MỤC LỤC Contents PHẦN MỞ ĐẦU 3 1. Tính cấp thiết của đề tài. 4 2. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài. 4 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 4 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5 6. Kết cầu đề tài. 5 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5 1.1 Lý thuyết về thâm hụt ngân sách nhà nước 6 1.1.1 Thâm hụt ngân sách nhà nước 6 1.1.2. Nguyên nhân thâm hụt Ngân sách Nhà nước. 6 1.1.3. Một số cách tính thâm hụt ngân sách nhà nước. 7 1.1.4. Tác động của thâm hụt ngân sách đến kinh tế vĩ mô. 9 1.1.5. Các phương pháp xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước. 10 1.2. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế. 11 1.3. Đánh giá các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế. 12 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 13 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 19902018. 13 2.1. Khái quát tình hình tăng trưởng Việt Nam. 13 2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam. 17 2.3. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 19902018 19 CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. 21 3.1. Kết luận. 21 3.2. Khuyến nghị khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 22 3.2.1. Khuyến nghị về công tác điều hành chính sách kinh tế. 22 3.2.2. Khuyến nghị về nâng cao hiệu quả đầu tư công. 24 3.2.3. Khuyến nghị về chi tiêu công. 25 3.2.4. Khuyến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. 26 3.2.5. Khuyến nghị về tính minh bạch và chống tham nhũng. 26 3.2.6. Khuyến nghị nâng cao quản lý nợ công. 27 3.2.7. Khuyến nghị chính sách liên quan đến tỷ giá hối đoái. 27 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 28
Trang 1Tiểu luậnMôn học: Kinh tế Vĩ mô
Giảng viên: PGS TS PHAN THẾ CÔNG
Chủ đề số 1: Có nhận định rằng: “Muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì có thể phải chấp nhận
thâm hụt ngân sách Nhà nước” Theo anh/chị, nhận định đó có đúng hay không? Vì sao? Tronggiai đoạn hiện nay, Việt Nam đưa ra giải pháp gì để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhànước (chính sách cân bằng NSNN)?
MỤC LỤC
Contents
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Tăng trưởng kinh tế là vấn đề cốt lõi mà mỗi quốc gia luôn tìm cách duy trì và phát huy
sự sống Sự tăng trưởng kinh tế trong mỗi giai đoạn chu kỳ kinh tế sẽ chịu sự chi phối bởi nhiềuyếu tố khác nhau, đặc biệt yếu tố ngân sách có tác động sâu sắc đến sự tăng trưởng của một quốcgia Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những biến động lớn như: giá xăng dầu, gas tăng,khủng hoảng kinh tế, nợ công, nguy cơ vỡ nợ của nhiều quốc gia khối Liên Minh Châu Âu, tìnhtrạng lạm phát, thất nghiệp diễn ra trên thế giới… Thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà cácquốc gia đang đối mặt Nó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hiện nay và sự tác động bền vữngtrong tương lai quốc gia Xử lý thâm hụt ngân sách là một vấn đề nhạy cảm trong việc điều tiếtchính sách vĩ mô nền kinh tế Việc tìm ra giải phát để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các quốcgia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách và cần thiết Trong giaiđoạn hiện nay ở nước ta, mức thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngày càng có dấu hiệutác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế Đây là một trong nhữngnguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn cho Chính phủ trong việcthực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ để tăng trưởng kinh tế Chính vì lý do đó, nhóm 1 muốn
nghiên cứu tìm hiểu thông qua đề tài: “Có nhận định rằng: “Muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì có thể phải chấp nhận thâm hụt ngân sách Nhà nước” Theo anh/chị, nhận định đó có đúng hay không? Vì sao? Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đưa ra giải pháp gì để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước (chính sách cân bằng NSNN)?
2 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài.
- Tăng trưởng kinh tế là gì?
- Thâm hụt ngân sách là gì?
- Tại sao tăng trưởng kinh tế lại gắn liền với thâm hụt ngân sách?
- Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách là gì?
- Tại sao cần phải kiểm soát, nghiên cứu vấn đề này để đưa ra các giải pháp vĩ mô?
- Tác động thực tiễn của tăng trưởng kinh tế đến thâm hụt ngân sách và ngược lại?
Trang 33 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích chính của đề tài nghiên cứu ngày là đánh giá mối quan hệ giữa thâm hụt ngânsách và tăng trưởng kinh tế trong mô hình đa biến: thâm hụt ngân sách, tổng sản phẩm quốc nội,tổng đầu tư, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất thực, tỷ giá hối đoái được thực hiện nghiên cứu 1990-
2018 Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nội dung của đề tài phải trả lời các câu hỏi nghiên cứuchính như sau:
- Thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam thể hiện qua bằng chứngthống kê nào?
- Tại Việt Nam, thâm hụt ngân sách có tác động sâu sắc đền tăng trưởng kinh tế và tăngtrưởng kinh tế có làm thâm hụt ngân sách hay không?
- Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thích hợp để hạn chế thâm hụt ngânsách và tăng trưởng kinh tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Phân tích mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế
Việt Nam trong mô hình đa biến gồm tăng trưởng, thâm hụt ngân sách, tổng đầu tư, lãi suất, tỷgiá hối đoái
Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam trong giai đoạn 1990-2018.
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Về mặt khoa học:
Đánh giá tác động của thâm hụt ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, đưa ra quanđiểm chứng minh thực nghiệm về tác động thâm hụt Ngân sách đến tăng trưởng Việt Nam trongthời gian nghiên cứu
- Về mặt thực tiễn:
Đề xuất các gợi ý chính sách để ổn định tăng trưởng kinh tế, và các giải pháp xây dựng cơ cấuNgân sách hợp lý để hạn chế thâm hụt ngân sách kích thích tăng trưởng kinh trế
6 Kết cầu đề tài.
Đề tài được thiết kế thành 3 chương như sau:
Chương 1: Lý thuyết thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Khảo sát tác động của thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn1990-2018
Chương 3: Kết luận và khuyến nghị khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước tại ViệtNam trong giai đoạn hiện nay
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Lý thuyết về thâm hụt ngân sách nhà nước
1.1.1 Thâm hụt ngân sách nhà nước
Theo Luật Ngân sách Nhà nước (2015), Ngân sách Nhà nước bao gồm ngân sách Trungương và ngân sách địa phương Thâm hụt ngân sách nhà nước là thâm hụt ngân sách trung ương
và được xác định bằng chênh lệch giữa tổng chi ngân sách trung ương và tổng thu ngân sáchtrung ương trong năm ngân sách
Xuất phát từ quan điểm quản lý ngân sách giữa các quốc gia và các tổ chức, có nhiềuquan niệm khác nhau về thâm hụt ngân sách Hiểu một cách cơ bản nhất, thâm hụt ngân sách vàtình trạng tổng chi ngân sách nhà nước mà chính phủ phải thực hiện lớn hơn các khoản thu màchính phủ thu được tính trong một năm tài chính Ở phạm vi rộng hơn, thâm hụt ngân sách làhiện tượng ngân sách nhà nước không cân đối được (thể hiện ở chênh lệch giữa cung và cầu vềnguồn lực tài chính của Nhà nước) Việc tính toán mức thâm hụt ngân sách ở mỗi quốc giathường khác nhau do cách thức xác định phạm vi thu, chi ngân sách có sự không thống nhất
Theo Cẩm nang Thống kê tài chính Chính phủ (GFS) do Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) banhành, khái niệm thu và chi ngân sách có thể khái quát như sau:
- Thu ngân sách là các khoản thu vào quỹ ngân sách mà không kèm theo, không làmphát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng có nghĩa vụ phải nộp ngânsách Thu ngân sách nhà nước bao gồm: các khoản thu thuế, phí và các khoản thukhác (kể cả viện trợ không hoàn lại), không bao gồm các khoản vay trong và ngoàinước Trên phương diện khác, thu ngân sách nhà nước là những khoản thu mang tínhchất cưỡng bức hay là trách nhiệm của mọi người hoặc của thành phần kinh tế đối vớinhà nước
- Chi ngân sách là các khoản chi ra từ ngân sách không làm phát sinh nghĩa vụ phải bồihoàn trực tiếp đối với các đối tượng được thụ hưởng ngân sách, đó chính là toàn bộkhoản thực chi ngân sách theo luật đinh trong một năm tài khóa (tài chính) Chi ngânsách nhà nước bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác,chi trả lãi vay nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc tiền vay
Cũng theo Cẩm nang Thống kê tài chính của Chính phủ, thâm hụt ngân sách (hay bội chingân sách) được xác định bằng chênh lệch giữa chi ngân sách và thu ngân sách
Trang 51.1.2 Nguyên nhân thâm hụt Ngân sách Nhà nước.
Thứ nhất, do nguồn thu ngân sách bị thất thu (thuế nhà nước) Thuế là nguồn thu chính
và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanhnghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ… Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sựquản lý chưa chặt chẽ đã tạo ra kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, lách thuế,
nợ thuế gây thất thu một lượng đáng kể NSNN… Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế, miễnthuế và gia hạn thời gian nộp thuế… giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trìhoạt động sản xuất nhưng làm ảnh hưởng đến các khoản chi ngân sách gây thâm hụt NSNN
Thứ hai, do tác động của các chu kỳ kinh doanh, trong thời kỳ khủng hoảng hay suy
giảm kinh tế sẽ làm cho thu nhập của quốc gia bị thu hẹp lại, đồng thời nhu cầu chi tiêu tăng lên
để đáp ứng những khó khăn về kinh tế xã hội, từ đó dẫn đến thâm hụt ngân sách tăng Ngược lại
ở giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng nhanh, thu ngân sách tăng cao trong khi các khoản chi liênquan đến an sinh xã hội như bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ người nghèo có xu hưởng giảmxuống nên cán cân tài khóa của chính phủ được cải thiện, hay nói cách khác thâm hụt ngân sách
sẽ giảm xuống
Thứ ba, thâm hụt ngân sách chịu tác động của hệ thống chính sách cũng như các quan
điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Chi ngân sách (và thâmhụt ngân sách) là một trong những công cụ chính sách quan trọng của nhà nước nhằm tác độngđến sự phát triển của kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển khác nhau Ví dụ, khi sảnlượng của nền kinh tế ở mức thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, chính phủ có thể tăng mức chingân sách, chấp nhận có thâm hụt ngân sách để tăng tổng cầu, qua đó thúc đẩy mở rộng nền kinh
tế Thâm hụt ngân sách thường xảy ra với các nước đang phát triển do nhu cầu đầu tư xã hội rấtlớn, nhất là đầu tư về phát triển hạ tầng kinh tế xã hội Việt Nam cũng không phải ngoại lệ ỞViệt Nam, trong một số năm kinh tế phát triển nhanh, thu ngân sách tăng cao, song Chính phủvẫn chấp nhận thâm hụt ngân sách để có thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là các dự ánphát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội Đối với các nước phát triển, chi ngân sách được sử dụngnhư một công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, khi kinh tế suy thoái và tổng cầu giảm thì chính phủthường tăng chi tiêu để kích cầu tiêu dùng và ngược lại khi kinh tế phát triển nóng, chính phủ cóthể cắt giảm chi tiêu, giảm thâm hụt để đưa nền kinh tế về mức sản lượng tiềm năng Đây cũng là
lý do làm cho thâm hụt ngân sách không chỉ phổ biến ở các nước đang phát triển mà còn ở cácnước phát triển
Thứ tư, những vấn đề về thiên tai, dịch bệnh, tình hình chính trị bất ổn cũng có thể tác
động làm tăng chi ngân sách, qua đó gây thâm hụt ngân sách nhà nước Việc quản lý và điềuhành ngân sách không hiệu quả, chi tiêu ngân sách lãng phí cũng là tác nhân quan trọng ảnhhưởng đến mức thâm hụt ngân sách
Thứ năm, do các nhân tố kỹ thuật chuyên môn (phân loại, mục lục, phương pháp cân
đối, thời điểm ghi nhận thu chi ngân sách, phương pháp kế toán…) theo đó, có nhiều trường hợpthâm hụt thấp hay giảm không phải xuất phát từ sự cải thiện về tình hình kinh tế vĩ mô và tàikhóa của chính phủ mà do sự phản ánh sai lệch về quy mô thu và chi ngân sách của chính phủhay là do chi tiêu ngân sách thiếu minh bạch hay là áp dụng các phương pháp tính thâm hụtkhông phù hợp Trường hợp Hy Lạp là một ví dụ kinh điển về “che giấu” thông tin chi ngân sách
để có mức thâm hụt ngân sách thấp khi nước này muốn đáp ứng các yêu cầu nhằm gia nhập khốiliên minh Châu Âu
Trang 61.1.3 Một số cách tính thâm hụt ngân sách nhà nước.
Thâm hụt ngân sách có thể được tiếp cận và định nghĩa dựa theo nhiều tiêu chí khácnhau Việc sử dụng thước đo “thâm hụt” nào để phản ánh được tình hình tài khóa của chính phủphụ thuộc vào mục tiêu của việc phân tích và điều hành chính sách tài khóa, ngân sách của mỗiquốc gia trong từng giai đoạn Thông thường để phản ánh được chính xác thực trạng bức tranhtài khóa của chính phủ đòi hỏi cần phải sử dụng đồng thời nhiều thước đo thâm hụt ngân sáchkhác nhau Mỗi thước đo sẽ phản ánh một số khía cạnh nhất định về thực trạng bức tranh tàikhóa của chính phủ Phần dưới đây chỉ khái quát một số thước đo chỉ số thâm hụt ngân sáchđược sử dụng rộng rãi trên thực tế cho mục tiêu phân tích, đánh giá và điều hành chính sách tàikhóa Đó là:
a) Thâm hụt ngân sách tổng thể.
Trong các thước đo về thâm hụt, thâm hụt tổng thể (thặng dư tổng thể) vẫn là thước đođược sử dụng nhiều nhất Đây cũng là thước đo mà IMF khuyến nghị các quốc gia sử dụng đểxác định tình trạng mất cân đối tài khóa Theo chuẩn mực do IMF đưa ra trong Cẩm nang Thống
kê tài chính của chính phủ (GFS), thâm hụt ngân sách được xác định bằng chênh lệch giữa chingân sách và thu ngân sách trong một thời kỳ nhất định, thông thường là một năm ngân sách nhỏhơn chi ngân sách và trong trưởng hợp ngược lại là thặng dư ngân sách:
Thâm hụt (thặng dư) ngân sách = Tổng thu ngân sách – Tổng chi ngân sách
Theo định nghĩa về thu ngân sách trình của GFS, thu ngân sách bao gồm các khoản thu vào quỹngân sách mà khoản thu đó không sinh ra, không tạo ra và không kèm theo nghĩa vụ hoàn trảtrực tiếp, vì thế thu từ nguồn vay nợ không được xếp là một nguồn thu ngân sách Cũng theoGFS chi ngân sách không bao gồm khoản chi trả nợ gốc mà chỉ bao gồm khoản lãi vay phải trả
từ số tiền mà chính phủ vay Chi trả lãi tiền vay được xếp vào chi ngân sách nhà nước vì đây là
hệ quả của việc điều hành chính sách ngân sách có thâm hut Việc không đưa khoản vay nằmtrong thu ngân sách và chi trả nợ gốc nằm trong chi ngân sách phản ánh đúng bản chất của thu,chi ngân sách của nhà nước
Cách thức tính thâm hụt ngân sách mà Việt Nam đang áp dụng hiện nay có thể được xem
là một hình thái của “thâm hụt ngân sách tổng thể” Tuy nhiên, có điểm khác biệt là Việt Namđang tính chi trả nợ gốc vào chi ngân sách, nhưng lại có một số khoản chi lại được để ngoàikhông đưa vào cân đối ngân sách chung (ví dụ: chỉ từ nguồn trái phiếu chính phủ, các khoản vay
về cho vay lại)
b) Thâm hụt ngân sách thường xuyên (Current deficit)
Thâm hụt ngân sách thường xuyên là chênh lệch giữa thu thường xuyên và chi thườngxuyên của NSNN và xảy ra khi chi thường xuyên lớn hơn thu thường xuyên Trường hợp thuthường xuyên lớn hơn chi thường xuyên thì sẽ có thặng dư ngân sách thường xuyên và ngược lại
“Cán cân thường xuyên” là thước đo phản ánh sự tích lũy của chính phủ cho nhu cầu đầu tư pháttriển đất nước Nếu một quốc gia có thặng dư ngân sách thường xuyên thì có nghĩa là quốc gia
đó đang có tiết kiệm để sử dụng cho đầu tư phát triển Tuy nhiên, trong xác định cán cân ngânsách thường xuyên thì vấn đề quan trọng nhất là xác định được khoản thu nào được hiểu và nênđược xem là thu “thường xuyên” Theo thông lệ quốc tế, thu thường xuyên là các khoản thu ngânsách từ thuế, phí, lệ phí không mang tính chất “một lần” và “không tái tạo” Theo đó, các khoảnthu như thu từ bán tài sản sẽ không được tính vào các khoản thu thường xuyên Một số quốc giacòn xem các khoản thu từ bán tài nguyên cũng là các khoản thu không thường xuyên Chi thườngxuyên thường bao gồm tất cả các khoản chi của NSNN (bao gồm cả chi trả lãi tiền vay) trừ chiđầu tư phát triển và chi viện trợ Việc sử dụng khái niệm thâm hụt (thặng dư) ngân sách thường
Trang 7xuyên sẽ rất có ý nghĩa trong việc phân tích tính bền vững của tình hình tài khóa Một quốc gia
có thâm hụt ngân sách thường xuyên sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ bất ổn về tài khóa Việccắt giảm các khoản chi thường xuyên để giảm thâm hụt ngân sách bao giờ cũng là vấn đề rấtnhạy cảm và dễ gây ra những phản ứng tiêu cực từ người dân Thông thường khi đối mặt vớithâm hụt ngân sách kéo dài, giải pháp giảm chi thường xuyên thường là giải pháp được chínhphủ sử dụng sau cùng khi không gian sử dụng các giải pháp không còn (ví dụ như không thể tăngthuế lên mức cao hơn…)
c) Thâm hụt ngân sách cơ sở (Primary fiscal deficit)
Thâm hụt ngân sách cơ sở được xác định bởi thâm hụt ngân sách tổng thể trừ đi phần chitrả lãi tiền vay Việc sử dụng thước đo này sẽ cung cấp được các thông tin sát hơn về tác độngcủa việc điều hành chính sách trong năm của Chính phủ Việc trả lãi tiền vay là việc thực hiệncác nghĩa vụ tài chính cho các quyết định vay nợ được thực hiện trong quá khứ, nhìn chungkhông gắn với chính sách mà chính phủ thực hiện trong năm tài khóa (trừ khi thực hiện đối vớicác khoản vay trong năm) Đối với những quốc gia có tỷ trọng chi trả lãi tiền vay lớn (thường lànhững quốc gia có mức dư nợ chính phủ cao) thì việc phân định giữa thâm hụt ngân sách tổngthể và thâm hụt ngân sách cơ sở là rất quan trọng, tách bạch được những biến động bất thườngtrong việc tăng nghĩa vụ trả nợ (do biến động tỷ giá đối với vay nợ nước ngoài hoặc lãi suất đốivới trường hợp theo lãi suất thả nổi) Cùng với các khái niệm về thâm hụt ngân sách nói trên,việc sử dụng khái niệm ngân sách cơ sở sẽ cho các nhà hoạch định chính xác bức tranh đầy đủhơn về tác động của chính sách tài khóa trong năm Thực tế có thể có trường hợp khi mà cán cânngân sách tổng thể thâm hụt cao song cũng không đồng nghĩa với việc chính phủ đã thực hiệnchính sách tài khóa mở rộng nếu như trong năm xuất hiện sự gia tăng đáng kể về nghĩa vụ trả lãitiền vay xuất phát từ các biến động kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến nghĩa vụ nợ (ví dụ do tỷ giátăng, lãi suất vay nợ tăng)
Trong ba tiêu thức xác định cán cân tài khóa nói trên thì hiện nay ở Việt Nam mới chỉ sử dụngthước đo thâm hụt ngân sách tổng thể
1.1.4 Tác động của thâm hụt ngân sách đến kinh tế vĩ mô.
• Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế
Xuất phát từ đẳng thức kinh tế xác định tổng sản phẩm quốc nội
Ảnh hưởng lạm phát
Về cơ bản, hầu hết chính phủ các nước đều dùng các biện pháp sau để khắc phục bội chiNSNN: vay trong nước, vay nước ngoài hoặc phát hành tiền Tùy từng điều kiện và hoàn cảnh cụ
Trang 8thể mà các nguồn bù đắp bội chi được sử dụng riêng rẽ hay kết hợp Từ đó cũng gây ra tác độnglên nền kinh tế khác nhau.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng cách phát hành trái phiếu(kể cả phát hành trong nước và phát hành ra nước ngoài), thì tất yếu chính phủ phải trả tiền nợgốc và lãi trái phiếu trong tương lai đồng thời gây áp lực lên xã hội bằng việc tăng thuế Tuynhiên bằng cách này, bội chi NSNN sẽ không gây lạm phát và đặc biệt trong trường hợp bội chiđược tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lợi thì nó lại là động lực cho sự phát triển của nền kinh tếtrong dài hạn
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng việc phát hành tiền, hànhđộng này ngay lập tức làm cho lượng cung tiền cung cấp trong lưu thông tăng Cung tiền tăng làmột yếu tố quan trọng làm tăng tổng cầu Trong bối cảnh suy thoái kinh tế tăng cung tiền có tácdụng kích thích nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư tăng tổng sản phẩm tiến tới mức tiềm năng, ảnhhưởng lạm phát là tối thiểu Tuy nhiên duy trì bội chi kéo dài trong thời kỳ kinh tế tăng trưởngphát hành tiền sẽ gây ra lạm phát cao, rất nguy hại
• Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế
Quy mô nợ công của chính phủ tùy thuộc vào số nợ vay là để tài trợ cho tiêu dùng hayđầu tư và hiệu quả của việc đầu tư đó đến đâu Nếu chính phủ chấp nhận bội chi để tài trợ chocác dự án có hiệu quả, có khả năng sinh lời trong dài hạn, thì chính lợi tức từ dự án lại tạo ra vàlàm tăng nguồn thu trong dài hạn cho ngân sách nhà nước, giúp NSNN trả được gốc và lãi chocác khoản vay tài trợ bội chi trong quá khứ Trường hợp bội chi NSNN được sử dụng cho mụcđích tiêu dùng tức thời thì phần lớn ảnh hưởng của nó chỉ tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn(tại thời điểm bội chi xảy ra), và trong dài hạn nó không tạo ra một nguồn thu tiềm năng chongân sách, mà chính nó làm nặng nề hơn khoản nợ công trong tương lai
• Thâm hụt cán cân thương mại
Bù đắp bội chi NSNN bằng cách tăng vay nợ góp phần làm tăng lãi suất, sẽ ảnh hưởngbất lợi đến cán cân thanh toán thương mại quốc tế Lãi suất thị trường của nước này tăng lên cao
so với các đồng tiền các nước khác trên thế giới thì người nước ngoài sẽ tìm kiếm đồng nội tệcủa nước có bội chi để mua các chứng khoán chính phủ và các tài sản tài chính khác Dẫn đếntình trạng nhập siêu ở nước có ngân sách bội chi lớn
1.1.5 Các phương pháp xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước.
Khi có thâm hụt ngân sách, chính phủ có thể sử dụng một hay kết hợp đồng thời nhiều phương thức để huy động nguồn lực để bù đắp
Phương thức thứ nhất là phát hành tiền nhằm bù đắp: Để bù đắp thiếu hụt ngân sách, một
số quốc gia đã lựa chọn giải pháp phát hành thêm tiền vào lưu thông Đây là biện pháp giúpchính phủ có thể huy động kịp thời nguồn vốn để cân đối ngân sách mà không làm gia tăng nghĩa
vụ trả nợ Tuy nhiên bằng việc in tiền, nhà nước đã làm giảm giá trị (sức mua) của lượng tiềnđang lưu thông Trên phương diện này có thể thấy một cách gián tiếp nhà nước đã đánh thuế lênnhững người nắm giữ tiền mặt hay còn gọi là “thuế lạm phát” Nếu nhà nước phát hành tiền để
bù đắp thâm hụt có thể gây lạm phát và gây tác động xấu đến nền kinh tế như Argentina, Braxin
Do vậy, ngày ngay hầu hết các nước trên thế giới rất ít sử dụng biện pháp phát hành tiền để bùđắp thâm hụt ngân sách do nguy cơ dẫn đến lạm phát cao và những tác động xấu của nó đến nềnkinh tế Ở Việt Nam, theo Luật ngân sách nhà nước hiện hành, thâm hụt NSNN được bù đắpbằng nguồn vay trong nước và vay ngoài nước Như vậy, có thể thấy kể từ khi có Luật ngân sáchnhà nước, việc phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách như trong một số năm đầu của thậpniên 1990 đã chấm dứt
Trang 9Phương án thứ hai là chính phủ đi vay nợ để bù đắp cho thâm hụt ngân sách Đây cũng làgiải pháp thường được các quốc gia trên thế giới sử dụng Có hai hình thức vay nợ được sử dụng
là vay nợ được sử dụng là vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài
Vay nợ trong nước là hình thức nhà nước huy động nguồn vốn trong dân thông qua pháthành trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính trong nước So với vay nước ngoài, vay nợtrong nước là biện pháp dễ triển khai hơn và tránh được tình trạng lệ thuộc bên ngoài Tuy nhiên,nguồn lực để cho chính phủ vay nợ trong nước bị giới hạn bởi nguồn lực tiết kiệm của khu vực
tư nhân Bên cạnh đó, việc vay nợ trong nước quá nhiều sẽ dẫn đến tăng lãi suất của thị trườngtrong nước do nhu cầu huy động trên thị trường tăng Lãi suất tăng sẽ có xu hướng “lấn át” vàlàm giảm đầu tư của khu vực tư nhân, hay nói cách khác sẽ dẫn đến “hiệu ứng thoái lùi đầu tư”của khu vực kinh tế tư nhân Việc huy động vốn bằng ngoại tệ trong nước để tài trợ cho cáckhoản chi bằng ngoại tệ còn gây áp lực tỷ giá và khả năng cân đối ngoại tệ của ngân hàng Trungương
Vay nợ nước ngoài có thể được thực hiện thông qua vay hỗ trợ phát triển chính thức hayphát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính nước ngoài Việc sử dụng một phần vốnvay nước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách có thể làm giảm bớt căng thẳng trên thị trường tíndụng trong nước, qua đó hạn chế được tình trạng “lấn át” hay “chèn lấn” đầu tư đối với khu vực
tư nhân Tuy nhiên, việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ phải chịu nhiều ràng buộc cũng như ápđặt về điều kiện của các chủ thể cho vay, đặc biệt là vấn đề rủi ro tỷ giá nếu như những rủi ro nàykhông được phòng ngừa kịp thời Do đó, có thể nói bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước bằnghình thức vay nợ trong nước hay ngoài nước đều có thể gây những tác động bất lợi đối với tìnhhình kinh tế vĩ mô
Phương thức bù đắp thâm hụt khác là thông qua vay từ nguồn dự trữ ngoại tệ Tuy nhiênviệc sử dụng phương thức này cũng rất hạn chế và có nhiều nhược điểm, đó là ảnh hưởng đếnkhả năng can thiệp của ngân hàng nhà nước khi có rủi ro về tỷ giá, nhất là đối với nước có mức
dự trữ thấp
1.2 Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế.
Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề được nghiêncứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm Liên quan đến mốiquan hệ này, các quan điểm của các trường phái kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau
Trường phái tân cổ điển cho rằng tăng thâm hụt hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng về gánhnặng thuế trong tương lai Theo đó, người tiêu dùng sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng tại thời điểmhiện tại Do đó, trong trường hợp này, tiết kiệm quốc gia sẽ giảm xuống Khi tiết kiệm quốc giagiảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng và lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư, qua đó tạo ra hiện tượngthoái lui đầu tư Vì thế, trường phái này cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cựcđến tăng trưởng kinh tế Trường phái này còn cho rằng nếu như việc tài trợ thâm hụt ngân sáchthông qua vay nợ trong nước sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, do vậy sẽ làmgiảm đầu tư của khu vực tư nhân Theo đó, tăng thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến tăng giá vàgiảm sản lượng sản xuất trong nền kinh tế Một giải thích khác là khi chính phủ vay nợ trên thịtrường trong nước, lãi suất sẽ bị đẩy lên Khi mặt bằng lãi suất bị đẩy lên, khu vực tư nhân sẽgiảm nhu cầu huy động vốn của mình, theo đó sẽ hạn chế đến sự mở rộng sản xuất của khu vực
tư nhân Hay nói cách khác, sự gia tăng về cầu của chính phủ thông qua tăng chi tiêu đã chèn lấncầu khu vực tư nhân
Trong khi đó, trường phái Keynes lại cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ tác động tíchcực đến tăng trưởng kinh tế Khi chính phủ tăng chi ngân sách từ nguồn thâm hụt thì tổng cầu
Trang 10của nền kinh tế sẽ tăng lên, làm cho các nhà đầu tư trở nên lạc quan hơn về triển vọng kinh tế và
sẽ quan tâm hơn trong việc tăng đầu tư Trong trường hợp khác, nếu chính phủ chấp nhận thâmhụt thông qua việc giảm thuế thì thu nhập khả dụng của khu vực hộ gia đình cũng tăng lên Theo
đó, người dân sẽ tăng chi tiêu Tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên Trường phái Keyneslập luận rằng mặc dù tăng thâm hụt ngân sách có thể tăng lãi suất song vẫn có thể tăng được mứctiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên các nhà kinh tếtheo trường phái này cũng cho rằng tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế chỉ
có ý nghĩa trong ngắn hạn Hơn nữa việc sử dụng thâm hụt ngân sách để kích thích tăng trườngkinh tế chỉ có thể mang lại hiệu quả trong bối cảnh tổng cầu sụt giảm Khi mà nền kinh tế đanghoạt động ở mức toàn dụng nhân công, việc tăng thâm hụt ngân sách không những không có tácđộng đến tổng cầu mà còn có nguy cơ đưa nền kinh tế trước những rủi ro mới, trong đó đáng kểnhất sẽ là sự gia tăng về sức ép lạm phát
Khác với hai trường phái nói trên, quan điểm của Ricardo cho rằng, thâm hụt ngân sáchkhông tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô cả trong ngắn hạn và dài hạn Theo trường pháinày, ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và thuế đối với tiêu dùng là tương đương nhau Việc tăngthâm hụt ngân sách do giảm thuế ở thời điểm hiện tại sẽ phải trả giá bằng việc tăng thuế trongtương lai, bao gồm cả trả lãi cho khoản vay Do vậy thâm hụt ngân sách dẫn đến vay nợ tronghiện tại sẽ đồng nghĩa với việc tăng thuế trong tương lai Với hàm ý này, người tiêu dùng trongthời điểm hiện tại sẽ tiết kiệm một khoản cần thiết để trả cho tương lai Nói cách khác, người tiêudùng thường dự đoán tương lai, quyết định tiêu dùng của họ không chỉ dựa vào thu nhập hiện tại
mà còn dựa vào thu nhập kỳ vọng trong tương lai Theo trường phái Ricardo, thâm hụt ngân sách
sẽ không tác động đến tiết kiệm và đầu tư Theo họ khi thâm hụt ngân sách tăng do giảm thuế thìthu nhập khả dụng của người dân tăng, hơn nữa người dân ý thức được cắt giảm thuế trong hiệntại sẽ dẫn đến tăng thuế trong tương lai, do vây họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn Khi đó, thâm hụt ngânsách làm cho tiết kiệm của khu vực nhà nước giảm xuống Theo đó, tiết kiệm quốc gia được hiểu
là tổng tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm nhà nước sẽ không đổi Do vậy, thâm hụt ngân sách sẽkhông tác động đến tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng như lập luận của các trường phái trên
1.3 Đánh giá các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết kinh tế vĩ mô cũng như nhiều công trình nghiên cứu kiểm định thực chứng cho
ta thấy thâm hụt ngân sách có thể ảnh hưởng tích cực đến các biến số kinh tế vĩ mô theo các cáchthức khác nhau
Mức độ và cách thức tác động lại chịu sự chi phối của tỷ lệ thâm hụt và thời gian thâmhụt cũng như phương thức tài trợ cho thâm hụt ngân sách Trong đó, vấn đề thường nhận được sựđồng thuận chung là thâm hụt ngân sách cao và kéo dài sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, cónguy cơ gây bất ổn kinh tế vĩ mô, nhất là đối với các nước đang phát triển Hiện nay, để đảm bảođược sự ổn định về kinh tế vĩ mô nhiều nước đã đưa ra các giới hạn về thâm hụt ngân sách vàxem đây như là một yêu cầu cần thiết để đảm bảo kỷ luật tài khóa tổng thể trong trung và dàihạn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mức độ thâm hụt ngân sách không phải là vấn đề quantrọng mà thay vào đó là hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính có được từviệc chấp nhận thâm hụt ngân sách mới là vấn đề cần lưu tâm nhất
Như các trường phái lý thuyết nói trên, các nghiên cứu kiểm chứng thực nghiệm về mốiquan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng cũng đưa ra nhiều kết quả không đồng nhất Một
số nghiên cứu gần đây, trong nền kinh tế mở, tăng trưởng kinh tế bị tác động bởi nhiều yếu tốtrong đó bao gồm thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách cao sẽ đẩy lãi suất tăng cao, gây kìm
Trang 11hãm đầu tư tư nhân Hiệu ứng chèn lấn đầu tư cuối cùng làm giảm sự hình thàng vốn mới của xãhội, kéo theo tổng cầu giảm và giá cả tăng Theo Al - kheda (1996) tăng lãi suất ngắn hạn môhình VAR bằng cách chọn dữ liệu của nhóm quốc gia G-7 cho giai đoạn 1964 - 1993 Ông thấyrằng thâm hụt ngân sách ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại Tuy nhiên, thâm hụt ngânsách có một ảnh hưởng tích cực và quan trọng đến tăng trưởng kinh tế của đất nước Theo WorldEconomic Outlook (IMF,1996) kết luận rằng suốt những năm giữa thập niên 1980 nhóm cácquốc gia đang phát triển có sự mất cân bằng tài chính cao có dấu hiệu cụ thể tăng trưởng kinh tếthấp hơn những quốc gia có mức thâm hụt ngân sách thấp hoặc trung bình Shojai (1999) thâmhụt chỉ tiêu được tài trợ bởi Ngân hàng Trung ương cũng có thể dẫn đến thiếu hiệu quả trong thịtrường tài chính và gây ra lạm phát cao ở các nước đang phát triển Ngoài ra, thâm hụt ngân sáchbóp méo tỷ giá hối đoái thực và lãi suất, điều đó làm giảm sự cạnh tranh quốc tế của các quốcgia Do đó, đối mặt nguy cơ thất bại thị trường, một số nghiên cứu nhấn mạnh hiệu quả có lợicủa vấn đề chi tiêu chính phủ về công trình, y tế, giáo dục và các dự án phát triển sản xuất Rao(1953) cho rằng chỉ tiêu chính phủ cho các dự án phát triển sản xuất ở các nước đang phát triểnkhông những không gây lạm pháp mà còn cho rằng tăng sản lượng cao hơn Bài viết Eisner vàPieper (1987) tác động tích cực của ngân sách theo chu kỳ và thâm hụt ngân sách điều chỉnh lạmphát đối với tăng trưởng kinh tế tại Mỹ và Tổ chức Hợp tác Kinh tế và các quốc gia phát triển(CECD).
Cho đến nay, nhiều công trình, bài viết nghiên cứu xác định các nhân tố, trong đó thâmhụt ngân sách có tương quan với tăng trưởng kinh tế (Al - kheda (1996), Barro (1979)… Theo lýthuyết kinh tế vĩ mô (Keynes, phương pháp xác định chỉ tiêu GDP, thâm hụt ngân sách có tácđộng đến tăng trưởng kinh tế Có một vài nghiên cứu đã phát hiện mối quan hệ cùng chiều, có ýnghĩa giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế không chỉ ở các quốc gia đang phát triển
mà còn có ở các quốc gia phát triển (IMF 1996) nhưng một số nghiên cứu khác lại phát hiện mốiquan hệ ngược chiều (Karras 1994) Ngược với quan điểm của trường phái Keynes, trong nhiềuthập kỷ qua, nhiều nhà kinh tế tin rằng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách là liều thuốc thần diệuđối với tăng trưởng kinh tế Họ lập luận rằng cắt giảm chỉ tiêu chính phủ và do cắt giảm thâm hụtngân sách sẽ làm giảm lãi suất, tăng đầu tư, tăng năng suất và cuối cùng là thúc đẩy tăng trưởng.Lập luận này là có cơ sở và chính sách tài khoá nên tập trung giải quyết vấn đề thâm hụt nếu mốiquan hệ giữa các biến số trên là chặt chẽ Tuy nhiên có nhiều lý do để tin rằng giả thuyết trên vềmối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, lãi suất, đầu tư và tăng trưởng đã được đề cao quá mức
Cụ thể, số liệu thực tế của nền kinh tế Mĩ và nhiều nước khác trên thế giới đã chỉ ra rằng thâmhụt ngân sách có tác động cực kỳ nhỏ đến lãi suất, đặc biệt là đối với các nền kinh tế mở Lãisuất được quyết định trên thị trường vốn quốc tế nơi có hàng ngàn tỉ USD được giao dịch mỗingày Thậm chí ngay cả sự thay đổi mới về cán cân ngân sách của chính phủ cũng khó có tácđộng đáng kể đến lãi suất, đây chính là lý do tại sao lãi suất thường cao trong những thời kỳ cótăng trưởng mạnh Trong những thời kỳ này cầu tín dụng thường cao, và để kiếm được lợi nhuậncác tổ chức tài chính thường áp đặt mức lãi suất cao đối với các khoản cho vay nhằm bù đắp chonhững rủi ro tín dụng và lạm phát Cuối cùng thuế đánh vào thu nhập tiền lãi cũng là một trongnhững nhân tố ảnh hưởng mạnh đến lãi suất Thực tế cho thấy, với các yếu tố khác như nhau thìcác loại trái phiếu chịu thuế thường có mức lãi suất cao hơn so với các trái phiếu không chịuthuế Điều này hàm ý rằng sự gia tăng thuế, mặc dù làm giảm thâm hụt ngân sách, nhưng cónhiều khả năng sẽ làm tăng lãi suất và do vậy không có khả năng kích thích đầu tư và tăngtrưởng kinh tế… Ngoài ra, nghiên cứu của Nelson và Singh (1994) kết luận rằng, thâm hụt ngânsách không có dấu hiệu ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở nhóm nghiên cứu 70 quốc gia đangphát triển giai đoạn 1970 - 1979 và 1980 - 1989