1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc

183 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của luận án Hội nhập quốc tế đã và đang mang đến cho ngành lâm nghiệp của nước ta nhiều cơ hội để phát triển. Trong 10 năm trở lại đây, Việt Nam chứng kiến sự phát triển về giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản, tăng mạnh từ 3 tỷ USD năm 2010 lên 11,3 tỷ USD năm 2019 và mục tiêu của ngành lâm nghiệp phấn đấu đến năm 2025 giá trị này sẽ đạt 18 - 20 tỷ USD. Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới và đứng thứ 2 ở Châu Á về giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản (Tổng cục Lâm nghiệp, 2020) [101]. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì ngành lâm nghiệp nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức. Đó là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn nguyên liệu gỗ lớn. Chỉ tính riêng năm 2019, Việt Nam phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu gỗ lớn lên tới 2,52 tỷ USD, chiếm 22,5% tổng giá trị xuất khẩu (Tổng cục Lâm nghiệp, 2020) [101]. Như vậy, để đạt được mục tiêu giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản năm 2025 đạt 18 - 20 tỷ USD theo kỳ vọng của Chính phủ thì lượng gỗ lớn nguyên liệu thiếu hụt là rất lớn. Chủ trương sử dụng các loài cây bản địa để phát triển rừng trồng gỗ lớn theo hướng bền vững đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quan tâm, thể hiện qua Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp (theo QĐ số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/07/2013) [6] và Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014–2020 (Kèm theo Quyết định 774/QĐ-BNNTCLN ngày 18 tháng 4 năm 2014) [8]. Tuy nhiên, cho tới nay diện tích và chất lượng rừng trồng gỗ lớn từ các loài cây bản địa ở nước ta chưa đạt được như mong muốn. Nguyên nhân chính là do cây bản địa có chu kỳ kinh doanh dài, thiếu chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng gỗ lớn bằng các loài cây bản địa nên chưa khuyến khích được người dân và các doanh nghiệp tham gia. Mặt khác, những hiểu biết của chủ rừng về các đặc điểm sinh lý, sinh thái, kỹ thuật nhân giống và trồng rừng của nhiều loài cây bản địa còn chưa nhiều; việc nghiên cứu tuyển chọn được những loài cây bản địa sinh trưởng nhanh và xác định được các biện pháp kỹ thuật thâm canh thích hợp nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, cải thiện năng suất rừng trồng cây bản địa cũng còn nhiều hạn chế. Xoan đào (Prunus arborea (Blume) Kalkman) là cây bản địa gỗ lớn, sinh trưởng tương đối nhanh, đường kính có thể đạt trên 80cm, cao tới 25m. Cây ưa sáng, mọc nhanh, có biên độ sinh thái rộng, phân bố ở nhiều tỉnh từ miền Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên. Cây có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng ưa đất tầng dầy, thoát nước tốt (Lê Mộng Chân, Lê Thị huyên, 2000 [11]; Trần Hợp, 2002 [37]; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2012 [42]). Xoan đào sau khi trồng 12-15 năm có thể khai thác để đóng đồ gia dụng (Nguyễn Thị Nhung và cộng sự, 2009) [44]. Gỗ Xoan đào thuộc nhóm VI, có giác và lõi phân biệt, giác màu trắng hồng, lõi màu hồng nhạt, có độ bền cơ học trung bình và độ bền tự nhiên tốt và có vân thớ đẹp nên rất được thị trường ưa chuộng để sản xuất đồ mộc dân dụng (Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Thu Hiền, Lê Văn Bản, 2009) [38]. Nhờ có những ưu điểm trên mà Xoan đào được đánh giá là rất có triển vọng trong trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở nước ta. Tuy nhiên, do còn thiếu các nghiên cứu cơ sở khoa học về nhu cầu sinh thái, lập địa trồng, nguồn giống, kỹ thuật nhân giống và biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh nên năng suất, chất lượng rừng trồng Xoan đào ở các vùng sinh thái nhìn chung đạt được chưa cao. Xuất phát từ những lý do trên, luận án “Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng Xoan đào (Prunus arborea (Blume) Kalkman) ở các tỉnh phía Bắc” được thực hiện là cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn sản xuất.

Trang 1

………o0o………

NGUYỄN TRỌNG ĐIỂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC TRỒNG RỪNG

XOAN ĐÀO (Prunus arborea (Blume) Kalkman)

Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC HÌNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Trên thế giới 5

1.1.1 Nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa 5

1.1.2 Nghiên cứu về cây Xoan đào 10

1.2 Ở Việt Nam 13

1.2.1 Nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa 13

1.2.2 Nghiên cứu về cây Xoan đào 17

1.3 Nhận xét và đánh giá chung 28

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Nội dung nghiên cứu 30

2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái và lâm học của loài Xoan đào 30

2.1.2 Chọn lọc cây trội, khảo nghiệm xuất xứ và hậu thế Xoan đào 30

2.1.3 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Xoan đào từ hạt 30

2.1.4 Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Xoan đào 30

2.1.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng rừng Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 31

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

3.1 Đặc điểm phân bố, sinh thái và lâm học của loài Xoan đào 52

3.1.1 Đặc điểm phân bố, khí hậu, đất đai khu vực có Xoan đào phân bố 52

3.1.2 Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao 57

3.1.3 Đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 137

3.1.4 Mối quan hệ của Xoan đào với các loài trong lâm phần 147

Trang 3

3.2 Kết quả nghiên cứu chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế Xoan đào 154

3.2.1 Chọn lọc cây trội Xoan đào 154

3.2.2 Khảo nghiệm xuất xứ và hậu thế Xoan đào 158

3.3 Kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Xoan đào từ hạt 162

3.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý hạt giống Xoan đào 162

3.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật bảo quản hạt Xoan đào 166

3.3.3 Kỹ thuật xử lý hạt tới tỷ lệ nảy mầm của hạt Xoan đào 168

3.3.4 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con giai đoạn vườn ươm 170

3.3.5 Ảnh hưởng của thời điểm cấy cây vào bầu đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con Xoan đào trong giai đoạn vườn ươm 173

3.3.6 Ảnh hưởng của phun thuốc phòng trừ sâu bệnh đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm 176

3.4 Kết quả nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Xoan đào 178

3.4.1 Khả năng tích lũy dinh dưỡng khoáng của Xoan đào 178

3.4.2 Ảnh hưởng của bón thúc phân đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Xoan đào 183

3.4.3 Ảnh hưởng của phương thức trồng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Xoan đào 187

3.4.4 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Xoan đào 192

3.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng rừng Xoan đào cung cấp gỗ lớn ở một số tỉnh phía Bắc 194

3.5.1 Thu hái, chế biến, bảo quản hạt giống 194

3.5.2 Nhân giống 195

3.5.3 Kỹ thuật trồng rừng Xoan đào 196

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 198

1 Kết luận 198

2 Tồn tại 200

3 Kiến nghị 201

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 202

LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 202

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

TT Viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 ANOVA Phương pháp phân tích phương sai

2 Bộ NN&PTNT Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn

11 KHTV Khí hậu thuỷ văn

15 N/ha Mật độ cây trên ha (10.000m2)

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Điểm đánh giá mức độ sâu, bệnh hại cây con Xoan đào trong các công thức thí nghiệm phun thuốc 44 Bảng 2.2: Các thí nghiệm bón phân cho Xoan đào tại Bát Xát, Lào Cai 46 Bảng 3.1: Một số đặc điểm khí hậu nơi có Xoan đào phân bố ở một số tỉnh phía Bắc 53 Bảng 3.2: Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của các trạng thái rừng tự nhiên có Xoan đào phân bố 58

ở các tỉnh nghiên cứu 58 Bảng 3.3: Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Xoan đào trong các trạng thái rừng tự nhiên ở các tỉnh nghiên cứu 131 Bảng 3.4 Tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên có Xoan đào phân bố ở các tỉnh nghiên cứu 133 Bảng 3.5: Phân cấp vị thế tán cây Xoan đào ở các trạng thái rừng tự nhiên tại các khu vực nghiên cứu 136 Bảng 3.6: Mật độ và một số chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có Xoan đào phân bố ở khu vực nghiên cứu 138 Bảng 3.7: Mật độ và một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây Xoan đào tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên ở khu vực nghiên cứu 140 Bảng 3.8: Tổ thành tầng cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có Xoan đào phân bố ở khu vực nghiên cứu 142 Bảng 3.9: Phân cấp chiều cao cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có Xoan đào phân bố ở 4 tỉnh điều tra 144 Bảng 3.10: Phân cấp chiều cao cây Xoan đào tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên ở các khu vực nghiên cứu 145 Bảng 3.11: Tổng hợp mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây gỗ trong các trạng thái rừng ở từng tỉnh điều tra 148 Bảng 3.12: Tổng hợp mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây gỗ 149 trong từng trạng thái rừng ở cả bốn tỉnh điều tra 149

Trang 6

Bảng 3.13: Các loài có quan hệ độc lập với Xoan đào trong từng ô tiêu chuẩn theo

từng trạng thái trong khu vực nghiên cứu 150

Bảng 3.14: Các loài có quan hệ dương ở mức trung bình với Xoan đào trong từng OTC theo các trạng thái trong khu vực nghiên cứu 152

Bảng 3.15: Số lượng cây trội Xoan đào đã chọn lọc được của từng xuất xứ 154

Bảng 3.16 Tỷ lệ sống và sinh trưởng của 6 xuất xứ Xoan đào sau 17 tháng trồng khảo nghiệm tại Bảo Thắng, Lào Cai 158

Bảng 3.17 Tỷ lệ sống và sinh trưởng của các gia đình Xoan đào có triển vọng của 3 xuất xứ tốt nhất sau 17 tháng trồng khảo nghiệm tại Bảo Thắng, Lào Cai 160

Bảng 3.18: Kích thước, khối lượng và số lượng quả, hạt Xoan đào 162

(Số liệu tính trung bình theo dõi trong 2 năm 2017, 2018) 162

Bảng 3.19: Độ ẩm ban đầu của hạt Xoan đào ở 2 vùng nghiên cứu 164

Bảng 3.20: Tỷ lệ nảy mầm và thế nảy mầm của hạt Xoan đào ở độ ẩm ban đầu 165

Bảng 3.21: Ảnh hưởng của phương pháp bảo quản đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Xoan đào sau các thời gian bảo quản 167

Bảng 3.22: Ảnh hưởng của biện pháp xử lý hạt giống đến tỷ lệ nảy mầm, thế nảy mầm của hạt giống Xoan đào 169

Bảng 3.23 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu tới tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây con Xoan đào trong vườn ươm giai đoạn 12 tháng tuổi 172

Bảng 3.24 Ảnh hưởng của thời điểm cấy cây con vào bầu tới tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây con Xoan đào trong vườn ươm giai đoạn 12 tháng tuổi 175

Bảng 3.25 Ảnh hưởng của phun thuốc phòng trừ sâu bệnh đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con Xoan đào giai đoạn 12 tháng tuổi 177

Bảng 3.26: Sinh khối tươi và khô cây cá thể Xoan đào giai đoạn 1-5 tuổi 179

Bảng 3.27: Cấu trúc sinh khối cây cá lẻ Xoan đào tuổi 1 đến 5 181

Bảng 3.28: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cây cá thể Xoan đào tuổi 1 đến 5 182

Bảng 3.29 Ảnh hưởng của bón phân tới tỷ lệ sống và một số chỉ tiêu sinh trưởng 184

Trang 7

Xoan đào sau 27 tháng trồng tại Lào Cai 184 Bảng 3.30 Chất lượng sinh trưởng và sâu, bệnh hại Xoan đào trong các thí nghiệm bón phân sau 27 tháng trồng tại Lào Cai 186 Bảng 3.31 Ảnh hưởng của phương thức trồng tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của 187 Xoan đào sau khi trồng 32 tháng 187 Bảng 3.32 Ảnh hưởng của phương thức trồng tới chất lượng sinh trưởng và sâu bệnh hại rừng trồng Xoan đào sau 32 tháng 191 Bảng 3.33 Ảnh hưởng của mật độ trồng tới tỷ lệ sống và sinh trưởng Xoan đào sau khi trồng 21 tháng tại Bát Xát, Lào Cai 193

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của luận án 32

Hình 3.1 Xoan đào phân bố ở trạng thái rừng IIB tại Hòa Bình 53

Hình 3.2 Xoan đào phân bố ở trạng thái rừng IIIA2 tại Tuyên Quang 53

Hình 3.3: Phẫu diện đất SL2 trong lâm phần có Xoan đào phân bố tại Sơn La 54

Hình 3.4: Phẫu diện đất TQ6 trong lâm phần có Xoan đào phân bố tại TQ 54

Hình 3.5: Cây Xoan đào ở vị thế tán cấp 5 trong trạng thái rừng IIIA2 ở Tuyên Quang 136

Hình 3.6: Xoan đào tái sinh dưới gốc cây mẹ trong RTN ở Tuyên Quang 146

Hình 3.7: Xoan đào tái sinh trong RTN ở Mai Châu, Hòa Bình 146

Hình 3.8: Cây trội XĐHB17 156

Hình 3.9: Cây trội XĐSL6 156

Hình 3.10: Cây trội XĐLC1 156

Hình 3.11: Cây trội XĐTQ22 157

Hình 3.12: Cây trội XĐPT32 157

Hình 3.13: Cây trội XĐBG3 157

Hình 3.14: Gia đình LC1 sau trồng 17 tháng tuổi 161

Hình 3.15: Gia đình TQ18 sau khi trồng 17 tháng 161

Hình 3.16: Gia đình PT27 sau khi trồng 17 tháng 161

Hình 3.17: Quả Xoan đào khi già 163

Hình 3.18: Quả Xoan đào khi chín 163

Hình 3.19: Hạt và phôi hạt Xoan đào khi chín 163

Hình 3.20: Hạt Xoan đào nảy mầm sau khi gieo 5 ngày 170

Hình 3.21: Hạt Xoan đào nảy mầm sau khi gieo 15 ngày 170

Hình 3.22: Cây Xoan đào trong thí nghiệm thành phần ruột bầu: CT3 (93% đất + 7% vi sinh Sông gianh) giai đoạn 12 tháng tuổi 173

Hình 3.23: Thí nghiệm thời điểm cấy cây con vào bầu giai đoạn 12 tháng tuổi 174

Hình 3.24: Các CT thí nghiệm phun thuốc phòng trừ sâu, bệnh cho cây con Xoan đào giai đoạn 12 tháng tuổi 178

Hình 3.25 Biểu đồ so sánh sinh khối tươi cây cá thể Xoan đào giai đoạn 1-5 tuổi 180

Hình 3.26 Tách sinh khối các bộ phận cây Xoan đào 3 tuổi 180

Trang 9

Hình 3.27: Rễ cây Xoan đào 3 tuổi được đo đếm làm sinh khối 180

Hình 3.28 và 3.29: Xoan đào trong công thức CT3 tại Bát Xát – Lào cai 186

Hình 3.30: Xoan đào trong TN trồng hỗn giao với Sồi phảng tại Bát xát – Lào Cai 190

Hình 3.31: Xoan đào trong thí nghiêm trồng thuần loài tại Bát xát – Lào Cai 190

Hình 3.32: Xoan đào trong CT làm giàu rừng 191

Hình 3.33: Xoan đào trong CT trồng hỗn loài với Sồi phảng 191

Hình 3.34: Xoan đào trong thí nghiệm mật độ trồng 400 cây/ha 194

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của luận án

Hội nhập quốc tế đã và đang mang đến cho ngành lâm nghiệp của nước ta nhiều

cơ hội để phát triển Trong 10 năm trở lại đây, Việt Nam chứng kiến sự phát triển về giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản, tăng mạnh từ 3 tỷ USD năm 2010 lên 11,3 tỷ USD năm

2019 và mục tiêu của ngành lâm nghiệp phấn đấu đến năm 2025 giá trị này sẽ đạt 18 -

20 tỷ USD Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới và đứng thứ 2 ở Châu Á về giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản (Tổng cục Lâm nghiệp, 2020) [101] Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì ngành lâm nghiệp nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức Đó là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn nguyên liệu gỗ lớn Chỉ tính riêng năm

2019, Việt Nam phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu gỗ lớn lên tới 2,52 tỷ USD, chiếm 22,5% tổng giá trị xuất khẩu (Tổng cục Lâm nghiệp, 2020) [101] Như vậy, để đạt được mục tiêu giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản năm 2025 đạt 18 - 20 tỷ USD theo kỳ vọng của Chính phủ thì lượng gỗ lớn nguyên liệu thiếu hụt là rất lớn

Chủ trương sử dụng các loài cây bản địa để phát triển rừng trồng gỗ lớn theo hướng bền vững đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quan tâm, thể hiện qua Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp (theo QĐ số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/07/2013) [6] và Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014–2020 (Kèm theo Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18 tháng 4 năm 2014) [8] Tuy nhiên, cho tới nay diện tích và chất lượng rừng trồng gỗ lớn từ các loài cây bản địa ở nước ta chưa đạt được như mong muốn Nguyên nhân chính là do cây bản địa có chu kỳ kinh doanh dài, thiếu chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng gỗ lớn bằng các loài cây bản địa nên chưa khuyến khích được người dân và các doanh nghiệp tham gia Mặt khác, những hiểu biết của chủ rừng về các đặc điểm sinh lý, sinh thái, kỹ thuật nhân giống và trồng rừng của nhiều loài cây bản địa còn chưa nhiều; việc nghiên cứu tuyển chọn được những loài cây bản địa sinh trưởng nhanh và xác định được các biện pháp kỹ thuật thâm canh thích hợp nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, cải thiện năng suất rừng trồng cây bản địa cũng còn nhiều hạn chế

Trang 11

Xoan đào (Prunus arborea (Blume) Kalkman) là cây bản địa gỗ lớn, sinh

trưởng tương đối nhanh, đường kính có thể đạt trên 80cm, cao tới 25m Cây ưa sáng, mọc nhanh, có biên độ sinh thái rộng, phân bố ở nhiều tỉnh từ miền Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên Cây có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng ưa đất tầng dầy, thoát nước tốt (Lê Mộng Chân, Lê Thị huyên, 2000 [11]; Trần Hợp, 2002 [37]; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2012 [42]) Xoan đào sau khi trồng 12-15 năm có thể khai thác để đóng đồ gia dụng (Nguyễn Thị Nhung và cộng sự, 2009) [44] Gỗ Xoan đào thuộc nhóm VI, có giác và lõi phân biệt, giác màu trắng hồng, lõi màu hồng nhạt, có

độ bền cơ học trung bình và độ bền tự nhiên tốt và có vân thớ đẹp nên rất được thị trường ưa chuộng để sản xuất đồ mộc dân dụng (Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Thu Hiền, Lê Văn Bản, 2009) [38] Nhờ có những ưu điểm trên mà Xoan đào được đánh giá là rất có triển vọng trong trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở nước ta Tuy nhiên, do còn thiếu các nghiên cứu cơ sở khoa học về nhu cầu sinh thái, lập địa trồng, nguồn giống,

kỹ thuật nhân giống và biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh nên năng suất, chất lượng rừng trồng Xoan đào ở các vùng sinh thái nhìn chung đạt được chưa cao

Xuất phát từ những lý do trên, luận án “Nghiên cứu một số cơ sở khoa học

trồng rừng Xoan đào (Prunus arborea (Blume) Kalkman) ở các tỉnh phía Bắc”

được thực hiện là cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn sản xuất

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

2.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần bổ sung một số cơ sở khoa học phục vụ cho việc phát triển rừng

trồng cây Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Bổ sung được các đặc điểm sinh học, chọn giống, kỹ thuật nhân giống và trồng

rừng Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Về lý luận:

Xác định được một số cơ sở khoa học phục vụ gây trồng và phát triển rừng trồng Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc

Trang 12

- Về thực tiễn:

+ Xác định được một số đặc điểm sinh học của loài Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc (đặc điểm phân bố, sinh thái; cấu trúc, tái sinh; mối quan hệ của Xoan đào với các loài trong rừng tự nhiên)

+ Xác định được giống có triển vọng, kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Xoan

đào ở một số tỉnh phía Bắc

4 Những đóng góp mới của luận án

- Bổ sung được một số đặc điểm sinh học của loài Xoan đào (phân bố, sinh thái; cấu trúc, tái sinh; mối quan hệ của Xoan đào với các loài trong rừng tự nhiên) ở một số tỉnh phía Bắc

- Bước đầu xác định được 12 gia đình của 3 xuất xứ Xoan đào sinh trưởng tốt

và có triển vọng cho trồng rừng ở các tỉnh phía Bắc

- Bước đầu xác định được kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật trồng rừng Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc

5 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là loài cây Xoan đào (Prunus arborea

(Blume) Kalkman) có phân bố tự nhiên và được gây trồng ở một số tỉnh phía Bắc

5.2 Giới hạn nghiên cứu

- Về địa bàn nghiên cứu:

+ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài Xoan đào được thực hiện tại các tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Hòa Bình

+ Nghiên cứu chọn lọc cây trội được thực hiện tại 6 tỉnh gồm: Hòa Bình, Sơn

La, Bắc Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang và Lào Cai

+ Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Xoan đào được thực hiện tại vườn ươm của Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ và vườn ươm của Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp

+ Nghiên cứu khảo nghiệm giống và kỹ thuật trồng rừng được thực hiện tại Lào Cai (là nơi đã chọn cây trội lấy hạt nhân giống phục vụ trồng rừng thí nghiệm)

Trang 13

- Về Nội dung nghiên cứu:

+ Nội dung nghiên cứu đặc điểm sinh học của Xoan đào: Tập trung làm rõ một

số đặc điểm phân bố, sinh thái; đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, cấu trúc tầng cây tái sinh; mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây khác trong các trạng thái rừng tự nhiên tại 4 tỉnh phía Bắc gồm Bắc Giang, Tuyên Quang, Sơn La và Hòa Bình

+ Nội dung nghiên cứu khảo nghiệm giống chỉ khảo nghiệm hậu thế kết hợp khảo nghiệm xuất xứ

+ Nội dung nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống Xoan đào: Tập trung nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý hạt giống, kỹ thuật bảo quản hạt giống; kỹ thuật nhân giống bằng hạt (xử lý hạt giống, bón phân, thời gian cấy cây mầm vào bầu và thuốc phòng trừ sâu bệnh hại cây con trong giai đoạn vườn ươm)

+ Nội dung nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng Xoan đào: Tập trung nghiên cứu đặc điểm tích lũy dinh dưỡng khoáng của Xoan đào làm cơ sở cho việc nghiên cứu kỹ thuật bón phân cho rừng trồng Xoan đào; nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân, mật độ trồng và phương thức trồng đến sinh trưởng của rừng trồng Xoan đào

- Về thời gian nghiên cứu: Được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2017 đến

năm 2020

6 Cấu trúc luận án

Luận án gồm 141 trang Ngoài các phần lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục

từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình ảnh, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án gồm các phần chính sau:

• Phần mở đầu: 4 trang

• Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 25 trang

• Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 22 trang

• Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 74 trang

• Kết luận, tồn tại và kiến nghị: 4 trang

• Danh mục tài liệu tham khảo: 12 trang

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa

Mặc dù chỉ chiếm khoảng 5% tổng diện tích rừng trên thế giới, nhưng rừng trồng đã cung cấp khoảng 35% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế giới (FAO 2011) [74] Hiện nay phần lớn rừng trồng trên thế giới chủ yếu là các loài nhập nội sinh trưởng nhanh như Keo, Bạch đàn và Thông Qua nhiều chu kỳ canh tác các rừng trồng thuần loài cây nhập nội này đã gây ra nhiều hậu quả về sinh thái như suy thoái đất, khả năng giữ nước kém, tác động bất lợi đến hệ sinh thái bản địa (Valduga và cộng sự 2016) [94] Đặc biệt nhiều loại bệnh dịch đã và đang gây nên nhiều hậu quả đối với trồng rừng cây nhập nội Bên cạnh đó, đóng cửa rừng, giảm khai thác rừng tự nhiên cũng như nhu cầu sử dụng gỗ loài cây bản địa ngày một tăng do đặc tính bền đẹp và thân thiện với môi trường của gỗ cây bản địa Do vậy nhu cầu trồng rừng cây bản địa trên nhiều vùng và lãnh thỗ đã và đang được chú ý và phát triển nhanh chóng (Boyle và cộng sự 2016)

Nghiên cứu về các yếu tố phục vụ công tác nhân giống để trồng rừng cây bản địa đã được một số tác giả quan tâm Tại Ấn độ, Krishna Upadhaya và cộng sự (2007) [83] đã nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng hạt đến khả năng nảy mầm, tỷ lệ sống

và sinh trưởng của cây con Prunus jenkisiss Hook.f & Thoms Kết quả cho thấy khối

lượng hạt giống có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nảy mầm, tỷ lệ sống và sinh trưởng

của cây con P jenkisiss Hạt có khối lượng lớn (khối lượng >2g) cho tỷ lệ nảy mầm

đạt 42% so với hạt có khối lượng trung bình (khối lượng từ 1,5-2,0g) đạt 41% và hạt

có khối lượng nhẹ (<1.5g) chỉ đạt 28% Sau thời gian nảy mầm 1 năm, tỷ lệ sống của cây con đạt 80%, 63% và 42% tương ứng với nhóm hạt giống có khối lượng nặng, trung bình và nhẹ

Tại Ethiopia, từ các kết quả nghiên cứu về nhân giống cho loài Prunus

africana (Hook f.) Kalkm, Legesse Negash (2010) [84] đã xuất bản cuốn sách giới

thiệu khá đầy đủ về kỹ thuật nhân giống và gieo trồng loài P africana (Hook f.) Kalkm (còn gọi là loài Pygeum africanum Hook.f.) Theo đó, P africana có thể được

Trang 15

nhân giống bằng hạt hoặc giâm hom Để gieo hạt giống trên luống, luống có kích thước 3x2 m và chiều cao của luống là 40 cm Đất được dùng để tạo luống là hỗn hợp trộn lẫn giữa đất đỏ, và phân chuồng hoai hoặc hỗn hợp phân hữu cơ (tỷ lệ 50% đất, 50% hỗn hợp hữu cơ) Hạt giống sau đó được gieo lên luống với khoảng cách 1 hạt/1cm2 hoặc khoảng 10.000 hạt/m2 Lấp hạt bằng một lớp hỗn hợp trộn lẫn giữa đất, hợp chất hữu cơ và phân ngựa (tỷ lệ như nhau) dày khoảng 1,5-2,0 cm Sau đó tủ một lớp rơm rạ dày khoảng 1,5 - 2,0 cm trên mặt luống để giữ ẩm và giữ nhiệt cho hạt giống khi nảy mầm Sau khi gieo khoảng 25-30 ngày, kiểm tra sự nảy mầm của hạt giống Làm dàn che để che bóng cho cây Hạt sau khi nảy mầm sẽ được nhổ lên để cấy vào túi bầu (đường kính bầu từ 12-16 cm và chiều cao bầu từ 20-25 cm), hỗn hợp ruột bầu gồm đất đỏ, hỗn hợp hữu cơ hoặc phân chuồng hoai và cát với tỷ lệ tương ứng

là 2:1:1 Sau khi cấy cây vào bầu, tiến hành chăm sóc, tưới nước và che bóng cho cây Cây giống từ 40-60 cm chiều cao có thể mang đi trồng (tương đương thời gian ở vườn ươm từ 7-9 tháng) Đối với nhân giống bằng hom, hom được lấy từ cây con 3.5 tháng tuổi Hom sau khi cắt được nhúng vào chất kích thích IBA nồng độ 0,2%

Việc sử dụng cây bản địa để trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng hỗn loài cây bản địa rất được các quốc gia trên thế giới quan tâm, điển hình là các nghiên cứu liên quan tới lựa chọn loài cây trồng; phương thức, phương pháp trồng và mối quan hệ qua lại giữa các loài cây trong các mô hình rừng trồng hỗn loài

Từ thế kỷ 19, các nước Châu Âu đã rất quan tâm nghiên cứu về trồng rừng

bằng các loài cây bản địa Điển hình là công trình nghiên cứu trồng hỗn loài Quercus

và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn loài Donsk của tác giả Tikhanop (1872) Trong

mô hình này do đặc tính sinh vật học và mối quan hệ qua lại giữa các loài cây chưa

được nghiên cứu kỹ, do đó loài Ulmus campestris với đặc tính sinh trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã lấn át loài Quercus Để giải quyết sự cạnh tranh này,

năm 1884 tác giả Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn loài Donsk song vẫn không thành công Một số tác giả khác như Kharitonovis (1950); Grixenco (1951); Timofeev (1951); Encova và các cộng sự (1960) (Dẫn theo Hoàng Văn Thắng và cộng sự, 2005) [47] đã phân tích nguyên nhân thất bại của kiểu Donsk và chỉ ra rằng các phitonxit

Trang 16

của loài Ulmus campestris đã tác động xấu tới loài cây Quercus Nghiên cứu về ảnh

hưởng tương hỗ giữa các loài, các tác giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ chế cạnh tranh sinh học của thực vật (MV Kolexnitsenko,

1977) [41] Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa Quercus và Fraxinus, tác giả JB Ball, T.J Wormald (1994) [81] cho thấy sinh trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài Ngoài ra, khi trồng Quercus hỗn loài với các

loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng) hoặc theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng

của Quercus tốt hơn

Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho các loài cây bản địa trồng chính

trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài cây bản địa là rất cần thiết Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình có tác giả Matthew (1995) [85] Ông đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừng trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng các tác giả Ball, Wormald và Russo (1994) [81] đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả cho thấy sau khi được tác động các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mục đích

đã được được tạo điều kiện thuận lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn

Dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia (1999) [76] đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng nhiều phương thức khác nhau Tuỳ theo các đối tượng khác nhau về cây tầng trên để lại là rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng 10-15 tuổi hay rừng Keo tai tượng 2-3 tuổi mà mở các băng chặt và chừa khác nhau Chiều rộng băng chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng) Thời gian đưa các loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt cũng rất khác nhau, từ 1-7 năm sau khi mở băng chặt Các loài cây bản địa đưa vào trồng trong các băng chặt tương đối phong phú, từ 14-23 loài với số hàng từ 3 đến 16 hàng Kết quả cho thấy trong các loài cây bản địa được trồng trong các băng có 3 loài cây có sinh trưởng

chiều cao và đường kính tốt nhất là S roxburrghii; S ovalis; S leprosula Sinh trưởng

chiều cao của các loài cây trồng trong băng 10m và 40m tốt hơn băng 20m Khu trồng theo hàng có sinh trưởng chiều cao tốt nhất ở công thức trồng 1 hàng Keo xen 1 hàng

Trang 17

cây bản địa Dự án còn đưa ra kế hoạch điều chỉnh quá trình sinh trưởng của các mô hình thí nghiệm theo 8 thời điểm từ 2 - 47 năm sau khi trồng (Bibian Michael Diway

Muanenguba của Cameroon, loài Prunus africana được sử dụng để trồng rừng theo

mô hình nông lâm kết hợp với các loài cây công nghiệp khác như cà phê, chuối (Community Action for Development, 2013) [67] Theo AB Cunningham và cộng

sự (2002) [68], Prunus africana có thể trồng thích hợp ở những lập địa vùng núi thấp

Theo Hall và Ashton (2016), nghiên cứu về gây trồng và phát triển cây rừng bản địa nhiệt đới cho 64 loài đã được thực hiện tại Trung và Nam Mỹ [77] Với mỗi loài cây các thí nghiệm đều được thực hiện trên bốn nhóm đất gồm đất xấu và khô, đất xấu và ẩm, đất tốt và khô, và đất tốt và ẩm Tùy đặc tính từng loài, cây được trồng trên đất trống có cây phù trợ, không cây phù trợ; cậy được trồng dưới tán rừng; cây phù trợ có thể là cây thường xanh hoặc rụng lá; áp dụng các mật độ trồng khác nhau Sau khi trồng 4-6 tuổi, cây được đánh giá về tỷ lệ sống, chiều cao, D1,3, đường kính tán, và khả năng tích trữ các bon Kết quả theo dõi các mô hình này đã cho thấy, các loài khác nhau thích hợp trên những loại đất khác nhau và có tỷ lệ sống, tốc độ sinh

trưởng cũng như khả năng tích lũy các bon khác nhau Loài Pterocarpus officinalis

có tỷ lệ sống rất thấp trên cả 4 loại đất, chứng tỏ đây là loài khó cho gây trồng và phát triển Bên cạnh đó có những loài phù hợp trên cả 4 loại đất, có tỷ lệ sống và tốc độ

sinh trưởng cao như loài Albizia guachapele sau 6 năm trồng cho tỷ lệ sống trên cả 4

loại đất dao động từ 90-99%, đường kính ngang ngực dao động từ 4,9-11cm và chiều

cao từ 4-6,4m hoặc loài Dalbergia retusa sau 4 năm trồng cho tỷ lệ sống trên cả 4

loại đất dao động từ 86-94%, đường kính ngang ngực dao động từ 11-17,4cm và chiều cao từ 4,3-6,9m,… cho thấy phạm vi sinh thái và mức độ phù hợp cao với biến đổi của điều kiện tự nhiên gây trồng (Wishnie và cộng sự 2007; van Breugel và cộng sự

Trang 18

2011) Đây là những loài có tiềm năng lớn đối với phát triển rừng trồng cây bản địa

Từ các kết quả nghiên cứu này, tác giả đã so sánh đáng giá khả năng sinh trưởng của các loài, đề xuất các biện pháp kỹ thuật áp dụng, lập địa phù hợp cho gây trồng Đây được xem như là 1 công trình khá toàn diện về bước đầu gây trồng cây bản địa nhiệt đới tại Trung và Nam Mỹ

Thực tế nghiên cứu về trồng cây rừng bản địa nhiệt đới trên thế giới cho thấy (Hall và Ashton 2016 [77]; Wishnie và cộng sự 2007 [96]; Van Breugel và cộng sự 2011) [95], các nghiên cứu mới chỉ ra được tỷ lệ sống và tình hình sinh trưởng trong giai đoạn đầu của cây trồng (dưới 10 năm tuổi) Những nghiên cứu hoàn thiện một chu kỳ của loài cây còn rất hạn chế do đặc tính sinh trưởng chậm, chu kỳ kinh doanh dài của hầu hết các loài cây bản địa nhiệt đới Đây là hệ quả của nhiều thập kỷ chú trọng vào khai thác gỗ cây bản địa từ rừng tự nhiên mà không chú ý đến gây trồng và phát triển Vì vậy, những nghiên cứu cho cả chu kỳ kinh doanh của 1 loài cây bản địa

có ý nghĩ khoa học và thực tiễn lớn đối với gây trồng cây bản địa nói riêng và phát triển lâm nghiệp nói chung, góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học và chống biến đổi khí hậu

Điểm qua các nghiên cứu ở trên thế giới đã cho thấy, việc tạo lập rừng trồng cây bản địa đã được quan tâm thực hiện từ rất sớm Tuy nhiên, các nghiên cứu về chọn giống, nhân giống cây bản địa còn rất hạn chế, một số tác giả mới quan tâm đến thử nghiệm trồng rừng cây bản địa theo một số phương thức, kỹ thuật trồng khác nhau Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, mức độ thành công của các mô hình phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết của con người về đặc điểm sinh trưởng, phát triển; nhu cầu sinh thái; mối quan hệ tương hỗ hay bài xích giữa các loài khi trồng phối hợp với nhau; và các biện pháp kỹ thuật tác động trong thâm canh rừng trồng Đây là những hướng nghiên cứu sẽ được đề tài tiếp cận trong việc làm rõ đặc điểm sinh học của loài Xoan đào (phân bố, sinh thái, mối quan hệ với các loài trong lâm phần) cũng như nghiên cứu về phương thức trồng rừng để góp phần nâng cao hiệu quả rừng trồng Xoan đào

Trang 19

1.1.2 Nghiên cứu về cây Xoan đào

1.1.2.1 Về tên gọi và đặc điểm sinh học của loài Xoan đào

Xoan đào được Carolo Mueller Berol phát hiện lần đầu tiên vào năm 1858 và

được đặt tên khoa học là Pygeum arboreum Müll.Berol Pygeum Tuy nhiên, đến năm

1965, Kalkman sau khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái của loài cây này, so sánh với bản mô tả năm 1858 đã nhận thấy các đặc điểm mô tả về hình thái của loài

Pygeum arboreum Müll.Berol trùng khớp với các đặc điểm về hình thái của các loài

trong chi Prunus, từ đó ông công bố lại tên của loài Xoan đào trên tạp chí Blume năm

1965 với tên khoa học là Prunus arborea (Blume) Kalkman Hiện nay theo

Plantlist.org (một website có uy tín về hệ thống phân loại cũng như sắp xếp lại tên khoa học của các loài thực vật trên thế giới), tên khoa học được sử dụng cho Xoan đào là

Prunus arborea (Blume) Kalkman, các tên còn lại như Pygeumarboreum Müll.Berol

được coi là tên đồng nghĩa (Theplantlist.Org, 2019) [100] Ngoài ra, Xoan đào có một

số tên khoa học khác nhau như Digaster sumatranus Miq., Polydontia arborea Blume, Pygeum arboreum Blume, Pygeum blumei Teijsm & Binn và tên được dùng phổ biến nhất là Pygeum arboreum Ian Michael Cohen (2011) [80] đã nghiên cứu sử dụng mã vạch ADN để phân biệt các loài thuộc chi Prunus, tác giả đã sử dụng 5 vùng

gen nhân và lục lạp (trnH-psbA, trnL-trnL-trnF, trnS-trnG-trnG, matK và rbcL) để xác định mức độ phân biệt giữa các loài cho từng vùng gen này Trong 5 vùng gen

kể trên, vùng gen matK và rbcL có thể phân biệt trên 50% các loài thuộc chi Prunus,

còn vùng gen trnH-psbA được đánh giá là vùng gen có triển vọng để phân biệt các loài trong chi này

Về đặc điểm hình thái, Xoan đào là cây gỗ lớn, có thể cao tới 30 m và đường kính đạt tới 80cm khi trưởng thành (Sc Lim và Ks Gan, 2009 [89]; Christophe Wiart, 2006) [66]) Xoan đào có thân tròn thẳng, hình trụ, gốc ít có bạnh vè Vỏ mỏng, nứt dọc và bong mảng, giác gỗ màu trắng Cành non được bao phủ bởi lông mịn dày đặc màu nâu Lá đơn nguyên hình trứng hoặc elip rộng 2-7 cm, dài khoảng 5-15 cm, hai mặt lá đều có lông Lá mọc cách có lá kèm nhỏ (dài khoảng 5 mm) và thường sớm rụng Đôi khi có tuyến mật gần phía dưới cuống lá Hoa nhỏ, có đường kính khoảng

Trang 20

8 mm Hoa mọc thành chùm, có màu vàng trắng mọc ở nách lá Quả hạch hình cầu,

có lông, có đường kính khoảng 4-8 mm, màu pha trộn xanh-đỏ-đen (Flora Of Thailand, 1970-2002) [75] Khi chín quả Xoan đào có màu nâu đỏ hoặc đen

Về đặc tính sinh thái và phân bố: Xoan đào là cây rụng lá, thường phân bố trong rừng ẩm thường xanh ở độ cao từ 200-500m ở các nước Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan, Chi lê, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Cam Pu Chia và Lào (Norhajar Eswani và cộng sự, 2010 [86]; C Kalkman, 1998 [65]; H.A.M Van Der Vossen và

M Wessel, 2000 [78]; Gbif.Org, 2019) [99]) Xoan đào phân bố chủ yếu trên núi đất,

ở các vùng rừng nguyên sinh, ít bị tác động có thể hỗn giao với các loài cây họ dầu

và phân bố từ độ cao 200 m tới 3.000 m so với mực nước biển (C Kalkman, 1998) [65], thậm chí ở Malaysia, Xoan đào được phát hiện phân bố tới độ cao 3.700 m so với mực nước biển (Sc Lim và Ks Gan, 2009) [77] Cây phân bố trong rừng tự nhiên thường xanh, rừng mưa ẩm, chủ yếu ở trên sườn và đỉnh, đôi khi cũng gặp phân bố dọc sông suối, trên đất cát (Sc Lim và Ks Gan, 2009) [89] Trong rừng thứ sinh thường phát hiện Xoan đào phân bố tại các khu rừng tự nhiên còn sót lại, rừng ít bị tác động (Asianplant.Net, 2019) [97]

Trong nghiên cứu về phục hồi rừng sau canh tác nương rẫy tại Indonesia, Soedjito H (2015) [90] đã chỉ ra rằng Xoan đào đóng vai trò quan trọng đối với tái sinh và phục hồi rừng Do Xoan đào là cây ưa sáng, dễ tái sinh tự nhiên nên Xoan đào có mật độ cao nhất với hệ số tổ thành loài IV = 27% (Soedjito H, 2015) [90] Mặc dù theo thời gian phục hồi, mật độ Xoan đào có giảm đi nhưng vẫn có giá trị IV% cao nhất sau khi rừng phục hồi 30 năm (Soedjito H, 2015) [90] Điều này cho thấy Xoan đào có tiềm năng lớn trong công tác phục hồi rừng

Trong công trình nghiên cứu thực vật tại Vườn quốc gia Batang Al, tỉnh Sarawak, Malaysia, Bibian Michael Diway và Paul P.K Chai (2004) [63] cho thấy loài Xoan đào thường tồn tại trong các rừng già thứ sinh, các kiểu rừng này thường

có độ tuổi xấp xỉ 40 năm, cấu trúc thường có 3 tầng, trong đó Xoan đào thường xuất hiện trong tầng cao nhất với chiều cao trung bình khoảng 30m và mọc cùng với các

loài như Koopassia malaccensis, Cratoxylum arborescens, Baccaurea hookeri

Trang 21

1.1.2.2 Về giá trị sử dụng của Xoan đào

Theo trích dẫn từ nguồn tài liệu của Tropical Plants Database (Tropical.Theferns.Info, 2019) [102] thì gỗ Xoan đào có kết cấu ở mức nhẹ đến trung bình Khối lượng riêng gỗ khô của Xoan đào dao động từ 405-830 kg/m3, trung bình

là 685 kg m3 (Sc Lim và Ks Gan, 2009) [89] Thớ gỗ thẳng hoặc lượn sóng, thậm chí

có khi xoắn sâu Gỗ lõi có màu hồng đến nâu đỏ, phần gỗ giác thường có màu nhạt hơn Cũng theo Sc Lim và Ks Gan (2009) [89] thì gỗ Xoan đào thường có vòng năm

mờ, khó phân biệt Với đặc tích cơ lý gỗ như trên thì gỗ Xoan đào thường phù hợp cho các mục đích xây dựng vừa và nhỏ và làm đồ gia dụng trong nhà (C Kalkman, 1993) [65] Các ứng dụng chủ yếu của gỗ Xoan đào bao gồm ván tổng hợp, ván bóc, ván ép, sàn nhà, đồ nội thất trong gia đình (Sc Lim và Ks Gan, 2009) [89] Ngoài ra Xoan đào cũng được dùng làm củi đun và rất được ưa chuộng của người dân miền núi (Roy Ellen, 2017) [88]

Ngoài giá trị về gỗ thì Xoan đào còn được xem là một trong những vị thuốc quý trong đông y Trong lá, hạt và vỏ Xoan đào chứa chất có vị đắng Chất này được cho là có tác dụng đối với cải thiện hô hấp, tiêu hóa và phòng chống bệnh ung thư (D Brown, 1995) [70], nhưng nếu dùng quá liều có thể gây nguy hiểm đến tính mạng (Christophe Wiart, 2006) [66] Lá xoan đào có thể dùng để sắc uống như một vị thuốc giúp thai phụ dễ sinh con trong thời gian chuyển dạ (Christophe Wiart, 2006) [66]

Hợp chất Phytosterol chiết xuất từ Xoan đào được dùng như một hoạt chất quan trọng trong y học nhằm điều trị một số bệnh như viêm tuyến tiền liệt (Kevin D Hyde và cộng sự, 1997) [82] Một nghiên cứu lâm sàng về tác dụng của chiết xuất phytosterol trong điều trị bệnh viêm tuyến tiền liệt cho thấy, hợp chất này có hiệu quả cho 90% số bệnh nhân được điều trị và được giới thiệu là một sản phẩm có độ tin cậy cao để sử dụng bởi bác sĩ chuyên khoa hoặc bác sĩ đa khoa (E Cuervo-Blanco và cộng sự, 1978) [73]

1.1.2.3 Về nhân giống và gây trồng Xoan đào

Các nghiên cứu khác về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật trồng loài cây Xoan đào trên thế giới gần như chưa được quan tâm Theo Flora in Thailand và Useful

Trang 22

Tropical Plants Database, Xoan đào thường được nhân giống bằng hạt Tuy nhiên, không có tài liệu nào được công bố cụ thể về cách thức xử lý và gieo hạt

Như vậy có thể thấy, cho đến nay nghiên cứu về cây Xoan đào trên thế giới còn rất ít, mới chỉ có một số nghiên cứu bước đầu về phân loại, đặc điểm hình thái và phân bố của loài Hiện tại các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng loài cây Xoan đào trên thế giới còn rất hạn chế Đây là khoảng trống lớn được đặt ra trong nghiên cứu của luận án, trong đó chú trọng tới biện pháp kỹ thuật nhân giống, trồng rừng thâm canh (bón phân, mật độ, phương thức trồng)

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa

Trồng rừng bằng cây bản địa ở nước ta được thực hiện từ thời kỳ Pháp thuộc Trong giai đoạn 1930 - 1941, nhà nước thuộc địa Pháp đã trồng được 13.700 ha rừng các loại, với các loài cây trồng như: Thông mã vĩ, Tếch, Lim xanh, Giai đoạn sau

đó (1955 - 1975) hoạt động nghiên cứu thăm dò kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa như: Mỡ, Bồ đề ở vùng Trung tâm Bắc Bộ; Thông mã vĩ, Thông nhựa, Sa mộc ở vùng Đông Bắc, Các tỉnh phía Nam cũng bắt đầu nghiên cứu về các loài như: Tếch, Giáng hương, Thông ba lá Giai đoạn 1976 - 1985, đã có các nghiên cứu về xác định loài cây trồng rừng cho từng vùng sinh thái, bao gồm việc chọn loài và chọn xuất xứ cho các loài cây bản địa như: Mỡ, Bồ đề, Sa mộc, Tếch, Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả về loài cây và diện tích trồng rừng (Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương: Trồng rừng) [3]

Theo Trần Quang Việt và cộng sự (1997) chương trình 327 đã sử dụng trên 70 loài cây để trồng rừng ở các vùng sinh thái Còn theo tác giả Hoàng Hoè và Trần Xuân Thiệp (1999) thì ở nước ta có khoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội đã và đang được sử dụng để trồng rừng (dẫn theo Trần Văn Con, 2005) [16]

Việc xây dựng các tiêu chí lựa chọn loài cây trồng rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng cũng rất được quan tâm Kết quả đã xây dựng được danh mục các loài cây cho từng mục tiêu trồng rừng (Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương chọn loài cây

Trang 23

ưu tiên cho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam) [2] Trên cơ sở đó, danh mục các loài cây chủ lực, chủ yếu cho trồng rừng ở các vùng sinh thái của nước ta cũng được ban hành (Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 [7]; Thông tư 44/2015/TT-BNNPTNT ngày 23/11/2015 [9]; và Thông tư 30/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 [10])

Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2020) [48] khi thực hiện nhiệm vụ “Điều tra,

đánh giá các mô hình rừng trồng và đề xuất danh mục loài cây bản địa cung cấp gỗ lớn có giá trị cao ở Quảng Ninh” đã sử dụng phương pháp cho điểm theo trọng số để

đánh giá chọn loài cây bản địa lá rộng cung cấp gỗ lớn theo mức độ ưu tiên phục vụ trồng rừng ở tỉnh Quảng Ninh Nhóm tác giả đã đánh giá theo 3 nhóm tiêu chí gồm

16 chỉ tiêu được đặt ra bao gồm: Nhóm tiêu chí về khả năng thích nghi với điều kiện trồng tại Quảng Ninh (9 chỉ tiêu), nhóm tiêu chí về hiệu quả kinh tế của loài (5 chỉ tiêu) và hóm tiêu chí về triển vọng phát triển của loài tại Quảng Ninh (gồm 2 chỉ tiêu) Kết quả đã lựa chọn được 10 loài cây lá rộng bản địa có tiềm năng trồng rừng gỗ lớn ở tỉnh Quảng Ninh, bao gồm Giổi xanh, Sồi phảng, Vù hương, Trám trắng, Lát hoa, Mỡ, Xoan đào, Chò nâu, Dẻ đỏ và Lim xanh

Tùy theo từng mục đích kinh doanh mà cây bản địa có thể được trồng rừng thuần loài để tạo sản phẩm tập trung, nâng cao hiệu quả kinh tế hoặc trồng hỗn loài theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị phòng hộ môi trường của rừng Tuy nhiên, dù được trồng theo hình thức nào thì các hiểu biết cơ bản về phân bố, sinh thái, mối quan hệ của loài với các loài khác trong lâm phần, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng là rất quan trọng

Võ Đại Hải và Cộng sự (2010a,b) [29, 30], khi nghiên cứu về loài Vối thuốc

(Schima wallichii Choisy) đã cho thấy, Vối thuốc thường chiếm ưu thế trong tổ thành

tầng cây cao với hệ số tổ thành từ 0,7 - 9,54 và tổ thành cây tái sinh với hệ số từ 1 - 5,1; cây có khả năng tái sinh sau nương rẫy rất mạnh và có khả năng tái sinh hạt và tái sinh chồi tốt Vối thuốc sinh trưởng chậm trong 3 năm đầu, từ năm thứ 4 trở đi sinh trưởng nhanh hơn Đây là loài cây rất có triển vọng để phục hồi rừng sau nương rẫy ở nước ta

Trang 24

Lê Minh Cường (2013, 2016) [17, 18] khi nghiên cứu đặc điểm sinh học và

kỹ thuật gây trồng loài Sồi phảng (Lithocarpus fissus (Champ ex Benth.) A.Camus)

đã cho biết, Sồi phảng có phân bố rộng từ miền Bắc đến miền Trung và Tây nguyên

ở đai cao từ 100 - 800m so với mực nước biển Cây có biên độ sinh thái khá rộng ở nơi có nhiệt độ bình quân 22,3 - 23,60C, lượng mưa từ 1.200 - 2.100mm, đất feralit màu nâu đỏ, đỏ vàng, vàng đỏ phát triển trên đá bazan, phiến mica và nai, phiến clorit, tầng trung bình đến dày, thành phần cơ giới thịt trung bình đến nặng, chua, mùn khá Rừng trồng ở tuổi 4 - 5 với mật độ trồng 1.100 cây/ha (3 x 3m) Sồi phảng có sinh trưởng bình quân đạt 4,5 – 6,1m về chiều cao; 7,4 – 10 cm về đường kính ngang ngực nhưng chiều cao dưới cành chỉ đạt 1,2 – 1,8m nên tác giả đề xuất cần phải thực hiện các biện pháp tỉa cành để nâng cao chất lượng hình thân

Theo Bùi Trọng Thủy (2018) [53], Dẻ xanh (Lithocarpus

pseudosundaicus (Hickel et A.Camus) Camus) phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng IIA,

IIB, IIIA1 và IIIA3 và ở đai cao < 500m, tập trung ở đai cao <300m, độ dốc trung bình <250 Cây phát triển trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên đất phiến thạch sét,

đá vôi, đá granit và đá Pocphirit Lượng mưa bình quân năm từ 1.450 – 2.550 mm/năm, nhiệt độ bình quân năm 20,0 – 24,5oC Mật độ trồng Dẻ xanh 833 cây/ha, bón lót 100g NPK +300g vi sinh/hố bước đầu cho thấy cây sinh trưởng tốt

Ngoài ra trong thời gian gần đây còn rất nhiều các công trình nghiên cứu đã được thực hiện cho các loài cây bản địa khác điển hình như loài Dầu rái và Sao đen (Nguyễn Thị Hải Hồng và cộng sự, 2014 [36]); loài Giổi xanh (Phan Văn Thắng, 2014) [50]; loài Tếch (Nguyễn Công Hoan, 2014) [31]; loài Phay (Nguyễn Sỹ Hồng,

2015 [35]); loài Mun (Ngô Văn Nhương, 2016) [45], loài Mỡ (Bùi Thế Đồi và cộng

sự, 2019) [23]; loài Thanh thất, Chiêu liêu nước (Phạm Thế Dũng, 2019) [19], loài Bời lời vàng và Dẻ đỏ (Võ Đại Hải 2019) [28], loài Lát hoa (Nguyễn Minh Chí 2020) [14]… và nhiều loài cây bản địa khác Đặc điểm chung của các nghiên cứu này là đều đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái, cấu trúc, tái sinh, sinh trưởng, tăng trưởng của loài; chọn tạo giống và thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh (mật độ, bón phân, phương thức trồng) Tuy nhiên, hạn chế chung của các

Trang 25

nghiên cứu là thời gian theo dõi các thí nghiệm về trồng rừng còn ngắn nên mới đánh giá được sinh trưởng phát triển của các loài ở giai đoạn tuổi nhỏ, cần có thời gian theo dõi thêm

Nghiên cứu phương thức và phương pháp hỗn loài cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Thực tế cho thấy các mô hình rừng trồng hỗn loài ở nước ta đến nay chủ yếu là áp dụng theo phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây cao với cây cao Điển hình là thí nghiệm trồng rừng hỗn loài theo hàng giữa Mỡ với các loài Lim xanh, Xà

cừ, Tếch của Trung tâm Lâm sinh Cầu Hai, Phú Thọ năm 1962 (Trần Nguyên Giảng

và Nguyễn Đình Hưởng (1997) [25]; nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn loài giữa cây trồng chính, rụng lá mùa khô là Tếch với cây bạn thường xanh là Muồng đen và cây phù trợ là Đậu tràm ở Tây Nguyên của Nguyễn Xuân Quát (1985-1990) [46]; nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa cây lá kim (Thông đuôi ngựa) và cây lá rộng (Keo lá tràm và Bạch đàn trắng) ở Núi Luốt Xuân Mai, Hà Tây của Phùng Ngọc Lan (1986) [40]; nghiên cứu trồng rừng hỗn loài giữa Lát hoa và Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ và Ràng ràng tại Sông Hiếu, Nghệ An (Nguyễn Bá Chất, 1981-1985) [12]; nghiên cứu tạo lập rừng trồng hỗn loài trên đất rừng đã bị thoái hóa ở các tỉnh phía Bắc với các loài Re gừng, Vạng trứng, Sồi phảng, Dẻ đỏ và Giổi xanh, Trám trắng, Lim xanh (Nguyễn Bá Chất và Cộng sự, 2005) [12]

Từ các kết quả nghiên cứu đã được đúc rút kinh nghiệm, Bộ NN&PTNT đã ban hành tiêu chuẩn ngành số 04 TCN 126-2006 về Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây gỗ

lá rộng dưới tán rừng trồng để cung cấp gỗ lớn [5] Theo đó quy định chi tiết về loài cây, biện pháp kỹ thuật trồng cây phù trợ, trồng cây trồng chính, đồng thời đưa ra được danh sách 15 loài cây bản địa chịu bóng nhẹ, sinh trưởng tương đối nhanh, chu

kỳ kinh doanh 15-20 năm như: Sồi phảng, Xoan đào, Lát hoa, Mỡ, ; và 15 loài cây chịu bóng, sinh trưởng chậm, chu kỳ kinh doanh trên 20 năm như: Dẻ đỏ, Giổi xanh, Lim xanh, Gõ đỏ, Giáng hương, Re gừng, (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005) [4]

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay, thông quan các đề tài, sự án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và công nghệ, nhiều loài cây bản địa như đã được nghiên cứu về đặc điểm sinh học, chọn giống, nhân giống và kỹ

Trang 26

thuật gây trồng Các kết quả nghiên cứu đó cũng đã xây dựng được các hướng dẫn, quy trình kỹ thuật nhân giống và trồng rừng cho nhiều loài cây bản địa Đây là cơ sở quan trọng để phát triển rừng trồng cây bản địa trên các vùng sinh thái của nước ta

1.2.2 Nghiên cứu về cây Xoan đào

1.2.2.1 Về tên gọi và đặc điểm sinh học của loài Xoan đào

a Về tên gọi và đặc điểm hình thái của Xoan đào:

Xoan đào có tên khoa học là Prunus arborea (Blume) Kalkman, tên đồng nghĩa

là Prunus arborea, thuộc họ Hoa Hồng Rosaceae (Lê Mộng Chân và Lê Thi Huyên,

2000 [11]; Trần Hợp, 2002 [37]; Vu Van Dung, 1996 [72]) Ngoài ra, Xoan đào còn được gọi bằng một số tên khác như Vỏ hôi, Mạy thoong Cây gỗ lớn, có thể cao 20-25m, đường kính có thể lên tới 70-80 cm Thân cây hình trụ, tròn, thẳng, vỏ mỏng và nhẵn, vỏ có màu xám bạc, giác gỗ màu trắng Cành non được bao phủ bởi lông mịn dày đặc màu nâu gỉ sắt, vỏ và lá có mùi hôi bọ xít (Lê Mộng Chân và Lê Thi Huyên, 2000) [11] Lá đơn mọc cách, mép nguyên hình trứng hoặc elip rộng 2-7 cm, dài khoảng 15 cm, 2 mặt lá đều có lông, đầu có mũi lồi tù, đuôi hình nêm rộng hoặc gần tròn, gân lá lõm ở mặt trên, có 2 tuyến dẹt màu lục bóng ở phía đuôi lá, mặt dưới lá thường phủ lông màu gỉ sắt, lá kèm hình tim (Lê Mộng Chân và Lê Thi Huyên, 2000

[11]; Trần Hợp, 2002 [37])

Hoa tự chùm, màu vàng trắng mọc ở nách lá, gốc hoa có phủ một lớp lông màu trắng, hoa lưỡng tính, đài hình chuông, mép chia làm 5-7 thùy, không đều, tràng màu trắng, cánh tràng nhỏ phủ nhiều lông (Lê Mộng Chân và Lê Thi Huyên, 2000) [11] Quả thuộc loại quả hạch, hình cầu, có lông, đường kính khoảng 1cm màu xanh

lá cây sau đó màu đỏ hoặc đen Khi chín quả có màu tím và có mùi thơm Hạt Xoan đào có màu nâu, nhân màu trắng có chứa tinh dầu và có mùi hôi bọ xít Hàm lượng dầu trong hạt có thể lên tới 40-50%, có thể ép dầu để đốt (Lê Mộng Chân và Lê Thi Huyên, 2000) [11]

b Đặc điểm sinh thái và phân bố của Xoan đào:

Xoan đào là cây ưa sáng mọc nhanh, mọc rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh ở các tỉnh phía Bắc, đến các tỉnh miền Trung Đặc biệt, Xoan đào ưa điều

Trang 27

kiện đất có tầng sâu, thoát nước, ở các trạng thái rừng thứ sinh; cây sinh trưởng tốt ở nơi có nhiệt độ bình quân năm 22oC, lượng mưa hàng năm trên 1.500mm, sống được

ở các loại đất feralit màu vàng, vàng đỏ phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000 [11]; Trần Hợp, 2002 [37]; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2012 [42]) Xoan đào sinh trưởng tương đối nhanh, tùy theo mục đích kinh doanh nhưng sau 10-15 năm cây có thể khai thác gỗ để đóng đồ gia dụng (Nguyễn Thị Nhung và cộng sự, 2009 [44])

Xoan đào có khả năng tái sinh tự nhiên tốt Trong rừng thứ sinh tại Lào Cai, mật độ cây tái sinh dao động từ 2.500-4.600 cây/ha thì loài Xoan đào lên tới 400-760 cây/ha (Vũ Văn Định và cộng sự, 2016b) [21] Tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng của cả lâm phần ở trạng thái IIa dao động từ 1.186-1.577 cây/ha, trong đó loài xoan đào chiếm từ 93-111 cây/ha; ở trạng hái IIb, số cây tái sinh triển vọng của lâm phần dao động từ 1.323-1.756 cây/ha trong đó, Xoan đào chiếm

từ 75-176 cây/ha (Nguyễn Công Hoan và cộng sự, 2017) [32]

Xoan đào thường phân bố ở tầng từ dưới tán đến tầng tán chính (Đỗ Hoàng Chung và cộng sự, 2017 [15]; Nguyễn Công Hoan và cộng sự, 2018 [33]), với hệ số

tổ thành theo chỉ số IV% dao động từ 5,3% (ở chân đồi), 6,8% (ở sườn đồi) và 10,1% (ở đỉnh đồi) Trong các lâm phần rừng tự nhiên ở Văn Bàn, Lào Cai, Xoan đào thường xuất hiện với các loài như Quế, Xoan nhừ, Mỡ, Trám, Nhội (Vũ Văn Định và cộng

sự, 2016b) [21] Ở Bắc Kạn, Xoan đào thường bắt gặp phân bố với các loài như Dẻ gai, Kháo, Vối thuốc, Trẩu, Xoan nhừ,… (Đỗ Hoàng Chung và cộng sự, 2017) [15]

Triệu Thái Hưng và cộng sự (2010) [79] sử dụng máy Lico 6400 để đo nhu cầu ánh sáng của một số cây bản địa, bao gồm Xoan đào, Vạng trứng, Dẻ bộp, Dẻ cau, Lim xanh và Re hương, trồng hỗn giao dưới tán rừng tự nhiên nghèo kiệt tại Phú Thọ Kết quả cho thấy, Xoan đào, Vạng trứng và Re hương là 3 loài có hiệu suất quang hợp cao nhất khi tăng cường độ ánh sáng từ 300 µmol/m2/s đến 2.000 µmol/m2/s PPFD Do đó, Xoan đào và Re hương được xem là loài thích nghi với điều kiện ánh sáng cao tốt nhất trong số các loài được nghiên cứu Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nước của Xoan đào lại không cao, chỉ đạt 3,86 µmol CO2/mmol H2O tại cường

Trang 28

độ ánh sáng 2.000 µmol/m2/s PPFD (Triệu Thái Hưng và cộng sự, 2010) [81] Điều này chứng tỏ rằng, Xoan đào là loài ưa sáng nhưng không phải là loài chịu hạn tốt, vì thế không phù hợp để trồng những nơi có điều kiện khô hạn

c Đặc điểm vật hậu của Xoan đào:

Vũ Văn Định và cộng sự (2016a) [20] khi theo dõi vật hậu của Xoan đào tại 5 điểm trong huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai cho thấy, thời điểm bắt đầu và kết thúc giữa các pha vật hậu có sự chênh lệch về thời gian từ pha rụng lá cho đến quả chín Kết quả tương tự cũng được ghi nhận cho Xoan đào phân bố ở Thái Nguyên và Bắc Kạn, theo đó lá Xoan đào bắt đầu chuyển sang màu vàng vào trung tuần tháng 11 và rụng nhiều nhất vào tháng 12 hàng năm (Nguyễn Công Hoan và cộng sự, 2018) [33] Thời gian từ khi cây hết rụng lá đến khi cây nảy lộc khoảng một tháng (Vũ Văn Định và cộng sự, 2016b) [21] Cây ra nụ vào đầu tháng 4 và đến tháng 12 quả chín, quả Xoan đào chín rộ vào cuối tháng 1 đầu đến tháng 2 (dương lịch) năm sau Nếu gặp thời tiết rét đậm thì thời gian quả chín kéo dài sang đầu tháng 3 Hạt Xoan đào khi chín có màu nâu, hạt có hình giống quả chè có chiều rộng từ 0,35-0,7cm, chiều dài từ 0,6-1,2

cm nhân màu trắng có tinh dầu và có mùi hôi bọ xít Khối lượng 1.000 hạt Xoan đào

ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai dao động 416,7 - 500g với tỷ lệ hạt chắc đạt 96,5% (Vũ Văn Định và cộng sự, 2016b [21]; Hoàng Văn Thắng và cộng sự, 2020 [48]) Chu kỳ sai quả của Xoan đào thường là 2 năm (Nguyễn Công Hoan và cộng sự, 2018 [33]) Vì vậy, việc bảo quản dự trữ nguồn hạt giống để đám ứng nhu cầu trồng rừng

là rất quan trọng

1.2.2.2 Về giá trị sử dụng của Xoan đào

Theo Nguyễn Đình Hưng và cộng sự (2009) [38], gỗ Xoan đào có giác và lõi phân biệt, giác màu trắng hồng, lõi màu hồng nhạt Vòng sinh trưởng rõ ràng, thường rộng 3-4 mm Mặt gỗ trung bình, mạch đơn và kép ngắn phân tán, khó thấy mô mềm, tia gỗ trung bình có thể thấy được Chiều hướng thớ gỗ lệch, gỗ có khối lượng riêng (ở độ ẩm 12%) thuộc loại nhẹ (tỷ trọng trung bình 620kg/m3) Điểm bão hoà thớ gỗ

ở mức trung bình (29%), hệ số co rút thể tích trung bình (0,53) Giới hạn bền khi nén dọc thớ trung bình (597kg/cm2), giới hạn bền khi uốn tĩnh trung bình (1410kg/cm2)

Trang 29

Sức chống tách ở ranh giới giữa mức trung bình và mức cao (20kg/cm) Hệ số uốn

va đập lớn (1,3) Gỗ Xoan đào có độ bền cơ học trung bình và độ bền tự nhiên tốt

Từ kết quả đó tác giả đã đề xuất hướng sử dụng gỗ Xoan đào là dùng trong xây dựng thông thường, đóng đồ mộc dân dụng và dùng trong giao thông, có thể dùng vào các kết cấu chịu va chạm và rung động Do điểm bão hoà thớ gỗ trung bình và hệ số co rút thể tích trung bình, nên có thể hong phơi nơi râm mát hoặc sấy trong lò sấy công nghiệp Gỗ Xoan đào thuộc nhóm VI trong Bảng phân loại gỗ của Bộ Lâm nghiệp năm 1977 [1]

Do gỗ Xoan đào có đặc tính cơ lý như đã trình bày ở trên và có vân thớ đẹp, nên rất phù hợp cho dùng làm ván lạng, ván bóc và các đồ nội thất gia đình như cửa

gỗ, bàn ghế, tủ bếp… Đặc biệt, hiện nay gỗ Xoan đào được dùng làm ván lót sàn, kệ bếp, đồ nội thất cao cấp Loại gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường Gỗ Xoan đào đang trở thành xu hướng và sự lựa chọn của rất nhiều gia đình

1.2.2.2 Về chọn giống và kỹ thuật trồng Xoan đào

a Nghiên cứu kỹ thuật chọn tạo giống Xoan đào:

Cho đến nay, các nghiên cứu về chọn, tạo giống Xoan đào ở nước ta còn khá hạn chế Công trình nghiên cứu chọn giống Xoan đào đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thông qua chọn lọc một số cây trội dự tuyển của đề tài cấp tỉnh "Nghiên

cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Xoan đào bản địa (Prunus arborea (Blume)

Kalkman) phục vụ trồng rừng kinh doanh gỗ lớn tại tỉnh Lào Cai” do Vũ Văn Định

và cộng sự thực hiện từ 6/2013-6/2016 Kết quả bước đầu đã chọn lọc được 15 cây trội Xoan đào ở Văn Bàn, Lào Cai (Vũ Văn Định và cộng sự, 2016b) [21] Tiếp đến

là đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Xoan đào (Prunus arborea

(Blume) Kalkman) cung cấp gỗ lớn cho một số tỉnh miền núi phía Bắc” Đây là đề

tài do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp kinh phí và Trường Đại Học Thái Nguyên là đơn

vị chủ trì thực hiện trong giai đoạn 3 năm, từ tháng 3/2016-3/2018 Kết quả nhóm tác giả đã lựa chọn được 20 cây trội, có đường kính ngang ngực dao động từ 25-82 cm,

và chiều cao vút ngọn dao động từ 17-32 m, phân bố trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và huyện Chợ Đồn và Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Nguyễn Công Hoan và

Trang 30

cộng sự, 2018) [33] Đây là kết quả chọn lọc bước đầu nguồn giống tốt để phục vụ cho các nghiên cứu về chọn giống tiếp theo

Trong thử nghiệm phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt ở Hữu Lũng Lạng Sơn bằng gieo hạt thẳng Xoan đào vào hố của các tác giả Trần Nguyên Giảng và Nguyễn Đình Hưởng (1997) [25] cho thấy, hạt Xoan đào với cách bảo quản thông thường chỉ giữ được sức nảy mầm trong vòng 2 tháng Vì vậy, để kéo dài thời vụ có thể dùng cây gieo ươm trong bầu để trồng Tuy nhiên, không nên nuôi cây quá lớn vì khi rễ đã

ra khỏi đáy bầu thì tỷ lệ sống khi trồng rừng đạt được không cao

Để phục vụ cho việc tạo cây con trồng rừng Xoan đào, một số tác giả đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cho loài cây này Nguyễn Thành Vân và Nguyễn Thành Phong (2010) [60] đã thử nghiệm nhân giống hạt Xoan đào bằng cách ngâm hạt: Trong nước ấm 450 trong 8h, (ii) trong nước ấm 60-700 trong 8h, (iii) không xử lý hạt, đem gieo thẳng vào bầu, mỗi công thức xử lý 50 hạt/lặp và lặp lại 3 lần Kết quả cho thấy, tỷ lệ này mầm của các công thức giao động 36,7-57,3% với thời gian hạt này mầm từ 30-58 ngày, trong đó phương pháp ngâm hạt trong nước ấm 450 trong thời gian 8h và gieo trong cát ẩm cho tỷ lệ này mầm cao nhất đạt 57,3% và thời gian nảy mầm ngắn nhất 30 ngày

Bùi Thế Đồi và Nguyễn Thị Lê Kiêm (2010) [22] đã thực hiện xử lý hạt giống Xoan đào và cho thấy thí nghiệm ngâm hạt vào nước ấm 40-45°C sau 6-12 giờ sau

đó vùi trong cát ẩm giúp cho hạt giống nảy mầm nhanh nhất và tốt nhất, với tỉ lệ nảy mầm đạt trung bình 57%; trong khi công thức gieo thẳng hạt trên nền đất cho tỷ lệ nảy mầm thấp nhất (32%) Theo nhóm tác giả thì hạt Xoan đào có vỏ cứng và dày, vì thế cần phải được xử lý ở nhiệt độ cao hơn để tác động làm kích thích sự biến đổi của phôi hạt để hạt có thể nảy mầm

Theo Nguyễn Công Hoan và cộng sự (2018) [33] khi xử lý hạt Xoan đào ở nhiệt độ 80°C, tỷ lệ nảy mầm thấp hơn so với ngâm hạt ở nhiệt độ 40-60°C Như vậy

có thể thấy, mặc dù tỉ lệ nảy mầm và thế nảy mầm có sự chênh lệch giữa các nghiên cứu Nhưng các tác giả đều nhận định việc xử lý hạt giống Xoan đào bằng cách ngâm trong nước ấm ở nhiệt độ từ 40-60°C trong vòng 8 giờ cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất

Trang 31

Việc nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể gieo hạt tới nảy mầm hạt giống Xoan đào cũng rất được chú ý

Ngoài thí nghiệm xử lý hạt, giá thể gieo hạt, các tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm Nguyễn Thành Vân và Nguyễn Tiên Phong (2010) [60] đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng ở các công thức 25%, 50% và 75% và đối chứng không che Kết quả theo dõi sau 12 tháng cho thấy, đường kính gốc của cây con Xoan đào đạt từ 0,23-0,56 cm và chiều cao trung bình từ 15,8-49,0 cm, trong đó công thức che sáng 50% cho sinh trưởng tốt nhất với đường kính gốc là 0,56 cm và chiều cao vút ngọn là 49

cm Kết quả nghiên cứu của Vũ Văn Định và cộng sự (2016b) [21] cũng cho kết quả tương tự, công thức che sáng 50% cho sinh trưởng của Xoan đào là tốt nhất với chiều cao vút ngọn đạt 51,6 cm, đường kính gốc đạt 0,26 cm, tỷ lệ sống đạt 74,8%, trong khi đó công thức đối chứng (không che sáng) sinh trưởng thấp nhất với chiều cao đạt 41,5 cm, đường kính gốc 0,23 cm và tỷ lệ sống chỉ đạt 27,1%

Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng của cây con trong vườn ươm, Vũ Văn Định và cộng sự (2016b) [21] đã thí nghiệm với các thành phần ruột bầu gồm đất tầng mặt và phân vi sinh theo các tỷ lệ 1%, 2%, 3% phân vi sinh kết hợp với 99%, 98% và 97% đất tầng mặt Kết quả theo dõi sau 6 tháng và 9 tháng đã có sự khác biệt về sinh trưởng của cây con Xoan đào Công thức ruột bầu tốt nhất là bón 2% phân vi sinh so với khối lượng bầu + 98% đất tầng A (chiều cao đạt 48,6cm ở tháng thứ 9)

Nguyễn Thành Vân và Nguyễn Tiên Phong (2010) [60] đã nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm với các thí nghiệm: bón phân chuồng, bón phân NPK hòa tan vào nước rồi tưới cho cây với liều lượng 5kg NPK tưới cho 1 vạn cây với thời gian tưới 15 ngày/lần kết hợp rửa lá

để chống cháy, thí nghiệm bón phân vi sinh và công thức đối chứng không bón Kết quả sau 12 tháng, sinh trưởng của cây Xoan đào trong các thí nghiệm bón phân đạt Do= 0,26-0,34 cm và Hvn = 17,9-41,6 cm Sinh trưởng của Xoan đào trong công thức bón phân NPK bằng cách hòa tan trong nước rồi tưới đều 5kg NPK/10.000 cây cho sinh trưởng tốt nhất, với Do = 0,34 cm và Hvn = 41,6 cm

Trang 32

Việc thử nghiệm nhân giống Xoan đào bằng giâm hom cũng đã được quan tâm Nguyễn Công Hoan và cộng sự (2018) [33] đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ và nồng độ (IBA/NAA/IAA và đối chứng ở các nồng độ 100/500/1000/1500 ppm), chiều dài hom (2-4/4-6/6-8 cm) và loại hom (hom gốc/giữa/ngọn) đến tỷ lệ ra rễ, số rễ/hom và chiều dài rễ của Xoan đào Kết quả cho thấy, thuốc IBA ở nồng độ 500 ppm cho tỷ lệ hom sống, hom ra rễ, chiều dài rễ và số

rễ đạt cao nhất, đạt lần lượt là 52,29%, 46,33%, 3,65 cm và 3,63 rễ/hom; hom có chiều dài 4-6 cm (có ít nhất 2 cặp chồi ngủ) cho tỷ lệ hom ra rễ đạt cao nhất trên cả hai loại giá thể đất màu và cát sông; hom giữa là phù hợp nhất để chọn vật liệu vì có

tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ của hom đạt cao nhất (Nguyễn Công Hoan và Trần Quốc Hưng, 2019) [34]

Vấn đề nghiên cứu sâu bệnh hại cây con Xoan đào ở giai đoạn vườn ươm ít được chú ý Theo Nguyễn Thái Ngọc (1994) [43] trong giai đoạn vườn ươm cây con Xoan đào sinh trưởng chậm nhưng có sức khỏe tốt, không bị sâu bệnh Tuy nhiên theo Vũ Văn Định và cộng sự (2016b) [21] thì ở giai đoạn vườn ươm cây con Xoan

đào bị một số loại bệnh hại rễ và lá như Bệnh thán thư hại lá do nấm Collectotrichum

gloeosporioides, Bệnh thối rễ xoan đào do nấm Pythium veans de Bary và Phytopythium sp Đây là vấn đề tồn tại cần được đặc biệt chú ý khi triển khai các nội

dung của Luận án này

b Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Xoan đào:

Với đặc tính là loài cây sinh trưởng nhanh và gỗ có chất lượng tốt, có vân đẹp nên Xoan đào đã được gây trồng ở nhiều địa phương trong nước, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc Theo báo cáo từ Dự án quy hoạch chuyển đổi loài cây trồng rừng phục

vụ đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của Tổng Cục Lâm Nghiệp (2015) [54] hiện cả nước đã có 1.158 ha rừng trồng Xoan đào

Nguyễn Văn Thông và Nguyễn Trung Lâm (2001) [51] đã xây dựng mô hình trồng hỗn giao 5 loài cây lá rộng bản địa gồm Re gừng, Xoan đào, Sồi phảng, Dẻ đỏ

và Kháo vàng trên đối tượng đất đã bị thoái hóa, có cây bụi lúp súp, lau lách và đất sau khi khai thác trắng rừng Bạch đàn, Bồ đề kém chất lượng tại Cầu Hai, Phú Thọ

Trang 33

Các phương thức trồng gồm hỗn giao theo cây trong hàng và hỗn giao theo hàng với mật độ trồng là 1.100 cây/ha (cự ly 3×3 m) Do trồng trên đất thoái hóa nên tác giả

đã sử dụng cây phù trợ là Keo tai tượng và Cốt khí Sau 5 năm trồng các tác giả cho biết, sinh trưởng của Xoan đào đạt trung bình là 1,12 cm/năm về đường kính ngang ngực và 0,97 m/năm về chiều cao

Trong giai đoạn 2005-2009, Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2009) [44] đã xây dựng 14,9 ha các mô hình hỗn giao các loài Re gừng, Kháo vàng, Dẻ đỏ, Xoan đào

và Sồi phảng cung cấp gỗ lớn tại 2 điểm nghiên cứu Đoan Hùng - Phú Thọ và Trấn Yên - Yên Bái với mật độ trồng 1.100 cây/ha (cự ly 3x3 m) Số loài hỗn giao với Xoan đào trong các mô hình từ 2-5 loài Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên với các phương thức trồng khác nhau, gồm: (i) Hỗn giao theo cây trong hàng (xen kẽ cây trong hàng); (ii) Hỗn giao theo hàng (mỗi loài cây trồng 1 hàng) và (iii) Hỗn giao theo dải (3 hàng loài này rồi đến 3 hàng loài khác) Kết quả sau 3 năm trồng sinh trưởng D1.3 (cm) và chiều cao Hvn (m) của Xoan đào trong các mô hình thí nghiệm lần lượt đạt: Mô hình hỗn giao 5 loài đạt D1.3TB = 3,6 cm, HvnTB = 3,9 m hệ

số biến động về đường kính là SD = 22,5% và biến động về chiều cao là SH = 22,1%;

Mô hình hỗn giao 4 loài có D1.3 = 4,0 cm, Hvn = 3,8m và SD = 20,3%, SH = 20,5%;

mô hình hỗn giao 3 loài có D1.3 = 4,1 cm, Hvn = 4,4 m hệ số biến động SD = 18,2, SH

= 17,9% và mô hình hỗn giao 2 loài có D1.3 =3,5 cm, Hvn = 3,6 m và có hệ số biến động SD = 16,4%, SH = 18,8% Kết quả so sánh sinh trưởng giữa các loài cây trồng trong cùng mô hình và so sánh sinh trưởng của loài Xoan đào trong các mô hình hỗn giao khác nhau đều cho kết quả khác nhau rõ rệt, trong đó Xoan đào trồng trong mô hình hỗn giao 3 loài cho sinh trưởng đường kính và chiều cao tốt nhất ở tuổi 3 Đánh giá khi kết thúc đề tài (rừng 3 tuổi) tác giả đã kết luận các loài sử dụng đều trong các

mô hình đều có tỷ lệ sống cao và sinh trưởng khá nhanh và chưa thấy xuất hiện các loài sâu bệnh phá hoại cây trồng trong mô hình thí nghiệm

Nguyễn Thành Vân và Nguyễn Tiên Phong (2010) [60] cũng đã nghiên cứu

kỹ thuật trồng Xoan đào với các công thức: trồng dưới tán rừng tự nhiên thứ sinh nghèo kiệt, trồng Keo lai làm cây phù trợ xen giữa 2 hàng Xoan đào và công thức

Trang 34

trồng cây Xoan đào không có cây phù trợ Mật độ trồng trong các thí nghiệm là 1.660 cây/ha (3×2 m) Các tác giả cũng đã bố trí các thí nghiệm mật độ trồng gồm các công thức: 1.100 cây/ha (3×3 m), 1.660 cây/ha (3×2 m), 2.000 cây/ha (2×2,5 m) Các thí nghiệm phương thức và mật độ trồng đều được bố trí trên đất rừng thứ sinh nghèo kiệt hoặc thảm cây bụi tốt, cây con 12 tháng tuổi, dung lượng 50 cây/lặp/công thức

và lặp lại 3 lần Kết quả sau 2 năm tuổi, sinh trưởng của Xoan đào đã có sự khác nhau giữa các công thức thí nghiệm Với thí nghiệm về phương thức trồng, sinh trưởng của Xoan đào tốt nhất ở công thức trồng dưới tán rừng thứ sinh tự nhiên nghèo kiệt với tăng trưởng bình quân năm đạt Do = 2,1 cm/năm và Hvn = 2,2 m/năm Về thí nghiệm mật độ trồng rừng: mật độ trồng 1.100 cây/ha sau 2 năm cho sinh trưởng tốt hơn các mật độ còn lại, tăng trưởng trung bình năm của Xoan đào trong công thức mật độ này đạt 2,2 cm/năm về đường kính và 2,0 m/năm về chiều cao Ngoài ra các tác giả cũng

đã xây dựng thử nghiệm 5 ha mô hình trồng 3 loài cây Gội nếp, Dẻ cau và Xoan đào, đến tuổi 3 cho tăng trưởng trung bình Xoan đào đạt Do = 1,6 cm/năm và Hvn = 2,2 m/năm và Dt = 1,3 m/năm Các tác giả đã đề xuất trồng Xoan đào tốt nhất dưới tán rừng có tàn che 0,4-0,5 Tuy nhiên, với mục tiêu trồng rừng gỗ lớn thì mật độ trồng 1.100-1.660 cây/ha là tương đối cao nhưng trong nghiên cứu này tác giả chưa thiết

kế các biện pháp tỉa thưa, nuôi dưỡng để dẫn dắt thành rừng cung cấp gỗ lớn

Vũ Văn Định và cộng sự (2016b) [21] đã nghiên cứu xây dựng được 4 ha mô hình Xoan đào với 2 thí nghiệm về mật độ trồng và bón lót phân tại xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai bằng cây con có bầu được tạo từ nguồn giống thu tại địa phương Về mật độ trồng tác giả đã tiến hành thí nghiệm trồng 2 ha với 4 công thức mật độ là 834 cây/ha (cự ly 3×4 m), 1.100 cây/ha (cự ly 3×3 m), 1.334 cây/ha (cự ly 2,5×3 m) và 1.666 cây/ha (cự ly 2×3 m) Về bón phân đã xây dựng 2 ha với mật độ 1.100 cây/ha bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần lặp và bón phân với 4 công thức bón 100g NPK, 200 g NPK, 300g NPK và công thức đối chứng không bón Kết quả theo dõi sau hơn 1 năm cho thấy cây Xoan đào trồng trong các thí nghiệm đang sinh trưởng bình thường, một số cây sinh trưởng tốt và rất có triển vọng Tuy nhiên, tác giả không cung cấp tỷ lệ sống của cây trồng Bên cạnh đó, kết quả này chỉ

Trang 35

mới được theo dõi trong 1 năm nên chưa đủ thời gian để đánh giá

Nguyễn Công Hoan và cộng sự (2018) [33] nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng thuần loài Xoan đào tại Thái Nguyên (mật độ trồng 1.333 cây/ha) theo 4 công thức thí nghiệm: (1) bón 0,3 kg phân vi sinh; (2) bón 0,3 kg phân vi sinh + 0,2 kg NPK (5:10:3); (3) Bón 0,3 kg phân vi sinh + 0,2 kg NPK (5:10:3); và (4) Bón 0,3 kg phân vi sinh + 0,3 kg NPK (5:10:3) Kết quả sau 6 tháng tuổi, ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và phẩm chất cây là chưa rõ ràng Tuy nhiên, sau 10 tháng tuổi, các công thức thí nghiệm có bón bổ sung NPK đều cho sinh trưởng tốt hơn so với công thức đối chứng Theo đó, công thức bón 0,3 kg phân vi sinh + 0,2 kg NPK (5:10:3) mỗi cây cho sinh trưởng đường kính và chiều cao tốt nhất (D00 đạt 0,73 cm và Hvn đạt 1,04 m) Tuy nhiên, tỉ lệ sống của rừng khi trồng thuần loài chỉ đạt trung bình 57% ở tất cả cá công thức thí nghiệm Trong khi đó, với phương thức trồng rừng theo rạch và theo lỗ trống (mật độ trồng 665 cây/ha) trong rừng thứ sinh thì tỷ lệ sống thường đạt cao hơn, dao động từ 87-89% (Nguyễn Công Hoan và cộng sự, 2018) [33] Điều này có thể bắt nguồn từ đặc điểm ưa bóng nhẹ của Xoan đào ở giai đoạn còn nhỏ Vì thế, cần cân nhắc việc xử lý thực bì để đảm bảo để lại độ che sáng vừa phải cho rừng sau khi trồng thuần loài là rất cần thiết

Ngoài các nghiên cứu kỹ thuật gây trồng rừng nêu trên, một số tác giả đã nghiên cứu làm giàu rừng nghèo kiệt bằng cây Xoan đào Giai đoạn 1971-1977 Trần Nguyên Giảng và Nguyễn Đình Hưởng (1997) [25] đã nghiên cứu kỹ thuật tái sinh rừng nghèo kiệt ở Hữu Lũng, Lạng Sơn bằng gieo hạt thẳng cây Xoan đào Biện pháp tác động cho đối tượng rừng này là phát luỗng dây leo, cây bụi, chặt bỏ bớt các cây già cỗi ít giá trị để hạ độ tàn che của rừng xuống theo 2 công thức tàn che là 0,3-0,4

và 0,5-0,6 Thí nghiệm được bắt đầu từ năm 1971 và được lặp lại trong các năm 1972

và 1973 Cây con được chăm sóc trong 3 năm liên tục Biện pháp chăm sóc chủ yếu

là phát dây leo, bụi dậm xâm lấn vào trước và sau mùa mưa, năm đầu xới đất quanh gốc 1 lần, đến năm thứ 4 mở thêm tán che cho thích hợp với sinh trưởng của cây non

và đến năm 1976 (sau 5 năm) tiến hành tỉa thưa Xoan đào ở các công thức thiết lập năm 1971 Kết quả sang tuổi 6 cây sinh trưởng khá đồng đều, đặc biệt là về chiều

Trang 36

cao, cả 2 công thức cần phải tỉa thưa ở tuổi 6 Đến tuổi 7 cây có chiều cao 9-10 m và đường kính ngang ngực từ 9-10cm Từ kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng có thể dùng Xoan đào để trồng bổ sung vào rừng nghèo kiệt có độ tàn che 0,3-0,4 hoặc rừng phục hồi sau nương rẫy mà đất còn tính chất đất rừng Ở độ tàn che cao hơn cần hạ xuống 0,3 và cần chăm sóc cẩn thận trong 3 năm đầu

Nguyễn Văn Thông (1993) [51] đã thử nghiệm cải tạo rừng nghèo kiệt (trạng thái IIa) ở Cầu Hai, Phú Thọ bằng 3 loài cây Xoan đào, Re gừng và Dẻ cau Các biện pháp lâm sinh tác động là phát toàn bộ cây bụi dây leo theo rạch rộng 2m, rạch chừa rộng 8m; làm đất cục bộ, cuốc hố 40×40×40 cm Mật độ trồng trong mô hình là 500 cây/ha (cự ly trồng 2×10 m) với tiêu chuẩn cây giống là cây con có bầu, không sâu bệnh và có đường kính gốc từ 0,4cm và chiều cao vút ngọn từ 0,4m trở lên Kết quả theo dõi sau 10 năm cho thấy, trong các loài cây trồng làm giàu rừng thì Xoan đào cho sinh trưởng nhanh nhất, đạt D1.3 = 15 cm, Hvn = 12,6 m; Re gừng đạt D1.3= 14,8

cm Mặc dù nghiên cứu chưa cho biết phương thức trồng cho các loài nhưng kết quả bước đầu cho thấy so với các loài trồng ở cùng thí nghiệm là Lim xẹt, Hỏa lực nam,

Re, Cẩm lai (S) Cẩm lai (M) và Sau sau lào thì Xoan đào có tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn so các loài Re, Sau sau lào và Hỏa lực nam

Trang 37

Ngoài nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng, tình hình sâu bệnh hại cũng là một vấn

đề cần được quan tâm khi phát triển trồng rừng gỗ lớn (Hà Công Tuấn và cộng sự, 2006) [57] Trong thí nghiệm trồng Xoan đào (thuần loài theo ô) của nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng tại Cầu Hai, Phú Thọ cho thấy Xoan đào trồng năm 2004 trong khu bảo tồn nguyên chỗ bị sâu hại nhiều, dẫn đến cây sinh trưởng kém dần và chết (Phí Hồng Hải, 2015) [27]

1.3 Nhận xét và đánh giá chung

Từ các công trình nghiên cứu trên, có thể đưa ra một số nhận định sau:

- Các nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa đã được nhiều tác giả quan tâm ở cả trong và ngoài nước Nền tảng bước đầu xuất phát từ việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài (phân bố, sinh thái, cấu trúc, tái sinh, mối quan hệ với các loài cây khác trong lâm phần), biện pháp kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Sau đó là các thử nghiệm về phương thức và phương pháp trồng rừng hỗn loài cây bản địa Đây cũng sẽ là hướng nghiên cứu mà đề tài sẽ thực hiện cho loài Xoan đào

- Xoan đào là cây bản địa gỗ lớn, có biên độ sinh thái rộng, sinh trưởng nhanh

và đã được thử nghiệm trong một số mô hình trồng và phục hồi rừng ở nước ta Kết quả đánh giá cho thấy Xoan đào rất có triển vọng cho trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở nước ta Kết quả tổng quan cũng cho thấy, ở trên thế giới việc nghiên cứu về chọn, tạo giống và kỹ thuật trồng rừng Xoan đào còn ít được quan tâm Ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, chọn, tạo giống, kỹ thuật trồng rừng Xoan đào được thực hiện và bước đầu cũng đã đạt được những kết quả đáng tham khảo nhưng nghiên cứu về cây Xoan đào vẫn còn một số hạn chế cần được quan tâm hơn là:

- Các điều tra về đặc điểm phân bố, sinh thái, cấu trúc, tái sinh của Xoan đào mới chỉ dừng lại ở một số khu vực nhỏ, chưa phản ảnh được nhiều về được đặc điểm sinh học của loài trên phạm vi các vùng sinh thái Đặc biệt, việc nghiên cứu mối quan

hệ giữa Xoan đào với các loài cây khác trong lâm phần còn ít được quan tâm Do đó còn thiếu cơ sở để lựa chọn loài cây trồng hỗn loài với Xoan đào

- Các thí nghiệm và kết quả nghiên cứu chưa quan tâm nhiều đến các cơ sở

Trang 38

khoa học cho việc chọn giống, khảo nghiệm giống; bảo quản hạt giống, nhân giống

và trồng rừng thâm canh Cụ thể:

+ Về chọn giống và khảo nghiệm giống Xoan đào: cho đến nay ở trong nước

có rất ít nghiên cứu về chọn giống Xoan đào, chỉ mới có nghiên cứu chọn một số cây trội Xoan đào ở Lào Cai, việc chọn giống Xoan đào theo các xuất xứ khác nhau ở các vùng sinh thái khác nhau và khảo nghiệm xuất xứ và hậu thế Xoan đào cũng còn chưa được quan tâm Đây là tồn tại mà đề tài luận án sẽ tập trung để góp phần tạo nguồn giống Xoan đào chất lượng cao phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở nước ta

+ Về bảo quản hạt: Các nghiên cứu mới chỉ đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ

và điều kiện bảo quản (khô, lạnh, ẩm) đến thời gian bảo quản và nảy mầm hạt giống

mà chưa quan tâm tới độ ẩm hạt khi đưa vào bảo quản - chỉ tiêu có ảnh hưởng lớn tới việc xác định phương pháp và kỹ thuật bảo quản, tuổi thọ hạt giống

+ Về kỹ thuật nhân giống: Các nghiên cứu đã đánh giá được ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý và thời gian ngâm hạt tới nảy mầm hạt giống; ảnh hưởng của thành phần ruột bầu, chế độ che sáng tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm; nghiên cứu ảnh hưởng của loại và nồng độ chất kích thích ra rễ, chiều dài hom, vị trí lấy hom tới khả năng ra rễ hom Xoan đào Tuy nhiên, biên độ xử lý nhiệt

độ giữa các công thức thí nghiệm còn chưa nhiều nên chưa xác định được các khoảng nhiệt độ tối ưu cho nảy mầm hạt giống; chưa xác định thời điểm phù hợp cấy cây mầm cấy vào bầu để cho sinh trưởng phát triển của cây con tốt nhất; và đặc biệt chưa

có các nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh hại cây cong trong giai đoạn vườn ươm

+ Về kỹ thuật trồng rừng: Các tác giả đã quan tâm nghiên cứu xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Xoan đào Tuy nhiên, các nghiên cứu còn tản mạn, chưa đầy đủ; việc bón phân cho rừng trồng còn mang tính ước lượng, chưa căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của loài theo từng giai đoạn phát triển Chưa có nghiên cứu

về phương thức trồng Xoan đào với các loài cây trồng khác dựa trên mối quan hệ giữa các loài Do vậy, luận án được đặt ra nhằm góp phần giải quyết một số vấn đề tồn tại nêu trên

Trang 39

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái và lâm học của loài Xoan đào

- Đặc điểm phân bố, khí hậu, đất đai nơi Xoan đào phân bố

- Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao:

• Mật độ và sinh trưởng của lâm phần có Xoan đào phân bố

• Tổ thành loài tầng cây cao của lâm phần có Xoan đào phân bố

• Vị thế tán của Xoan đào

- Đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh:

• Mật độ và sinh trưởng cây tái sinh

• Tổ thành loài cây tái sinh

• Phân cấp chiều cao cây tái sinh

- Mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây trong lâm phần

2.1.2 Chọn lọc cây trội, khảo nghiệm xuất xứ và hậu thế Xoan đào

- Chọn lọc cây trội Xoan đào

- Khảo nghiệm xuất xứ và hậu thế Xoan đào

2.1.3 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Xoan đào từ hạt

- Một số đặc điểm sinh lý hạt giống Xoan đào:

- Kỹ thuật bảo quản hạt Xoan đào

- Ảnh hưởng của kỹ thuật xử lý đến tỷ lệ nảy mầm hạt Xoan đào

- Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống và sinh trưởng cây con

- Ảnh hưởng của thời điểm cấy cây vào bầu đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con

- Ảnh hưởng của phun thuốc phòng trừ sâu bệnh đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con

2.1.4 Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Xoan đào

- Khả năng tích lũy dinh dưỡng khoáng của Xoan đào

- Ảnh hưởng của bón thúc phân đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Xoan đào

- Ảnh hưởng của phương thức trồng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Xoan đào

Trang 40

- Ảnh hưởng mật độ trồng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Xoan đào

2.1.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng rừng Xoan đào ở một số tỉnh phía Bắc

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Xoan đào là loài cây bản địa, có phân bố tự nhiên ở một số vùng sinh thái của Việt Nam Muốn gây trồng và phát triển hiệu quả loài cây này thì phải xác định được một số cơ sở khoa học về giống, các đặc điểm phân bố, sinh thái, kỹ thuật nhân giống

và kỹ thuật trồng rừng Trên cơ sở đó, luận án có cách tiếp cận như sau:

- Tiếp cận kế thừa: Xoan đào là loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế và đã được

một số tác giả quan tâm nghiên cứu Vì thế, luận án tiếp cận theo quan điểm kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có để xác định những nội dung còn tồn tại cần tập trung nghiên cứu sâu hơn, qua đó bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học cũng như đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng và phát triển loài cây này

- Tiếp cận có sự tham gia: Để phát triển rừng trồng Xoan đào thành công cần

có sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau như hộ gia đình, chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý lâm nghiệp chuyên ngành,… Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu cách tiếp cận có sự tham gia sẽ được luận án áp dụng

- Tiếp cận thực nghiệm theo vùng sinh thái: Các vùng sinh thái Đông Bắc và

Tây Bắc có điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu, địa hình,… khác nhau, dẫn đến đặc điểm phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái, cấu trúc và tái sinh rừng,… cũng khác nhau Vì vậy, luận án sẽ tiếp cận nghiên cứu theo vùng sinh thái, ưu tiên chọn những khu vực có Xoan đào phân bố tập trung và ít bị tác động để nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Trong mỗi vùng sinh thái, các đặc điểm lâm học của Xoan đào được đánh giá theo từng trạng thái

- Tiếp cận hệ thống: Luận án sẽ nghiên cứu tổng hợp và hệ thống các vấn đề

có liên quan, từ các nghiên cứu về đặc điểm sinh học đến chọn giống, kỹ thuật nhân giống và kỹ thuật trồng rừng Đồng thời, dựa trên quy luật của tự nhiên và bắt chước theo tự nhiên để xác định cơ sở khoa học phục vụ trồng rừng Xoan đào (nhóm loài sinh thái, phương thức trồng)

Ngày đăng: 06/04/2021, 07:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của luận án - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của luận án (Trang 41)
Bảng 3.9: Phân cấp chiều cao cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.9 Phân cấp chiều cao cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có (Trang 81)
Bảng 3.10: Phân cấp chiều cao cây Xoan đào tái sinh trong các trạng thái rừng tự - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.10 Phân cấp chiều cao cây Xoan đào tái sinh trong các trạng thái rừng tự (Trang 82)
Hình 3.7: Xoan đào tái sinh trong RTN - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 3.7 Xoan đào tái sinh trong RTN (Trang 83)
Hình 3.6: Xoan đào tái sinh dưới gốc cây - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 3.6 Xoan đào tái sinh dưới gốc cây (Trang 83)
Bảng 3.11: Tổng hợp mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây gỗ trong các trạng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.11 Tổng hợp mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây gỗ trong các trạng (Trang 85)
Bảng 3.12: Tổng hợp mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây gỗ - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.12 Tổng hợp mối quan hệ của Xoan đào với các loài cây gỗ (Trang 86)
Bảng 3.13: Các loài có quan hệ độc lập với Xoan đào trong từng ô tiêu chuẩn theo - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.13 Các loài có quan hệ độc lập với Xoan đào trong từng ô tiêu chuẩn theo (Trang 87)
Bảng 3.14: Các loài có quan hệ dương ở mức trung bình với Xoan đào trong từng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.14 Các loài có quan hệ dương ở mức trung bình với Xoan đào trong từng (Trang 89)
Hình 3.8: Cây trội XĐHB17  Hình 3.9: Cây trội XĐSL6  Hình 3.10: Cây trội XĐLC1 - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 3.8 Cây trội XĐHB17 Hình 3.9: Cây trội XĐSL6 Hình 3.10: Cây trội XĐLC1 (Trang 93)
Hình 3.11: Cây trội XĐTQ22  Hình 3.12: Cây trội XĐPT32  Hình 3.13: Cây trội XĐBG3 - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 3.11 Cây trội XĐTQ22 Hình 3.12: Cây trội XĐPT32 Hình 3.13: Cây trội XĐBG3 (Trang 94)
Bảng 3.16. Tỷ lệ sống và sinh trưởng của 6 xuất xứ Xoan đào sau 17 tháng trồng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.16. Tỷ lệ sống và sinh trưởng của 6 xuất xứ Xoan đào sau 17 tháng trồng (Trang 95)
Hình 3.14: Gia đình LC1 - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 3.14 Gia đình LC1 (Trang 98)
Hình 3.15: Gia đình TQ18 sau  khi trồng 17 tháng - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Hình 3.15 Gia đình TQ18 sau khi trồng 17 tháng (Trang 98)
Bảng 3.18: Kích thước, khối lượng và số lượng quả, hạt Xoan đào - Nghiên cứu một số cơ sở khoa học trồng rừng xoan đào Prunus arborea Blume Kalkman ở các tỉnh phía Bắc
Bảng 3.18 Kích thước, khối lượng và số lượng quả, hạt Xoan đào (Trang 99)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w