Cơ Điện tử (CĐT) là một lĩnh vực công nghệ cao được hình thành nhờ tích hợp những thành tựu mới nhất của nhiều ngành công nghệ khác nhau như cơ khí chế tạo, điện điện tử, công nghệ tự động hóa, công nghệ thông tin và công nghệ vật liệu nhằm tạo ra các sản phẩm thông minh trong dân dụng, quân sự, y tế, an ninh quốc phòng, hàng không vũ trụ ... Với đặc điểm nổi bật này, vai trò của CĐT trở nên rất quan trọng và không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại. Tạp chí Technology Review của Trường Đại học Công nghệ Massachusetts Hoa Kỳ tháng 022003 đã đánh giá Cơ Điện tử là một trong 10 công nghệ có triển vọng làm thay đổi thế giới trong thế kỷ XXI 66.
Trang 11
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 22
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Trần Đình Thiên
2 TS Phạm Ngọc Hải
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 9
1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.3 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả 17
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ ĐIỆN TỬ
19
2.1 Cơ sở lý luận về Cơ Điện tử và ngành công nghiệp Cơ Điện tử 19
2.1.1 Các khái niệm, thành phần chủ yếu, đặc trưng và vai trò của Cơ Điện
tử và công nghiệp Cơ Điện tử
19
2.1.1.5 Vai trò của ngành công nghiệp Cơ Điện tử đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam
26
2.1.2 Các khái niệm cơ bản về cụm ngành và các đặc trưng cơ bản cụm
ngành công nghiệp Cơ Điện tử
29
2.1.2.4 Một số đặc trưng cơ bản của cụm ngành công nghiệp 32
Trang 5v
2.1.3 Mô hình kim cương của Michael E Porter áp dụng cho ngành công
nghiệp Cơ Điện tử
35
2.1.4 Tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện
tử:
36
2.2 Cơ sở lý luận về chính sách phát triển công nghiệp nói chung, công
nghiệp Cơ Điện tử nói riêng
38
2.2.4 Tiêu chí đánh giá chính sách phát triển công nghiệp 47
2.3 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách
phát triển công nghiệp nói chung, công nghiệp Cơ Điện tử nói riêng và
bài học đối với Việt Nam
2.3.3 Chính sách nâng cao hiệu quả quản lý và gắn kết khu vực Nhà nước
với tư nhân trong nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ
ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
56
3.1 Đánh giá các yếu tố tác động đến thực trạng phát triển ngành công
nghiệp Cơ Điện tử giai đoạn 2010-2020
56
3.1.1 Đánh giá thực trạng năng lực sản xuất, loại hình sản phẩm và tình
hình đào tạo nguồn nhân lực của ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam
56
Trang 6vi
3.1.1.1 Một số kết quả và hạn chế của ngành công nghiệp Việt Nam trong
thời gian qua
56
3.1.1.2 Thực trạng về năng lực sản xuất các sản phẩm Cơ Điện tử tại Việt
Nam
58
3.1.1.3 Thực trạng về các loại hình sản phẩm Cơ Điện tử được sản xuất
tại Việt Nam
62
3.1.1.4 Thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực Cơ Điện tử tại Việt Nam 66
3.1.2 Phân tích mô hình kim cương của Michael E Porter cho ngành công
nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam
69
3.1.3 Phân tích kết quả điều tra về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam
75
3.1.3.1 Quy trình thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng 75
3.1.3.2 Tổng kết và phân tích kết quả nghiên cứu định lượng 76
3.2 Đánh giá thực trạng chính sách phát triển ngành công nghiệp Cơ
Điện tử Việt nam
87
3.2.1 Điểm lại các nhóm giải pháp phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện
tử Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2025
87
nam
89
3.2.2.1 Tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách phát triển công nghiệp 89
3.2.2.2 Tính công bằng của chính sách phát triển công nghiệp 95
3.2.2.3 Tác động của chính sách phát triển công nghiệp đến các đối
tượng hưởng lợi từ chính sách
99
3.2.2.4 Mức độ giải quyết vấn đề của chính sách phát triển công nghiệp 100
3.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện
tử Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020
Trang 7vii
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ
ĐIỆN TỬ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI
109
4.1 Bối cảnh phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam 109
4.1.3 Tác động của những yếu tố rủi ro có ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn
cầu và trong nước
113
4.1.4 Đánh giá nhu cầu và tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp
CĐT Việt Nam
116
4.1.4.1 Nhu cầu phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam 116
4.1.4.2 Tiềm năng phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam 122
4.2 Quan điểm và định hướng về hoàn thiện chính sách phát triển ngành
công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam đến năm 2030
123
4.2.2 Về nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm và công nghệ 126
4.3 Đề xuất một số chính sách, giải pháp phát triển ngành công nghiệp
Cơ Điện tử đến năm 2030
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
I DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CCN : Cụm ngành công nghiệp (Industrial Cluster - IC)
CĐT : Cơ Điện tử
CMCN 4.0 : Cách mạng công nghiệp lần thứ 4
CN : Công nghiệp
CNHT : Công nghiệp hỗ trợ
CNTT : Công nghệ thông tin
CPTPP : Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương CSCN : Chính sách công nghiệp
CSDL : Cơ sở dữ liệu
ĐMCN : Đổi mới công nghệ
EVFTA : Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu
Âu KH&CN : Khoa học và Công nghệ
NC&PT : Nghiên cứu và Phát triển
NLCT : Năng lực cạnh tranh
PTCN : Phát triển công nghiệp
QCKT : Quy chuẩn kỹ thuật
QLNN : Quản lý Nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
VN-EAEU : Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh
tế Á-Âu VSIC 2018 : Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam năm 2018
Trang 9ix
II DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á (The Asian Development Bank) AEC : Cộng đồng kinh tế ASEAN
AI : Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence)
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations) CAD : Thiết kế có sự trợ giúp của máy tính (Computer Aided Design) CAM : Sản xuất có sự trợ giúp của máy tính (Computer Aided
Manufacturing) CCED : Phát triển kinh tế thành phố dựa vào cụm ngành (Cluster-Based
City Economic Development) CPIA : Chỉ số đánh giá về thể chế và chính sách quốc gia (Country
Policy and Institutional Assessment) EFA : Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor
Analysis) ERP : Hệ thống lập kế hoạch quản lý nguồn lực của doanh nghiệp
(Enterprise Resource Planning) FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
FMS : Hệ thống sản xuất linh hoạt (Flexible Manufacturing Systems) FTA : Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)
GCI : Chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global
Competitiveness Index) GCR : Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness
Report)
GO : Giá trị sản xuất (Gross Output)
GVC : Chuỗi Giá trị Toàn cầu (Global Value Chain)
IC : Cụm ngành công nghiệp (Industrial Cluster)
IIF : Viện quốc tế tài chính (The Institute of International Finance) IIP : Chỉ số sản xuất công nghiệp (Index of Industrial Production) IMF : Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)
Trang 10x
IoT : Internet vạn vật kết nối (Internet of Things))
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for
Economic Co-operation and Development) R&D : Nghiên cứu và phát triển (Research & Development)
SME : Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Enterprises) TAI : Chỉ số thành tựu công nghệ (Technology Achievement Index) UNCTAD : Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (United
Nations Conference on Trade and Development) UNDP : Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (United Nations
Development Programme) UNIDO : Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc
VDR : Báo cáo Phát triển Việt Nam (Vietnam Development Report)
WB : Ngân hàng Thế giới (World bank)
WDI : Chỉ số đánh giá phát triển của Ngân hàng Thế giới (World
Development Indicator) WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum)
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 11
xi
DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Một số chỉ số thống kê về lực lượng lao động của Việt
3.8 Kết quả đánh giá Khoa học Công nghệ (KHCN) 79 3.9 Kết quả đánh giá Nguồn lực tài chính (NLTC) 80 3.10 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho các biến từ khảo
sát nhóm Doanh nghiệp Cơ Điện tử
82
3.11 Danh sách và ý nghĩa các biến độc lập và phụ thuộc theo
phân tích hồi quy tuyến tính
84
3.13 Một số chỉ số đánh giá về thể chế, môi trường kinh tế vĩ
mô của Việt Nam
90
3.14 Tổng hợp số liệu chi cho NC&PT và KH&CN và của Việt
Nam giai đoạn 2010-2017
Trang 12xii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1.1 Khung phân tích được sử dụng cho Luận án 6 2.1 Hình ảnh một bàn tay của robot thông minh 19
2.3 Kiến trúc tổng quan của nhà máy thông minh 23 2.4 Cơ Điện tử - những phạm vi ứng dụng chính 28
2.6 Sơ đồ cụm ngành công nghiệp Cơ Điện tử 34 2.7 Mô hình kim cương phân tích năng lực cạnh tranh
của ngành công nghiệp theo Micheal E Porter
4.1 Biểu đồ về số lượng robot công nghiệp được cung cấp
cho các ngành công nghiệp trên thế giới trong các năm
4.3 Biểu đồ về số lượng robot công nghiệp được bán trên
toàn cầu giai đoạn 2009 - 2017 và dự báo cho giai đoạn
2018 - 2021
121
4.4 Biểu đồ về số lượng robot công nghiệp được bán ở các
khu vực trong các năm 2016, 2017 và dự báo cho các
năm từ 2018 đến 2021
122
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Cơ Điện tử (CĐT) là một lĩnh vực công nghệ cao được hình thành nhờ tích hợp những thành tựu mới nhất của nhiều ngành công nghệ khác nhau như cơ khí chế tạo, điện - điện tử, công nghệ tự động hóa, công nghệ thông tin và công nghệ vật liệu nhằm tạo ra các sản phẩm thông minh trong dân dụng, quân sự, y tế, an ninh quốc phòng, hàng không vũ trụ Với đặc điểm nổi bật này, vai trò của CĐT trở nên rất quan trọng
và không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại Tạp chí
"Technology Review" của Trường Đại học Công nghệ Massachusetts - Hoa Kỳ tháng 02/2003 đã đánh giá "Cơ Điện tử" là một trong 10 công nghệ có triển vọng làm thay đổi thế giới trong thế kỷ XXI [66]
Sự ra đời của ngành CĐT xuất phát từ nhu cầu phát triển của các ngành sản xuất yêu cầu công nghệ tích hợp liên ngành giữa cơ khí, điện - điện tử, khoa học máy tính
và điều khiển học Với sự có mặt của hàng loạt các sản phẩm thông minh, ngày nay công nghệ CĐT đã được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, dân dụng của các quốc gia trên thế giới Bước sang thế kỷ XXI, với những tiến bộ đã được dự báo trong các hệ cơ - điện - sinh học, máy tính lượng tử, hệ pico và nano cùng những phát triển khác, tương lai của CĐT sẽ đầy tiềm năng và triển vọng
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều đang hòa mình vào dòng chảy của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) - cuộc cách mạng liên quan mật thiết đến đổi mới trong công nghệ số nói chung và CĐT nói riêng, đi cùng với nó là các lĩnh vực có thể liệt kê như robot và trí tuệ nhân tạo (AI), cảm biến, điện toán đám mây, Internet kết nối vạn vật (IoT); các máy móc tự động; công nghệ in 3D; công nghệ micro-nano-pico; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu… Nhờ các thành tựu của cuộc CMCN 4.0, các nước nghèo, chậm phát triển không nhất thiết phải đi theo trình
tự phát triển của những nước công nghiệp đã đi qua theo phương pháp cổ điển và cách thức tiếp cận truyền thống mà có thể "đi tắt đón đầu" bằng cách tạo ra những đột phá trong tư duy công nghệ tổng hợp, tạo ra những sản phẩm mới thông minh, có tính cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Trang 142
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này nếu chúng ta biết tận dụng truyền thống thông minh, sáng tạo, cần cù của dân tộc Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng Cuộc CMCN 4.0 cũng đã và đang thu hút được sự quan tâm sâu rộng từ phía các nhà khoa học, các nhà quản lý, các
tổ chức, doanh nghiệp và đông đảo tầng lớp lao động trong cả nước Sự chú trọng đều tập trung phản ánh quan điểm rằng, cuộc cách mạng này sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực công nghệ số và Internet, đồng thời cũng là cơ hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến
Đã đến lúc Việt Nam cần xác định rõ những định hướng chiến lược, có các chính sách, giải pháp cụ thể thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp cơ điện tử trong tổng thể phát triển công nghiệp quốc gia nhằm ứng phó kịp thời và hiệu quả với cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra hiện nay, đánh giá đúng vai trò “đòn bẩy” của các sản phẩm công nghiệp nói chung, các sản phẩm CĐT nói riêng đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phải làm chủ lĩnh vực CĐT từ nhiều góc độ khác nhau như khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giáo dục và phải đầu tư thích đáng cho CĐT trong quá trình phát triển Với tinh thần đó, trong cuốn “Chủ trương, chính sách của Việt Nam chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư” – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân – 2019, trong tiểu mục “Chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên (Tr 232 – 233), Ban Kinh tế Trung ương đã đề xuất “Ưu tiên nguồn lực cho triển khai một số chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các công nghệ ưu tiên, trọng tâm là công nghệ thông tin và truyền thông,
Cơ Điện tử, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ
sinh học, điện tử y sinh” [7]
Nhận thức được vai trò quan trọng và khả năng đóng góp của ngành CN CĐT đối với quá trình phát triển kinh tế công nghiệp quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế với quy mô thị trường ngày càng đa dạng và tính cạnh tranh cao, cùng với những tác động từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để đảm bảo tính khách quan và cơ sở thực tiễn của Đề tài, Nghiên cứu sinh (NCS) đã thực hiện khảo sát lấy ý kiến các chuyên gia (nhà nghiên cứu, giảng viên, cán bộ quản lý, nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo cơ quan Nhà nước, lãnh đạo doanh nghiệp…) và các doanh nghiệp trong
Trang 153
ngành CN CĐT về tính cấp thiết của Đề tài "Phát triển ngành công nghiệp Cơ điện tử
Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2030" và nhận được kết quả tích
cực Cụ thể, theo kết quả khảo sát đã thu thập, đề tài nhận được 72/72 phiếu đồng ý từ các chuyên gia là những nhà quản lý, hoạch định chính sách, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và 14/14 phiếu đồng ý từ các doanh nghiệp, cơ quan hoạt động trong lĩnh vực CĐT hoặc có liên quan đến lĩnh vực CĐT bao gồm các Hiệp hội, Viện nghiên cứu, Trường đại học, doanh nghiệp Xuất phát từ nhu cầu thực tế, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển ngành công nghiệp CĐT Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các chuyên gia và cơ quan đầu ngành của Nhà nước, các Hiệp hội, doanh nghiệp hoạt động trong ngành CĐT như: Hội Cơ Điện tử Việt Nam, Viện Nghiên cứu
Cơ khí trực thuộc Bộ Công Thương, Viện Nghiên cứu Điện tử tin học tự động hóa trực thuộc Bộ Công Thương, Hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, Hội Tự động hóa Việt Nam, Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Công nghệ thông tin trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, Công ty CP Bia Sài Gòn - Hà Nội, Công ty TNHH
Tự động hóa Cơ khí và Môi trường (AMECO)… Kết quả thu được từ (i) Phiếu khảo sát về tính cấp thiết của Đề tài, (ii) Phiếu khảo sát về thực trạng phát triển của ngành công nghiệp Cơ Điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 và các yếu tố ảnh hưởng đến
sự phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử (Phụ lục 4,5) là một trong những cơ sở quan trọng để NCS đưa ra các giải pháp cho mục tiêu phát triển của ngành CN CĐT Việt Nam
Nhằm mục tiêu hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng CĐT, đưa CĐT phục vụ thiết thực và có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đồng thời góp phần cung cấp luận cứ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở định hướng và phối hợp liên ngành khi tiến hành xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia cũng như phát triển các ngành, lĩnh vực quan trọng chịu tác động nhiều của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư trong thời gian tới, Đề tài “Phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2030” thuộc chuyên ngành quản lý kinh
tế đã được Nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu làm luận án tiến sĩ của mình
Trang 162.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về ngành CN CĐT, chính sách công nghiệp, chính
sách phát triển ngành CN CĐT Việt Nam
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển ngành CN CĐT và rút
ra bài học cho Việt Nam
- Phân tích những yếu tố tác động đến sự phát triển của ngành CN CĐT Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Ngành CN CĐT (vị trí, vai trò, đặc điểm, các thành phần chủ yếu)
- Những yếu tố tác động đến sự phát triển của ngành CN CĐT Việt Nam
- Những vấn đề liên quan đến chính sách phát triển ngành CN CĐT Việt Nam (ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách, kiểm tra, đánh giá; điều chỉnh chính sách) và thực trạng phát triển của ngành CN CĐT Việt Nam
Trang 175
một số nước rất mạnh và thành công trong phát triển công nghệ và sản xuất các sản phẩm CĐT
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án:
Trong quá trình nghiên cứu, để đảm bảo độ tin cậy, tính khoa học và giá trị ứng dụng, Nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp truyền thống: nghiên cứu lý thuyết, kế thừa, tổng hợp những kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học đã công bố liên quan đến phát triển ngành công nghiệp và ngành CN CĐT để đúc kết lý luận và đề xuất quan điểm về xây dựng các chính sách và giải pháp phát triển ngành CN CĐT Việt Nam
- Phương pháp phân tích tổng thể dựa trên mô hình kim cương của Micheal E Porter (2008) để phân tích đặc điểm và năng lực cạnh tranh của ngành CN CĐT Trên
cơ sở đó xem xét các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp cho các chính sách phát triển ngành CN CĐT
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập và tổng hợp dữ liệu (dữ liệu sơ cấp và thứ cấp): thu thập dữ liệu từ kết quả khảo sát điều tra 2 nhóm đối tượng chính là doanh nghiệp thuộc ngành CN CĐT và các chuyên gia trong lĩnh vực này sẽ cho thông tin và
mô tả rõ ràng hơn về thực trạng phát triển ngành CN CĐT Các dữ liệu thứ cấp sẽ được phân tích, đánh giá và đưa ra các kết quả dưới dạng sơ đồ, bảng so sánh và các kết luận Các kết quả thu thập từ các dữ liệu sơ cấp sẽ được tổng hợp dùng phương pháp thống kê mô tả SPSS, phương pháp đánh giá hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phương pháp nhân tố khám phá EFA và phương pháp tính toán hồi quy tuyến tính để
có cơ sở khoa học, mang tính khách quan kiểm chứng các giả thiết đặt ra về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát triển của ngành CN CĐT Đây cũng sẽ là cơ sở
để đề xuất giải pháp cho các chính sách phát triển ngành công nghiệp CĐT Việt Nam
- Phương pháp phân tích SWOT được sử dụng tại Chương 3 của Đề tài với mục tiêu phân tích, đánh giá 04 nội dung chính là điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của CN CĐT trong bối cảnh mới, từ đó đưa ra một số đánh giá chung về thực trạng phát triển ngành CN CĐT Việt Nam
Trang 186
5 Khung phân tích của Luận án:
Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển ngành CN Cơ điện tử
Chính sách phát triển ngành CN
Ngành
CN Cơ điện tử
Các yếu tố tác động đến phát triển Ngành CN Cơ điện tử
Khảo sát doanh nghiệp
Đánh giá thực trạng phát triển Ngành CN Cơ điện tử ở Việt Nam
Giải pháp phát triển ngành công nghiệp Cơ điện tử ở Việt Nam
Khảo sát chuyên gia
Hình 1.1: Khung phân tích được sử dụng cho Luận án Khung phân tích tổng quan cho nội dung của luận án được khái quát trong (Hình 1.1) Từ phân tích mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của đề tài và tìm ra khoảng trống nghiên cứu, nghiên cứu sinh tìm hiểu các cơ sở lý thuyết, cơ sở lý luận cho đề tài về Phát triển ngành CN CĐT Hai mảng chính được chú trọng là (i) ngành CN CĐT với cấu trúc, vai trò, đặc điểm, các thành phần cấu thành và (ii) chính sách phát triển ngành CN Mô hình kim cương M.E Porter được áp dụng để phân tích tổng thể đặc điểm của ngành CN CĐT và năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh hiện tại
Mô hình SWOT được tham chiếu cho ngành CN CĐT để phân tích rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành CN CĐT Các lý thuyết về Chính sách công nghiệp là cơ sở quan trọng để NCS xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cho các chính sách phát triển công nghiệp Cơ Điện tử của Việt Nam Trên cơ sở những nội dung phân tích trên, các yếu tố ảnh hưởng đến ngành CN CĐT được tổng hợp và tiến
Trang 196 Các câu hỏi nghiên cứu:
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành CN CĐT ?
- Nhà nước có cần hỗ trợ các giải pháp về chính sách để giúp ngành CN CĐT Việt Nam phát triển hay không và có thể hỗ trợ bằng những chính sách nào?
- Các chính sách phát triển ngành CN CĐT ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 đã hiệu quả chưa và cần cải thiện như thế nào?
7 Đóng góp mới của luận án:
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về chính sách phát triển công nghiệp áp dụng cho
ngành CN CĐT Việt Nam
- Phân tích kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển ngành CN CĐT và bài
học rút ra cho Việt Nam
- Khái quát hoá đặc điểm, vai trò, năng lực cạnh tranh của ngành CN CĐT và
phân tích năng lực cạnh tranh của ngành CN CĐT sử dụng mô hình kim cương Micheal E Porter
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới chính sách phát triển ngành CN CĐT
Việt Nam
Những đóng góp, đề xuất rút ra từ các kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
- Đánh giá thực trạng phát triển ngành CN CĐT Việt Nam
- Đánh giá thực trạng việc xây dựng và tác động của chính sách phát triển CN
CĐT của Việt Nam
- Kết quả phân tích điều tra khảo sát với nhóm doanh nghiệp và chuyên gia là cơ
sở đề xuất các giải pháp và chính sách phát triển ngành CN CĐT Việt Nam tới năm 2030
Trang 208
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án:
Trên cơ sở phân tích các đặc trưng và vai trò của ngành CN CĐT, luận án đề xuất tiếp cận phân tích ngành CN CĐT theo hướng cụm ngành CN CĐT (Mô hình 2.6 trang 34), và hướng tiếp cận quản lý ngành CN Cơ điện tử theo hướng cụm ngành, cũng là theo xu thế phát triển hiện nay và phù hợp với điều kiện ở Việt Nam, làm tăng khả năng cạnh tranh của ngành CN CĐT Cách tiếp cận theo hướng cụm ngành cũng giúp chúng ta phân tích ngành CN CĐT theo hướng của hệ sinh thái Các ngành, các lĩnh vực có liên quan tương tác đến nhau như thế nào Qua đó cho thấy được mức độ tương tác của các nhân tố tới sự phát triển ngành CN CĐT, đặc biệt là dưới góc độ chính sách
Với những kết quả nghiên cứu, phân tích lý thuyết về phát triển ngành công nghiệp nói chung và phát triển ngành ngành CN CĐT nói riêng, cùng với những bài học từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng ngành CN CĐT tại Việt Nam, luận án mong muốn đóng góp một số đánh giá và đề xuất giải pháp hữu ích, mang tính mở, có tính tham khảo cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CĐT có thể nâng cao hiệu quả quản lý, hoạt động kinh doanh sản xuất góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành CN CĐT Việt Nam
9 Kết cấu của Luận án:
Tên Luận án: “Phát triển ngành công nghiệp Cơ điện tử Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2030”
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện
tử
- Chương 3: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam
- Chương 4: Giải pháp phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam trong bối cảnh mới
Trang 21
9
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước:
Từ cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, ngành CN CĐT bắt đầu được quan tâm ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong nước đã thực hiện nhiều báo cáo, đề tài khoa học
về vấn đề này, tuy nhiên phần lớn là những nghiên cứu khoa học kỹ thuật tập trung vào thiết kế, ứng dụng các hệ thống, sản phẩm CĐT và ít báo cáo nghiên cứu khoa học tập trung vào khía cạnh quản lý kinh tế cũng như những tác động tương hỗ giữa các yếu tố cấu thành nên ngành CN CĐT, các chính sách quản lý, hỗ trợ của Nhà nước và tác động của ngành CN CĐT đối với nền kinh tế CN của Việt Nam nói chung Sau đây
là một số nghiên cứu trong nước đã đề cập đến vấn đề này:
- Tác giả Trần Thanh Thủy (2008), với công trình "Nghiên cứu hiện trạng và xây
dựng giải pháp phát triển ngành CN CĐT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020" đã
đưa ra một số khái niệm về CĐT và CN CĐT, các thành phần chủ yếu, một số đặc trưng cơ bản và vai trò của CĐT đối với phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, tác giả có một số đánh giá về các chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển ngành CN CĐT Việt Nam [60]
- Tác giả Phạm Cẩm Vân (2011), trong báo cáo "Hoạt động mở rộng thị trường
lĩnh vực CĐT của Viện IMI-Công ty cổ phần 3B" đã phân tích cơ hội và thách thức của
quá trình phát triển CĐT Việt Nam, thực trạng hoạt động mở rộng thị trường của Viện IMI và Công ty cổ phần 3B, qua đó đưa ra định hướng cho sự phát triển của CĐT Việt Nam cũng như định hướng phát triển tại Công ty cổ phần 3B, đó là: Nhà nước cần có những chính sách, cơ chế, đầu tư cho đào tạo ngành CĐT; đưa công nghệ CĐT vào chương trình nghiên cứu trọng điểm; đổi mới trong việc xây dựng đề tài cấp Nhà nước, lựa chọn và đưa ra các sản phẩm tầm cỡ của ngành CĐT Về nghiên cứu phát triển CN CĐT cần tập trung theo các hướng: phát triển phần mềm; chế tạo các modun nhỏ của CĐT; cần đi vào nghiên cứu, ứng dụng trong lĩnh vực vi CĐT và nano CĐT [67]
- Tác giả Phạm Thượng Cát, với đề tài "Cơ Điện tử - Cơ hội và thách thức trong
quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam" đã làm rõ về CĐT bằng cách
đưa ra các khái niệm về CĐT, so sánh CĐT với tự động hóa; đồng thời đưa ra một số nhận định như sau:
Trang 2210
CĐT là một ngành khoa học và công nghệ nổi trội đang làm thay đổi thế giới mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội và không ít thách thức trong quá trình hội nhập CĐT tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển, phồn thịnh của đất nước đồng thời đòi hỏi nhiều sự thay đổi ở nhiều lĩnh vực Nhiệm vụ của chúng ta là tạo được sự phát triển hài hòa và bền vững trong quá trình chuyển đổi từ tư duy chuyên môn hóa sang
tư duy cộng năng đa ngành
CĐT được xem là một chiến lược phát triển công nghệ kỹ thuật trong tương lai của Việt Nam, nên trong tương lai ngành CĐT là ngành rất tiềm năng [10]
- Tác giả Trần Anh Quân và Đỗ Văn Vũ (2012), với bài báo "Xây dựng và phát
triển CN CĐT Việt Nam" đã tóm tắt: "CĐT là một xu thế phát triển tất yếu của ngành
chế tạo thiết bị thế kỉ XXI Bài báo bàn về các nội dung xoay quanh nội hàm CĐT, vị trí vai trò trong nền kinh tế quốc dân, xu thế phát triển trên thế giới, cũng như giới thiệu một số nét chính của quy hoạch phát triển CĐT giai đoạn đến 2015, có xét đến 2025" [35]
- Tại hội thảo “Phát triển ngành CN CĐT trên địa bàn Hà Nội nhằm đảm bảo
tăng trưởng kinh tế Thủ Đô bền vững" được tổ chức vào tháng 5/2013, các nhà hoạch
định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu đã tổng kết các kết quả bước đầu về sản phẩm của CN CĐT tại Hà Nội, đồng thời chỉ ra các mặt hạn chế như giá trị gia tăng còn thấp, các ngành CN hỗ trợ còn yếu, chưa đủ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao để thực hiện các hoạt động R&D (nghiên cứu & phát triển) Mặc dù đi sau trong phát triển CN CĐT, Việt Nam có những lợi thế nhất định do có thể kế thừa kinh nghiệm phát triển của thế giới và được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm thông qua các cơ chế chính sách khuyến khích phát triển Tiêu biểu nhất là ngành CN CĐT đã được đưa vào Danh mục ngành CN ưu tiên mũi nhọn của Quốc gia theo Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg ngày 23/4/2007 của Chính Phủ [21], [48]
- Cũng không thể không nhắc đến kỷ nguyên CMCN 4.0, trong đó CĐT được coi
là một trong những trụ cột của thời kỳ sản xuất thông minh và số hóa một cách toàn diện các hoạt động sản xuất Trong năm 2018, nhiều hội thảo đã được tổ chức như hội thảo về Công nghệ Robotics – Mechatronics trong CMCN 4.0: nhu cầu và giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam, hay Hội thảo về Cơ học trong cuộc CMCN lần thứ tư … với mục tiêu định hướng phát triển cho ngành CN CĐT Với tỷ trọng lớn các doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc ứng dụng công nghệ CĐT và
Trang 2311
robot vào sản xuất sẽ là thách thức lớn Theo kết quả điều tra nghiên cứu của Bộ Công thương phối hợp với Tổ chức phát triển CN của Liên Hợp quốc (UNIDO) về mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp Việt Nam với CMCN 4.0 năm 2018, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có đủ tiềm lực trong đầu tư ứng dụng những công nghệ của CMCN 4.0 vào sản xuất [13], [15] Từ đó có thể thấy cần những chính sách hỗ trợ cũng như cơ chế để tăng cường hợp tác với các cơ sở nghiên cứu và các doanh nghiệp công nghệ
- Tại Báo cáo "Vai trò của Nhà nước trong Phát triển kinh tế Việt Nam" (2017)
thuộc chương trình nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (World bank), các tác giả đã có nhận định rằng: Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế thị trường hiện đại hoạt động hiệu quả (với cốt lõi là khu vực tư nhân), với vai trò thúc đẩy, điều tiết trong việc khắc phục các thất bại của thị trường và cung cấp một sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp và cá nhân Trong một số lĩnh vực, vai trò của nhà nước cần được nâng cao, đặc biệt trong việc xây dựng các thể chế kinh tế thị trường và tạo điều kiện phát triển các nhân tố thị trường [36]
- “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2019 (VDR 2019) – Việt nam – Kết nối vì Phát triển và Thịnh vượng chung” do nhóm chuyên gia của Ngân hàng thế giới đưa ra bản phân tích toàn diện năng lực cạnh tranh của Việt nam, phân tích đặc điểm kết nối về mặt không gian, thời gian, các tác động kinh tế của kết nối và báo cáo chính sách để đề xuất các khuyến nghị cho các chính sách kết nối để hội nhập với thị trường nội địa, thị trường toàn cầu, phát triển về không gian và nâng cao khả năng phục hồi Đây cũng sẽ
là cơ sở tốt để các nhà hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho giai đoạn 2021-2030 [88]
- Như đã trình bày trong "Kỷ yếu hội thảo Phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện
tử trên địa bàn Hà Nội nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế Thủ Đô bền vững" (2013)
[21] về các thách thức và khó khăn gặp phải trong phát triển ngành CN CĐT, có thể thấy vì ngành CN hỗ trợ chuyên sản xuất các linh kiện CĐT cơ bản còn sơ khai, số lượng doanh nghiệp ít, nên giá trị gia tăng của sản phẩm không cao, năng lực cạnh tranh bị ảnh hưởng Do đó áp dụng cách tiếp cận phân tích cluster ngành của tác giả
Trương Hồng Trình, Nguyễn Thanh Liêm (2008) tại nghiên cứu "Tiếp cận lý thuyết và
thực tiễn cluster ngành cho phát triển kinh tế khu vực" [62] có thể được coi là công cụ
Trang 2412
giúp các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các giải pháp thích hợp về tài chính, đào tạo, hỗ trợ công nghệ, kinh doanh để phát triển ngành CN CĐT ở nước ta
1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Như đã đề cập, Ngành CĐT từ khi xuất hiện đã nhanh chóng khẳng định vai trò quan trọng của mình và những quan điểm về phát triển ngành CN CĐT cũng như vai trò của chính sách Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển ngành CN CĐT đã được đề cập khá đa dạng trong các nghiên cứu khoa học trên thế giới, cụ thể như sau:
- Có thể thấy được yếu tố thị trường là một nhân tố quan trọng đối với tất cả các ngành CN, bao gồm CN CĐT Trong nghiên cứu " Mechatronics and the design of intelligent machines and systems", Bradley, Seward, Dawson, và Burge (2018) đã công bố rằng các doanh nghiệp nếu muốn có sức cạnh tranh trong một thị trường toàn cầu và đầy tính cạnh tranh, doanh nghiệp đó cần áp dụng CĐT trong sự vận hành Qua
đó, nhu cầu về số lượng và sự sáng tạo của sản phẩm CĐT ngày càng tăng [78] Tác giả Milecki (2015) tại nghiên cứu "45 Years of Mechatronics–History and Future
In International Conference on Automation" đã tổng kết và đánh giá ngành CĐT trong khoảng 45 năm, bắt đầu từ năm 1970 cho đến 2015 và kết luận rằng thị trường toàn cầu hóa cũng như yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đã tạo ra nhiều doanh nghiệp thành công trong ngành CĐT và trong tương lai, đây vẫn sẽ là một ngành phát triển và một thị trường càng ngày càng được mở rộng [97]
- Trong nghiên cứu “Use of Mechatronics in Today’s Industry: A Review” [83],
các tác giả Gurjeevan Singh, Kamal Khanna, Gazal Preet Arneja, Sukhjinder Singh đã
đi từ định nghĩa và miêu tả hệ thống CĐT và các thành phần của chúng đến các lĩnh vực ứng dụng của hệ thống CĐT trong CN nói riêng và trong cả nền kinh tế nói chung
Có thể thấy các sản phẩm CĐT có mặt trong các hệ thống điều khiển tự động, hệ robot, các hệ thống gia công cơ khí, trong ngành CN ô tô, trong ngành công nghệ thông tin và phát triển trí tuệ nhân tạo, thị giác máy (machine vision) và hệ cảm biến ,
cho đến các thiết bị gia dụng, máy móc thiết bị y tế Trong nghiên cứu "Evolution of
the Mechatronic systems and its Overview; International Journal for Research in Applied Science & Engineering Technology (IJRASET)" (2016) [69], các tác giả
Akshay B Zambare, Pradip R Lande, Prashant W Walke, Shubham A Soudagar, Rahul R Gawali đã trình bày quá trình phát triển của các hệ CĐT, các bước thiết kế hệ thống CĐT, đồng thời cũng nêu ra các hướng phát triển và ứng dụng của chúng trong
Trang 25- Trong “Mechatronics: From Systems Combination to Business Integration”
(2015) [79], Christian Koch và đồng nghiệp giới thiệu một các tiếp cận hoàn chỉnh kết hợp giữa phát triển các sản phẩm CĐT cùng với các bước thương mại hóa sản phẩm tiến tới xây dựng các doanh nghiệp CĐT Thông qua ví dụ minh họa về các công ty chuyên về CĐT - chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME – Small and Mediumsized Enterprises) Góp phần thúc đẩy sự phát triển của các công ty này là các
cơ chế hợp tác với các doanh nghiệp lớn hoặc nội địa hoặc đa quốc gia Quy trình chuyên môn về phát triển sản phẩm cũng như quy trình thương mại hóa sản phẩm được tiến hành song song, qua đó có thể tăng tính hiệu quả và tính cạnh tranh cho sản phẩm CĐT được thiết kế
- Đi cùng với việc phát triển các sản phẩm và doanh nghiệp CĐT, việc phát triển
nguồn nhân lực phục vụ cho ngành CĐT cũng vô cùng quan trọng Trong nghiên cứu "
Industry - Oriented Competency Requirements for Mechatronics Technology in Taiwan" (2012) [111], tác giả Wen-Jye Shyr sử dụng phương pháp thực nghiệm qua
ba giai đoạn để xác định các chỉ số năng lực về đào tạo CĐT với mục tiêu đáp ứng được các yêu cầu của ngành CN CĐT
Grimheden và Hanson (2005) trong nghiên cứu " Mechatronics—the evolution
of an academic discipline in engineering education" đã kết luận rằng việc giáo dục và đào tạo trong ngành CĐT mang đến tính cách mạng cho cả CN và giáo dục [82] Habib (2006) tại nghiên cứu "Mechatronics engineering the evolution, the needs and the challenges" đã phân tích về những nhu cầu và thách thức của ngành CĐT và nhận
Trang 2614
định việc đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết, đồng thời cần có sự liên kết giữa hệ thống giáo dục và các doanh nghiệp trong ngành [84]
Theo Bajpai và Khare (2015) trong nghiên cứu "Mechatronics engineering
education in India Comparative professional pedagogy", những đặc thù của ngành
CĐT đòi hỏi nguồn nhân lực có năng lực và trình độ cao nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn và đòi hỏi của công việc Vì vậy, chất lượng của giáo dục và đào tạo trong ngành CĐT là vô cùng quan trọng đến sự phát triển và tính cạnh tranh trong tương lai
của ngành CĐT [74] Tác giả Hasan, Yasin và Yunus (2015) trong nghiên cứu "A
Conceptual Framework for Mechatronics Curriculum Using Stufflebeam CIPP Evaluation Model" đã kết luận sự phát triển trong chính sách Nhà Nước sẽ giúp quá
trình giáo dục và đào tạo đạt được ba mục đích chính Một là trang bị kiến thức của ngành CĐT cho nguồn nhân lực, hai là thay đổi nhận thức của xã hội và thị trường, và cuối cùng là việc tạo nên những kiến thức và sự sáng tạo đổi mới [86]
Theo Laut, Wright, Nov và Porfiri (2014) tại nghiên cứu "Where mechatronics,
public art, community members, and environmental science meet (focus on education)", sự phát triển trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của ngành CĐT
cần một số yếu tố như môi trường khoa học – kỹ thuật, nhận thức xã hội, thói quen sống của cộng đồng Chính vì vậy, nhận được sự hỗ trợ và định hướng từ các chính
sách Nhà Nước là cần thiết [94] Beierle (2010) tại nghiên cứu "Democracy in
practice: Public participation in environmental decisions" cũng công bố điều tương tự
và cho rằng để tạo ra một môi trường thích hợp cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo cho ngành CĐT thì chính sách Nhà Nước là thiết yếu [75]
- Không thể không nhắc tới cuộc CMCN 4.0 cùng với nó là Internet vạn vật kết
nối Trong nghiên cứu “The Internet of Things - The future or the end of
mechatronics” (2015) [80] và nghiên cứu "From Mechatronic Components to Industrial Automation Things: An IoT Model for Cyber-Physical Manufacturing Systems" (2016) [90], các tác giả chỉ ra hướng phát triển tiếp theo của ngành CN CĐT,
trong đó các thành phần CĐT sẽ là lớp cơ bản của các sản phẩm thông minh thế hệ mới
- Trong nghiên cứu "Report on Assessment skills and needs in the Mechatronics
and Metallurgical sectors industries in the 5 countries" [81], nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu và khảo sát về CN CĐT và luyện kim ở năm nước thuộc khối Cộng đồng
Trang 2715
chung châu Âu là Đức, Slovakia, Ý, Bulgaria và Tây Ban Nha Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra hướng phát triển tất yếu của các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo ở châu Âu là phải áp dụng các thành quả của CMCN 4.0 với các hệ thống thông minh Qua đó cũng giúp các chính phủ định hướng phát triển đào tạo nguồn nhân lực cũng như quy hoạch phát triển nền CN phụ trợ CĐT
- Theo Báo cáo "Agricultural Robots & Mechatronics: Market Growth & Trends
to 2025" (2020) dự đoán về xu hướng phát triển của CĐT ứng dụng trong nông nghiệp
trong giai đoạn 2020-2025, có thể thấy một số điểm quan trọng như tỷ trọng tự động hóa trong nông nghiệp ngày càng tăng do sự thiếu hụt nhân công lao động (nhóm đối tượng trẻ tuổi làm ngành nghề khác), thị trường nông nghiệp Bắc Mỹ sẽ sử dụng nhiều sản phẩm CĐT nhất trên thế giới, và các công ty sản xuất sản phẩm CĐT lớn sẽ cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường [71]
- Theo các tác giả Kenichi Tamura và Yaskawa (2018) tại nghiên cứu "Business
strategy meeting Mechatronics systems business" của OKI Electric Industry, một lưu ý
không thể bỏ qua là các doanh nghiệp CĐT lớn ngoài mục tiêu phát triển kinh tế cũng luôn đặt các mục tiêu sản xuất xanh, thân thiện với môi trường [89] Đây cũng là điểm các nhà hoạch định chính sách cần lưu ý khi phát triển CN CĐT ở Việt Nam
- Cụm ngành CN (Industrial Cluster) đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết và thực tiễn phát triển kinh tế vùng trong những năm gần đây Tuy nhiên vẫn chưa có phương pháp hệ thống để đánh giá hoạt động của cụm ngành CN trong khu vực và chưa thống nhất cách định nghĩa về cụm CN Lý thuyết cụm ngành CN được các tác
giả Bekele và Jackson (2006) đưa ra trong bài báo “Theoretical Perspectives on
Industry Clusters”, điều này giải thích lý do việc tập hợp các ngành giới hạn trong
phạm vi địa lý cho các hoạt động kinh tế [76] Sonobe & Otsuka (2006)
“Cluster-Based Industrial Development: An East Asian Model” cho rằng cụm CN là sự tập
trung về mặt địa lý hoặc sự tập trung ở một địa phương hay vùng các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng tương tự nhau hoặc có liên quan mật thiết với nhau [106] Kuchiki
(2007) “The Flowchart Model of Cluster policy: The automobile Industry cluster in
China” định nghĩa cụm ngành CN là sự tập trung về mặt địa lý trong một quốc gia
hoặc một vùng của các công ty có liên kết với nhau, các nhà cung cấp chuyên biệt, các nhà cung cấp dịch vụ và các tổ chức liên quan thuộc một lĩnh vực cụ thể [92] Porter (1990) định nghĩa “Cụm CN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và các tổ
Trang 2816
chức có liên quan với nhau trong một lĩnh vực cụ thể; gồm một loạt các ngành CN liên kết với nhau và các chủ thể khác có vai trò quan trọng đối với cạnh tranh; gồm chính phủ và các tổ chức khác, như các trường đại học, cơ quan nghiên cứu, tổ chức tài chính… cung cấp giáo dục, đào tạo, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật” [100] Với đặc thù và vai trò của ngành CN CĐT, việc tiếp cận và phân tích theo quan điểm cụm ngành CN CĐT sẽ phù hợp và mang lại lợi thế cạnh tranh cao hơn trong bối cảnh hiện tại
- Lý thuyết về quản lý kinh tế từ cổ điển đến hiện đại đều nghiên cứu cách thức phát triển kinh tế cho nhóm các doanh nghiệp/ngành trong khu vực, Marshall, A (1890) “”Principle of Economics” gọi là quản lý kinh tế khu vực CN “Industrial District” [95], Weber, A (1929) “Theory of the location of the Industries” [109] Tiếp cận theo xu thế kinh tế học khu vực cho cụm CN mang tính địa phương hoá có Krugmann (1995) “Development, geography and Economic Theory” [91] và Venables A.J (1996) “Localization of Industry and Trade Performance” [108] Lý thuyết kinh tế
về quản lý cụm ngành CN được hình thành rất sớm, tuy nhiên, khung phân tích Porter (2008) tập trung vào phân tích năng lực cạnh tranh để đưa ra chiến lược và chính sách quản lý kinh tế được áp dụng phổ biến [103]
- Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia hay năng lực cạnh tranh của một quốc gia
là vấn đề cốt lõi cần tập trung khi xây dựng chiến lược quốc gia Micheal E Porter
“The Competitive Advantage of the Nations” (1990) [100], “Clusters and New Economics of Competition” (1998) [101], “Clusters, Innovation, and Competitiveness:
New Findings and Implications for Policy” (2008) [102] đã đưa ra khung phân tích
năng lực cạnh tranh ở cấp độ vi mô và vĩ mô với vai trò trung tâm tập trung vào năng suất Các nhóm nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm: các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia, năng lực cạnh tranh vĩ mô và năng lực cạnh tranh vi mô
- Năng lực cạnh tranh vi mô được đề cập đến bởi Micheal E Porter (1998, 2008) [101], [102] Mô hình kim cương của Porter hoàn toàn phù hợp cho việc phân tích năng lực cạnh tranh của quốc gia, địa phương hay ngành CN với các nhóm nhân tố chính: Vai trò của Nhà nước, Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh, Các yếu tố điều kiện cầu; Điều kiện yếu tố đầu vào, ngành CN phụ trợ và liên kết
- Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu GCR (Global Competitiveness Report)
2019 do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố hàng năm, sử dụng chỉ số đánh giá
Trang 2917
năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI (Global Competitiveness Index) để đánh giá và xếp hạng mức độ năng suất của 1 quốc gia dựa trên các số liệu kinh tế do các quốc gia công bố và khảo sát ý kiến doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế, đây cũng là tài liệu tham khảo quan trọng để thấy được bối cảnh toàn cầu và năng lực canh tranh quốc gia hàng năm ở các khía cạnh khác nhau Năm 2019, Việt nam xếp hạng 67/141 quốc gia, đạt 61.5/100 điểm GCI, có 10/12 trụ cột tăng điểm số bao gồm: thể chế, cơ sở hạ tầng, năng lực tiếp nhận công nghệ thông tin, kỹ năng, quy mô thị trường, năng lực đổi mới sáng tạo, thị trường lao động, mức độ năng động của doanh nghiệp… [110]
1.3 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả:
Với danh mục rất khiêm tốn về các công trình nghiên cứu liên quan đã công bố ở trong nước và ở ngoài nước được liệt kê ở trên, có thể thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các chính sách và giải pháp để phát triển CĐT và ngành CN CĐT trong nhiều thập kỷ qua Tuy nhiên, với những công trình nghiên cứu đã công bố
ở trong nước, các nội dung được đề cập đến đã không còn tính thời sự và không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0 đang hiện hữu Với những công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài, do mỗi quốc gia có một nền tảng công nghệ riêng, một điều kiện kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu phát triển riêng, nên các chính sách và giải pháp phát triển CĐT và ngành CN CĐT của mỗi quốc gia cũng rất khác nhau và cả so với Việt Nam
Đề tài "Phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn 2030" thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế đã được Nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu làm luận án tiến sĩ của mình là hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu liên quan nào đã công bố ở trong nước và ở ngoài nước Trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh cũng đã hoàn thành 3 báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học với nội dung đã được tổng hợp tại Luận án này và được đăng tại Tạp chí Công Thương, cụ thể là:
1 Nhà máy thông minh - Những khái niệm cơ bản và lộ trình phát triển trong kỷ nguyên của nền CN 4.0 (Tạp chí Công Thương số 01 - tháng 1 năm 2019) [3]
2 Một số đánh giá về thực trạng, nhu cầu và tiềm năng phát triển Cơ Điện tử ở Việt Nam (Tạp chí Công Thương số 22 - tháng 12 năm 2019) [2]
Trang 3018
3 Áp dụng mô hình cụm ngành công nghiệp Cơ Điện tử trong phát triển ngành công nghiệp Cơ Điện tử ở Việt Nam (Tạp chí Công Thương số 04 - tháng 2 năm 2021) Khoảng trống về tác động của chính sách Nhà nước và các yếu tố liên quan đến
sự phát triển của Ngành CN CĐT Việt Nam và những giải pháp trong cơ chế quản lý Nhà nước đối với phát triển ngành CN CĐT Việt Nam sẽ là hướng nghiên cứu chính của luận án này
Trang 3119
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ ĐIỆN TỬ
2.1 Cơ sở lý luận về Cơ Điện tử và ngành công nghiệp Cơ Điện tử:
2.1.1 Các khái niệm, thành phần chủ yếu, đặc trưng và vai trò của Cơ Điện tử và công nghiệp Cơ Điện tử:
2.1.1.1 Khái niệm về Cơ Điện tử:
CĐT là một công nghệ được hình thành từ sự tích hợp nhiều ngành công nghệ như cơ khí, điện, điện tử, lý thuyết điều khiển, công nghệ thông tin nhằm phát triển tối đa tư duy hệ thống trong thiết kế và phát triển sản phẩm để tạo ra những sản phẩm mới thông minh ứng dụng công nghệ cao, có những tính năng vượt trội phục vụ con người Dưới đây là một số ứng dụng cụ thể của các sản phẩm CĐT:
- Trong kỹ thuật robot: các loại robot phục vụ, robot dạng người, robot CN, robot phẫu thuật trong y học
Hình 2.1: Hình ảnh một bàn tay của robot thông minh
- Trong CN: các loại máy CN tự động điều khiển theo chương trình, các hệ thống dây chuyền sản xuất linh hoạt,
- Trong vận chuyển hàng hóa: các loại máy nâng chuyển, các hệ thống cầu trục, cần trục
- Trong giao thông vận tải: các hệ thống điều khiển tự động trong ô tô, ô tô tự lái, máy bay, tàu thuỷ, các hệ thống phanh an toàn, các thiết bị giám sát giao thông, …
Trang 3220
- Trong y học: các loại thiết bị chụp cắt lớp, các thiết bị thí nghiệm về ADN, nhân bản phôi và các máy chiếu các loại tia bức xạ, các thiết bị mổ nội soi, thiết bị phục hồi chức năng cho người tàn tật, …
- Trong không gian vũ trụ: vệ tinh, tàu vũ trụ, các xe tự hành trên các hành tinh
- Trong văn phòng: các thiết bị máy văn phòng như máy fax, máy in laser, máy photocopy, …
- Trong dịch vụ: các máy bán hàng tự động, các máy ATM …
- Trong sinh hoạt gia đình: các loại thiết bị nghe nhìn, máy giặt, hệ thống bảo vệ nhà cửa, máy ảnh…
Với một số ứng dụng điển hình nêu trên, có thể thấy CĐT là một ngành có phổ ứng dụng rất lớn trong nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội và không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại CĐT là sự “liên kết cộng năng của nhiều lĩnh vực để tạo ra những sản phẩm mới có những tính năng vượt trội” Sự liên kết cộng năng này mang lại nhiều cơ hội và không ít thách thức cho sự phát triển của chính CĐT
Khái niệm về CĐT được mở ra từ định nghĩa ban đầu của công ty Yasakawa Electric của Nhật Bản Trong các tài liệu xin bảo hộ thương hiệu của mình, Yasakawa định nghĩa CĐT như sau: “Thuật ngữ Mechatronics (CĐT) được tạo thành bởi
“mecha” trong “mechanism” (cơ cấu) và “tronics” trong electronics” (điện tử) Nói cách khác, các công nghệ và sản phẩm được phát triển sẽ ngày càng có sự kết hợp chặt chẽ và hữu cơ thành phần điện tử vào trong các cơ cấu và rất khó có thể chỉ ra ranh giới giữa chúng” [93], [98], [104]
Trên thế giới, khái niệm về CĐT tiếp tục được phát triển sau khi Yasakawa đưa
ra định nghĩa đầu tiên: Harashima, Tomizuka và Fukuda (1996) định nghĩa: “CĐT là
sự tích hợp chặt chẽ của kỹ thuật cơ khí với điện tử và điều khiển máy tính thông minh trong thiết kế và chế tạo các sản phẩm và quy trình CN” [85], [104]; Auslander và Kempf (1996): “CĐT là sự áp dụng tổng hợp các quyết định tạo nên hoạt động của các
hệ vật lý” [73], [104]; Shetty và Kolk (1997) lại quan niệm: “CĐT là một phương pháp luận được dùng để thiết kế tối ưu các sản phẩm cơ điện” [105], [104]; Bolton, W (1999) đưa ra định nghĩa: “Một hệ CĐT không chỉ là sự kết hợp chặt chẽ các hệ cơ khí, điện và nó cũng không chỉ đơn thuần là một hệ điều khiển, nó là sự tích hợp đầy
Trang 3321
đủ của tất cả những hệ trên” [77], [104]; Giáo sư Glozio Rizzomi (Đại học Ohio - Mỹ) cho rằng “CĐT là sự thiết kế tổng hợp giữa các phương pháp thiết kế cơ học truyền thống với các cảm biến, công nghệ đo, mô tơ, cơ cấu chấp hành, hệ thống điều khiển nhúng (Embedded Control System) và phần mềm xử lý thời gian thực (Real Time)" Theo ông thì các sản phẩm CĐT có nhiều chức năng vượt trội, trong đó có các phần điện tử thay thế các chức năng cơ khí tạo nên các sản phẩm, các hệ thống có độ mềm dẻo, thích nghi cao và dễ dàng sửa đổi nâng cấp, thiết kế lại, lập trình lại [64]
Trong bài viết “CĐT - cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam” PGS.TSKH Phạm Thượng Cát đã định nghĩa “CĐT là một lĩnh vực khoa học và công nghệ được hình thành từ sự cộng năng của nhiều ngành khoa học công nghệ nhằm hoàn thiện, thông minh hoá tạo nên linh hồn và cảm xúc cho các sản phẩm và công cụ phục vụ cho con người” [16]
Tất cả những định nghĩa nêu trên về CĐT đều xác đáng và giàu thông tin, tuy nhiên bản thân chúng, nếu đứng riêng lẻ lại không định nghĩa được đầy đủ về CĐT Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc tiếp tục định nghĩa về CĐT, phân loại các sản phẩm CĐT, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất trong việc định nghĩa một cách toàn diện “CĐT là gì” Thậm chí còn có quan điểm cho rằng CĐT không phải là một ngành khoa học mà chỉ đơn thuần là một công nghệ không có nền tảng khoa học cơ bản như cơ học, điều khiển học, v.v… và sản phẩm CĐT là một sản phẩm liên ngành, trong đó mỗi ngành đều có những vai trò nhất định
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, CĐT là một ngành khoa học dựa trên nền tảng khoa học của từng lĩnh vực riêng rẽ và khoa học liên kết đa ngành Do ảnh hưởng ngày càng tăng của công nghệ thông tin và kỹ thuật điện tử tiên tiến, ngày nay, các phương tiện cổ điển và cách tiếp cận công nghệ truyền thống không còn đáp ứng được thực tiễn phát triển, mà chỉ có CĐT với các quy luật mới mang tính liên ngành mới đủ sức đảm nhận để giải quyết những rào cản giữa các ngành kỹ thuật và nhiều vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0
Như vậy, CĐT không chỉ là sự tập hợp đơn thuần những công nghệ khác nhau như cơ khí, điện tử, cảm biến, máy tính mà là một thể thống nhất hữu cơ các yếu tố cấu thành Trong đó, cấu trúc của các công nghệ hợp thành đã có sự thay đổi để tạo thành một thể thống nhất trong sản phẩm Công nghệ CĐT cho phép phát triển những sản phẩm có tính năng mới, nhằm bù trừ hoặc loại bỏ những hạn chế trong thiết kế và
Trang 3422
chế tạo sản phẩm truyền thống, đồng thời mang lại nhiều giải pháp tiến bộ cho quá trình công nghệ trong các lĩnh vực sản xuất robot, hệ thống sản xuất linh hoạt, sản xuất tích hợp, năng lượng mới, giao thông, hàng không vũ trụ, thiết bị y tế và các mặt hàng dân dụng
2.1.1.2 Các thành phần chủ yếu của Cơ Điện tử:
Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên về CĐT, có thể thấy các thành phần của CĐT
là rất lớn và liên quan đến nhiều lĩnh vực KH&CN khác nhau Giáo sư Robert H Bishop (Đại học Tổng hợp Texas tại Austin, Mỹ) là chủ biên cuốn The Mechatronics Handbook (Sổ tay CĐT) [104] đã phân chia hệ CĐT thành các lĩnh vực NC&PT chủ yếu là (i) Mô hình hệ vật lý, (ii) Cảm biến và cơ cấu chấp hành, (iii) Tín hiệu và hệ thống, (iv) Phần mềm và thu thập dữ liệu, (v) Máy tính và hệ Logic Các thành phần chủ yếu của CĐT được minh họa trong Hình 2.2
Hình 2.2: Các thành phần chính của CĐT
Trang 3523
Khi lĩnh vực CĐT tiếp tục phát triển, danh sách những vấn đề KH&CN liên quan đến CĐT chắc chắn sẽ còn được mở rộng và phát triển, đặc biệt trong điều kiện của cuộc CMCN 4.0 hiện nay Internet kết nối vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn, công nghệ chuối khối Blockchain, Robotics, công nghệ in 3D trong CN chế tạo đang phát triển mạnh mẽ
Một ví dụ cho hệ thống CĐT tích hợp công nghệ cao, hiện đang là hướng tập trung phát triển là nhà máy thông minh - môi trường sản xuất trong đó quá trình sản xuất/chế biến/chế tạo và quá trình vận chuyển được chủ động tổ chức mà không cần đến các tác động của con người Nhà máy thông minh dựa trên hệ thống kết nối thực -
ảo, kết nối thế giới thực và ảo thông qua truyền thông qua cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đó là kết nối vạn vật qua mạng Internet (IoT) Những khái niệm cơ bản và lộ trình phát triển của nhà máy thông minh được nghiên cứu sinh và cộng sự đăng tải trên tạp chí Bộ Công Thương 01/2019 [3] Hình 2.3 mô tả kiến trúc tổng quan của mô hình nhà máy thông minh ở các cấp độ kết nối truyền thông CN, an ninh mạng và phân tích các dữ liệu CN, cấu trúc kết nối các hệ thống thiết bị chính và các thiết bị ngoại vi
Hình 2.3: Kiến trúc tổng quan của nhà máy thông minh [3]
Trang 3624
2.1.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của Cơ Điện tử:
Với các thành phần chính của CĐT như đã nêu ở trên và những gì hiện nay các nhà khoa học định nghĩa về CĐT, có thể thấy CĐT có một số điểm đặc trưng cơ bản sau đây:
❑ Một là: các sản phẩm CĐT thường là các sản phẩm cuối cho người dùng
(end - user products) Vì vậy, các sản phẩm CĐT phải tuân thủ quy luật thị trường là tính kinh tế và thoả mãn yêu cầu người dùng hơn là chỉ đạt chỉ tiêu kỹ thuật đơn thuần
❑ Hai là: hệ thống CĐT luôn coi phần tính toán là nhân tố trung tâm và việc
ứng dụng vi xử lý để điều chỉnh chính xác cơ năng và để thích nghi với những thay đổi của môi trường là bản chất của CĐT và các sản phẩm thông minh CĐT có tác dụng làm cho các hệ thống tự động hóa linh hoạt hơn, tích hợp nhiều chức năng hơn và cơ cấu chấp hành thông minh hơn
❑ Ba là: với các công nghệ micro và nano hiện nay, có thể đưa các cảm biến,
vi xử lý và cơ cấu chấp hành vào bất kỳ vị trí không gian hẹp nào trong cấu trúc cơ khí của các sản phẩm CĐT Điều này không những cho phép tạo ra các sản phẩm CĐT có
độ thông minh cao, mà còn cho phép các nhà thiết kế tối ưu hóa kích thước, trọng lượng và mức độ tiêu thụ năng lượng của sản phẩm
2.1.1.4 Khái niệm về công nghiệp Cơ Điện tử:
Trong danh mục các ngành CN của nền kinh tế - xã hội ở Việt Nam VSIC 2018 [45], CĐT chưa được liệt kê vào danh mục các ngành CN để Tổng cục Thống kê - Bộ
Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thực hiện các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội, mà chỉ tồn tại dưới dạng một lĩnh vực trong ngành CN chế tạo - chế biến, vì vậy để có một định nghĩa đầy đủ, chính xác về ngành CN CĐT là rất khó Ngày 24/01/2011 Bộ trưởng Bộ Công Thương đã có Quyết định số 0391/QĐ-BCT phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành CN CĐT Việt Nam giai đoạn đến năm
2015, có xét đến năm 2025” [37], nhưng trong Quyết định này cũng chưa nêu được định nghĩa về ngành CN CĐT và thực tế cho đến thời điểm này ngành CN CĐT vẫn chưa được hình thành theo đúng nghĩa của nó Hiện nay, trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0, để tiếp cận và đón nhận đầy đủ và nhanh chóng các công nghệ mới mang tính đột phá như Internet kết nối vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), robotic, công nghệ in 3D,…là các công nghệ chính yếu thuộc lĩnh vực CĐT phục vụ phát triển các sản phẩm thông minh, Nghiên cứu sinh mạnh dạn đề xuất Nhà
Trang 3725
nước tiếp nối tinh thần Quyết định số 0391/QĐ-BCT ngày 24/01/2011 của Bộ trưởng
Bộ Công Thương phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành CN CĐT Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, có xét đến năm 2025” tách lĩnh vực CĐT ra khỏi ngành CN chế tạo - chế biến và đưa lĩnh vực CĐT lên tầm một ngành CN đúng nghĩa của nó Có như vậy, Nhà nước mới có thể triển khai và xây dựng hệ thống chính sách, giải pháp phát triển cho ngành CN này - ngành CN chiếm tỷ trọng lớn trong nội hàm của cuộc CMCN 4.0 hiện nay một cách rõ ràng, đầy đủ và hiệu quả
Có thể định nghĩa ngành CN CĐT là ngành CN sản xuất và cung cấp các sản phẩm, kỹ năng và dịch vụ CĐT chất lượng cao cho người tiêu dùng Khác với các ngành CN khác, ngành CN CĐT được đặc trưng bởi những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Có sự tích hợp hoặc giao thoa các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến thuộc nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau là cơ khí chế tạo máy, điện, điện tử, điều khiển tự động và công nghệ thông tin, do vậy đòi hỏi phải có tư duy thiết kế và chế tạo liên ngành
- Thiết kế các sản phẩm là loại “hướng tới thị trường”, khác với truyền thống là thiết kế “đạt các chỉ tiêu kỹ thuật” hoặc “có giá thành rẻ nhất” Thiết kế các sản phẩm CĐT cho phép tạo ra các hệ thống có thể thực hiện được những chức năng mà khó có thể thực hiện được nếu không có điện tử số
- Các sản phẩm luôn luôn được đổi mới, do đó các hoạt động NC&PT cũng phải
là những hoạt động liên tục và đòi hỏi chi phí cao hơn so với các ngành CN khác
- Cấu trúc sản phẩm CĐT khá phức tạp và đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành kỹ thuật nhằm đáp ứng tính đa dạng của công nghệ và các yếu tố đầu vào Các ngành kỹ thuật hỗ trợ không chỉ bao hàm việc sản xuất hàng hóa, mà còn cả những dịch vụ khác nhau như thiết kế kỹ thuật, tư vấn, sản xuất thử, thử nghiệm, kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm, chuyển giao công nghệ
- Quá trình sản xuất ra đa phần các sản phẩm CĐT thường sử dụng rất ít nguyên liệu, năng lượng, bởi lẽ các sản phẩm này đuợc thiết kế với mục tiêu hạn chế chi phí các nguồn nguyên liệu và năng lượng không tái tạo, cũng như nhằm bảo vệ môi trường, nên bắt buộc phải có vốn đầu tư ban đầu khá lớn
- Ngành CN CĐT có tiềm năng lớn về thị trường và do đó cạnh tranh toàn cầu để xuất khẩu các sản phẩm CĐT trở thành nhiệm vụ rất quan trọng đối với mỗi quốc gia
Trang 3826
- Về góc độ quản lý kinh doanh, có thể thấy ngành CN CĐT là ngành kinh doanh
"mạo hiểm cao và được bù đắp cao" Ngoài ra, do các sản phẩm CĐT là các sản phẩm hướng tới các yêu cầu có cá tính của người tiêu dùng, vì vậy ngành CN CĐT phải có tính mềm dẻo, linh hoạt cao để bảo đảm được thời gian đưa các sản phẩm ra thị trường nhanh, kịp thời với các cơ hội kinh doanh nảy sinh liên tục trong quá trình phát triển của xã hội loài người
2.1.1.5 Vai trò của ngành công nghiệp Cơ Điện tử đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam:
CĐT là giai đoạn phát triển tự nhiên trong quá trình tiến hoá của thiết kế kỹ thuật hiện đại Sự phát triển của máy tính, sau đó là các máy vi tính, máy tính nhúng, cùng
sự kết hợp giữa CNTT và kỹ thuật phần mềm đã tạo nền tảng cho ngành CN CĐT có thể đóng vai trò trụ cột và là một trong những động lực chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của nhiều nước CN phát triển trong khu vực và trên thế giới
Để minh họa cho vai trò của ngành CN CĐT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam, có thể điểm qua một số lĩnh vực mà các sản phẩm CĐT được ứng dụng rất rộng rãi như sau:
Trong lĩnh vực chế tạo thiết bị, máy móc chuyên dụng phục vụ sự nghiệp CN hóa
và hiện đại hóa, với mô hình kinh tế trước đây, việc tự tạo cho mình một tiềm năng CN sản xuất được các thiết bị, máy móc chuyên dụng như máy công cụ, máy động lực, thiết bị kỹ thuật điện - điện tử, cơ khí ô tô và các thiết bị đo lường điều khiển cung cấp cho các ngành kinh tế - xã hội và trên cơ sở đó mở rộng sản xuất nhiều mặt hàng
khác nhau là điều rất cần thiết Phát triển CĐT trong lĩnh vực chế tạo thiết bị, máy móc
chuyên dụng không chỉ là một công cụ tăng thu nhập và thúc đẩy đa dạng hoá sản
phẩm, mà còn cho phép thâm nhập vào các ngành CN truyền thống, cải tạo, nâng cấp các ngành CN truyền thống trên cơ sở thực hiện hiện đại hóa, tự động hóa và thay đổi các thế hệ CN truyền thống cũng như tập quán kinh tế - xã hội của nền sản xuất truyền thống
Trong các lĩnh vực kỹ thuật quân sự, công nghệ CĐT được ứng dụng từ rất sớm
Với xu hướng tạo ra các hệ thống vũ khí, khí tài có độ thông minh, phản ứng nhanh, hoạt động chính xác, tin cậy kể cả trong điều kiện tác chiến điện tử
Trong lĩnh vực an ninh, các sản phẩm CĐT được ứng dụng rộng rãi trong các
thiết bị mã hóa của ngành cơ yếu, trong bảo mật thông tin và an toàn mạng, trong các
Trang 3927
hệ thống báo động phòng cháy, phòng mất trộm tại các ngân hàng, các công sở, kho tàng, viện bảo tàng, v.v
Trong lĩnh vực y tế, việc phát triển thiết bị CĐT y tế đóng vai trò quan trọng và
càng có ý nghĩa hơn khi bản thân thiết bị không những chỉ để chẩn đoán, điều trị bệnh
và thúc đẩy sự phát triển của rất nhiều lĩnh vực liên quan (vật lý - nguồn năng lượng tia bức xạ, hệ thống quang học, hệ thống cảm biến - nhận dạng, công nghệ thông tin -
xử lí ảnh, .) mà còn có hiệu ứng đomino đến việc phát triển các lĩnh vực khác như sinh hoá, chẩn đoán, trị liệu,
Trong lĩnh vực sản xuất và chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp và hải sản,
các sản phẩm CĐT cũng được ứng dụng rất rộng rãi phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đa dạng hoá các sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tạo điều kiện để các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế
Hơn thế nữa, Việt Nam cũng không thể bước vào nền kinh tế số, kinh tế tri thức,
xã hội thông tin mà thiếu một nền tảng CN hoá, hiện đại hoá đủ mạnh Phải đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành CN CĐT, ứng dụng rộng rãi các sản phẩm CĐT và coi ngành
CN CĐT là một trong số các ngành CN then chốt góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CN hóa và hiện đại hóa đất nước và trước mắt là để hiện đại hóa ngành CN cơ khí chế tạo máy - ngành CN sản xuất ra các thiết bị máy móc cơ bản cung cấp cho các ngành kinh tế - xã hội như máy công cụ, máy động lực, thiết bị kỹ thuật điện - điện tử,
cơ khí ô tô và các thiết bị đo lường điều khiển Trên hình 2.4 trình bày một số phạm
vi ứng dụng chính của các sản phẩm do ngành CN CĐT tạo ra
Trang 4028
Hình 2.4 Cơ Điện tử - những phạm vi ứng dụng chính
(Nguồn: Dr Kevin Craig, Renselaer Polytechnic Insitute)
Như vậy, ngành CN CĐT có vai trò không những là một trong những ngành CN dẫn đầu mang tính chiến lược của nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo sức mạnh cạnh tranh tổng hợp cho đất nước trong bối cảnh của cuộc Cách mạng CN lần thứ tư (CMCN 4.0) - cuộc cách mạng mà trong đó tâm điểm chính là các “nhà máy thông minh”, dự báo sẽ làm thay đổi mạnh mẽ nền sản xuất của thế giới trong một tương lai không xa, mà còn là một ngành CN có vị trí quan trọng trong quốc phòng, an ninh và bảo vệ sức khỏe con người Với quá trình hội nhập và mở cửa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư cũng như nhiều công nghệ đột phá mới
mà cuộc CMCN 4.0 đang tạo ra như trí tuệ nhân tạo (AI); công nghệ thông tin, Internet kết nối vạn vật (IoT), điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn, Blockchain; công nghệ na nô, công nghệ gen, công nghệ vật liệu, công nghệ in 3D trong lĩnh vực chế tạo , và việc phát triển ngành CN CĐT đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay càng là giải pháp quan trọng và là bước đi cơ bản để thúc đẩy sự phát triển KH&CN, đồng thời đẩy nhanh tiến trình CN hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo đảm an ninh quốc
gia, sẵn sàng đón nhận những cơ hội và thách thức mà cuộc CMCN 4.0 mang tới