sứ, lúc làm quan và đôi khi xướng họa với bạn bè
- Gia Định tam gia thi tập: gồm một số bài thơ, in chung với thơ của
Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định
- Nghệ An phong thổ ký (Ký Nghệ An): Nội dung sách viết về những
danh thắng, núi sông, cổ tích, phong tục, nhân vật ở Nghệ An Đây được xem là một trong những tác phẩm về địa phương chí sớm nhất của đất Nghệ
An (đất Hoan Châu xưa)
- Hoàng Việt nhất thống dư địa chí: do Lê Quang Định soạn, Ngô
Nhơn Tĩnh nhuận chính
Thơ ca của Ngô Nhơn Tĩnh cũng có nét khá tương đồng với bạn của ông là Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức bởi cùng là thơ đi sứ, thơ bang giao nhằm xúc tiến và tăng cường mối quan hệ ngoại bang và giao lưu văn hóa giữa nước ta và Trung Hoa
Tuy nhiên về tính ngoại giao thì thơ của Ngô Nhơn Tĩnh không đậm
chất bằng của Trịnh Hoài Đức Như trong tập “Thập Anh đường thi tập” thì không có nhiều bài thơ dùng để đáp lại hay gửi tặng các thi sĩ nhà Thanh song
Trịnh Hoài Đức thì có khá nhiều
Khi đi sứ các nhà thơ xưa thường viết đến vinh dự khi được vào chầu vua Trung Hoa tuy nhiên với Ngô Nhơn Tĩnh đó lại là “Minh chiêu cao ngọa bích xa lung” (Ngày mai sẽ nằm cao lông lụa biếc) ý nói dù là vinh hoa nhưng cũng là cái lồng giam người ham danh Mặt khác ông là người có tâm hồn nghệ sĩ nên trên đường đi sứ không ít lần ông say sưa cảnh sắc thiên nhiên mà
làm thơ Ví dụ như “Hà Bắc đạo trung vãn hành” Ngô Nhơn Tĩnh có viết:
Tây phong bắc quách nhật tà huân, Vạn lý chiêu chiên nhãn giới nhân
Hà bảo lâu thành ngân quyển lãng, Nhạc khai đồ họa bích liên vân
Đê sơ nhược liễu sương uy trọng,
Trang 149
Lộ ấp kinh trần vũ trạch ân
Tiếu ngã thông thông ngô vạn tứ,
Sổ thanh lâm ngoại mộ chung văn
Phủ kiếm vị thù bang quốc hận, Bất tài mỗi ngộ hữu bằng lân
(Đồng Trần Tuấn Hà Bình xích hạ chu trung tạp vịnh)
(Vỗ kiếm hận chưa đền nợ nước, Bất tài thường khiến bạn bè thương)
Và đâu đó trong thơ ông còn là nỗi oan và tâm sự khó giãi bày Nỗi oan này còn được Trịnh Hoài Đức nhắc đến trong khi nghe tin ông mất:
Bất bạch chi ngôn tử khả ai
Bán thế hùng tâm không phục nhĩ, Nhị niên đại thể vị hà tai
Trang 1510
Liên khanh khoáng đạt phiên thành tích, Mai oán Trang Sinh nhập dạ đài
(Khi sống làm quan, anh đủ tài sức để thi thố tài năng rộng rãi,
Vì một lời nói mù mờ chẳng rõ mà chết thật đáng đau xót
Hùng tâm nửa đời phí uổng không báo được, Đại thể hai năm biết nói gì đây?
Thương anh tính tình khoáng đạt, lại trở thành khối bệnh, Đành ôm hận Trang Sinh xuống suối vàng)
Nhận xét về thơ ca của Ngô Nhơn Tĩnh “Từ điển văn học bộ mới” có
viết: “Thơ đi sứ của Ngô Nhơn Tĩnh đau đáu nỗi niềm thương nhớ nước Việt Nam (Họa Trịnh Cấn Trai thứ lạp Ông tam thập vận, kỳ tam, Khách trung dạ
vũ, Khách trung thất tịch, Khách trung ngẫu thành ) Nhưng khi về nước, ông ngỡ ngàng nhận ra mình cũng chỉ là một vị “khách” xa lạ trên chính nơi
“chôn nhau cắt rún” của mình Nhất là ở giai đoạn cuối đời, ông phải sống
trong sự nghi ngờ của vua và của một số người (Tiên thành lữ thứ)” [2,1072]
“Là một vị công thần bị bỏ rơi như Ngô Nhơn Tịnh, ông chỉ còn biết ẩn
mình gửi gắm nỗi niềm vào rượu và Ly tao (Thuyết tình ái) Mang nặng nỗi
niềm tâm sự của một vị trượng phu "muốn đền nợ nước" nhưng "tấm lòng chưa thấu đến cửa vua", nên ông luôn tự ví mình như Khuất Nguyên, Hàn
Tín (Lưu biệt Tiên thành chư hữu; Đồng Trần Tuấn, Hà Bình Xích hạ chu
trung tạp vịnh)” [11]
“Thơ ông xót xa, u uẩn nhưng không chất chứa oán hờn, khinh bạc Với lời lẽ trung hậu, thấy trải lẽ xuất xử của kẻ sĩ ở đời Những vần thơ nhiều trăn trở ấy đã tạo nên sức rung động rất lớn.” [10]
Hay trong “Thanh Hiên thi tập” Nguyễn Du đánh giá:
Bát đại kỳ văn hoa lưỡng quốc Nhất xa cao vũ nhuận toàn Hoan
Tức là:
(Văn chương ông hay như tám nhà cổ văn lớn làm tăng vẻ đẹp hai nước
Mưa móc theo sau xe ông thấm nhuần cả châu Hoan) [10]
Trang 16Về không gian thì trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” Hoàng Phê đã lí
giải không gian là: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh đời sống con người” [13,334]
Như vậy qua sự lí giải, cắt nghĩa của Hoàng Phê có thể hiểu “không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu” [8] Và Không gian thực này chính là nguồn gốc là cơ sở để cho mỗi nhà thơ nhà văn sáng tạo nên không gian nghệ thuật
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thì: “Không gian nghệ thuật là hình
thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chính thể của nó” [5,213] Qua đó có thể thấy không gian nghệ thuật là một phạm trù trong hình thức nghệ thuật, đó vừa là phương thức tồn tại cũng vừa là phương thức triển khai của thế giới nghệ thuật Đối với một hay nhiều tác phẩm văn học thì không gian không chỉ là địa điểm là nơi chốn mà nó còn là nơi để bộc lộ quan điểm, tâm trạng của nhân vật hay của tác giả về thế giới xung quanh Hay nói một cách khác dễ hiểu hơn thì không gian nghệ thuật chính là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật cũng vì vậy mà khó có thể tách rời hình tượng
ra ngoài không gian tồn tại của nó
Về đặc điểm thì không gian nghệ thuật thống nhất nhưng lại không hề đồng nhất với không gian khách thể Không gian vật chất tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người tức là không gian vật chất ở đây chỉ biến thành không gian nghệ thuật khi mà tác giả có cảm nhận
về nó sau đó qua các tác phẩm văn học của mình thể hiện một quan điểm về
Trang 1712
thế giới về nhân sinh, một thái độ sống trước sự việc hay rộng hơn là cuộc
đời Như trong phần I của “Tiên hành lữ thứ” Ngô Nhơn Tĩnh viết:
Bản trản cô đăng khách mộng tàn, Bách niên tâm sự thoại vưu nan
Lão thiên bất dữ nhân phương tiện, Mạc mạc minh minh nhất thái khoan
của tác giả sau đó tái hiện lại qua “Tiên hành lữ thứ”.Ở đó tác giả tái hiện lại
ngọn đèn lẻ loi như chính bản thân mình không tìm được người tâm sự, không được trời cao giúp đỡ tương lai trở nên mịt mờ
Ngoài ra, không gian nghệ thuật trong các tác phẩm văn học còn luôn
có một ranh giới để phân biệt với không gian thực bên ngoài tuy nhiên không phải lúc nào cái ranh giới này cũng hiện lên một cách rõ nét và chắc chắc, đôi khi đó chỉ là sự mờ nhạt khó phát hiện, cũng khó nắm bắt Và một điều nữa không thể không nhắc đến đó là không gian nghệ thuật thì mang nhiều ý nghĩa cảm xúc và có tính ước lệ cao
Về thời gian nghệ thuật theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” thì “thời gian là một phạm trù triết học, cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới có tính xác định” [13, 345] Qua định nghĩa trên có thể thấy nhờ có thời gian mà ở đó thế giới vật chất được xác định và dĩ nhiên được xác định bởi thời gian thế giới vật chất đã, đang và sẽ biến đổi không ngừng
Trang 1813
Và cũng theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì thời gian nghệ thuật
là “Hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [6,67] Thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù thuộc thi pháp của tác phẩm văn học Đây vừa là một hình thức hiện hữu lại vừa là một hình thức tư duy của con người được diễn đạt lại bằng ngôn từ trong quá trình mà tác giả miêu tả tính cách, hoàn cảnh hay cả con đường đời của mỗi nhân vật
Thời gian nghệ thuật cũng chính là phương tiện nghệ thuật để tác giả nhận thức, tiếp nhận hiện thực và phản ánh đời sống trong văn chương Cũng bởi đó mà thời gian nghệ thuật mang tính chủ quan của người viết khá rõ nét
“Thời gian nghệ thuật luôn mang tính cảm xúc (tâm lý) và tính quan niệm, do
đó đầy tính chủ quan” [12] Tính chủ quan của thời gian nghệ thuật được thể hiện rõ ở các cách cảm nhận, miêu tả, tái hiện thời gian của tác giả và dĩ nhiên mỗi tác giả sẽ có cách thể hiện khác nhau Bởi ở đây, các tác giả có toàn quyền sử dụng, phản ánh thời gian theo nhu cầu và mục đích của riêng mình
để phù hợp với hình tượng, nhân vật cũng như sự kiện mà mình muốn phản ánh mà không gặp bất cứ một cản trở nào
Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ mang ý nghĩa rất quan trọng, bởi thông qua không gian và thời gian bạn đọc có thể xác định được những giá trị nghệ thuật của tác phẩm Trần Đình Sử nói rằng không gian nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương là không gian “buồng khuê”, nếu thơ của Hồ Xuân Hương đặt ra khỏi không gian đó thì nó sẽ mất đi một lớp nghĩa nữa, bởi thơ Hồ Xuân Hương viết nhiều về khát khao hạnh phúc cá nhân dù khát vọng này bị cấm đoán trong văn học trung đại nói chung:
Một đèo một đèo lại một đèo, Khen ai khéo vẽ cảnh treo leo
Cửa son tía ngắt lơ thơ móc, Đường đá xanh rì lún nhún rêu
Phưởng phất chồi thông cơn gió tốc, Mịt mờ ngọn cỏ lúc sương reo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng, Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo
(Đèo Ba Dọi)
Trang 1914
Ở đây nếu đặt thơ của Hồ Xuân Hương ra khỏi không gian “buồng khuê” thì bài thơ không thể toát ra lớp nghĩa thứ hai đó là chuyện ham muốn của vua chúa đối với việc “chèo đèo” Người đọc có thể nhận ra ngoài cái đèo thật mà Hồ Xuân Hương diễn tả là hình ảnh của một cái “đèo khác”
Hay trong “Truyện Kiều” thời gian đêm ở đây được Nguyễn Du dùng
để khắc sâu thêm tâm trạng buồn sầu, cô đơn của Thúy Kiều
Trang 2015
CHƯƠNG 2
SỰ THỂ HIỆN KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ NGÔ NHƠN TĨNH
2.1 Không gian nghệ thuật
2.1.1 Không gian thiên nhiên, vũ trụ
Cũng giống như nhiều tác giả văn học trung đại cùng thời khác Ngô Nhơn Tĩnh cũng sử dụng không gian thiên nhiên, vũ vụ để bộc lộ hoài bão, khát khao nghiệp lớn và niềm mong mỏi trả ơn vua đền nợ nước Người đọc
có thể bắt gặp không gian này trong những sáng tác của ông chẳng hạn như ở
“Đăng nhạc Lâu Dương vọng Động Đình” ông viết:
Vạn lý nam lai độc thướng lâu, Mang mang thiên ngoại Động Đình thu
Vũ hàn Sở quốc tông thần lệ, Vân ám Quân sơn đế nữ sầu
Cô mễ thực dư miêm nhạn phố, Yên ba điếu bãi bạc ngư chu
Ngũ hồ tri ngã tâm đồng đạm, Thiết địch vô thanh thủy tự lưu
(Đăng nhạc Lâu Dương vọng Động Đình)
(Từ nam tới, bước lên lầu, Động Đình xa thẳm màu thu tuyệt vời
Mưa như lệ Khuất Nguyên rơi, Sầu Đế nữ ám mây trời quân sơn
No nỗi nhạn ngủ bên cồn, Câu xong, khói sóng đậu con thuyền chài
Ngũ hồ khách hiểu ta rồi,
Vô thanh sáo sắt, nước trôi vô tình)
Trên mảnh đất in đậm dấu vết của văn chương - Trung Quốc, giữa không gian đẹp rộng lớn, nhưng sâu thẳm một nỗi buồn xuất hiện hình ảnh con người
Trang 2116
nhỏ bé, bơ vơ giữa đất trời Tác giả bước lên lầu cao để phóng tầm mắt ra xa rộng, qua mắt nhìn của nhà thơ người đọc có thể hình dung ra được một không gian mênh mông với màu thu đẹp tuyệt vời nhưng được bao trùm bởi một nỗi buồn mà ông nhắc tới Không gian vũ trụ mênh mông đó khiến cho Ngô Nhơn Tĩnh nhìn hồ Động Đình mà muốn noi gương Phạm Lãi giúp Việt vương câu Tiễn diệt Ngô rồi cùng Tây Thi đi chu du Ngũ hồ nhưng đến khi nhìn thấy tấm bình phong khắc “Nhạc Dương lâu ký” lại nhớ đến câu “Tiên thiên hạ chi ưu
nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (tức là “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau
cái vui của thiên hạ”) Rồi ông lại nhớ đến người suốt đời lo cho dân cho nước Khuất Nguyên thì Ngô Nhơn Tĩnh lại tự thấy bản thân chưa được phép an nhàn bởi nhân dân vẫn còn cực khổ, còn đói lạnh Ở đây con người được đặt vào một không gian hùng vĩ, hoang sơ mà đẹp như tranh vẽ, những tưởng con người sẽ
bị cuốn vào thiên nhiên, đắm chìm trong cảnh sắc hồ Động Đình thì bất giác người lữ khách nhớ đến trách nhiệm đền nợ nước Con người bé nhỏ trước thiên nhiên khi đó bỗng chốc làm chủ được không gian trở nên to lớn vĩ đại bởi tấm lòng trung quân ái quốc
Hay trên dòng Xích Hạ hai bên bờ gió thổi cỏ bồng, giữa dòng một cành củi khô rơi xuống bị nước cuốn đi, ngay ở không gian đó con người xuất hiện như một sự đối lập với cảnh vật nhỏ bé, cô đơn khi bộc lộ khát vọng nghiệp lớn, mong ước vua thấu được lòng thành của kẻ trượng phu trong
“Đồng Trần Tuấn Hà Bình, Xích hạ chu trung tạp vịnh” bài 2:
Phiêu bồng, đoạn ngạnh cộng du du, Không đới nam quan vạn lý sầu
Tráng sĩ tự năng thù quốc trái, Trượng phu thùy khẳng vị thân mưu
Phiến tâm vị đạt môn trùng toản, Nhất sự vô thành lệ ám lưu
(Đồng Trần Tuấn Hà Bình, Xích hạ chu trung tạp vịnh, 2)
(Gió thổi bồng, nước trôi cành gãy, man mác cảnh phiêu lưu Trùm đầu mũ phương Nam, mà đeo sầu ở nơi quan san muôn dặm Tráng sĩ bèn gan cần phải đền bồi nợ nước,
Trang 2217
Trượng phu lập chí nghĩ đâu riêng mình
Cửa vua mấy lần khóa thâm nghiêm, tấm lòng thành chưa hay thấu tới Nước mắt biết bao phen sùi sụt, một việc gì cũng chẳng làm xong)
Đó là năm 1798, Ngô Nhơn Tĩnh được phong chức Binh bộ Tham tri, sang Trung Quốc hỏi thăm tin tức vua Lê Đây là lần đi sứ không chính thức của Ngô Nhơn Tĩnh khi đất nước vẫn còn trong tình hình chiến loạn Với tâm thế đó, ông mang tâm trạng của người như buộc rời khỏi chiến trận quê nhà khi các bạn ông vẫn đang bận rộn việc quân Vì thế, bài thơ làm trong giai đoạn này mang nỗi niềm phức tạp, vừa như được ơn tri ngộ của vua, vừa như
tự dằn vặt bản thân đã thoát khỏi trận tuyến không ở quê nhà lo việc quân
Đối với Ngô Nhơn Tĩnh dốc hết lòng son báo đáp ơn vua, đất nước là ý nguyện lớn nhất trong đời Điều này cũng đã được ông nhắc đến trong “Đối kính”:
Báo quốc đan tâm tận,
Tư hương bạch phát tân
(Đối kính)
(Báo nước dốc hết lòng son, Nhớ quê tóc trắng thêm mãi.) Hay dù là vượt biển rộng, vượt non cao người nam tử cũng không hề ngại ngần vì nghiệp lớn, khí đó chí khí của kẻ trượng phu sánh ngang với trời đất, bao trùm khắp cả không gian
Tằng kinh thương hải dương dương đạo, Cánh lịch thanh sơn bộ bộ cao
Vạn kim bảo kiếm trường thiên ngoại, Bất quý nam nhi chí khí hào
(Nhâm tuất niên mạnh đông sứ hành do
Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây hoạ Trịnh
Cấn Trai thứ Lạp ông tam thập vận, 19)
(Từng vượt qua biển rộng mênh mông xanh thẳm, Từng trèo núi non xanh ngát cao cao
Thanh kiếm báu giá ngàn vàng vẫn còn ở ngoài trời xa,
Trang 2318
Làm trai chẳng thẹn, chí khí hào sảng ngút trời.) Không gian rộng lớn ấy là không gian để nói đến chí lớn của người quân tử Tác giả dựng lên một không gian biển rộng mênh mông, núi non bát ngát cùng với sự vượt qua những khó khăn hiểm trở đó để diễn tả chí làm trai Hình ảnh con người lúc này được đặt trong tư thế đối ngược với thiên nhiên,
vũ trụ, đó là con người vượt qua biển rộng trời cao vì nghĩa lớn, chí khí của
kẻ làm trai ngang tầm vũ trụ Chí trai ở đây được hình dung qua hình ảnh
“thanh kiếm báu giá ngàn vàng” vẫn còn ở mãi phía trời xa cho nên khát vọng của ông lớn đến ngút trời để xứng đáng với phận làm trai trong thiên hạ
Không gian thiên nhiên vũ trụ có lúc lại khiến tác giả bận lòng với bao nhiêu là suy nghĩ, trên thuyền từ Quảng Đông đến Quảng Tây ông viết:
Nhật Trí chí sơ đông dạ tiệm trì, Thiên tương ảnh sắc cánh tương nghi
Sương ngưng quất diệp châu thiên khỏa, Tuyết điểm mai hoa ngọc nhất tri
Quế lĩnh lĩnh đầu vân biến thái,
Ba giang giang thượng thủy lưu kỳ
Anh hùng sự nghiệp đồng kim cổ, Mãn mục sơn hà hữu sở tư
(Nhâm tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng Đông thuỷ
trình vãng Quảng Tây hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp ông tam thập vận, 4)
(Ngày tới đầu đông đêm dần chậm, Cảnh sắc trời thích nghi với người
Sương đọng trên lá quất như ngàn hạt châu, Tuyết điểm hoa mai thành một cành ngọc
Đầu núi quế vẻ mây biến đổi, Trên sông Ba nước chảy ngoặt sang hướng khác
Sự nghiệp anh hùng dài với xưa nay, Cảnh non sông trước mắt gợi nên suy nghĩ trong lòng)
Trang 2419
Bốn câu thơ đầu tác giả tái hiện lại cảnh sắc trời rất đồng với cảm xúc của con người, thiên nhiên đẹp mà đáng quý tựa như ngọc ngà châu báu Bỗng chốc không gian lại như thay đổi, phía trên cao đầu ngọn núi mây thay màu, nước sông như đổi hướng chảy làm gợi lên nhiều suy nghĩ trong lòng tác giả
Thế nhưng cũng có khi Ngô Nhơn Tĩnh lại tự trách mình có tài kinh luân mà chưa giúp được gì cho đất nước:
Kinh luân tụ thủ hận niên niên,
Cử mục quan hà mỗi sảng nhiên
Thảo mộc tận quy thu khí sắc, Lâu đài bán yểm tịch dương thiên
(Đồng Trần Tuấn Hà Bình, Xích hạ chu trung tạp vịnh,2)
(Bao năm hận có tài kinh luân nhưng phải bó tay, Ngước mắt nhìn sông núi, thường rơi lệ buồn
Cây cỏ đã ngả màu sang thu, Lầu đài khuất nửa trong bầu trời chiều)
Ở đây tác giả không miêu tả sông núi cụ thể mà chỉ nhắc đến “quan hà” nhưng người đọc vẫn cảm nhận được sự đối lập của con người với thiên nhiên khi đó Người cô đơn, nhỏ bé còn thiên nhiên thì cao rộng hùng vĩ Bởi thế nên người quân tử lúc này tự trách mình chưa giúp được gì cho đất nước nên mỗi khi ngước mắt lên nhìn ra không gian của non sông gấm vóc lại rơi
lệ Khi đó cỏ cây, sông núi, bầu trời cũng mang tâm trạng của người con yêu nước mà đổi sang màu buồn, không gian như càng làm cho con người thêm sầu thêm dằn vặt bản thân
Trên đường đi sứ Trung Quốc Ngô Nhơn Tĩnh khi đến thôn Thủy Biện ông bày tỏ nỗi lòng ưu tư về cuộc đời, đồng thời khẳng định làm quan nhưng luôn giữ cái tâm mình trong sáng:
Thủy Biện sơn thôn lý, Đăng lâm trướng vọng thâm
Long sầu trì thiển cục, Nhân ái thụ nùng âm
Trang 2520
Dĩ giải yên hà thú,
Hà lao mộng mị tầm
Túng giao nhàn tản bộ, Bất thất bản sơ tâm
(Chí Thủy Biện thôn)
(Thủy Biện làng núi đến, Lên cao nhìn bâng khuâng
Rồng buồn ao nức cạn, Người thích bóng cây râm
Yên hà thú đã hiểu, Mộng mị hơi đâu tầm
Dù cho nhàn tản bộ Không để mất bản tâm)
Đó là một không gian cao rộng giữa làng núi thôn Thủy Biện tác giả nhìn từ cao xuống thấp rồi được đẩy ra xa hơn rộng hơn với núi rừng Ở giữa không gian như vậy người con xa sứ bộc lộ những trăn trở, suy nghĩ về cuộc đời đồng thời khẳng định bản thân dù như thế nào cũng vẫn giữ vững cho mình “bản tâm” Trên đường đi sứ lần hai (1802-1803), Ngô Nhơn Tĩnh cùng với Trịnh Hoài Đức hoạ vận làm thơ 30 bài Mỗi bài đều mang phong cách riêng của người nghệ sĩ nhưng chung quy lại với 30 bài thơ này đa phần được viết để bộc lộ những nỗi niềm, ưu tư, suy cho cùng đều là trĩu nặng tâm sự về nỗi sầu cô đơn, nỗi niềm ưu ái của một nho thần đi sứ, nỗi ưu hoài giữa đất trời bao la kim cổ
Như vậy, có thể thấy không gian thiên nhiên, vũ trụ trong thơ của Ngô Nhơn Tĩnh được ông thể hiện khá rõ nét Với không gian này tác giả cũng đã làm nổi bật lên hoài bão, chí khí và niềm mong mỏi trả ơn vua đền nợ nước của mình Con đường mà Ngô Nhơn Tĩnh đang đi là con đường vì quê hương,
vì đất nước, trên con đường đó ông thường ngước lên để nhìn ngắm núi sông, đất trời, và không gian ấy mang ý nghĩa diễn tả hoài bão đó của người quân
Trang 26Còn ở “Lưu biệt Tiên thành chư hữu” ông đứng giữa trời sương sa đầy tiếng nhạn tự cảm thấy thân lữ khách của bản thân:
Nhãn thiên sương lạc, nhạn bi minh, Bắc khứ Nam lai tiếu thử sinh
Bán dạ cô chu thiên lý khách, Ngũ dương ích hữu bách niên tình
Vị năng khảng khái thù bang quốc, Yên cảm trù trừ luyến đệ huynh
(Lưu biệt Tiên thành chư hữu)
(Đầy trời sương sa lác đác, tiếng nhạn kêu sầu, Phương Bắc, phương Nam cười đời sống nay đây mai đó Khách xa ngàn dặm, chiếc thuyền con lặn lội giữa ban đêm, Tình nặng trăm năm, người bạn tốt hẹn hò trong năm biển Tấm lòng khảng khái, chưa đền nợ nước, luống những băn khoăn, Đâu dám ngập ngừng mà quyến luyến anh em, thành ra chậm trễ) Dưới bầu trời sương sa tiếng nhạn vang lên giữa không trung như nỗi u sầu của người nam tử mông lung giữa một không gian rộng lớn nơi đất khách Đối lập với sự bao la mông lung đó là hình ảnh cô đơn của “một con thuyền lặn lội giữa ban đêm” như càng thêm khắc sâu nỗi cô đơn của con người tha
Trang 2722
hương Trong không gian đó con người mang trong mình một nỗi lòng lớn lao đền nợ nước Tình quê hương có lúc nặng trĩu trong lòng, cũng có lúc cuộn trào lên như dòng sông đang chảy xiết, khi đó con người dường như chỉ muốn được hòa vào với thiên nhiên rộng lớn, con người, thiên nhiên, sông nước tất
cả như hòa lại để rồi đều mang một màu cảm xúc - nỗi nhớ quê
Cửu chuyển hồi trường tự Khúc giang, Quan sơn điều đệ biệt Nam bang
Hận thuỳ khinh bạc hoa lưu thuỷ, Liên ngã thanh hàn nguyệt đáo song
(Nhâm tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng Đông
thuỷ trình vãng Quảng Tây hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp ông tam thập vận, bài 3)
(Chín khúc ruột dần tựa khúc giang, Trời Nam xa cách mấy quan san
Hận người khinh bạc, hoa trôi chảy, Thương khách thanh hàn, nguyệt ghé sang)
hay:
Sương mãn giang thiên gia vạn lý, Kinh hồi lữ mộng ngũ canh chung
Quảng Tây hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp ông tam thập vận, bài 2)
(Sương đầy trời sông, nhà xa muôn dặm, Tiếng chuông canh năm khua tỉnh mộng nơi đất khách)
Đến nơi đất khách Ngô Nhơn Tĩnh cũng không thôi trăn trở khi mà thiên nhiên đất trời cũng mang theo tâm trạng của con người mà “man mác”,
mà ‘thảm đạm” Ở “Áo môn lữ ngụ Xuân Hòa đường thư hoài” giữa không gian dài rộng mà man mác buồn con người bày tỏ nỗi lòng của mình:
Bạch vân hoàng điệp lưỡng du du,