Lí trưởng là người thực thi công lí nhưng lại không liêm minh, nhận của đút lót, bênh vực kẻ có nhiều tiền.. Ý nghĩa của truyện:[r]
Trang 1Trường THCS và THPT Đinh Tiên Hoàng
GV: Ngô Thị Thanh Tâm
Trang 31 Truyện cười dân gian:
I GIỚI THIỆU:
Là thể loại tự sự bằng văn xuôi kể về các hiện tượng hài hước nhằm giải trí và phê phán những cái đáng cười trong cuộc sống.
Trang 4 2 Phân loại:
Có 2 loại truyện cười:
Truyện cười hài hước để giải trí.
Ví dụ: Cháy , Bác Ba Phi.
Truyện cười châm biếm để phê phán
đả kích.
Ví dụ: Trạng Quỳnh ,Tam đại con
gà , Nhưng nó phải bằng hai mày.
Trang 5II ĐỌC HIỂU VĂN BẢN :
1 Truyện “Cháy!”
a Đối tượng gây cười:
Sự hiểu lầm trong giao tiếp bằng lời nói.
b Nguyên nhân gây cười:
Sự hiểu lầm giữa ông khách và cậu bé
Tuy ý nghĩa lời hỏi - đáp bề ngoài có vẻ
khớp nhau nhưng hai người lại nghĩ về hai chuyện khác nhau
Trang 6c Tình huống gây cười:
Cuộc đối thoại giữa ông khách và đứa bé
_ Lần hỏi – đáp 1:
+ Khách hỏi:
Thầy cháu có nhà không – ông bố
+ Cậu bé đáp:
Mất rồi – tờ giấy bố để lại
Người hiểu lầm là cậu bé (do bối rối, ngây thơ, thiếu vốn từ) ta cười vì lời đáp của cậu bé.
Trang 8Từ cháy đã chỉ rõ nguyên nhân
mất tờ giấy chứ không phải mất ông bố.
Trang 9d Ý nghĩa:
Ngoài ý nghĩa mua vui, truyện còn gợi bài học về sự nói năng Trong đối thoại để tránh hiểu lầm, cần
hiểu đúng ý người nói và để người nghe hiểu đúng ý mình, phải dùng
từ cho đúng
Trang 11b Tình huống gây cười:
Anh học trò dốt nhận lời đi dạy chữ cho treû.
Trang 12c Tình tiết gây cười:
Trang 13luống cuống - nói liều
sợ sai - bảo đọc khe õ
thấp thỏm - khấn Thổ Công
đắc chí - bảo đọc to
c Tình tiết gây cười:
chữ “kê” - không biết đọc ( dốt nát)
( giấu dốt)
( sĩ diện)
(mê tín) ( hợm hĩnh)
Trang 14bị chủ nhà lật tẩy
thầy trổ tài chống chế
(dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà: tam đại con gà)
Thầy đồ vừa dốt chữ vừa không hiểu biết về thực tế cuộc sống, lại còn láu cá vặt
Yếu tố bất ngơ ø:
Trang 15* Phê phán thói giấu dốt, bệnh sĩ diện hão, vạch trần chân dung thảm hại của những thầy đồ giả danh thời chế
độ phong kiến suy tàn
phải thói giấu dốt và bệnh sĩ diện.
d Ý nghĩa của truyện:
Trang 16Lí trưởng trên công đường.
Mâu thuẩn giữa hư danh và thực chất
2 Truyện “Nhưng nó phải bằng hai
mày”:
a
a Đối tượng gây cười : :
b Nguyên nhân gây cười :
Nổi tiếng xử kiện giỏi (liêm – minh) – bênh vực kẻ nhiều tiền.
Trang 17b Tình huống gây cười :
Lí trưởng xử kiện việc Cải và Ngô đánh nhau.
Trang 18c Yếu tố gây cười :
Hành động của nhân vật :
- Cải xoè 5 ngón tay
- Thầy lí xoè 5 ngón tay trái úp lên 5
ngón tay phải
nhắc quan về 5 đồng đã đút lót
tiền của Ngô nhiều gấp đôi nên cái phải của Cải bị cái trái của Ngô che kín rồi
Thầy lí không có tính “liêm”.
Trang 19Phải :
Cách nói lập lờ, đa nghĩa
+ bắt buộc có, cần thiếtcó, biết điều ( lễ vật nhiều )
Lời nói của nhân vật :
+ đúng ( lẽ phải)
(thầy lí không có tính “minh”)
_ Cải nói: lẽ phải về con
_ Thầy lí: mày phải nhưng nó phải bằng hai mày
Trang 20Lí trưởng là người thực thi công
lí nhưng lại không liêm minh, nhận của đút lót, bênh vực kẻ có nhiều tiền
Như vậy :
Trang 21e Ý nghĩa của truyện:
* Phê phán cách xử kiện của một số tham quan thời phong kiến suy tàn,
đả kích thói tham nhũng.
* Lên án sự thao túng của đồng tiền ngay ở chốn công đường.
Trang 22III Tổng kết :
- Cả ba truyện cười đều châm biếm,
đả kích những thói xấu của một lớp người thời phong kiến suy tàn Truyện kết cấu ngắn gọn, hàm súc Ngôn ngữ giản dị nhưng sắc sảo Nghệ thuật gây cười chủ yếu qua cử chỉ, lời nói của nhân vật Yếu tố bất ngờ tạo
Trang 23-
- Truyện cười dân gian là kết tinh của trí tuệ và tinh thần lạc quan của nhân
dân ta để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn