MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế, quyền mà mỗi con người đều có đơn giản vì họ là con người. Nếu mất đi những quyền này, con người sẽ không còn là con người nữa. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm. Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm: 1946, 1959, 1980, 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người. Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14). Người bị buộc tội cũng là con người, tuy nhiên do họ bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi phạm tội nên theo quy định pháp luật họ sẽ bị hạn chế một số quyền. Do đó, để bảo đảm, bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, pháp luật cần quy định cụ thể về người bị buộc tội, địa vị pháp lý của người bị buộc tội để họ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà các cơ quan và người tiến hành tố tụng không xâm phạm và cản trở. Về nhận thức: Hiện nay nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam đều có những quy định cụ thể về địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo xu hướng tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, đảm bảo khi xem xét, giải quyết một vụ án hình sự thì người bị buộc tội chiếm vị trí trung tâm, họ là chủ thể chính và quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, hay nói cách khác nếu không có người bị buộc tội thì không có vụ án hình sự, và khi có sự kiện pháp lý hình sự xảy ra thì các hoạt động tố tụng hình sự sẽ bắt đầu nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử để chứng minh cho sự buộc tội, phải bảo đảm hoạt động này đúng thủ tục, trình tự, thật sự khách quan, kịp thời, đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Về mặt lập pháp: Địa vị pháp lý của người bị buộc tội hiện nay được luật quy định cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là trong Hiến pháp 2013 và trong pháp luật tố tụng hình sự. Vấn đề quan trọng là việc thi hành các quy định của pháp luật vào thực tiễn như thế nào để bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, vừa không làm oan người vô tội, vừa không bỏ lọt tội phạm, hạn chế vi phạm tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự sự Việt Nam đã tạo ra các tiền đề, điều kiện về mặt pháp lý, thiết lập cơ chế thực hiện và đặt ra các biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người tiến hành tố tụng cụ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, và các chức danh tư pháp kèm theo, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tố tụng, tuy nhiên thực tế những năm gần đây, hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế thiếu sót, vi phạm về tố tụng, không đảm bảo quyền của người bị buộc tội, ở một số địa phương còn xảy ra án oan sai, bởi các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhất là lối mòn tư duy pháp lý, hiểu chưa đúng quy định pháp luật, áp dụng tùy tiện quy định pháp luật trong quá trình xác minh, điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử khi người tiến hành tố tụng thường thiên về hướng buộc tội, định kiến tiêu cực của xã hội đối với người bị buộc tội. Về thực tiễn: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, là địa phương có số lượng luật sư đông nhất (chiếm 40% luật sư cả nước), tổ chức hành nghề luật sư nhiều (chiếm 1/3 so với cả nước), mặc dù có nhiều giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của Luật sư nhưng mục tiêu của ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 có trên 50% vụ án hình sự do Tòa xét xử trên địa bàn Thành phố có Luật sư tham gia đến nay vẫn chưa đạt [130, tr.12-14]. Một số luật sư còn chưa chủ động, tích cực trong việc tự học tập, cập nhật kiến thức pháp luật để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề cũng như việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Ngoài ra, một số luật sư chưa có tinh thần trách nhiệm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN ĐÌNH NHÃ
HÀ NỘI, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 21
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu và giải quyết 27
1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 30
Tiểu kết Chương 1 31
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 32
2.1 Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của người bị buộc tội 32
2.2 Phân biệt người bị buộc tội với các chủ thể tố tụng hình sự khác 52
2.3 Cơ sở xác định địa vị pháp lý của người bị buộc tội 64
Tiểu kết Chương 2 76
Chương 3 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78 3.1 Thực trạng địa vị pháp lý của người bị buộc tội tại thành phố Hồ Chí Minh 78
3.2 Thực tiễn thi hành địa vị pháp lý của người bị buộc tội tại Thành phố Hồ Chí Minh 81
3.3 Hạn chế, thiếu sót trong thực hiện địa vị pháp lý của người bị buộc tội và nguyên nhân 115
Tiểu kết Chương 3 119
Chương 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 120
4.1 Các yêu cầu bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội 120
4.2 Các giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội 127
Tiểu kết Chương 4 148
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 166
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp
lý quốc tế, quyền mà mỗi con người đều có đơn giản vì họ là con người Nếu mất đi những quyền này, con người sẽ không còn là con người nữa Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm: 1946, 1959, 1980, 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14) Người bị buộc tội cũng là con người, tuy nhiên
do họ bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi phạm tội nên theo quy định pháp luật họ
sẽ bị hạn chế một số quyền Do đó, để bảo đảm, bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, pháp luật cần quy định cụ thể về người bị buộc tội, địa vị pháp
lý của người bị buộc tội để họ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà các cơ quan và người tiến hành tố tụng không xâm phạm và cản trở
Về nhận thức: Hiện nay nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam đều có
những quy định cụ thể về địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo xu hướng tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, đảm bảo khi xem xét, giải quyết một vụ án hình sự thì người bị buộc tội chiếm vị trí trung tâm, họ là chủ thể chính và quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, hay nói cách khác nếu không có người bị buộc tội thì không có vụ án hình sự, và khi có
sự kiện pháp lý hình sự xảy ra thì các hoạt động tố tụng hình sự sẽ bắt đầu nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử để chứng minh cho
sự buộc tội, phải bảo đảm hoạt động này đúng thủ tục, trình tự, thật sự khách quan, kịp thời, đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm trong bối cảnh
Trang 4cách mạng công nghiệp 4.0
Về mặt lập pháp: Địa vị pháp lý của người bị buộc tội hiện nay được luật
quy định cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là trong Hiến pháp 2013 và trong pháp luật tố tụng hình sự Vấn đề quan trọng là việc thi hành các quy định của pháp luật vào thực tiễn như thế nào để bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, vừa không làm oan người vô tội, vừa không bỏ lọt tội phạm, hạn chế vi phạm tố tụng trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự sự Việt Nam đã tạo ra các tiền đề, điều kiện về mặt pháp lý, thiết lập cơ chế thực hiện và đặt ra các biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người tiến hành tố tụng cụ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, và các chức danh tư pháp kèm theo, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tố tụng, tuy nhiên thực tế những năm gần đây, hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế thiếu sót, vi phạm về tố tụng, không đảm bảo quyền của người bị buộc tội, ở một số địa phương còn xảy ra án oan sai, bởi các nguyên nhân khách quan
và chủ quan, nhất là lối mòn tư duy pháp lý, hiểu chưa đúng quy định pháp luật,
áp dụng tùy tiện quy định pháp luật trong quá trình xác minh, điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử khi người tiến hành tố tụng thường thiên về hướng buộc tội, định kiến tiêu cực của xã hội đối với người bị buộc tội
Về thực tiễn: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, là địa phương có số lượng
luật sư đông nhất (chiếm 40% luật sư cả nước), tổ chức hành nghề luật
sư nhiều (chiếm 1/3 so với cả nước), mặc dù có nhiều giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của Luật sư nhưng mục tiêu của ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 có trên 50% vụ án hình sự do Tòa xét xử trên địa bàn Thành phố có Luật sư tham gia đến nay vẫn chưa đạt [130, tr.12-14]
Một số luật sư còn chưa chủ động, tích cực trong việc tự học tập, cập nhật kiến thức pháp luật để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề cũng như việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Ngoài ra, một số luật sư chưa có tinh thần trách nhiệm
Trang 5cao đối với công việc, chưa tận tụy và nhiệt tình với khách hàng, chỉ quan tâm đến thù lao mà coi nhẹ chất lượng hành nghề [130, tr.15], điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến địa vị pháp lý của người bị buộc tội tại Thành phố Hồ Chí Minh
Về công lý và yêu cầu bảo vệ quyền con người: Bảo đảm địa vị tố tụng của
người bị buộc tội thì rất cần một cơ chế trực tiếp bảo vệ các quyền và nghĩa vụ tố tụng hình sự của người bị buộc tội Ngoài nội dung pháp luật đã có quy định quyền
và nghĩa vụ của người bị buộc tội tương quan với quyền và nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, nhưng để đạt được mục tiêu với hiệu quả cao nhất thì cần quy định cụ thể hơn các phương thức, giới hạn để các bên buộc tội và gỡ tội thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà không xâm phạm đến quyền của nhau Đồng thời có giải pháp kiện toàn bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc, giam giữ của các cơ quan tiến hành tố tụng, của tổ chức hành nghề luật sư theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp, đáp ứng ngày càng tốt và kịp thời nhu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý của các đối tượng (đặc biệt là người bị buộc tội); đảm bảo số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư tham gia tố tụng
Việc xác định địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng, đặc biệt là người
bị buộc tội là vô cùng quan trọng không chỉ để giải quyết vụ án hình sự mà còn
là để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Khi đề cập đến địa vị pháp lý của một chủ thể là không chỉ đề cập đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể
mà còn rộng hơn là bao gồm cả phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Song, thực tiễn thì vấn đề bảo đảm và bảo vệ địa vị pháp lý của người bị buộc tội có lúc, có nơi chưa thật sự được quan tâm đúng mức từ nghiên cứu lý luận lẫn áp dụng pháp luật trong thực tiễn Mặc dù có rất nhiều công trình
đã làm sáng tỏ quyền và nghĩa của người bị buộc tội trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, quyền con người, quyền công dân của
người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, nhưng chưa quan tâm nguyến tắc quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại để nghiên cứu sâu về quan hệ
pháp luật tố tụng hình sự giữa các chủ thể tố tụng hình sự, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cho thấy luật có quy định đầy đủ các quyền của chủ thể tham gia tố tụng nhưng chưa quy định tương ứng, cụ thể nghĩa vụ của chủ thể
Trang 6tiến hành tố tụng đáp ứng các quyền đó Theo tác giả, vấn đề cần nghiên cứu về địa vị pháp lý của người bị buộc tội không chỉ xuất phát từ khía cạnh các quyền
và nghĩa vụ của họ, mà cần nghiên cứu thêm ở một góc độ khác: mối tương quan với quyền và nghĩa vụ của cơ quan và người THTT, chính là phương thức để người bị buộc tội thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ, nghiên cứu từ chính những hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện chính sách, pháp luật hình sự Ngoài ra, việc áp dụng chính sách, pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của người bị buộc tội trên phạm vi cả nước nói chung và ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng còn là khoảng trống lớn, xét về khía cạnh lý luận và nhất là thực tiễn, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân, đề xuất yêu cầu và các giải pháp nhằm hoàn thiện, tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, bảo đảm quyền
con người, quyền tố tụng khi mà người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật Từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu một cách
toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về “Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là rất cần thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội, luận án nghiên cứu toàn diện, kiểm chứng, đánh giá việc thực hiện địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong thời gian qua tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận án hướng đến góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, hệ thống các giải pháp, cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội nhằm thực hiện có hiệu quả địa vị pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Thứ nhất, phân tích, luận giải các vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của
Trang 7người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, phân biệt địa vị pháp
lý của từng loại người bị buộc tội với các chủ thể tố tụng hình sự và tham gia tố tụng khác Việc nghiên cứu phương thức, biện pháp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội thể hiện thông qua nghiên cứu hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng để làm rõ khái niệm, bản chất, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; các chính sách hình sự, chức năng tố tụng, mô hình tố tụng đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; luận giải các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách hình sự, chức năng tố tụng, mô hình tố tụng nhằm đảm bảo quyền của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, trong đó lưu ý nghiên cứu vai trò của luật sư, người bào chữa
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng chính sách hình sự, pháp luật
hình sự và tố tụng hình sự đối với việc đảm bảo, bảo vệ quyền của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh để tìm ra các nguyên nhân, hạn chế, bất cập làm cơ sở cho việc đề ra các yêu cầu và các giải pháp đảm bảo tăng cường địa vị pháp của người bị buộc tội
Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả,
bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận án tiếp cập đối tượng nghiên cứu là các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội; phương thức, biện pháp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội ở ba phương diện lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự đối với người
bị buộc tội tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án phân tích, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, phân
Trang 8biệt địa vị pháp lý của người bị buộc tội với các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự
và tham gia tố tụng hình sự Thông qua nghiên cứu hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phân tích phương thức, biện pháp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội để làm rõ nội hàm khái niệm, bản chất, chủ thể, quyền và nghĩa
vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam
Luận án nghiên cứu, thống kê, khảo sát thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra một số thiếu khuyết trên cơ sở đó đề xuất định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, hệ thống các giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả địa vị pháp lý của người bị buộc tội ở Việt Nam nói chung và ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
- Thời gian nghiên cứu: đối với văn bản pháp luật, luận án chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
1988, 2003 và 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật kèm theo
- Về các văn bản hành chính: các Báo cáo thống kê của các cơ quan bảo
vệ pháp luật, cơ quan thi hành pháp luật tại thành phố Hồ Chí Minh
- Về số liệu khảo sát: tổng hợp và phân tích, đánh giá và so sánh số liệu giai đoạn từ 2009-2019
- Về mặt không gian: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, duy vật lịch lử của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, về quyền con người và quyền công dân trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, cải cách tư pháp, nhà nước pháp quyền
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế, tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu, những người phụ trách và nghiên cứu lĩnh vực chính trị và luật pháp
- Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tư
Trang 9liệu, nhất là các tư liệu sơ cấp, so sánh các vấn đề nghiên cứu giữa các đối tượng được chọn lựa
- Tiếp cận nghiên cứu dựa trên phương thức thực hiện quyền Theo đó, nghiên cứu về người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam theo cách tiếp cận dựa trên quyền tố tụng là biện pháp pháp lý để thực hiện quyền con người, hay nói cụ thể hơn, không chỉ nghiên cứu về khái niệm người bị buộc tội là ai, họ có những quyền
gì, mà cần phải quan tâm đến cơ chế để các chủ thể mang quyền tố tụng này bảo đảm thực tiễn được hưởng đầy đủ các quyền va tuân thủ nghiêm các nghĩa vụ do luật định Cách tiếp cận dựa trên phương thức thực hiện các quyền tố tụng, cũng chính là cách tiếp cận biện chứng trong mối quan hệ phổ biến giữa các bên thì quyền và nghĩa vụ của bên này thì tương ứng sẽ là quyền và nghĩa vụ của bên kia, không thể có việc quy định quyền nhưng không chỉ rõ chủ thể đáp ứng quyền Trong thực tiễn hoạt động tố tụng sẽ chỉ rõ cơ quan nào, cá nhân nào có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm các quyền này của người bị buộc tội, lý giải được nguyên nhân tại sao pháp luật có quy định nhiều quyền cho người bị buộc tội nhưng không thực hiện được, từ đó giúp chúng ta tìm ra các vướng mắc, bất cập, thiếu sót trong thực tiễn thi hành đưa ra giải pháp khắc phục
Tác giả sử dụng cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học đối với các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Chương 1 và 2: sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm xây dựng khái niệm người bị buộc tội và quyền và nghĩa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, các cở sở xác định địa vị pháp lý của người bị buộc tội, cụ thể:
+ Tổng kết kinh nghiệm, tiếp thu tri thức khoa học của các công trình nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhận định đánh giá trong luận án góp phần làm cho luận
án gắn kết với thực tiễn và có giá trị khoa học cao hơn
+ Tiến hành khảo sát tình hình thực tiễn, so sánh để đánh giá đúng thực trạng bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội cũng như các nội dung khác liên quan đến việc đảm bảo quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ và tránh nhiệm, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; lựa chọn địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để khảo sát, từ đó có thể tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, kết luận các nội dung liên quan
Trang 10- Chương 3: tác giả sử dụng phương pháp phân tích, thống kê hình sự, tọa đàm trao đổi với các chuyên gia, tham khảo tri thức, kinh nghiệm của các chuyên gia lý luận và thực tiễn để làm rõ địa vị pháp lý của người bị buộc tội tồn tại trong mối liên hệ phổ biến với các chủ thể tố tụng, những nội dung có liên quan đến việc bảo đảm và thực thi quyền của người bị buộc tội, vai trò trách nhiệm của cả hệ thống tố tụng hình sự trong suốt quá trình tố tụng hình sự, trong đó nhấn mạnh hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng bao gồm như Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, người bào chữa và cả những người tham gia tố tụng khác có ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý của người bị buộc tội, cụ thể:
+ Thu thập số liệu báo cáo năm của các cơ quan tại thành phố Hồ Chí Minh như: Viện kiểm sát, Tòa án, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp,… nhằm phân tích thực trạng bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội; hoạt động thi hành quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng
+ Chọn và phân tích một số vụ án điển hình nhằm tìm hiểu, đánh giá về nhận thức của các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đối với quyền của người bị buộc tội, các quan điểm đánh giá về cơ chế và điều kiện bảo đảm quyền của người bị buộc tội thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm cố thêm các căn cứ cho các luận giải trong luận án
- Chương 4: chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, dự báo khoa học về các xu hướng và yêu cầu bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội, từ đó kiến nghị các giải pháp củng cố và tăng cường địa vị pháp lý của người bị buộc tội
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Đề tài không chỉ nghiên cứu, luận giải quyền và nghĩa vụ từ góc độ quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật mà còn đặt địa vị pháp lý của người
bị buộc tội vào trong hệ thống chính sách pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình
sự, kết hợp so sánh, đối chiếu, đánh giá, kiến nghị giải pháp phù hợp, định hướng
cơ chế đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu từ khái niệm người bị
Trang 11buộc tội, địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và với góc nhìn từ hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để phát hiện những thiếu khuyết, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng chính sách pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, từ
đó nhận diện rõ vai trò, chức năng buộc tội, bào chữa và chức năng xét xử, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải đảm bảo thực hiện đúng pháp luật để người bị buộc tội thực hiện được các quyền mà không
bị cản trở, xâm phạm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng tham khảo trong công tác nghiên cứu lý luận của cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người Với nội dung trình bày và phân tích về cơ sở lý luận cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận án có thể là nguồn tư liệu có giá trị để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà làm luật có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Các kết luận, đề xuất của luận án là kết quả nghiên cứu có cơ
sở lý luận và thực tiễn, vì thế các tổ chức và cá nhân liên quan lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là các luật sư, luật gia, bào chữa viên có thể khai thác vận dụng bảo vệ người bị buộc tội, đồng thời có tác động tích cực đến các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khi thực hiện chính sách pháp luật
hình sự, pháp luật tố tụng hình sự
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của người bị buộc tội Chương 3 Thực trạng quy định địa vị pháp lý của người bị buộc tội và thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 Yêu cầu và giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của người bị buộc tội
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Nhóm các công trình liên quan đến cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1 Liên quan đến chính sách hình sự
- Quyễn sách “Chính sách pháp luật” của GS.TS Võ Khánh Vinh, xuất
bản năm 2020, đây là một công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về chính sách pháp luật, vì vậy có thể sử dụng làm cẩm nang, giáo trình đào tạo những người chuyên nghiệp có trình độ cao cho xây dựng và áp dụng pháp luật, trong đó có đề cập đến chính sách hình sự là một loại chính sách pháp luật, một loại chính sách xã hội, một loại chính sách công, một loại chính sách đối nội Chính sách pháp luật hình sự bao gồm các bộ phận hay các yếu tố cấu thành sau đây: chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật TTHS, chính sách pháp luật điều tra hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự, chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm.[128, tr.14; tr.410]
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về các tiêu chuẩn mang tính toàn
cầu của độc lập xét xử và thẩm phán ở Việt Nam “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của Viện Nhà nước và pháp luật do PGS.TS Nguyễn Đức
Minh làm chủ nhiệm đã đề cập trực tiếp khá toàn diện các vấn đề về quyền tư pháp
và thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực TTHS Tuy không trục tiếp nghiên cứu về quyền của NBBT trong TTHS, song rất nhiều luận điểm về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp và trách nhiệm tương ứng của các
cơ quan tư pháp là những nội dung mà tác giả luận án cần tham khảo
- Bài viết “Mối liên hệ giữa quy định pháp nhân phạm tội với quy định thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân và một số vấn đề cần lưu ý” của tác giả Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2018 có nêu nguyên tắc
xử lý đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự là cơ sở của các quy
Trang 13định về: trách nhiệm xử lý pháp nhân phạm tội trong BLTTHS; khởi tố VAHS, khởi tố bị can; xác định chủ thể và địa vị chủ thể tham gia tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân; áp dụng các biện pháp cưỡng chế về TTHS trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự; xác định đối tượng chứng minh khi THTT đối với pháp nhân bị buộc tội; giải quyết những vấn đề khác liên quan đến thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân của BLTTHS Qua đó, tác giả có kiến nghị cần làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ PLTTHS, chủ thể của tội phạm là pháp nhân có đúng là pháp nhân thực hiện tội phạm hay không; trách nhiệm hình sự của cá nhân các thành viên pháp nhân trong vụ án đó
- Luận án tiến sĩ luật học “Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay”, năm 2013 của tác giả Nguyễn Hải Ninh đã phân tích, so sánh đối chiếu
bản chất của độc lập xét xử với các tiêu chuẩn chung của Liên hiệp quốc về xét xử qua đó chỉ ra các nét đặc thù của Việt Nam Tuân thủ nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” nhằm đảm cho xét xử công bằng, nghiêm minh, đúng người đúng tội, không làm oan sai NBBT
- Luận án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Như Quỳnh, Học viện Khoa học xã hội năm
2017 đã nghiên cứu một cách có hệ thống lịch sử hình thành và phát triển về quyền tư pháp trong TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay, phân tích những kết quả đạt được cũng như những bất cập hạn chế của pháp luật về tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong TTHS trên các phương diện xét xử VAHS Bên cạnh đó, luận án phân tích thực tiễn hoạt động giám sát trong quá trình TTHS giữa các cơ quan THTT và cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử, xã hội và báo chí
Tác giả hoàn toàn thống nhất với nội dung “quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan tư pháp trong đó Tòa án chiếm vị trí đặc biệt, tuy nhiên không nên đồng nhất với quyền xét xử và không nên quy quyền tư pháp về một loại hoạt động xét xử nào đó của Tòa án [120] Như vậy, có thể nói quyền tư pháp rộng hơn quyền xét xử và quyền của NBBT không chỉ liên quan đến hoạt
Trang 14động xét xử mà còn liên quan đến hoạt động theo chức năng của các cơ quan tư pháp hình sự khác như CQĐT, cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự
- Bài viết “Bàn về nội dung và phương hướng hoàn thiện chính sách pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của tác giả
Huỳnh Thị Kim Ánh, Tạp chí An ninh nhân dân, số 96 tháng 5/2020, đưa ra khái niệm chính sách PLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một loại của chính sách PLTTHS nhằm xác định phương hướng cơ bản, có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng PLTTHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tăng cường việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
- Luận án tiến sĩ luật học “Xét xử sơ thẩm từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Thanh Phong, Học viện Khoa học xã hội năm 2017, luận
án đã khái quát và xác định xét xử sơ thẩm hình sự là giai đoạn TTHS độc lập, đồng thời phân tích các quy định, thực trạng áp dụng, những vướng mắc bất cập,
đề xuất hai nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS về xét xử sơ thẩm để nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong TTHS Tác giả đã làm rõ những nội dung cơ bản của phiên tòa hình sự sơ thẩm, nhất là việc tuân thủ các nguyên tắc quy định trong BLTTHS 2015 như nguyên tắc tranh tụng (Điều 26), Thẩm phán
và Hội thẩm độc lập khi xét xử (Điều 23), nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, khách quan (Điều 25), đồng thời làm rõ vấn đề giới hạn xét xử, vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung Những nội dung theo kết quả nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn đến địa vị pháp lý của NBBT là bị can (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), bị cáo
- Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm các VAHS
ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đào Văn Cường, Học viện Khoa học xã hội
năm 2018, đã nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự các VAHS, đặc biệt khái quát lịch sử PLTTHS Việt Nam từ năm
1945 đến trước khi ban hành BLTTHS 2015 về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự
Trang 15các VAHS, nêu cụ thể từng quy định và hướng hoàn thiện các quy định, nêu giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự các VAHS Tác giả sẽ sử dụng một số kết quả nghiên cứu từ luận án này để phân tích, đánh giá cụ thể về địa vị pháp lý của NBBT tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhất là giai đoạn mà BLTTHS 2015 đã có hiệu lực thi hành
Ngoài ra, trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu đã có và các quy định của pháp luật về quyền của NBBT thì cần làm rõ hơn những nội dung về nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân phải đáp ứng quyền mà pháp luật đã quy định cho NBBT, tác giả sẽ nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của NBBT thông qua hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền tố tụng
1.1.1.2 Liên quan đến chức năng tố tụng
- Bài viết “Phiên tòa sơ bộ - giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2019, của tác giả Lê
Thanh Phong Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của PLTTHS của các quốc gia, xuất phát từ những quy định mới của BLTTHS 2015 và thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử tác giả bài viết đã kiến nghị cần bổ sung quy định về phiên tòa sơ bộ vào BLTTHS Dựa trên kết quả nghiên cứu và đề xuất này, tác giả tiếp tục kiến nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong giai đoạn tiền xét xử, tạo thêm cơ hội cho NBBT bảo vệ các quyền
trong cả quá trình TTHS
- Bài viết “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hạn tạm giam trong
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” của tác giả Hoàng Tám Phi, Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 6/2019 có nêu tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất tước đi quyền tự do thân thể và một số QCD của NBBT và thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam được quy định ở nhiều điều luật khác nhau trong BLTTHS 2015 tương ứng với từng giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Đồng thời tác giả bài viết cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định về thời hạn tạm giam của BLTTHS 2015
- Bài viết “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
Trang 16phạm, kiến nghị khởi tố và một số vấn đề cần lưu ý”, Tạp chí Tòa án nhân dân,
số 10/2019 của tác giả Vũ Thị Sao Mai đã phân tích chín nội dung mà KSV cần lưu ý khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn này, đồng thời chỉ ra mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án và VKS cần phải có thủ tục rà soát chéo giữa các
cơ quan có thẩm quyền THTT, tuân thủ tuyệt đối các quy định của BLTTHS và các văn bản hướng dẫn nhằm giải quyết triệt để, không làm ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động tiếp theo như khởi tố, điều tra, truy tố và cuối cùng, tất yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp chất lượng xét xử, ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của NBBT
- Bài biết của tác giả Lê Nữ Ngọc Diệp “Về hoạt động xét xử ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 20/2016 phân tích những
yếu tố tác động đến hoạt động xét xử của Tòa án tại thời điểm 2016, qua đó có nêu một số nguyên nhân như pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan
bổ trợ tư pháp chưa đầy đủ, kịp thời; Tòa án ở Việt Nam tổ chức căn cứ theo đơn
vị hành chính lãnh thổ, Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ đều này tác động đến nguyên tắc
“độc lập xét xử”, “đảm bảo hai cấp xét xử” Đến nay, những hạn chế nêu trên đã được từng bước khắc phục nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
1.1.1.3 Liên quan đến mô hình tố tụng
- Bài viết của tác giả Lê Tiến Châu “Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng hình sự” đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 1 năm 2003 Ngoài việc đề cập đến chủ thể, chức năng, đặc điểm tranh tụng, tác giả đã phân tích các điều kiện tranh tụng có xác định điều kiện quan trọng là bên buộc tội và bên bào chữa phải thật sự bình đẳng và Tòa án phải độc lập, khách quan; bài viết của tác giả
Trần Văn Độ “Bản chất tranh tụng tại phiên Tòa”, tạp chí Khoa học pháp lý số
4 năm 2004, nêu rõ tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS và quan trọng là xác định địa vị pháp lý của NBC như thế nào để có thể bình đẳng trong tranh tụng với bên buộc tội
Trang 17- Bên cạnh đó, còn có một số bài viết nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái
Phúc “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2008 Tác
giả Nguyễn Đức Mai và bài viết “Đặc điểm của mô hình tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam”, tạp chí TAND số 12 năm
2009; “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hiển năm 2011.… đã
bàn luận nhiều về nguyên tắc tranh tụng, nhưng thể hiện rõ nét nhất là ở giai đoạn xét xử mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề tranh tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án, nhất là khi BLTTHS 2015 có hiệu lực thi hành
- Luận văn thạc sĩ luật học “Tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam
và tố tụng hình sự hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Những điểm tương đồng và khác biệt” của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn, Học viện Khoa học xã hội năm 2017
đã phân tích, đối chiếu so sánh các điểm tương đồng và khác biệt về tranh tụng trong TTHS giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, nhưng chưa đi sâu phân tích nội dung tranh tụng trong TTHS, vì vậy nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục phân tích để làm sáng tỏ thêm nội dung “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26) với ý nghĩa nội dung tranh tụng trong TTHS phải được bảo đảm; bảo vệ quyền của NBBT
- Bài viết của tác giả Ngô Cường đăng trên Tạp chí TAND, số 6/2017 có tựa đề “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn” có đề cập đến việc áp dụng
nguyên tắc suy đoán vô tội trong mô hình tranh tụng: công tố viên có trách nhiệm phải chứng minh bị cáo là có tội, khi không có cơ sở nào để nghi ngờ, nếu không, Thẩm phán sẽ tuyên bị cáo là vô tội chứ không có quyền yêu cầu điều tra tiếp hoặc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung
1.1.1.4 Liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa
- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can bị cáo trong TTHS Việt Nam”, của tác giả Lại Văn Trình, Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011, luận án nghiên cứu những vấn đề lý
Trang 18luận chung về QCN và bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, bị can bị cáo đã làm
rõ những điểm chung và đặc thù trong bảo đảm QCN của họ ở những giai đoạn TTHS khác nhau, qua đó đưa ra những hạn chế, bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, tuy nhiên luận án chưa đề cập đến các khái niệm về người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tác giả xin sử dụng cách tiếp cập và lý luận này để làm sáng tỏ thêm nội hàm, đặc điểm của các khái niệm về họ, từ đó có cơ sở lý luận
để xác định các quyền tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền có người bào chữa của người
bị buộc tội – so sánh giữa Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ”, của tác
giả Lương Thị Mỹ Quỳnh, Đại học Lund – Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011, đánh giá được thực trạng bảo đảm quyền có NBC ở Việt Nam, Đức, Mỹ trong sự so sánh đối chiếu để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong việc áp dụng pháp luật ở mỗi quốc gia, qua đó làm sáng tỏ hơn những yếu
tố ảnh hưởng đến quyền tố tụng của NBBT là người chưa thành niên, đặc biệt là QBC, đề xuất hoàn thiện PLTTHS Việt Nam, tác giả tiếp thu tri thức lý luận, kết quả nghiên cứu để tiếp tục đề xuất hoàn thiện hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Luận án tiến sĩ “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Trần Hưng Bình, Học
viện Khoa học xã hội năm 2014 đã góp phần giải quyết về mặt lý luận quyền của người chưa thành niên trong TTHS Về ý nghĩa thực tiễn đã góp phần thay đổi nhận thức của người chưa thành niên, các cơ quan và người THTT, gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội
- Luận án tiến sĩ “Quyền của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam”, tác giả Đinh Thị Mai, Học viện Khoa học xã hội năm 2014, với kết quả nghiên cứu 312 bản án hình sự sơ thẩm, 91 hồ sơ VAHS của CQĐT và VKS cấp tỉnh, ngoài những giá trị đã đóng góp nâng cao nhận thức về quyền của người bị hại; bổ sung, hoàn thiện lý luận về quyền của người bị hại trong tư pháp hình sự; góp phần hoàn thiện chế định về quyền của người bị hại trong khoa học pháp luật hình sự và TTHS Việt
Trang 19Nam, góp phần giải quyết về mặt lý luận quyền của người chưa thành niên trong TTHS Kết quả nghiên cứu đã cho tác giả thêm nhận thức và cơ sở lý luận nghiên cứu địa vị pháp lý của NBBT trong quan hệ với người bị hại
- Luận án tiến sĩ “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Hữu Hậu, Học
viện Khoa học xã hội năm 2019 đã đánh giá thực trạng bảo đảm QCN của NBBT trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS trong mối quan hệ với quyền được suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội của NBBT ở các giai đoạn khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử; đưa ra khái niệm về bảo đảm QCN của NBBT trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS và nhận thức mới về cơ chế bảo đảm bằng các biện pháp pháp lý khi VKS thực hiện quyền năng yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, khởi tố và yêu cầu khởi tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp để phát hiện xử lý và phòng ngừa vi phạm QCN của NBBT
Tuy nhiên, trong nội dung các bài viết các tác giả khi nêu NBBT chỉ dừng lại ở bị can, bị cáo, mà chưa đề cập nội hàm NBBT theo quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 4 BLTTHS 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) bao gồm
cả người bị bắt, người bị tạm giữ - các chủ thể rất cần được pháp luật bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp
- Luận án tiến sĩ “chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam”
của tác giả Trần Thị Ngọc Hiếu, Học viện Khoa học xã hội năm 2018 đã kiến giải làm rõ khái niệm chủ thể của tội phạm, đưa ra nhận thức đầy đủ, toàn diện, có hệ thống lý luận về chủ thể của tội phạm trong luật hình sự và phân tích thực tiễn áp dụng vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, đem đến sự nhận thức đúng đắn đối với các chủ thể áp dụng pháp luật nhằm mục đích cuối cùng là bảo
vệ lợi ích của con người trong xã hội
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về QBC và đảm bảo QBC
của người chưa thành niên trong TTHS đã được công bố như: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong TTHS Việt Nam”, Luận án
Trang 20tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Hữu Thế Trạch, Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh năm 2014; “Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo PLTTHS Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Bùi Phương Nam, Học viện
Khoa học xã hội năm 2017;
- Luận văn thạc sĩ “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Nguyễn Viết Cường đã nghiên cứu một số biểu hiện của
nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn thông qua một số vụ án cụ thể đối với NBBT là cá nhân Phân tích những nguyên nhân dẫn đến những vi phạm xuất phát từ phía các chủ thể tiến hành tố tụng và đưa ra những yêu cầu giải pháp cụ thể bảo đảm thực hiện nguyên tắc này trong các giai đoạn của TTHS Tuy nhiên, tác giả có đặt vấn đề pháp nhân phạm tội không được quy định trong nguyên tắc suy đoán vô tội nên có nhận định rằng khi không đủ chứng cứ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có được kết luận pháp nhân bị buộc tội không có tội hay không Nhận định như trên là chưa thỏa đáng, bởi lẽ pháp nhân khi tham gia TTHS, thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật, do đó mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng được thông qua người đại diện theo pháp luật Về cơ bản thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình giống với quyền và nghĩa vụ của NBBT là cá nhân
- Luận văn thạc sĩ “Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẳng” của tác giả Nguyền Thị Na đã nghiên cứu
thực tiễn thực hiện các quy định của PLTTHS về bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự và đưa ra những nguyên nhân hạn chế làm ảnh hưởng đến quyền tranh tụng của NBBT, cụ thể như việc gây khó khăn cho Luật sư trong quá trình nghiên cứu hồ
sơ, tiếp cận với bị can ở giai đoạn điều tra của cơ quan và người THTT, nhất là CQĐT và ĐTV chưa nhận thức đúng nguyên tắc tranh tụng nên trong thực tiễn tố tụng chủ thể gỡ tội chưa thật sự bình đẳng với bên buộc tội, đây là nguyên nhân hạn
Trang 21chế tiến trình bảo đảm tranh tụng ảnh hưởng đến kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm hạn chế QBC và quyền tranh tụng của NBBT; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án không giải quyết các yêu cầu của Luật sư về trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu thu thập chứng cứ; Luật sư đề nghị triệu tập ĐTV thường Tòa không chấp nhận; vấn đề liên quan đến tiếp nhận chứng cứ của Luật sư đưa ra Tòa thường từ chối không chấp nhận Đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình bảo đảm tranh tụng
- Bài viết “Một số vấn đề đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại và đề xuất, kiến nghị” của tác giả Lê Đăng Doanh – Lê
Đăng Khoa, Tạp chí TAND (số 9/2019) có nội dung chính nhằm bảo đảm QBC của pháp nhân thương mại là bị can, bị cáo, tác giả bài viết đã phân tích và khẳng định pháp nhân thương mại là một tổ chức – một thực thể pháp lý do con người thành lập tồn tại khách quan, độc lập; bảo đảm QBC của pháp nhân thương mại là bảo đảm QBC của người được cử làm đại diện cho pháp nhân thương mại tham gia tố tụng; cơ sở bảo đảm QBC được thể chế hóa thành những quy định của pháp luật về QBC của pháp nhân thương mại và nghĩa vụ tương ứng của các cơ quan có thẩm quyền THTT, của người có thẩm quyền THTT, từ đó có kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn để NBC tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại ngay từ thời điểm pháp nhân này bị tố giác có hành vi phạm tội hoặc bị kiến nghị khởi tố
- Bài viết “Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền có phiên tòa công bằng trong xét xử các vụ án hình sự tại Việt Nam” của tác giả Phạm Minh Tuyên, Tạp
chí TAND số 7/2015 đã phân tích và nêu một số vướng mắc, kiến nghị hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm quyền được xét xử công bằng, cũng như quyền có phiên tòa công bằng trong xét xử các VAHS, cụ thể có đề nghị quyền im lặng trong TTHS; vấn đề mời Luật sư cần quy định trong mọi trường hợp ngoài NBBT thì người thân của họ cũng có quyền mời Luật sư để bào chữa cho NBBT; nếu việc điều tra không đầy đủ thì tuyên bị cáo không phạm tội
Trang 22- Bài viết “Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án” của tác giả Đinh Thế Hưng, Trần Xuân Thái, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 6/2011) Tác giả
đề cập đến đặc điểm cơ chế bảo vệ QCN, thực trạng cơ chế bảo vệ QCN bằng cơ chế xét xử của tòa án ở Việt Nam
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu tổng quan của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 liên quan đến nội dung luận án
- Cuốn sách “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” do PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
- Sự thật năm 2016, có hai phần, với phần I - gồm 21 bài nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn đã trực tiếp tham gia quá trình soạn thảo Dự án luật, đã tập trung phân tích, làm rõ những nội dung đổi mới lớn và ý nghĩa của sự đổi mới đó trong TTHS Việt Nam Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích, quý giá, là nền tảng để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu các nội dung có liên quan đến địa vị pháp lý của NBBT, đặt các quyền và nghĩa vụ của NBBT vào trong hệ thống các quan điểm này để xem xét, đánh giá,
từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng PLTTHS
về nội dung liên quan
- Các bài viết của tác giả Nguyễn Hòa Bình về “Tổng quan những nội dung sửa đổi, bổ sung lớn trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015”, Tạp chí TAND,
số 3/2018; “Bảo đảm quyền con người, quyền công dân – tư tưởng xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015”, Tạp chí TAND, số 2/2018; “Tiếp tục đổi mới, thực hiện đồng thời nhiều giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán trong thời gian tới, Tạp chí TAND, số 17/2017” đã đề ra, chính sách hình
sự, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong BLTTHS 2015
- Bài viết “Một số vấn đề về trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Tạp chí
TAND, số 11/2019, tác giả Phạm Minh Tuyên có đề cập đến nội dung cần xác định rõ tư cách tham gia tố tụng của người đại diện cho pháp nhân thương mại phạm tội khi tham gia tố tụng trong trường hợp người đại diện cho pháp nhân
Trang 23tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì chúng ta gọi họ là gì? Không thể gọi họ là bị can hay bị cáo được vì họ không phải là người phạm tội;
Bài viết của tác giả Phạm Thị Nhật Tài – Trịnh Tuấn Anh với tựa đề “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc độ luật học so sánh”, Tạp chí TAND, số
4/2018, qua phân tích và so sánh với các nước trên thế giới các tác giả có kiến nghị mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm hình sự và loại tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, nghiên cứu thêm việc quy định đồng nhất hóa trách nhiệm hình sự của cá nhân và pháp nhân đối với tội phạm cố ý
- Bài viết “Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt quy định trong Bộ luật
Tố tụng hình sự 2015”, Tạp chí TAND, số 21/2017, của tác giả Nguyễn Quang
Lộc cho rằng việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt sẽ trực tiếp xâm phạm đến các QCN, QCD bởi luật không quy định khi người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này sai thì xử lý như thế nào
- Các bài viết trên Tạp chí Luật học “Hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội trong Bộ luật Hình sự 2015”, (số đặc biệt năm 2016), của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa, trang 27-35; “Khái niệm về tội phạm và việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, (số 2/2016) của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa; “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015” (số đặc biệt 2016) của tác giả Lưu Hải Yến đã luận giải đầy
đủ các cơ sở, căn cứ, bản chất và hướng hoàn thiện các quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong luật hình sự Việt Nam
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
- Tác giả Philip.L.Reichel có “Chuyên đề tư pháp hình sự so sánh”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), “Chuyên đề tư pháp hình sự so sánh”,
Thông tin khoa học pháp lý (số chuyên đề), đã phân tích, so sánh, chỉ ra sự khác biệt về lĩnh vực TTHS giữa truyền thống của các hệ thống pháp luật như hệ thống tố tụng thẩm vấn nhấn mạnh vào giai đoạn thẩm tra nên việc điều tra thận trọng sẽ đảm bảo xác định chính xác tội phạm và người phạm tội, trong khi hệ
Trang 24thống tố tụng tranh tụng nhấn mạnh vào giai đoạn xét xử, chú trọng chứng cứ để tin tưởng rằng bị cáo được xét xử công bằng Từ đó cho thấy, việc hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự của các nước cần phải có sự phù hợp với những yêu cầu của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
- Legislative supervision of court cases (Giám sát của cơ quan lập pháp đối với vụ án do Tòa xét xử), Paul Gewirtz, bài Phát biểu tại Hội thảo quốc tế về
sự công bằng và giám sát Tòa án, Bắc Kinh, 2004, có đề cập đến nội dung qua giám sát, thì cơ quan lập pháp tạo ra quy định mới cho các vụ án trong tương lai, chứ không đưa ra quyết định đối với vụ án cụ thể hay đảo ngược phán quyết của Tòa án Thực tế ở Mỹ cho thấy, cơ quan lập pháp không giám sát hoặc xem xét lại một vụ việc cụ thể khi Tòa đã ra quyết định Trong Luận án của tác giả sẽ sử dụng lập luận này để kiến nghị hoàn thiện PLTTHS Việt Nam đối với thẩm quyền giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp là nhằm đánh giá tình hình điều tra, truy tố, xét xử và đề ra chính sách chứ không phải giải quyết những vụ án cụ thể, tránh làm suy yếu tính độc lập của Tòa án và cơ quan tư pháp khác, tạo áp lực, hoặc về thành tích thi đua trong TTHS, mà tôn trọng thẩm quyền của các cơ quan tư pháp, tạo điều kiện để các cơ quan này chỉ tuân theo pháp luật, góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án, không làm oan và bỏ sót tội phạm
- Nội dung cơ bản nhất của “tố tụng công bằng” đã được thừa nhận và tiếp tục pháp triển không chỉ trong giới học giả mà còn được ghi nhận trong quan điểm lập pháp của hầu hết các quốc gia [89, tr.23] Những biểu hiện ban đầu về nguyên tắc “tố tụng công bằng” cũng được tìm thấy trong Đạo luật 12 điều (the Law of the Twelve Tables) [163] ra đời từ kết quả của cuộc đấu tranh đòi sự công bằng về quyền lợi của một số ít người dân thuộc tầng lớp trung lưu trước những bất công của tầng lớp quý tộc vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên Đạo luật được quy định ở 12 điều khoản (12 Tables) nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân trước pháp luật, nhấn mạnh quyền được xét xử công bằng, cấm mọi hành vi hối lộ cho cơ quan xét xử, ghi nhận sự công bằng giữa các đối
Trang 25tượng tham gia tố tụng Đặc biệt, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của NBBT, Đạo luật quy định, tạm dịch là “nếu một người bị cáo buộc về một tội phạm nào
đó, thì không chỉ họ mà cả người cáo buộc đều phải có mặt trước phiên tòa xét xử” (Table 1); “Hình phạt tử hình có thể được áp dụng cho thẩm phán nếu anh ta nhận hối lộ để tuyên vô tội đối với một hành vi phạm tội” (Table 9.4); hay
“Nghiêm cấm mọi hành vi áp dụng hình phạt tử hình đối với người có thể không
bị buộc tội” (Table 9.6)
- Hiến chương Magna Carta ghi nhận “Không ai bị bỏ tù hoặc bị tước đoạt về tài sản, sự tự do hoặc bị đặt ngoài vòng pháp luật, bị đày ải hay bất cứ sự trừng phạt nào, trừ khi có quyết định theo đúng trình tự được quy định bởi pháp luật trên lãnh thổ” thể hiện nội dung “tố tụng công bằng” là một yêu cầu cần thiết trong việc bảo đảm quyền của NBBT, đây có thể xem như nguồn gốc cơ sở pháp lý đầu tiên hình thành QBC của NBBT
- Tác giả Craig M.Bradley có công trình “Nghiên cứu tố tụng hình sự 13 nước trên thế giới”, Durham, North Carolina, năm 1999, tái bản năm 2007, đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về nền tư pháp hình sự của 13 quốc gia trên thế giới (gồm Ốt-trây-li-a, Ca-na-da, Anh và Xứ Wales, Hoa Kỳ, Đức, I-ta-li-a, Ác-hen-ti-na, Nam Phi, Ai Cập, Nga, Trung Quốc, Mê-hi-cô, I-xra-en) trong đó có
đề cập đến địa vị pháp lý của NBBT thông qua việc phân tích, làm rõ thủ tục xét xử sơ thẩm VAHS, trên cơ sở đó đưa ra các xu hướng cải cách thủ tục tố tụng ở các quốc gia này trong tương lai
- Tác giả Ariane Amson có bài viết “Chia sẻ kinh nghiệm từ Pháp về đổi mới Bộ luật tố tụng hình sự”, Ariane Amson (2014), Sharing experience from France on reforming Criminal Procedure Code, Justice partnership progamme trong đó nghiên cứu, làm rõ các thủ tục trước tòa, đặc biệt sau khi kết thúc phần thẩm vấn tại phiên tòa, nguyên đơn dân sự hay luật sư của nguyên đơn dân sự được trình bày ý kiến, công tố viên trình bày kết luận, bị cáo và luật sư của bị cáo trình bày lời bào chữa thì nguyên đơn dân sự và công tố viên được quyền đáp lại, nhưng bị cáo hay luật sư của bị cáo luôn được nói lời sau cùng
Trang 26- Tác giả Marco Fabri có “Báo cáo nghiên cứu về kinh nghiệm đổi mới Bộ luật tố tụng hình sự ở I-ta-ly”, Marco Fabri (2014), Sharing experience from Italy on reforming Criminal Procedure Code, Justice partnership progamme trong đó làm rõ việc xét xử hình sự dựa trên nguyên tắc tranh tụng, phải đảm bảo mỗi bên có cơ hội bình đẳng để đưa ra những chứng cứ và phản chứng cứ đối lập
để phù hợp với các nguyên tắc hiến định nhằm bảo vệ NBBT
- “Body of Principles for the protection of All Persons under Any Form of Detention or Imprisonment”, tạm dịch Khung nguyên tắc bảo hộ người bị giam giữ hoặc phạt tù dưới mọi hình thức Đây là Nghị quyết số 43/173 ngày 09-12-
1998 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc theo đó Liên Hợp Quốc đề ra các nguyên tắc nhằm bảo vệ con người chống lại sự bức cung, nhục hình, được thông báo về việc bị bắt giữ, thể hiện tại Nguyên tắc 10: Bất cứ ai bị bắt giữ sẽ được thông báo tại thời điểm bắt giữ lý do bắt giữ anh ta và sẽ được thông báo ngay lập tức về bất kỳ cáo buộc nào chống lại anh ta Nguyên tắc 11: Một người không bị giam giữ mà không được cơ quan tư pháp hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết ngay một cơ hội hiệu quả Người bị giam giữ có quyền tự bảo vệ hoặc được Luật
sư hỗ trợ theo quy định của pháp luật; Một người bị giam giữ và Luật sư của anh
ta, nếu có, sẽ nhận được thông tin liên lạc nhanh chóng và đầy đủ về bất kỳ lệnh giam giữ nào, cùng với những lý do đó; Một cơ quan tư pháp hoặc cơ quan khác
sẽ được trao quyền xem xét khi thích hợp việc tiếp tục giam giữ Nguyên tắc 21: Nghiêm cấm lợi dụng quá mức của tình trạng của một người bị giam giữ hoặc bị cầm tù vì mục đích buộc anh phải thú nhận, tự trách mình hoặc để làm chứng chống lại bất kỳ người nào khác; Không có người bị giam giữ trong khi bị thẩm vấn sẽ bị bạo lực, đe dọa hoặc phương pháp thẩm vấn làm suy giảm khả năng quyết định hoặc phán xét của mình “Một người sẽ không bị tạm giữ nếu không
có cơ hội cho họ nghe quan tòa hoặc người có thẩm quyền thông báo về việc họ
bị bắt giữ; Một người bị bắt, tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc được hỗ trợ bởi Luật sư theo quy định của pháp luật.”[58, tr.10]
Trang 27- Tác giả William E Butler, trường Đại học tổng hợp quốc gia Pennsylvania có “Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Nga” cho thấy điểm yếu là tính không dứt điểm, việc giải quyết các vụ án kéo dài không có điểm dừng do kháng cáo và xét xử lại, làm ảnh hưởng rất lớn đến quyền của NBBT
- Tác giả Ekaterina Mishina có “Báo cáo nghiên cứu về kinh nghiệm đổi mới Bộ luật tố tụng hình sự ở Nga”, cho thấy hệ thống TTHS của Nga vẫn bị ảnh hưởng bởi quá khứ và truyền thống thẩm vấn của Xô-Viết trước đây trong lĩnh vực TTHS Hệ thống TTHS của Nga luôn được coi là “pha trộn”, trong giai đoạn trước khi xét xử thì tranh tụng ít hơn tại phiên tòa Một trong những nguyên tắc
cơ bản của TTHS dân chủ - hệ thống tranh tụng, quy định tại Điều 15 của BLTTHS Nga, được mô tả là cản trở việc xác định sự thật khách quan Các tác giả nhấn mạnh rằng nguyên tắc tranh tụng không chỉ có hại mà còn không thể chấp nhận được trong hệ thống TTHS ở Nga vì nó nghiêng về học thuyết Anh -
Mỹ và đây là điều xa lạ đối với TTHS truyền thống của Nga
- Tác giả Vivienne Bath, trường Đại học tổng hợp Sydney và tác giả Sarah Biddulph, trường Đại học tổng hợp Melbourne có “Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Trung Quốc”, chương trình phát triển Liên hiệp quốc, Việt Nam (2010), Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Trung Quốc, Hà Nội đã khẳng định tầm quan trọng của các phiên tòa công khai và sự độc lập của hệ thống tư pháp, tuy nhiên pháp luật chưa quy định cụ thể, phân định rõ vai trò của CQĐT, VKS, Tòa án và Luật sư Đặc biệt, pháp luật chưa quy định và thực tiễn chưa tạo điều kiện để luật sư tiếp cận đầy đủ với NBBT để có thể bào chữa có hiệu quả tại phiên tòa
- The guarantees for accused persons under Article 6 of the European Convention on Human Rights (Đảm bảo quyền cho người bị buộc tội theo Điều
6 của Công ước Châu Âu về nhân quyền) của tác giả Stephanos Stavros, Nhà xuất bản Sweet & Maxwell, Anh quốc, năm 1993, theo đó, Công ước Châu Âu
về nhân quyền, tên chính thức là Công ước bảo vệ nhân quyền và các quyền tự
Trang 28do căn bản (Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) về quyền được xét xử công bằng, xét xử công khai trước một tòa độc lập và không thiên vị trong thời gian hợp lý, được coi là không có tội khi chưa có phán quyết của tòa án, và các quyền tối thiểu khác đối với người bị cáo buộc một tội hình sự Tác giả đã phân tích, so sánh và kết luận rằng trong luật của các quốc gia thành viên đã hiểu và vận dụng theo cách khác hoàn toàn với những chuẩn mực được quy định trong Công ước, tuy nhiên vấn đề quan trọng là các quy định theo Điều 6 của Công ước thì các quốc gia đã vận dụng, tuân thủ như thế nào cho phù hợp với truyền thống lập pháp của quốc gia mình
- Criminal process and human rights của tập thể tác giả là các giáo sư, phó giáo sư của các trường Đại học Melbourne: Jereny Gans, Terese Henning, Jill Hunter và Kate wamer, Nhà xuất bản New South Wales, Australia, 2011 Nội dung cuốn sách bàn về việc thực thi QCN tại Ố-strây-lia đặc biệt là trong quá trình TTHS phải đảm bảo các quyền tự do của con người trong bắt giữ, giam giữ, xét xử, quyền im lặng, quyền được xét xử công bằng
- Juvenile Court: An Overview của tác giả Kathlee Michon, Attorney đã nêu lên một số khái niệm về Tòa án vị thành niên ở mỗi tiểu bang, đây là những tòa án đặc biệt chuyên để xét xử người chưa thành niên “Tất cả các nước đã tạo
ra một hệ thống Tòa án vị thành nhiên đặt biệt cho người chưa thành niên” [108, tr.11-12] Dù có những điểm khác nhau, nhưng những người THTT điển hình gồm cảnh sát, công tố viên, thẩm phán và họ hoạt động chuyên trách
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đều có giá trị khoa học nhất định, nhưng do rào cản về ngôn ngữ và địa lý, cách tiếp cận nguồn tài liệu chính gốc sẽ
có ảnh hưởng ít nhiều đến độ tin cậy Tuy nhiên trong luận án của mình, nghiên cứu sinh sẽ sử dụng như nguồn thông tin về tình hình nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu của luận án Qua tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài thông qua các tài liệu, công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy các tác giả đã khái quát hệ thống tư pháp hình sự của một số quốc gia trên thế giới, các nguyên tắc, chính sách hình sự về bảo vệ QCN góp phần làm rõ hơn một
Trang 29số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của hệ thống TTHS, từ đó làm bật lên địa
vị pháp lý của NBBT Đây là những nội dung có thể tiếp thu có chọn lọc để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự và PLTTHS Việt Nam theo hướng bảo đảm QCN, quyền của NBBT trong TTHS
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu và giải quyết
Với đề tài nghiên cứu được giao, tác giả đã tập hợp, nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan trên phạm vi cả nước và nước ngoài như đã nêu, ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến địa vị pháp lý của NBBT, tác giả luận án đưa ra những đánh giá, nhận xét như sau:
1.3.1 Những vấn đề đã thống nhất luận án sẽ kế thừa và phát triển
Các công trình nghiên cứu đã phân tích và đưa ra cơ sở lý luận về bảo đảm QCN trong TTHS chính là xem các quyền tố tụng là biện pháp để thực hiện QCN Trong TTHS, bao gồm các nguyên tắc cơ bản của TTHS, các quy định về thủ tục, trình tự tố tụng, chức năng tố tụng, MHTT, các giai đoạn của TTHS, các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật và trách nhiệm của người THTT, cơ quan THTT, và kể
cả các quy định khác của cả hệ pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng đều
có khả năng tác động đến địa vị pháp lý của NBBT Đây chính là nguyên lý mối quan hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, khi xem xét địa vị pháp lý của NBBT khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể THTT, NBC, chủ thể tham gia tố tụng khác Đồng thời, đây cũng là điểm xuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính tiền đề để tác giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích cơ sở lý luận về quyền và nghĩa vụ và biện
pháp bảo đảm quyền của NBBT trong TTHS Việt Nam
Trên cơ sở Hiến Pháp và PTTLHS Việt Nam hiện hành, lý luận và thực tiễn TTHS đều thừa nhận và ghi nhận NBBT là người chưa bị kết tội, chưa bị coi là
có tội, họ có quyền và nghĩa vụ cụ thể được ghi nhận trong các văn bản pháp lý,
kể cả văn bản pháp lý có hiệu lực pháp luật cao nhất là Hiến pháp 2013 Các cơ quan THTT và người có thẩm quyền THTT cũng được PLTTHS quy định nhiệm
Trang 30vụ, trách nhiệm, quyền hạn cụ thể liên quan tương ứng Việc bảo đảm và bảo vệ QCN, QCD của NBBT được các nhà nghiên cứu, nhà làm luật đề cập, đưa ra yêu cầu phải được thực thi trong thực tiễn Yêu cầu đặt ra là việc áp dụng PLTTHS trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải kịp thời, khách quan và chính xác, tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, vai trò tham gia của NBC nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBBT được đề cao
Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã phân tích một số yếu tố tác động đến địa vị pháp lý của NBBT trong TTHS, chứng minh nguyên nhân làm hạn chế quyền cơ bản của NBBT trong TTHS Việt Nam dưới góc độ luật thực định, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện PLTTHS Tác giả luận án tiếp tục phân tích, đánh giá, bình luận và từ đó đưa ra nhận định riêng của mình về khái niệm NBBT cũng như phân tích các quyền và nghĩa của NBBT trong TTHS Việt Nam, cách thức bảo đảm các quyền tố tụng của NBBT
1.3.2 Những vấn đề còn tranh luận
Luận án cần tiếp tục làm rõ các nội dung sau: QCN của người bị buộc tội,
bị kết án là đương nhiên, nên pháp luật chủ yếu quy định nghĩa vụ, các hạn chế
và phải quy định như thế nào cho hợp pháp, các biện pháp ngăn chặn nên giao cho Tòa án không, tại sao lại phải có phê chuẩn của VKS chứ không phải là Tòa
án, tại sao lời nhận tội không phải là chứng cứ, trong thời gian tạm giữ 24 giờ cho NBBT mặc quần áo như thế nào, có cho tiếp xúc với ai không, người chưa bị tuyên án thì mặc quần áo gì; NBBT bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam thì cần có biện pháp gì để bảo đảm; quy định khái niệm NBBT cần cụ thể rõ ràng để xác định địa vị tố tụng cũng là biện pháp để thực hiện QCN, việc tăng cường áp dụng các biện pháp ngoài giam giữ: đặt tiền bảo lãnh, phạt tiền; mô hình tranh tụng; vai trò và thẩm quyền thu thập chứng cứ của luật sư và thủ tục điều hành Việc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên buộc tội và gỡ tội; bảo vệ QCN của NBBT bằng chức năng kiểm sát của VKS, hoặc bằng chức năng xét xử của Tòa án; hoặc bằng mô hình thẩm vấn cùng với nguyên tắc tranh tụng trong xét xử liệu đã đảm bảo địa vị pháp lý của NBBT hay chưa
Trang 311.3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về bảo đảm QCN, quyền có NBC của NBBT, QBC của bị can, bị cáo
… Tác giả luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, những vấn đề còn tranh luận chưa thống giữa các chuyên gia,
các nhà khoa học, và các vấn đề mới phát sinh khi BLTTHS 2015 có hiệu lực thi hành như khái niệm về NBBT, các quyền và cả nghĩa vụ của NBBT được quy định cụ thể trong BLTTHS 2015 cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn theo tinh thần và theo Hiến Pháp 2013
Thứ hai, quá trình TTHS gồm năm giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, và để nhận diện rõ địa vị pháp lý của NBBT ở từng giai đoạn là khác nhau và sẽ tác động, chi phối chức năng buộc tội (điều tra, truy tố), chức năng xét xử, chức năng bào chữa của luật sư, bào chữa viên, trợ giúp pháp lý Quy định và áp dụng các quy định như thế nào để NBBT thực hiện các quyền mà không bị cản trở, ngược lại QCN và các quyền tố tụng của NBBT phải bị giới hạn bởi hoạt động buộc tội và NBBT phải tuân thủ các nghĩa vụ tố tụng Cơ chế phối hợp, giám sát hoạt động TTHS giữa các cơ quan THTT bao gồm cả yếu tố con người như trình độ năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức và thu nhập để đảm bảo cuộc sống
Thứ ba, so sánh địa vị pháp lý của NBBT ở một số quốc gia trên thế giới
qua đó so sánh, đánh giá tác động ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của NBBT, chỉ
ra khái niệm NBBT để xác định đúng NBBT họ là ai theo BLTTHS Việt Nam
Thứ tư, về mặt thực tiễn, tác động tích cực của Điều 31, Hiến pháp 2013 –
một điểm son trong lập pháp - dẫn đến cách tiếp cận mang tính đột phá được quy định tại Điều 13, BLTTHS 2015: suy đoán vô tội- một nguyên tắc rất quan trọng tác động lớn đến địa vị pháp lý của NBBT trong TTHS
Thứ năm, từ thực tiễn TTHS tại Thành phố Hồ Chí Minh đề ra giải pháp
tăng cường địa vị pháp lý của NBBT, trong đó nhấn mạnh vai trò của luật sư, NBC, quy định chặt chẽ về địa vị pháp lý của NBC là một trong những biện pháp bảo vệ QCN, QCD của NBBT, vai trò và trách nhiệm giám sát của các cơ
Trang 32quan dân cử trên cơ sở tuân theo pháp luật, tránh tạo áp lực, chạy theo thành tích thi đua của các CQĐT, VKS, Tòa án, hoặc làm suy yếu tính độc lập của Tòa án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tôn trọng thẩm quyền của các cơ quan
tư pháp, góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án, không làm oan và bỏ lọt tội phạm Định hướng cơ chế đảm bảo địa vị pháp lý của NBBT nhằm xác định một giới hạn thỏa đáng để các bên buộc tội và gỡ tội trong quá trình TTHS thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình là hợp lý, trên cơ sở lý luận và thực tiễn phải thực hiện chức năng của từng chủ thể tố tụng, đảm bảo tính độc lập, chế ước và phối hợp không chỉ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, bình đẳng về vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, VKS, NBC, NBBT, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa xét xử mà cần phải có sự bình đẳng về cơ cấu tổ chức, trình độ năng lực, tuân thủ và chấp hành pháp luật của tất cả các chủ thể pháp luật TTHS
1.4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được các nhiệm vụ của luận án, quá trình nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:
1 Những vấn đề lý luận và quy định pháp luật nhằm đảm bảo địa vị pháp
lý của NBBT theo PLTTHS Việt Nam như thế nào?
2 Thực trạng thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của NBBT theo PLTTHS Việt Nam như thế nào từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh và những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện?
3 Yêu cầu và giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của NBBT là gì và cần được thực hiện như thế nào?
1.4.2 Lý thuyết nghiên cứu
Luận án được tiến hành nghiên cứu dựa trên hệ thống lý luận của triết học Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước
về chính sách hình sự và về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 -
2020 Làm rõ các quy định của BLTTHS 2015 về địa vị pháp lý của NBBT; quan hệ giữa NBBT với các chủ thể tố tụng khác cũng là những cơ sở quan trọng
để giải quyết các nhiệm vụ mà luận án cần nghiên cứu
Trang 331.4.3 Giả thuyết nghiên cứu
Nhằm tiếp tục hoàn thiện BLTTHS 2015 cũng như thực hiện các quy định ngày càng hiệu quả hơn, luận án tiến hành nghiên cứu địa vị pháp lý của NBBT (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 58, 59, 60, 61 BLTTHS 2015) chịu tác động ảnh hưởng rất lớn từ địa vị pháp lý của các chủ thể tố tụng khác, đặc biệt là địa vị pháp lý của người có thẩm quyền THTT Đề xuất: BLTTHS ghi nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là NBBT để họ có quyền nhờ NBC kể
từ khi họ có mặt tại trụ sở CQĐT, ngay tại thời điểm người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nhưng chưa có Quyết định tạm giữ được phê chuẩn của VKS; các yêu cầu, giải pháp nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành quyền và nghĩa
vụ, về địa vị pháp lý của NBBT theo PLTTHS Việt Nam từ kinh nghiệm thực tiễn vừa qua của Thành phố Hồ Chí Minh
Tiểu kết Chương 1
Qua nghiên cứu, tổng quan các công trình, đề tài khoa học của nhiều tác giả trong và ngoài nước đã cung cấp cho tác giả những cách tiếp cập và lý luận khoa học, trên cơ sở kết quả nghiên cứu này và kết hợp với thực tiễn thu thập được tác giả sẽ tiếp tục luận giải những vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài đã chọn,
cụ thể các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu đặc điểm, nội hàm của NBBT và tạm đưa ra các khái
niệm về NBBT, luận giải cơ sở lý luận về địa vị pháp lý NBBT, tại sao có sự phân biệt khác nhau giữa các loại NBBT
Thứ hai, Nghiên cứu trực trạng quy định và thực tiễn thi hành các quyền và
nghĩa vụ tố tụng của người bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đặt trong quan hệ với các chủ thể THTT và các chủ thể tham gia tố tụng khác Từ đó phát hiện những thiếu khuyết, bất cập, những điểm phù hợp trong áp dụng PLTTHS
Thứ ba, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận án, tác giả kiến nghị một số
yêu cầu và giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của NBBT
Trang 34Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
2.1 Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của người bị buộc tội
2.1.1 Địa vị và địa vị pháp lý
Theo cách hiểu thông dụng thì địa vị là vị trí, chỗ đứng thích hợp với vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi; là chỗ đứng trong cách nhìn nhận để giải quyết vấn đề
“Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật, thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình” [112, tr.244] Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể quan
hệ pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của
chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật với nhau
Địa vị pháp lý của cá nhân là “Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho cá nhân có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật và quan hệ dân sự nói riêng”[112, tr.244]
Địa vị pháp lý của pháp nhân là “Tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm mà pháp luật quy định cho pháp nhân có tư cách chủ thể, tạo cho pháp nhân khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”[112, tr.244]
Địa vị pháp lý của NBBT (thể nhân hoặc pháp nhân thương mại) gắn với quy định trách nhiệm hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NBBT, thể hiện rõ nhất thông qua các quy định PLTTHS Địa vị pháp lý của NBBT không chỉ là cơ sở pháp lý để xác định và phân biệt các quyền, nghĩa vụ của NBBT trong từng giai đoạn TTHS khác nhau, mà còn là phương thức để NBBT thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý, thể hiện mối tương quan với các chủ thể
Trang 35pháp luật khác Nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của NBBT, vấn đề tiếp theo là xác định thế nào là NBBT, địa vị pháp lý của NBBT
2.1.2 Địa vị pháp lý của người bị buộc tội
Nhìn từ góc độ khoa học pháp lý “buộc tội” được hiểu là “chưa có tội”, nếu nhìn từ góc độ khoa học xã hội thì có thể hiểu là “đã có tội”, vì vậy dễ gây
nhầm lẫn đối với khái niệm “buộc tội” Trong khoa học pháp lý, “buộc tội” là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm [112, tr.88] Nhà
nước thực hiện sự buộc tội của mình bằng cách giao quyền lực này cho một số
cơ quan và người được quy định trong BLTTHS có thẩm quyền THTT Quyền lực này chỉ để thực hiện trong hoạt động TTHS, do đó nó sẽ bị giới hạn bởi các quyền tố tụng của các chủ thể pháp luật khác với nhau
Trong mọi trường hợp thì chủ thể của tội phạm là NBBT, ngược lại
NBBT chỉ có thể là chủ thể của tội phạm, khi “chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự
và đạt độ tuổi nhất định do luật quy định và trong một số trường hợp khác có các dấu hiệu đặc biệt được chỉ ra trong điều luật tương ứng” [125, tr.180], đồng
nghĩa với việc khi tội và lỗi của NBBT được chứng minh theo trình tự luật định,
vì lúc này họ đã trở thành người có tội theo bản án kết tội của Tòa án có hiệu
pháp luật Nếu bản án có hiệu lực pháp luật thì họ không còn là NBBT, nhưng ngược lại nếu bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì họ vẫn là NBBT
Thời điểm bắt đầu và kết thúc sự buộc tội xuất hiện ngay khi chưa có quyết định khởi tố bị can trong trường hợp một người đã bị tạm giữ (tức là họ đã bị chuyển từ tư cách công dân sang tư cách NBBT kể từ khi bị tạm giữ) và họ sẽ chính thức bị buộc tội với tư cách là bị can khi có quyết định khởi tố bị can, đã có sự phê chuẩn của VKS và sự
Trang 36buộc tội tồn tại cho đến khi có bản án, quyết định kết tội (có hiệu lực pháp luật) [40, tr.50]
Chủ thể THTT thực hiện quyền buộc tội đối với chủ thể bị buộc tội, thì ngoài việc xác định được chủ thể bị buộc tội còn làm phát sinh các chủ thể tham gia tố tụng khác như: các chủ thể phát hiện, tố giác, kiến nghị khởi tố; bị hại; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng, chứng kiến, giám định, phiên dịch, dịch thuật, bào chữa, đại
diện theo pháp luật của pháp nhân, đảm bảo nguyên tắc ở đâu có sự buộc tội thì
ở đó có sự gỡ tội, tạo sự cân bằng, đối trọng giữa hai chức năng buộc tội và chức
năng gỡ tội trong quan hệ PLTTHS gồm nhiều chủ thể pháp luật có vị trí khác nhau hình thành một chỉnh thể TTHS trên cơ sở quy định của pháp luật bảo đảm cho quá trình tố tụng, chứng minh tội phạm khách quan, công bằng
Trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, một số trường hợp, có hành vi phạm tội xâm phạm đến QCN, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nhưng công dân chấp nhận và không có yêu cầu pháp luật can thiệp bởi tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với xã hội tại thời điểm này là pháp luật chưa cần thiết phải điều chỉnh, mà nó sẽ được điều chỉnh bởi đạo đức xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng,….sự điều chỉnh này mang tính tự giác, tự nguyện hướng đến mục đích được xã hội, tôn giáo coi là chuẩn mực Suy cho cùng, mục đích của sự buộc tội truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm hướng tới phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm và góp phần xây dựng những chuẩn mực tốt đẹp trong xã hội loài người Vì vậy, PLTTHS quy định việc khởi tố VAHS theo yêu cầu của
bị hại (Điều 155, BLTTHS 2015), nếu bị hại không yêu cầu khởi tố hoặc rút yêu cầu khởi tố VAHS, sẽ không có NBBT, không có hoặc không tồn tại VAHS, và cũng không có chủ thể tội phạm
Các chủ thể tham gia tố tụng khác, tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý hoặc tham gia để hỗ trợ pháp lý cho các chủ thể tham gia tố tụng, không bị áp dụng các biện ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế bởi không có sự buộc tội đối với họ, trừ
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, có căn cứ nghi ngờ đã thực hiện hành vi có
Trang 37dấu hiệu là tội phạm, và do đó họ có thể bị áp dụng các biện ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế và nhà nước thể hiện sự buộc tội của mình bằng hình thức tạm giữ
để phục vụ điều tra Nội dung thể hiện đặc điểm, nghĩa vụ tố tụng ở giai đoạn điều
tra (tiền khởi tố) cho thấy người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thỏa điều kiện để được ghi nhận là NBBT để họ được hưởng các quyền tố tụng khi mà QCN, QCD đã
bị hạn chế Đặc biệt là đối với QBC của NBBT
Lịch sử phát triển của chính sách PLTTHS Việt Nam qua các thời kỳ thể hiện đặc điểm, địa vị tố tụng, nhân tố để bảo đảm quyền của NBBT có khác nhau BLTTHS 1988 chưa đưa ra khái niệm NBBT, mà chỉ liệt kê và quy định quyền, nghĩa vụ của bị can là người đã bị khởi tố về hình sự, bị cáo được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 34); BLTTHS 2003 cũng chỉ chưa đưa ra khái niệm NBBT nhưng có tiến bộ hơn: bổ sung thêm người bị tạm giữ là NBBT (Điều 48), đến BLTTHS 2015 đã quy định trong phần giải thích từ ngữ,
thì NBBT là cá nhân gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, theo đó
họ là những người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết VAHS, có thể nói trách nhiệm hình sự xoay quanh NBBT, và không có NBBT thì không có việc truy cứu trách nhiệm hình sự Một trong những điểm mới của BLTTHS 2015 thì NBBT có thể là pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ Luật Hình sự quy định là tội phạm, vì vậy ta có thể gọi chung họ (cá nhân và pháp nhân) là chủ thể bị buộc tội Với tư cách là chủ thể của PLTTHS, pháp nhân thương mại thông qua người đại diện theo pháp luật
có quyền và nghĩa vụ tham gia đầy đủ vào các giai đoạn TTHS (Điều 434) Tùy theo giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi của NBBT cũng như địa vị pháp lý của họ cũng có sự khác nhau Họ là những người bị nghi ngờ đã thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự nên sẽ bị hạn chế một số QCN, QCD Đồng thời họ có quyền, nghĩa vụ tố tụng là biện pháp để đảm bảo QCN không bị xâm phạm, quyền tố tụng có xu hướng mở rộng dần
theo quá trình TTHS Theo nguyên tắc suy đoán vô tội NBBT được coi là không
có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy
Trang 38định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 13), vì vậy,
bên cạnh những hạn chế quyền do luật định, họ vẫn còn có QCN, QCD quy định trong Hiến pháp 2013 như quyền được bảo hộ về tính mạng (Điều 19), quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (Điều 20) và nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật (Điều 46),… Các quyền và nghĩa vụ pháp lý của NBBT được BLTTHS 2015 cụ thể hóa thành các nguyên tắc cơ bản như: Tôn trọng và bảo vệ QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8); Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10); Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân (Điều 11); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12); Suy đoán vô tội (Điều 13); Xác định sự thật của vụ án (Điều 15); Bảo đảm QBC của NBBT (Điều 16);Tranh tụng trong xét xử (Điều 26); Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (Điều 27); Tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS (Điều 29); Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại (Điều 31); Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 32) Các quyền tố tụng là biện pháp pháp
lý để NBBT thực hiện QCN Tùy giai đoạn tố tụng, địa vị pháp lý của NBBT khác nhau và có xu hướng mở rộng dần quyền tố tụng là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, khi NBBT bị hạn chế dần các QCN, QCD theo tiến trình TTHS thì đồng thời các quyền năng tố tụng cũng mở rộng hơn nhằm bảo đảm QCN của NBBT mà không làm cản trở hoạt động TTHS Ngoài người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (là NBBT) luật quy định là người tham gia tố tụng, thì căn cứ vào tình trạng pháp lý về quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan hệ PLTTHS, còn có các chủ thể tham gia tố tụng khác Chúng ta có thể
phân chia người tham gia tố tụng thành ba nhóm cụ thể như: nhóm một, gồm
những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án); nhóm thứ hai, gồm những người
Trang 39tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác đồng thời góp phần bảo vệ công lý (NBC, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,…); nhóm thứ ba, gồm những người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý (người làm chứng, người chứng kiến, người giám định, người phiên dịch,…) Từ sự phân chia này để xác định rõ ràng hơn quyền và nghĩa vụ cũng như tình trạng pháp lý của từng đối tượng, đối tượng nào bị bắt buộc phải tham gia tố tụng và
sẽ phải đối mặt với việc bị hạn chế một số quyền cơ bản của công dân, đối tượng nào có nghĩa vụ tham gia, đối tượng nào có thể từ chối tham gia tố tụng
Có thể khẳng định rằng từ tác động của Điều 31, Hiến pháp 2013 mà BLTTHS 2015 cụ thể hóa quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 4, nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc liệt kê tên gọi mà chưa nêu cụ thể đặc điểm, nội dung, ý nghĩa và khái niệm như thế nào là NBBT và BLTTHS cũng “xếp” họ vào nhóm “người tham gia tố tụng tại Chương IV Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu cũng rất ít đưa ra khái niệm về NBBT, tác giả xin tạm đưa ra khái niệm về NBBT như
sau “NBBT là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ nghi ngờ đã thực hiện hành vi có dấu hiệu là tội phạm và
do đó họ có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS, hoặc các biện pháp TTHS khác để phục vụ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của BLTTHS Việt Nam”
Chính vì bị nghi ngờ nên họ chỉ bị hạn chế một số QCN, QCD, đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định địa vị pháp lý của NBBT Khi tham gia tố tụng, đối với NBBT (cá nhân), tùy theo biện pháp ngăn chặn được áp dụng
và vị trí của họ trong từng giai đoạn TTHS mà NBBT có thể có các tên gọi và đặc điểm khác nhau Đối với pháp nhân thương mại (thể nhân) cũng tương tự và tên gọi có thể là: pháp nhân thương mại là bị can, pháp nhân thương mại là bị cáo, quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của BLTTHS 2015 (Điều 60, 61)
Trang 40Theo đó, pháp luật ghi nhận cá nhân, pháp nhân được xem là NBBT khi
và chỉ khi thỏa các dấu hiệu do luật định để từ đó xác định các quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ pháp lý của họ khi tham gia tố tụng cũng như phương thức THTT Tác giả xin được đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của NBBT như sau:
“Địa vị pháp lý của NBBT là vị trí của NBBT trong cơ chế TTHS thể hiện qua việc xác định quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ trong từng giai đoạn TTHS”
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể phân loại NBBT để nghiên cứu quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ trong từng giai đoạn TTHS kể từ khi có sự buộc tội cho đến khi có bản án, quyết định kết tội (có hiệu lực pháp luật), cụ thể:
2.1.2.1 Người bị bắt:
BLTTHS 1988 và BLTTHS 2003 chưa xác định người bị bắt là NBBT,
chưa thật sự quan tâm đến đến thuật ngữ “bắt” trong lĩnh vực hình sự làm ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của người bị bắt Từ điển tiếng Việt giải thích “bắt” là động từ có nghĩa: “nắm, giữ, không cho hoạt động tự do” đồng nghĩa với “ép buộc”, Từ điển Luật học nêu thêm và xác định cụ thể gồm: “bắt giữ”, “bắt khẩn cấp”, “bắt người phạm tội”, “bắt oan”, “bắt quả tang”, đều có nghĩa là biện pháp ngăn chặn trong TTHS với những lý do khác nhau được coi là căn cứ để “bắt”, khi hành động “bắt” diễn ra là xâm phạm đến tự do của con người, nếu chủ thể thực hiện hành động bắt không mang quyền lực nhà nước thì đã xâm phạm quyền tự do của chủ thể khác, nếu chủ thể thực hiện hành động bắt mang quyền lực nhà nước
đã thể hiện sự hạn chế quyền tự do và sự buộc tội của nhà nước, chủ thể bị bắt phải có nghĩa vụ pháp lý và các quyền tố tụng nhằm bảo vệ QCN, đây là cơ chế bảo đảm QCN, QCD và bảo đảm địa vị pháp lý của người bị bắt Cho đến khi BLTTHS 2015 ra đời đã quy định người bị bắt là NBBT và bao gồm người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và bị bắt theo quyết định truy nã (Điều 58) Hiến pháp 2013 có quy định “không ai bị bắt nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS nhân dân, trừ trường hợp quả tang” (Khoản
2, Điều 20) Đồng thời, BLTTHS 2015 có quy định áp dụng chỉ bắt “người phạm tội quả tang”, “người đang bị truy nã”, “bị can, bị cáo để tạm giam”, nội dung điều