Một trong những than phiền thường xuyên nhấtcủa phụ nữ quanh tuổi mãn kinh là sự ảnh hưởng trên chất lượng giấc ngủ [38],Các rối loạn giấc ngủ bao gồm khó vào giấc ngủ, thức giấc nhiều l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-VŨ THỊ THỤC ANH
TỈ LỆ MẤT NGỦ Ở PHỤ NỮ 50-55 TUỔI
TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ CHUYÊN NGÀNH SẢN PHỤ KHOA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BS TÔ MAI XUÂN HỒNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thục Anh
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục đối chiếu các từ chuyên môn Anh Việt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ iv
Đặt vấn đề 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
Mục tiêu chính: 3
Mục tiêu phụ: 3
Chương 1: Tổng quan tài liệu 4
1.1 Đại cương về giấc ngủ 4
1.2 Các rối loạn giấc ngủ 8
1.3 Các phương pháp lượng giá giấc ngủ 13
1.4 Rối loạn giấc ngủ tuổi mãn kinh 16
1.5 Tình hình nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ trên thế giới 22
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 24
2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3 Cỡ mẫu 25
2.4 Sơ đồ thu thập số liệu 25
2.5 Phương pháp chọn mẫu 26
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.7 Các phương tiện nghiên cứu 27
2.8 Các biến số thu thập 28
2.9 Phân tích thống kê 32
2.10 Vấn đề y đức 32
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm các đối tượng tham gia nghiên cứu 35
Trang 53.2 Tỉ lệ rối loạn giấc ngủ 37
3.3 Tuổi 38
3.4 Đặc điểm thể chất 39
3.5 Mãn kinh 40
3.6 Triệu chứng vận mạch 42
3.7 Kiểu rối loạn giấc ngủ 43
3.8 Phân tích hồi quy đa biến 45
Chương 4: Bàn luận 46
4.1 Lý do chọn thang điểm PSQI 46
4.2 Điểm cắt PSQI theo thang điểm 48
4.3 Tuổi 50
4.4 Đặc điểm xã hội 51
4.5 Đặc điểm thể chất 53
4.6 Mãn kinh 54
4.7 Vận mạch 56
4.8 Kiểu rối loạn giấc ngủ 57
4.9 Phân tích hồi quy đa biến 59
4.10 Hạn chế của đề tài 61
Kết luận 62
Kiến nghị 63 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFC Antral follicle count
DSM Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders
FSH Follicle-Stimulating Hormone
HDL-C High-Density Lipoprotein Cholesterol
ICD International Statistical Classification of Diseases and
Related Health Problems
LDL-C Low-density lipoprotein cholesterol
MSLT Multiple sleep latency test
PSQI Pittsburgh Sleep Quality Index
STRAW The Stages of Reproductive Aging Workshop
SWAN Study of Women’s Health Across the Nation
VLDL-C Very-low-density lipoprotein cholesterol
Trang 7DANH MỤC ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ CHUYÊN MÔN
ANH – VIỆT
Early morning awakening Thức dậy quá sớm
Multiple sleep latency test Đo lường thời gian cần để đi vào giấc ngủ
Polysomnography Biểu đồ đa ký giấc ngủ
Primary Insomnia Các rối loạn giấc ngủ nguyên phát
Sleep initiation difficulty Khó vào giấc ngủ
Sleep maintenance difficulty Khó duy trì giấc ngủ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các biến số trong nghiên cứu 28
Bảng 3.1: Đặc điểm xã hội các đối tượng trong nghiên cứu và điểm PSQI 35
Bảng 3.2: Mức độ rối loạn giấc ngủ 37
Bảng 3.3: Phân độ tuổi và rối loạn giấc ngủ 38
Bảng 3.4: Đặc điểm thể chất các đối tượng trong nghiên cứu 39
Bảng 3.5: So sánh từng cặp điểm PSQI trung bình giữa các nhóm mãn kinh 42 Bảng 3.6: Tỉ lệ rối loạn giấc ngủ theo triệu chứng vận mạch 42
Bảng 3.7: Tỉ lệ các kiểu rối loạn giấc ngủ 43
Bảng 3.8: Các kiểu rối loạn giấc ngủ và giai đoạn mãn kinh 43
Bảng 3.9: Phân tích hồi quy đa biến 45
Bảng 4.1: Độ nhạy và độ đặc hiệu của PSQI theo điểm cắt 48
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Phương pháp đo đa ký giấc ngủ 14
Hình 3.1: Tỉ lệ rối loạn giấc ngủ 37
Hình 3.2: Phân bố theo tuổi 38
Hình 3.3: Tình trạng mãn kinh 40
Hình 3.4: Rối loạn giấc ngủ và mãn kinh 41
Hình 3.5: Điểm PSQI trung bình theo tình trạng mãn kinh 41
Hình 3.6: Rối loạn khó đi vào giấc ngủ qua các giai đoạn mãn kinh 44
Hình 3.7: Rối loạn khó duy trì giấc ngủ qua các giai đoạn mãn kinh 44
Hình 3.8: Rối loạn thức dậy quá sớm qua các giai đoạn mãn kinh 45
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Mãn kinh là một hiện tượng sinh lý bình thường, tất yếu phải trải quatrong cuộc đời người phụ nữ Bắt đầu bằng việc buồng trứng suy giảm chứcnăng, các nội tiết sinh dục không còn được chế tiết, dẫn đến những biến đổi vàrối loạn tạm thời hoặc vĩnh viễn của một số chức năng sinh lý và ảnh hưởngđến tâm lý phụ nữ Đa số phụ nữ quanh tuổi mãn kinh đều biểu hiện các triệuchứng với mức độ từ nhẹ đến nặng, gây xáo trộn đến chất lượng cuộc sốngthường nhật vào thời kỳ này Một trong những than phiền thường xuyên nhấtcủa phụ nữ quanh tuổi mãn kinh là sự ảnh hưởng trên chất lượng giấc ngủ [38],Các rối loạn giấc ngủ bao gồm khó vào giấc ngủ, thức giấc nhiều lần hay thứcgiấc quá sớm và khó ngủ lại, số giờ ngủ thấp hơn 7 giờ/ngày hoặc ngủ khôngsâu không chỉ gây ảnh hưởng nặng đến chất lượng cuộc sống, mà còn làm giatăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, béo phì, đái tháo đường, trầm cảm,…
Tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam hiện nay là 76 tuổi [7], với độtuổi mãn kinh trung bình qua các nghiên cứu dao động từ 47.5 đến 49 tuổi [2],điều này cho thấy người phụ nữ có thể sốđi ng hàng chục năm sau mãn kinh.Khi tuổi thọ trung bình ngày càng gia tăng, người phụ nữ trải qua nhiều thờigian hơn sau mãn kinh, các vấn đề mãn kinh trở nên quan trọng và cần đượcquan tâm hơn Chăm sóc sức khỏe quanh và hậu mãn kinh vì thế trở thành vấn
đề thiết yếu Hiện nay, hầu hết các trung tâm chăm sóc sức khỏe lớn đều có khuvực để tiếp nhận và điều trị các vấn đề rối loạn gây ra trong giai đoạn mãn kinh.Bên cạnh đó, việc tiến hành các nghiên cứu lâm sàng cũng rất cần thiết nhằmcải thiện chất lượng cuộc sống của phụ nữ tuổi mãn kinh [40] Tuy nhiên,nghiên cứu về vấn đề rối loạn giấc ngủ trong giai đoạn mãn kinh lại còn khá íttại Việt Nam [3], vì rất khó có thể đánh giá chính xác được thế nào là một tình
Trang 11trạng rối loạn giấc ngủ thực sự và mức độ ảnh hưởng của nó trên chất lượngcuộc sống hiện tại của các phụ nữ mãn kinh và trước mãn kinh.
Để trả lời câu hỏi có hay không một tình trạng rối loạn giấc ngủ và mức
độ ảnh hưởng của nó trên chất lượng cuộc sống, theo y văn, các chuyên gia thếgiới đã dùng nhiều phương cách khác nhau từ cách khách quan bằng “biểu đồ
đa ký giấc ngủ”, “đo lường thời gian đi vào giấc ngủ”, cho đến bảng câu hỏiThe Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) [16] , Insomnia SymptomQuestionnaire [42], Epworth Sleepiness Scale [17]…Hiện nay, các nghiên cứu
về giấc ngủ trong cộng đồng trên thế giới thường sử dụng các thang điểm làmphương tiện đánh giá, phổ biến nhất là thang điểm Pittsburgh Thang điểmPittsburgh đánh giá chất lượng giấc ngủ đã được Viện Y Tế Công Cộng Việthóa và đánh giá là một thang điểm giá trị trong phân định các rối loạn giấc ngủ[5]
Bệnh viện Hùng Vương là một bệnh viện phụ sản hạng đặc biệt tại ThànhPhố Hồ Chí Minh (TPHCM) Tại phòng khám rối loạn trước mãn kinh, hàngngày lưu lượng phụ nữ đến khám và tư vấn về vấn đề này là khoảng 20người/ngày Vấn đề rối loạn giấc ngủ là vấn đề được than phiền nhiều nhất,nhưng vẫn chưa có đầy đủ thống kê về cách chẩn đoán và phân loại điều trị.Nhằm làm phong phú thêm chứng cứ y khoa phục vụ cho việc điều trị các rốiloạn giấc ngủ và cải thiện chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh, chúngtôi tiến hành nghiên cứu này bằng cách sử dụng thang điểm Pittsburgh tiếngViệt để đánh giá chất lượng giấc ngủ của phụ nữ quanh tuổi mãn kinh, hy vọngcung cấp một cái nhìn rõ ràng về vấn đề này
Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là: “Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ của phụ nữ50-55 tuổi sử dụng thang điểm Pittsburgh là bao nhiêu?”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ GIẤC NGỦ
1.1.1 Định nghĩa giấc ngủ và rối loạn giấc ngủ [4]
Ngủ là một trạng thái sinh lý bình thường của cơ thể có tính chất chu kỳngày đêm, trong đó toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi, tạm ngừng hoạt động trigiác và ý thức, các cơ bắp giãn mềm, các hoạt động hô hấp, tuần hoàn chậmlại
Giấc ngủ là khoảng thời gian ngủ, trong đó các trạng thái ngủ diễn ra kếtiếp Một giấc ngủ tốt là giấc ngủ đảm bảo đầy đủ về số lượng, thời gian, và khingủ dậy, người ta cảm thấy khoan khoái dễ chịu về thể chất và tâm thần Giấcngủ làm hồi phục lại chức năng của các cơ quan trong cơ thể
Giấc ngủ được lặp đi lặp lại trong đời Trung bình, mỗi người cần đến220.000 giờ (khoảng 25 năm) hoặc 1/3 thời gian sống để ngủ trong suốt cuộcđời Trong giấc ngủ, cũng có những giai đoạn được lặp đi lặp lại Điều nàyđược phát hiện qua những xét nghiệm đo điện não đồ của con người trong khingủ
Rối loạn giấc ngủ biểu hiện nhiều rối loạn về số lượng và chất lượng, vềtính chu kỳ của giấc ngủ và các rối loạn nhịp thức ngủ Khi mất ngủ kéo dài cóthể dẫn tới suy nhược nặng, và nguy cơ tử vong có thể xảy ra do sự suy giảmtrầm trọng khả năng điều hòa nhiệt độ của cơ thể Mất ngủ mạn tính làm giảmchất lượng cuộc sống, người bệnh mệt mỏi, giảm tập trung chú ý, giảm trí nhớ,rối loạn nhận thức, ảnh hưởng nặng nề đến công việc hàng ngày Mất ngủ liênquan đến rối loạn nhịp thở, rối loạn nhịp tim và tăng huyết áp Mất ngủ kéo dài,nếu không được điều trị sẽ là nhân tố khởi phát rối loạn lo âu, trầm cảm, bệnhtật khác
Trang 141.1.2 Các giai đoạn của giấc ngủ [18],[27]
Giấc ngủ bị ảnh hưởng bởi nhịp sinh học Ngược với người lớn, trẻ sơsinh chưa có nhịp thức – ngủ, nhịp này sẽ xuất hiện và phát triển trong 2 nămđầu của đời sống
Mỗi giấc ngủ đêm sẽ bao gồm nhiều chu kỳ và trong mỗi chu kỳ sẽ cóhai giai đoạn cơ bản NREM (Non Rapid Eye Movement) và REM (Rapid EyeMovement) Trung bình một giai đoạn kéo dài 1,5 giờ và do đó mỗi đêm sẽ cókhoảng 4 đến 5 chu kỳ được lặp lại trong giấc ngủ NREM là giai đoạn không
có chuyển động mắt nhanh, kết hợp với quá trình tiếp thu kiến thức và học tậpkinh nghiệm rất có hiệu quả REM là giai đoạn chuyển động mắt nhanh haycòn gọi là ngủ rất say, những người bị rối loạn này thường xuyên gặp phảinhững cơn ác mộng
Giai đoạn khởi đầu của giấc ngủ là thời gian đi vào giấc ngủ được biếtđến như ngưỡng ngủ xuất hiện trong vài giây Trong một thí nghiệm, ngườiđược tiến hành thí nghiệm đang cố gắng để ngủ trong khi 2 mắt mở để họ cóthể nhìn thấy được ánh sáng và chớp sáng chiếu vào trong giây lát hoặc chừngmột lúc Họ được chỉ dẫn để ấn vào một cái nút điện bất cứ khi nào họ nhìnthấy chớp loé sáng Kết quả cho thấy, mỗi đối tượng nghiên cứu đều đã ấn nútliên tục đều đặn, cho đến khi đột nhiên đáp ứng hoàn toàn dừng lại Khi đó bạn
đã chuyển sang một trạng thái ngủ, nhận thức của bạn về thế giới bên ngoài sẽmất đi trong vài giây Giai đoạn này được đặc trưng bởi nhịp alpha đều đặn và
ổn định Dần dần sau đó, độ căng cơ giảm, các chức năng giảm
Sau đó là giai đoạn NREM gồm 4 giai đoạn, giai đoạn sau sâu hơn giaiđoạn trước Hầu hết những chức năng sinh lý đáng kể đều thấp hơn so với lúcthức
Trang 15 Giai đoạn 1: Từ khi kéo dài cho đến khi kết thúc kéo dài khoảng10 phút.
Nhịp thở trở nên chậm, nhịp tim đều, huyết áp giảm, nhiệt độ não giảm, dòngmáu đến não giảm… Sóng điện não chậm, biên độ nhỏ và ít đều đặn hơn mộtchút Người ngủ dễ bị tỉnh và có thể không ngủ lại được
Giai đoạn 2: Kéo dài khoảng 20 phút Người ngủ có thể ý thức một cách
lơ mơ, một vài ý nghĩ rời rạc trôi nổi trong đầu nhưng không thể nhìn thấy bất
cứ vật gì ngay cả khi mắt còn mở Các chức năng cơ thể giảm xuống Sóngđiện não có biên độ lớn hơn, và thỉnh thoảng có sự bùng phát của các sóngnhanh Người ngủ vẫn có thể bị tỉnh giấc bởi các âm thanh
Giai đoạn 3: Người ngủ rất khó tỉnh, phải có âm thanh to hoặc lay thì
mới tỉnh Sóng điện não chậm 1 nhịp trên 1 giây, biên độ lớn (sóng delta) Giaiđoạn này bắt đầu ngủ sâu, xuất hiện sau 30 – 40 phút tính từ khi bạn lơ mơngủ
Giai đoạn 4: Giai đoạn ngủ sâu nhất Sóng não đồ là sóng delta, biên độ
lớn, tần suất chậm, có sóng nhọn Tại thời điểm này người bệnh trải qua tiếntrình quên lãng Nếu người ngủ mộng du hoặc tiểu dầm thì sẽ diễn ra tronggiai đoạn này
Giai đoạn 3 và 4 là giai đoạn ngủ sâu nhất của giấc ngủ Khi bị đánh thức
ở giai đoạn này người ngủ sẽ bị mất phương hướng và những suy nghĩ bị tan
rã Sau khi pha ngủ sâu kết thúc, người ngủ quay lại giai đoạn 2 và rồi đi vàotrạng thái REM Trong giai đoạn này cằm thả lỏng, nhưng mặt cũng như cácngón tay, ngón chân lại xoắn vặn Nam giới có thể cương cứng dương vật, nữgiới có thể bị cương tụ máu âm vật Tuy nhiên, các cơ lớn hoàn toàn bị liệt, vàdường như không thể cử động được thân mình, chân và tay Sóng điện não nhỏ
và không đều đặn với hàng loạt các hoạt động của mắt Trong nhiều trường hợpsóng não đồ giống như lúc thức Các hoạt động cơ thể tăng lên một cách đángkể: huyết áp dao động nhưng có thể tăng đáng kể, mạch tăng không đều, và
Trang 16người ngủ phải đối mặt với những vấn đề về tim mạch và có nguy cơ cao củacơn đau thắt ngực Thở không đều và tăng mức tiêu thụ oxy.
Người ngủ luân phiên giữa giấc ngủ REM và NREM 4 – 6 lần trong 1đêm với mỗi chu kỳ kéo dài trung bình khoảng 90 phút và dao động trongkhoảng 70 – 110 phút Tuy nhiên giấc ngủ sâu chỉ chiếm ưu thế trong 2 chu kỳngủ đầu tiên và nó ít xuất hiện lại trong đêm Chính vì vậy sau 2 chu kỳ ngủđầu tiên, bạn có thể không ngủ sâu lại được nữa, mà phần lớn thời gian chỉ làgiấc ngủ REM
Những kiểu ngủ thì thay đổi trong suốt đời người Ở thời kỳ sơ sinh, giấcngủ REM hiện diện hơn 50% tổng thời gian ngủ và điện não chuyển trực tiếp
từ giai đoạn thức đến giai đoạn REM mà không thông qua những giai đoạn từ
1 đến 4 của giấc ngủ NREM Trẻ mới sinh ngủ 16 giờ một ngày xen lẫn vớinhững giai đoạn thức ngắn Đến 4 tháng tuổi giấc ngủ REM còn thấp hơn 40%
và đi vào giai đoạn đầu tiên của giấc ngủ NREM Ở người trưởng thành sự phân
bố các giai đoạn giấc ngủ như sau:
1.1.3 Ảnh hưởng của giấc ngủ lên chất lượng cuộc sống [18],[27]
Rối loạn giấc ngủ hay chất lượng giấc ngủ “tồi/xấu” sẽ gây ảnh hưởngđến bệnh nhân bệnh thận, tim mạch Tỷ lệ mắc chứng ngưng thở lúc ngủ cómối liên quan mạnh ở những bệnh nhân đột quỵ, và chứng ngưng thở lúc ngủchưa điều trị là một yếu tố nguy cơ của đột quỵ
Trang 171.2 CÁC RỐI LOẠN GIẤC NGỦ
Rối loạn giấc ngủ nguyên phát được định nghĩa là rối loạn giấc ngủchưa xác định được nguyên nhân Rối loạn giấc ngủ nguyên phát điển hình cóchất lượng giấc ngủ kém, rối loạn giấc ngủ nặng hơn theo tuổi khiến họ phảitìm đến sự giúp đỡ y tế Rối loạn giấc ngủ có liên quan đến các nguyên nhânkhác, gọi là rối loạn giấc ngủ thứ phát Vài nguyên nhân thực thể (như bệnh
lý hô hấp, đau, và vận động) và các tình trạng tâm thần (như trầm cảm và rốiloạn lo âu) có thể dẫn đến rối loạn giấc ngủ Ngoài ra, bệnh lý tim mạch, thầnkinh, hô hấp, tiêu hóa, nội tiết, cơ xương khớp hoặc tân sinh cũng như cácbệnh tâm thần khác cũng có thể dẫn đến rối loạn giấc ngủ Những rối loạngiấc ngủ thứ phát sau các bệnh lý mãn tính thường nặng và dai dẳng hơn Cácnghiên cứu gần đây khuyến cáo điều trị cùng lúc cả bệnh nền và rối loạn giấcngủ giúp cải thiện tiên lượng bệnh nhân Một số loại thuốc cũng gây ra rốiloạn giấc ngủ Cuối cùng, rối loạn nhịp sinh học (thường do làm việc theo cahay du lịch) và hội chứng rối loạn giai đoạn giấc ngủ cũng dẫn đến các vấn đề
về giấc ngủ
Hai hệ thống chẩn đoán rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất hiện nay là
ICD-10 và DSM-IV-TR Về cơ bản, hai hệ thống này là giống nhau, chỉ khác nhau
ở vài chi tiết Ở đây chúng tôi trình bày về hệ thống phân loại rối loạn giấcngủ theo DSM-IV-TR của Hiệp Hội Tâm Thần Học Hoa Kỳ [4],[13]
1.2.1 Các rối loạn giấc ngủ nguyên phát (Primary Insomnia): được chia
thành hai nhóm lớn:
1) Loạn miên (Dyssomnias) là chứng loạn ngủ, khó ngủ Gồm: mất ngủ
không thực tổn, ngủ nhiều, ngủ lịm, rối loạn giấc ngủ có liên quan đến
hô hấp, rối loạn nhịp thức ngủ đồng hồ sinh học 24 giờ/ngày đêm
2) Cận miên (Parasomnias) là những hành động bất thường, những rối loạn
xảy ra trong giấc ngủ Gồm: ác mộng, sợ hãi khi ngủ, mộng du
Trang 181.2.1.1 Mất ngủ nguyên phát
Lời than phiền chủ yếu là khó vào giấc ngủ, khó giữ giấc ngủ hoặc cảm
thấy không thoải mái sau khi ngủ dậy, kéo dài ít nhất 1 tháng
Mất ngủ (hoặc mệt mỏi ban ngày do mất ngủ) là nguyên nhân gây ra các
triệu chứng khó chịu rõ rệt, ảnh hưởng xấu đến các chức năng xã hội,nghề nghiệp hoặc các chức năng quan trọng khác
Mất ngủ không xuất hiện trong phạm vi của bệnh ngủ ngáy, mất ngủ do
hô hấp, rối loạn nhịp thức ngủ hàng ngày hoặc rối loạn cận giấc ngủ
Mất ngủ không phải là một triệu chứng của các bệnh tâm thần (trầm cảm,
lo âu lan tỏa, sảng)
Mất ngủ không phải do dược chất (ma túy, thuốc) hoặc một bệnh thực
tổn
1.2.1.2 Ngủ nhiều
Luôn than phiền ngủ quá nhiều trong vòng 1 tháng (ít hơn nếu tái phát)
với những giấc ngủ kéo dài hoặc có nhiều giấc ngủ ngày diễn ra hầu nhưhàng ngày
Ngủ quá nhiều là nguyên nhân ảnh hưởng đến các chức năng xã hội, nghề
nghiệp và các chức năng quan trọng khác
Ngủ nhiều không phải là hậu quả của mất ngủ và không phải là một rối
loạn giấc ngủ khác (ngủ lịm, rối loạn giấc ngủ do hô hấp, rối loạn nhịpthức ngủ hoặc rối loạn cận giấc ngủ)
Ngủ nhiều không phải do một bệnh tâm thần khác gây ra
Ngủ nhiều không phải do dược chất (thuốc hoặc ma túy) hoặc một bệnh
cơ thể gây ra
1.2.1.3 Rối loạn nhịp thức ngủ
Trang 19Rối loạn bền vững và tái diễn đối với giấc ngủ dẫn đến ngủ quá nhiềuhoặc mất ngủ, nguyên nhân là do rối loạn nhịp thức ngủ của người bệnh đối vớimôi trường bên ngoài.
1.2.1.4 Ngủ lịm
1.2.1.5 Chứng miên hành
1.2.1.6 Hoảng sợ khi ngủ
1.2.1.7 Ác mộng
1.2.2 Các rối loạn giấc ngủ thứ phát
1.2.2.1 Rối loạn giấc ngủ liên quan đến hô hấp:
Rối loạn hô hấp có thể dẫn đến ngủ ít, ngủ nhiều hoặc ngủ ngáy do rốiloạn thông khí xảy ra trong ngủ Ngủ nhiều là than phiền phổ biến trong rốiloạn giấc ngủ liên quan đến hô hấp Ngủ nhiều biểu hiện rõ ràng hơn trong cáctình huống thư giãn như đọc báo, xem tivi, mít tinh, xem phim, xem hát hoặcnghe hòa nhạc Bệnh nhân có thể rơi vào giấc ngủ cả khi đang hoạt động, đang
ăn, lái xe, hoặc đang đi Mất ngủ ít phổ biến hơn, bệnh nhân hay thức giấc,không thấy thoải mái sau giấc ngủ Một số người than phiền là khó thở khi nằmhoặc khi ngủ
Ngủ ngáy là phổ biến trong rối loạn giấc ngủ liên quan đến hô hấp, chúngđược đặc trưng bởi sự lặp lại tiếng ngáy trong giấc ngủ Ngáy là một đặc trưng
ở người lớn có rối loạn cấu trúc đường hô hấp, thể tạng béo Rối loạn giấc ngủliên quan đến hô hấp có khởi phát từ từ, tiến triển vững chắc và mãn tính, dẫnđến chết sớm vì các bệnh tim mạch và hô hấp
Hội chứng ngưng thở trong giấc ngủ: Trong lúc ngủ, bệnh nhân ngưngthở vài phút, hiện tượng này lặp lại khoảng 5 lần trong 1 giờ Trước lúc ngưngthở, bệnh nhân ngáy lớn lên rồi ngưng thở, lặp đi lặp lại, sau đó là giấc ngủ rấtngắn thường bệnh nhân không nhận biết được, tiếp theo bệnh nhân thở lại mộtcách rất ồn ào Người ta nhận thấy trên những trường hợp này có biểu hiện đi
Trang 20tiểu nhiều trong đêm, hay có ác mộng, đau đầu Trong ngày ngủ gà ngủ gật,hay mệt mỏi, mất tập trung, quên, lo lắng…Bệnh thường gặp ở những ngườinam giới trên 50 tuổi, dư trọng lượng Nguyên nhân:
Béo phì
Bệnh tai mũi họng như phì đại tuyến Amigdal, màn hầu giãn
Yếu tố làm bệnh nặng thêm là rượu, thuốc nhóm Benzodiazepine.1.2.2.2 Hội chứng chân không nghỉ
Những cử động chu kỳ của tứ chi: xảy ra trong đêm vào lúc sắp thứcgiấc, biểu hiện bằng các cử động trong vài giây xuất hiện theo chu kỳ cứ 30giây 1 lần, chủ yếu xuất hiện ở chi dưới, luôn luôn phối hợp với cử động duỗingón và gấp mu bàn chân, đôi khi phối hợp với gấp gối Người bệnh than phiềnkhông cảm thấy hồi phục sau khi thức dậy, mất ngủ ban đêm và cảm thấy mỏi
2 chi dưới Những cử động này gia tăng theo tuổi và có thể kèm theo cơn ngủ
rũ, hội chứng ngưng thở trong giấc ngủ Thường hay xuất hiện ở những bệnhnhân dùng thuốc chống trầm cảm
Hội chứng chân không nghỉ: Xuất hiện buổi tối nhất là khi nằm ngủ Đó
là những dị cảm khó chịu như cảm giác kiến bò, bỏng rát 2 chi dưới Nhữngcảm giác này sẽ giảm bớt khi có những cử động, điều này dẫn đến khó đi vàogiai đoạn ru giấc ngủ Thường xuất hiện vào khoảng tuổi 30, tiến triển thấtthường, cần chú ý rằng rối loạn này thường xuất hiện vào 3 tháng cuối của thai
kỳ trên những bệnh nhân điều trị thuốc chống trầm cảm
1.2.2.3 Mất ngủ thứ phát do bệnh tâm thần gây ra: tất cả những rối loạntâm thần đều có thể đưa đến mất ngủ, từ 30 đến 60% trường hợp mất ngủ cónguyên nhân từ các rối loạn tâm thần
Rối loạn trầm cảm thường đưa đến mất ngủ vào sáng sớm, nghĩa là dậyvào lúc 3-4 giờ sáng
Trang 21 Rối loạn lo âu thường đưa đến tình trạng khó đi vào giai đoạn ru giấcngủ.
Mất ngủ hoàn toàn do cơn hưng cảm, trạng thái hoang tưởng, những trạngthái lú lẫn Những trạng thái này làm rối loạn chu kỳ thức-ngủ và thườngđưa đến tình trạng kích động ban đêm
Mất ngủ mạn tính: Những trường hợp rối loạn nhân cách, nghiện ngậpthường dẫn đến tình trạng mất ngủ mạn tính
Các bệnh đường tiêu hóa: như loét dạ dày tá tràng
Các bệnh tiết niệu: như u tiền liệt tuyến, tiểu gắt tiểu buốt v.v
Các bệnh nội tiết như tiểu đường, cường giáp v.v
Các bệnh tim mạch, hô hấp: như viêm phế quản, hen suyễn v v
Các bệnh thần kinh: bệnh Parkinson, Alzheimer, tai biến mạch máu nãov.v
1.2.2.5 Nguyên nhân do thuốc và những chất kích thích:
Lạm dụng những chất kích thích như café, thuốc lá, amphetamine,cocaine v.v
Lạm dụng rượu rượu gây ra tình trạng dễ vào trạng thái ru ngủ nhưng sẽgiảm thời gian ngủ sâu và giai đoạn giấc ngủ nghịch thường, thức dậysớm và không hồi phục sau khi thức dậy
Một số thuốc như: Theophylline, Corticoide, thuốc chống trầm cảm tácdụng kích thích, các thuốc ngủ dùng trong thời gian dài
Trang 221.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ GIẤC NGỦ
1.3.1 Các phương pháp lượng giá khách quan
1.3.1.1 Biểu đồ đa ký giấc ngủ (Polysomnography – PSG):được xem là
tiêu chuẩn vàng để đánh giá chất lượng giấc ngủ [1],[17],[45]
Đa ký giấc ngủ là một xét nghiệm chuyên sâu về giấc ngủ, có các kênh
để đo điện não đồ, nhãn cầu đồ, điện cơ, điện tim, lưu lượng dòng khí qua mũimiệng, vận động cơ ngực, bụng, nồng độ oxy bão hòa trong máu, tiếng ngáy,xác định vị trí tư thế cơ thể, đo cử động chân, có video để theo dõi diễn biếntrong đêm Nhờ vậy, đa ký giấc ngủ cung cấp được đầy đủ các thông tin vềgiấc ngủ cũng như các rối loạn khác xảy ra trong giấc ngủ như rối loạn hô hấp,ngừng thở khi ngủ, rối loạn nhịp tim, các bất thường về vận động và hành vi…
Người bệnh ngủ lại một đêm tại đơn vị chẩn đoán và điều trị rối loạn giấcngủ của bệnh viện, được gắn điện não, điện tim và điện cơ và theo dõi tình trạngtưới máu não khi ngủ… Kĩ thuật viên đặt điện cực và các thiết bị cho bệnhnhân, khởi động và kiểm tra máy xong sẽ bắt đầu ghi và ghi liên tục cả đêm.Thời gian ghi đa ký giấc ngủ thường kéo dài từ 21 giờ tới 6 giờ sáng hôm sau.Giai đoạn chuẩn bị mất khoảng 60 phút Người bệnh sẽ được theo dõi trongđêm:
Điện não, điện cơ, điện tim
Độ bão hòa oxy của mạch ngoại biên
Chuyển động của bụng và ngực
Năm giai đoạn của giấc ngủ 1,2,3,4 và REM
Phát hiện các bất thường như ngưng thở, mộng du, động kinh…
Trang 23Hình 1.1: Phương pháp đo đa ký giấc ngủ [1]
1.3.1.2 Đo lường thời gian cần để đi vào giấc ngủ (multiple sleep latency
test – MSLT) [1],[17]
Là một test dùng để đo thời gian trôi qua từ khi bắt đầu cơn chợp mắt(giấc ngủ ngắn, cơn ngủ thiếp, nhất là ban ngày) cho đến khi có các dấu hiệuđầu tiên của giấc ngủ Người ngủ càng nhiều thì thời gian ngủ thiếp đi càngnhanh Trong MSLT thường được đo làm nhiều đợt ban ngày theo sau khảosát giấc ngủ suốt đêm, mất khoảng 7 tiếng ban ngày
1.3.1.3 Các xét nghiệm tìm nguyên nhân mất ngủ [1]: xét nghiệm máu,
nước bọt…tìm kiếm các nguyên nhân gây mất ngủ, từ đó điều trị theonguyên nhân mới đạt được hiệu quả tốt
Các phương pháp này được xem là tiêu chuẩn vàng hiện nay để đánh giáchất lượng giấc ngủ Tuy nhiên, để thực hiện hai phương pháp này rất đắt tiền,
kỹ thuật tiên tiến không sẵn có cũng như tiêu tốn nhiều thời gian Thêm nữa,
để đánh giá chất lượng giấc ngủ thông thường hay một giấc ngủ tự nhiên trongcộng đồng bằng những cách này rất khó khăn và có vẻ không khả thi, nhất làkhi sử dụng cho một dân số nghiên cứu lớn, hoặc dùng tầm soát trong những
Trang 24dân số thường chưa phát hiện bệnh Dùng thang đo là một phương pháp nhanhchóng và ít tốn kém hơn Nhiều bảng câu hỏi tự trả lời tiến cứu và hồi cứu haycòn gọi là thang đo chất lượng giấc ngủ đã ra đời trong bối cảnh đó.
1.3.2 Thang đo Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) [6],[5],[16]
PSQI là một bảng câu hỏi ngắn gọn và đầy đủ để đánh giá chất lượnggiấc ngủ; bao gồm 7 thành phần cấu thành 3 yếu tố; được thiết kế để ngườitham gia nghiên cứu có thể tự trả lời và nó sẽ đánh giá chất lượng giấc ngủcủa đối tượng trong thời gian một tháng gần nhất [16] Không chỉ các nướcnói tiếng Anh, có rất nhiều phiên bản PSQI đã được dịch và dùng ở nhiều quốcgia trên thế giới như Nigeria, Bồ Đào Nha, Ý, Ba Tư, Do Thái, Hàn Quốc,Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỹ, Iran, Nhật Bản, các nước Nam Mỹ, v.v….[12],[15],[19],[21],[48],[51],[56]
Qua lượng giá cho thấy nó có tính giá trị và tin cậy lặp lại cao ở nhữngđối tượng mất ngủ Khi chọn lựa điểm cắt để xác định kết quả một người cóchất lượng giấc ngủ xấu hay tốt, các nghiên cứu chưa có sự thống nhất khichọn điểm cắt dao động từ 5 đến 8.5 điểm Tuy nhiên, các nghiên cứu cókhuynh hướng chọn điểm 5 theo phiên bản gốc của tác giả Buyse năm 1989[16]
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng giấc ngủ sử dụngthang đo PSQI trên dân số Việt Nam Khoa Y Tế Công Cộng, Đại Học YDược TPHCM đã thực hiện dự án “Lượng giá tính tin cậy và giá trị của thang
đo PSQI phiên bản tiếng Việt dùng trên bệnh nhân Việt Nam” gồm 2 giaiđoạn Giai đoạn 1 “Lượng giá quy trình chuyển dịch ngôn ngữ thang đo PSQIAnh – Việt” gồm 3 bước: chuyển dịch xuôi, chuyển dịch ngược, và kiểm tratrên người bệnh Kết quả đã cho ra đời thang đo Chất lượng giấc ngủPittsburgh Sleep Quality Index phiên bản tiếng Việt [6] Quá trình được đăng
Trang 25ký chính thức với MAPI-TRUST là cơ quan quản lý thang đo PSQI gốc tạiPháp Giai đoạn 2 “Nghiên cứu lượng giá trên bệnh nhân rối loạn giấc ngủ”cho thấy thang đo PSQI phiên bản tiếng Việt có tính tin cậy cao, độ phù hợptốt Khi dùng để đánh giá chất lượng giấc ngủ song song với chuẩn vàng theotiêu chuẩn DSM-IV trên những bệnh nhân được khám và xét nghiệm cận lâmsàng đo đa ký giấc ngủ, thang đo PSQI cho kết quả độ nhạy, độ đặc hiệu và tỉ
số dương tính khả dĩ đáng tin cậy [5]
Điểm của toàn thang đo PSQI là tổng điểm của 7 thành phần (tối thiểu 0điểm, tối đa 3 điểm) được gọi là điểm tổng quát PSQI sẽ dao động từ 0 đến 21điểm Kết quả điểm tổng quát PSQI > 5 gợi ý đối tượng có chất lượng giấc ngủ
“xấu”, ngược lại điểm tổng quát PSQI ≤ 5 gợi ý chất lượng giấc ngủ “tốt”
1.4 RỐI LOẠN GIẤC NGỦ TUỔI MÃN KINH
1.5.1 Giấc ngủ ở tuổi trung niên và giai đoạn mãn kinh [44]
Mặc dù những vấn đề về giấc ngủ phổ biến ở cả hai giới và ở mọi độtuổi, nhưng phụ nữ dễ bị ảnh hưởng hơn nam giới [34] Mất ngủ thường gặp ở
nữ giới hơn nam giới 25% phụ nữ trong độ tuổi 50-64 có rối loạn giấc ngủ.Tuổi cao làm giảm chất lượng giấc ngủ và cả thời gian ngủ, do sự mất đi và phìđại các nơron thần kinh, thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh và giảm tuầnhoàn máu não Thụ thể của các hormone, đặc biệt là thụ thể của estrogen, đãđược tìm thấy trong vùng não chịu trách nhiệm điều hòa giấc ngủ và có thể ảnhhưởng lên giấc ngủ thông qua các chất dẫn truyền thần kinh Mãn kinh đượcxem như yếu tố báo trước các vấn đề giấc ngủ Tuy nhiên, tần số các rối loạngiấc ngủ đã gia tăng từ khi người phụ nữ bước vào tuổi trung niên Các nghiêncứu chuyên sâu hơn đã chứng minh một cách khách quan rằng những vấn đề
về rối loạn giấc ngủ là có thật, không chỉ là những than phiền chủ quan, vàkhông chỉ là sự suy giảm thời gian và chất lượng giấc ngủ do các triệu chứngmãn kinh
Trang 26Những than phiền về rối loạn giấc ngủ xảy ra ở thời kỳ quanh mãn kinhbao gồm khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ, và thức dậy quá sớm vàobuổi sáng Thời gian ngủ ban đêm ít hơn 7 giờ làm tăng tỉ lệ bệnh tim mạch,béo phì, đái tháo đường, bệnh tâm thần, và tử vong.
Rối loạn giấc ngủ thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh hơn phụ nữ trướcmãn kinh, và nặng nề hơn ở những phụ nữ mãn kinh do phẫu thuật
Trên thực tế lâm sàng cho thấy tần số các vấn đề giấc ngủ tăng trong giaiđoạn mãn kinh Nguyên nhân của những rối loạn giấc ngủ này rất phức tạp, cáctriệu chứng của tình trạng mãn kinh bản thân nó cũng là một lý do Trong mộtnghiên cứu lớn tại Pháp trên các phụ nữ 50 đến 64 tuổi, có 25% có các vấn đề
về giấc ngủ và 15% có rối loạn nặng [32]
Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của mãn kinh lên giấc ngủ.Mặc dù có các định nghĩa về giai đoạn quanh mãn kinh khác nhau giữa cácnghiên cứu, các bằng chứng vẫn cho thấy rõ ràng tần số các rối loạn giấc ngủtăng trong thời kỳ này Ngoài ra, triệu chứng tâm thần cũng tăng trong giai đoạnnày và liên quan đến tình trạng rối loạn giấc ngủ Tuy mãn kinh rõ ràng làmgiảm chất lượng giấc ngủ, nguyên nhân của tình trạng này vẫn chưa được xácđịnh rõ ràng và chịu tác động của nhiều yếu tố phức tạp
Bản thân các triệu chứng mãn kinh có vai trò quan trọng ảnh hưởng lêngiấc ngủ Những phụ nữ có triệu chứng vận mạch thường bị hồi hộp đổ mồ hôisau khi ngủ, gây thức dậy Thậm chí những phụ nữ có triệu chứng vận mạchkhông gặp các vấn đề về giấc ngủ trước đó, cũng thường xuyên thức dậy trongtình trạng đẫm mồ hôi, hoặc thức dậy quá sớm vào buổi sáng và không thể ngủlại Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh sự liên quan giữa rối loạn giấc ngủ vàcác triệu chứng mãn kinh Ở dự án nghiên cứu Study of Women’s Health
Across the Nation (SWAN), tỉ lệ rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ có triệu chứng mãn
kinh là 2.0 [29] Ở nghiên cứu nhỏ của dự án nghiên cứu SWAN, tỉ lệ gặp các
Trang 27rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ có triệu chứng vận mạch trung bình/nặng so vớinhóm không có triệu chứng lần lượt là: khó vào giấc ngủ 1.9/5.3, ngủ chập chờn1.7/4.9, thức dậy quá sớm vào buổi sáng 1.7/3.9 [28]
Ở các nghiên cứu trên, cả chất lượng giấc ngủ và các triệu chứng mãnkinh đều được đánh giá bằng các biện pháp chủ quan Các phương pháp đánhgiá khách quan gồm biểu đồ đa ký giấc ngủ (PSG) và điện não đồ đánh giá chấtlượng giấc ngủ Triệu chứng vận mạch được đánh giá bằng các phương phápchủ quan, nên có sự khác nhau giữa các nghiên cứu [35],[41] Những phụ nữ
có triệu chứng vận mạch cần nhiều thời gian trên giường và thời gian cho giaiđoạn REM hơn [47] Ở một nghiên cứu khác, triệu chứng vận mạch dẫn đếnthức dậy vào ban đêm [20]
1.5.2 Sinh bệnh học [43]
1.5.2.1 Progesterone
Khi được cho qua đường tĩnh mạch, progesterone hoạt động như mộtđồng vận Gamma-Amino Butyric acid (GABA), có tác dụng an thần.Progesterone làm giảm lo âu, dù cơ chế chưa được biết rõ Ở chu kỳ kinh nguyệtbình thường, progesterone đạt đỉnh vào giữa pha hoàng thể sau đó giảm nhanhtrước hành kinh, liên quan với sự khó ngủ vào thời kỳ này
Ảnh hưởng thứ hai của progesterone là trên hô hấp Progesterone là mộtchất kích thích hô hấp và được dùng trong điều trị ngưng thở tắc nghẽn lúc ngủnhẹ Trong thai kỳ, hội chứng ngưng thở tắc nghẽn lúc ngủ ít xảy ra nhờ vàonồng độ progesterone cao Tương tự, trước mãn kinh, nồng độ progesteronecao hơn, do đó hội chứng ngưng thở lúc ngủ ít hơn
1.5.2.2 Estrogen
Ảnh hưởng của estrogen lên giấc ngủ phức tạp hơn nhiều so vớiprogesterone Ở động vật, estrogen làm giảm giấc ngủ REM, nhưng ở người nólại làm tăng REM Estrogen có vai trò trong việc tổng hợp norepinephrine,
Trang 28serotonine và acetylcholine Estrogen được cho là giảm việc ngủ trễ, giảm sốlần thức giấc và tăng tổng thời gian ngủ Trong pha hoàng thể, nồng độ estrogenthấp đi kèm với số lần thức giấc tăng gấp đôi, đặc biệt khi cả estrogen vàprogesterone đều thấp.
Sử dụng Estrogen thay thế làm tăng cả sóng não chậm và giấc ngủ REM,làm tăng chất lượng giấc ngủ
Estrogen cũng có vai trò trong quá trình điều hòa nhiệt của cơ thể Mộtảnh hưởng rõ ràng của tình trạng thiếu estrogen là cơn bốc hỏa – đặc trưng bởigia tăng nhiệt độ ở cả ngoại vi và trung tâm Cơn bốc hỏa cũng đặc trưng bởi
sự bùng nổ catecholamines và LH Rõ ràng, cơn bốc hỏa làm tăng số lần thứcgiấc
Ở động vật có vú, estrogen là hormone điều nhiệt, làm nhiệt độ cơ thểthấp nhất về đêm Đây là một trong những lý do phụ nữ thường ngủ sâu hơntrong pha noãn
1.5.2.3 Cortisol
Ngoài những ảnh hưởng trực tiếp, estrogen còn ảnh hưởng gián tiếp lêngiấc ngủ thông qua cortisol Vào tuổi mãn kinh, đỉnh cortisol xuất hiện tronggiấc ngủ thay vì vào buổi sáng Phụ nữ mãn kinh cũng chịu đựng những đợttăng cortisol trong lúc ngủ gây ra căng thẳng nhẹ Estrogen điều hòa đỉnhcortisol xảy ra vào buổi sáng và vì vậy đảm bảo một giấc ngủ ổn định suốt đêm.1.5.2.4 Melatonin
Melatonin là hormone sinh dục ở động vật với tập quán sinh sản theomùa, có chức năng kiểm soát động dục Ở liều rất cao, melatonin có thể sử dụngnhư thuốc tránh thai Ở đàn ông, melatonine làm thoái hóa mô tinh hoàn.Melatonin có vai trò trong sản xuất LH, thiếu melatonin làm rối loạn sự tiết LH,gây ảnh hưởng đến thụ tinh Tương tác giữa melatonin với estrogen rất phức
Trang 29tạp Melatonin điều khiển các hormone sinh dục, và estrogen có tác dụng hỗ trợcác thụ thể tiếp nhận melatonin.
Ở người, melatonin do tuyến tùng tiết ra, chức năng chủ yếu là điều hòagiấc ngủ Melatonine gây buồn ngủ và duy trì giấc ngủ, khóa các cơ chế gâythức giấc Sự tiết melatonin giảm theo tuổi Trước khi mãn kinh, nồng độmelatonin giảm theo tuổi, nhưng ngay sau mãn kinh, nồng độ melatonin tăngtrở lại trong vài năm Nguyên nhân có thể do thiếu estrogen kích thích sản xuấtmelatonin, hoặc tuyến tùng và tuyến yên thoát khỏi sự kiểm soát của chu kỳbuồng trứng Về già, nồng độ melatonin tiếp tục giảm thấp đi kèm với tình trạngkhó ngủ
1.5.2.5 Testosterone
Mối liên quan giữa testosterone với giấc ngủ ít được nghiên cứu hơn cáchormone khác Ở động vật, testosterone làm giảm giấc ngủ REM Ở người,ngoài việc làm nặng hơn tình trạng ngưng thở tắc nghẽn lúc ngủ, testosteronedường như ít ảnh hưởng giấc ngủ
1.5.3 Yếu tố nguy cơ [50]
Thay đổi nội tiết tố: các nội tiết tố đóng vai trò trong sinh lý giấc ngủ bao
gồm growth hormone, prolactin, cortisol và melatonin
Triệu chứng vận mạch: đổ mồ hôi, hồi hộp đánh trống ngực
Bệnh lý tâm thần: trầm cảm, rối loạn lo âu
Rối loạn nhịp sinh học
Các tình trạng đi kèm: ngáy, tắc nghẽn đường thông khí, hội chứng chân
không yên, bệnh rối loạn vận động chi theo chu kỳ, đau cơ xương, và hộichứng đau xơ cơ
Mất ngủ nguyên phát
Yếu tố nguy cơ của mất ngủ nguyên phát
Trang 30 Lối sống: vệ sinh giấc ngủ kém, sinh hoạt không điều độ, cà phê, rượu,
là những công cụ hữu hiệu
Các bảng câu hỏi tự trả lời có thể cung cấp những thông tin và chất lượnggiấc ngủ Tuy nhiên, sự khác biệt giữa cách đánh giá chủ quan và khách quanđưa đến vai trò của các cận lâm sàng
Phương pháp đánh giá khách quan các rối loạn giấc ngủ: Nhật ký giấcngủ: để đánh giá các vấn đề liên quan đến vệ sinh giấc ngủ, thời gian ngủ vànhịp sinh học
Các xét nghiệm chuyên sâu:
o Đa ký giấc ngủ (PSG): đánh giá các rối loạn hô hấp, chứng buồn ngủkịch phát, vận động và rối loạn nhịp sinh học
o Băng đeo tay: đánh giá kiểu thức ngủ trong những đêm liên tiếp, cungcấp thông tin về vài rối loạn giấc ngủ, bao gồm cả rối loạn làm việctheo ca Phương pháp này cũng có thể được sử dụng để đánh giá điềutrị
o Đo điện não đồ liên tục đánh giá các giai đoạn giấc ngủ
o Giám sát hô hấp và đo điện cơ chân đánh giá bệnh lý hô hấp và rốiloạn vận động chân theo chu kỳ
o Kiểm tra giấc ngủ ngắn ban ngày (MSLT) đánh giá thời gian đi vàogiấc ngủ
Trang 311.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ TRÊN
THẾ GIỚI
Các rối loạn giấc ngủ đã được các trung tâm nghiên cứu trên thế giớiđánh giá trên mọi độ tuổi, giới tính, chủng tộc, và những đối tượng với các đặcđiểm riêng biệt như mãn kinh, trầm cảm,…[23],[28],[34],[35],[44] Các phươngthức được sử dụng để đánh giá rối loạn rất đa dạng: từ các bảng câu hỏi PSQI,ISQ, ESS, SDQ, SQS…[16],[25],[37],[46] nhằm tầm soát rộng rãi trong cộngđồng, đến các phương tiện đánh giá khách quan nhưng đòi hỏi công sức và thờigian như PSG, MSLT,…[1],[17],[45], vốn chỉ thực hiện được ở các đơn vịchuyên biệt
Kết quả một vài nghiên cứu với cỡ mẫu lớn trên đối tượng phụ nữ có độtuổi gần tương đồng:
Nghiên cứu về giấc ngủ phụ nữ tuổi mãn kinh thuộc dự án SWAN [28]cho biết: phụ nữ bước vào giai đoạn quanh mãn kinh gia tăng tỉ lệ khó đi vàogiấc ngủ và khó duy trì giấc ngủ, tuy nhiên lại giảm tỉ lệ thức dậy quá sớm khi
đã mãn kinh Nghiên cứu này xác định giai đoạn mãn kinh dựa vào triệu chứng,tình trạng kinh nguyệt, và nồng độ hormone Việc sử dụng thuốc nội tiết làmgiảm tỉ lệ rối loạn giấc ngủ ở cả phụ nữ mãn kinh tự nhiên và mãn kinh do phẫuthuật Triệu chứng vận mạch là yếu tố nguy cơ của cả ba loại rối loạn giấc ngủ.Nồng độ Estradiol thấp tăng nguy cơ khó đi vào giấc ngủ và khó duy trì giấcngủ, trong khi nồng độ FSH cao làm người phụ nữ khó duy trì giấc ngủ Sựkhác biệt về chủng tộc ảnh hưởng lên rối loạn khó duy trì giấc ngủ và thức dậyquá sớm
Nghiên cứu của tác giả Ko-En Huang, thực hiện trên 1000 phụ nữ ở 5quốc gia châu Á [24] ghi nhận trong số các phụ nữ đã mãn kinh, 42% có lý dođến khám chính là do rối loạn giấc ngủ
Trang 32 Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Simin gồm 700 phụ nữ từ 50 đến 60tuổi đã mãn kinh ít nhất một năm [53] Nghiên cứu cũng sử dụng thang điểmPSQI Tỉ lệ rối loạn giấc ngủ trong nghiên cứu là 62.5% Các yếu tố có liênquan đến tỉ lệ rối loạn giấc ngủ là nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tình trạng tàichính, và nghề nghiệp của chồng.
Nghiên cứu ở Trung Quốc của tác giả Zhang, JP [57] với cỡ mẫu
2429 phụ nữ có tỉ lệ rối loạn giấc ngủ là 55% ở các phụ nữ trong giai đoạnquanh mãn kinh
Trong các nghiên cứu trên, các yếu tố nguy cơ được quan tâm thường làtuổi, các đặc điểm xã hội (nơi sống, trình độ văn hóa, nghề nghiệp), các đặcđiểm thể chất (các bệnh mãn tính như tim mạch, nội tiết,…các thói quen nhưhút thuốc lá, uống cà phê, trà,…), tình trạng mãn kinh, triệu chứng vận mạch.[55]
Kết quả một số nghiên cứu khác trên thế giới: Một nghiên cứu 1000 phụ
nữ tại Pháp, sau khi hiệu chỉnh theo tuổi, tỉ lệ rối loạn giấc ngủ ở phụ nữ saumãn kinh gấp 1.5 lần phụ nữ trước mãn kinh [31] Nghiên cứu trên 1200 phụ
nữ ở Anh, nguy cơ gặp các vấn đề về giấc ngủ ở phụ nữ quanh mãn kinh gấp1.5 lần so với trước mãn kinh, nguy cơ này thậm chí còn cao hơn, gấp 3.4 lần
ở phụ nữ sau mãn kinh [30] Dự án nghiên cứu SWAN của Mỹ trên 12600 phụ
nữ, tỉ lệ rối loạn giấc ngủ (tương đối so với phụ nữ trước mãn kinh) ở phụ nữ
đã mãn kinh tự nhiên là 1.2, ở phụ nữ mãn kinh do phẫu thuật là 1.6, và ở phụ
nữ quanh mãn kinh là 1.3 [29]
Trang 33CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Dân số mục tiêu
Phụ nữ từ 50 đến 55 tuổi
2.2.2 Dân số nghiên cứu
Phụ nữ từ 50 đến 55 tuổi đến khám tại phòng khám phụ khoa Bệnh việnHùng Vương
2.2.3 Dân số chọn mẫu
Phụ nữ từ 50 đến 55 tuổi đến khám tại phòng khám phụ khoa Bệnh việnHùng Vương từ tháng 10/2016 đến 04/2017
2.2.4 Tiêu chuẩn chọn mẫu:
2.2.4.1 Tiêu chuẩn nhận vào: những phụ nữ đến khám tại phòng khám phụ khoa
Bệnh viện Hùng Vương từ 10/2016 đến 04/2017 thỏa mãn các điều kiện:
50 đến 55 tuổi
Còn tử cung và 2 buồng trứng
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.4.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Dùng bất kỳ thuốc nội tiết sinh dục nào trong vòng 6 tháng
Có các bệnh lý nội ngoại khoa nặng gây ảnh hưởng đến giấc ngủ
Có tiền sử bệnh tâm thần
Mắc các bệnh lý tâm thần, thực thể nặng hoặc để lại di chứng cản
trở việc thực hiện phỏng vấn
Không nói hay đọc hiểu tiếng Việt
Không đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 34 D: là mức sai lầm loại I khi sử dụng Z D = 0,05
P: tỉ lệ rối loạn giấc ngủ= 0,625 [53]
Vậy số mẫu tối thiểu cần lấy là 361 trường hợp.
2.4 SƠ ĐỒ THU THẬP SỐ LIỆU
Các bệnh nhân đến khám phụ khoa
Sàng lọc những bệnh nhân nằm trong độ tuổi 50-55 tuổi
Thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
Không có tiêu chuẩn loại trừ
Mời tham gia nghiên cứu và ký vào bản đồng thuận
Tiến hành phỏng vấn và thu thập số liệu dựa trên bảng câu hỏi
Trang 352.5 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
Chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản Mỗi tháng
có khoảng 10000 lượt bệnh nhân đến khám tại phòng khám bệnh viện HùngVương, tất cả đều là nữ Trong đó có khoảng 500 bệnh nhân trong độ tuổi 50-
55, được chia đều vào 11 phòng khám phụ khoa Chúng tôi tiến hành mời phỏngvấn tất cả đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu tại 2 phòng khám bất kỳ Mỗingày, bốc thăm chọn 2 phòng khám bất kỳ và tiến hành phỏng vấn Quá trìnhphỏng vấn được tiến hành cho đến khi đủ cỡ mẫu
2.6 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.6.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ 10/2016 đến 04/2017 Chúng tôi tiến hànhmời đối tượng phỏng vấn từ 10/2016 đến khi đủ cỡ mẫu cần thiết hoặc 04/2017
2.6.2 Địa điểm nghiên cứu
Phòng khám Phụ khoa, khoa Khám bệnh A, bệnh viện phụ sản HùngVương, TPHCM
2.6.3 Bảng thu thập số liệu
Chúng tôi tự soạn thảo bản thu thập số liệu dựa trên phiên bản tiếng Việtcủa thang điểm PSQI do khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TPHCM dịch
và lượng giá tính giá trị [6]
Sau khi soạn thảo bảng thu thập số liệu, tác giả sẽ thử thu thập khoảng
20 trường hợp để kiểm tra tính phù hợp của bảng thu thập Sau đó, tác giả sẽđiều chỉnh lại bảng thu thập cho phù hợp
2.6.4 Cách tiến hành: Tác giả tiến hành thu thập số liệu trong thời gian
10/2016 – 02/2017 qua các bước được mô tả sau đây:
Bước 1 - sàng lọc đối tượng: trong những phụ nữ đến khám tại phòngkhám Phụ khoa, khoa Khám bệnh A, bệnh viện Hùng Vương, chúng tôi lựachọn những phụ nữ có tuổi từ 50-55 tuổi một cách ngẫu nhiên qua bốc thăm ở
Trang 3611 phòng khám Chúng tôi kiểm tra đối tượng có đủ các tiêu chuẩn nhận vào
và không có bất kỳ tiêu chuẩn loại trừ nào bằng các thông tin trên sổ khám bệnh
và hỏi bệnh sử
Bước 2 – thu nhận đối tượng: những phụ nữ đủ tiêu chuẩn sẽ được giảithích về nghiên cứu và mời tham gia nghiên cứu Nếu đối tượng đồng ý thamgia nghiên cứu sẽ được mời sang khu vực phỏng vấn và ký vào bản đồng thuậntham gia nghiên cứu Nếu đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu vẫnđược khám chữa bệnh đúng theo quy trình của bệnh viện
Bước 3 – thu thập số liệu: tiến hành phỏng vấn đối tượng theo bảng câuhỏi Phỏng vấn được tiến hành ở khu vực riêng trong thời gian khoảng 10 phút.Đối tượng có thể dừng cuộc phỏng vấn bất kỳ lúc nào
2.7 CÁC PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
2.7.1 Nhóm nghiên cứu
Nhân lực: nghiên cứu được thực hiện bởi nghiên cứu viên chính và 2
cộng tác viên
Cộng tác viên: gồm 2 nữ hộ sinh phòng khám Phụ khoa, khoa Khám
bệnh A cùng tham gia nghiên cứu 2 cộng tác viên giúp nghiên cứu viênsàng lọc trong các đối tượng đến khám, tìm các đối tượng có độ tuổi từ50-55 tuổi
Kinh phí của nghiên cứu: bao gồm kinh phí in các bảng thu thập số liệu,
in tài liệu tham khảo trong lúc thực hiện nghiên cứu
2.7.2 Vai trò của nghiên cứu viên chính
Xây dựng thiết kế nghiên cứu, tìm tài liệu để dùng trong nghiên cứu
Thiết kế bảng câu hỏi dùng trong nghiên cứu
Mời và tập huấn các cộng sự cùng tham gia nghiên cứu
Tư vấn cho đối tượng về mục tiêu, lợi ích của nghiên cứu, mời và thu
nhận khi đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu
Trang 37 Trực tiếp phỏng vấn đối tượng.
Ghi nhận các thông tin phục vụ mục tiêu nghiên cứu vào bảng thu thập
Danh định 0 Nội trợ - nghỉ hưu
1 Công nhân – laođộng phổ thông
2 Công việc vănphòng
Trang 38Tên biến số
Loại biến
Căngthẳng tâmlý
Nhị giá 0 Không
1 Có
Phỏng vấn
Bệnh nộikhoa
Nhị giá 0 Không
1 Có
Phỏng vấn
Tiền sửphẫu thuật
Nhị giá 0 Không
1 Có
Phỏng vấn
Tình trạngmãn kinh
Liên tục Đơn vị: điểm Dựa vào bảng câu hỏi
PSQI
Trang 39Tên biến số
Loại biến
Kiểu rốiloạn giấcngủ
Danh định 1 Khó vào giấc ngủ
Trong nghiên cứu của chúng tôi:
Tuổi: là hiệu số giữa năm phỏng vấn và năm sinh dương lịch
Nơi sống: ghi nhận nơi sống hiện tại của đối tượng Các đối tượng khôngsống ở TPHCM được xếp chung vào nhóm “tỉnh”
Văn hóa: những đối tượng học từ lớp 9 phổ thông trở xuống được xếp vàonhóm dưới cấp 2 Những đối tượng học từ cấp 3 trở lên được xếp nhóm trêncấp 2
Nghề nghiệp: ghi nhận nghề nghiệp trong năm vừa qua
Hôn nhân: những đối tượng chưa từng kết hôn, đã li dị hoặc chồng mất đượcxếp vào nhóm “không sống cùng chồng”
Số con: số con hiện còn sống
Căng thẳng tâm lý: các biến cố gây căng thẳng trong tháng qua như nhà cóđám cưới, có tang, có người bệnh, có biến cố trong công việc hay cuộcsống,…
Bệnh nội khoa: chúng tôi phỏng vấn các đối tượng về các bệnh nội khoahiện mắc hoặc để lại di chứng, và các thuốc đang dùng để điều trị bệnh nộikhoa:
Bệnh thần kinh: tiền căn đột quỵ, di chứng liệt
Trang 40 Bệnh tim mạch, hô hấp: tăng huyết áp, bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ,suy tim, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, suy hô hấp.
Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày, hội chứng ruột kích thích, trào ngược
dạ dày thực quản
Bệnh tiết niệu: suy thận, nhiễm trùng tiểu
Bệnh nội tiết: đái tháo đường, cường giáp, suy giáp