BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HOÀNG CƯƠNG SO SÁNH KẾT QUẢ ĐO ÁP LỰC KHOANG GIỮA MÁY ĐO WHITESIDES CẢI BIÊN VÀ MÁY ĐO STRYKER TRONG HỘI CHỨNG C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG CƯƠNG
SO SÁNH KẾT QUẢ ĐO ÁP LỰC KHOANG GIỮA MÁY ĐO WHITESIDES CẢI BIÊN VÀ MÁY ĐO STRYKER TRONG HỘI CHỨNG
CHÈN ÉP KHOANG CẤP
Chuyên ngành: Chấn Thương Chỉnh Hình
Mã số: NT 62 72 07 25 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ Hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ PHƯỚC HÙNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu và kết quả trong luận văn này trung thực và chưa từng được ai công
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ xii
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm về khoang 4
1.2 Giải phẫu các khoang ở tứ chi 4
1.2.1 Các khoang ở cánh tay 4
1.2.2 Các khoang ở cẳng tay 5
1.2.3 Các khoang ở bàn tay 6
1.2.4 Các khoang ở đùi 7
1.2.5 Các khoang ở cẳng chân 8
1.2.6 Các khoang ở bàn chân 10
1.3 Định nghĩa hội chứng chèn ép khoang 11
1.4 Phân loại chèn ép khoang 12
1.4.1 Dọa chèn ép khoang 12
1.4.2 Hội chứng chèn ép khoang cấp 13
1.4.3 Hội chứng chèn ép khoang mạn tính 13
1.5 Dịch tễ học 13
Trang 41.6 Sinh lý bệnh 16
1.7 Chẩn đoán 17
1.8 Kĩ thuật đo áp lực khoang 21
1.8.1 Đo áp lực khoang sử dụng áp kế thủy ngân và kim 18G 22 1.8.2 Đo áp lực khoang sử dụng máy Stryker 23
1.8.3 Đo áp lực khoang sử dụng cảm biến áp lực điện tử 24
1.9 Tình hình nghiên cứu đo áp lực khoang 25
1.9.1 Moed và CS (1993) 25
1.9.2 Uliasz và CS (2003) 26
1.9.3 Boody và CS (2005) 28
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Trên thực nghiệm 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.1.3 Dụng cụ nghiên cứu 32
2.1.4 Các biến cần thu thập 42
2.1.5 Phương pháp phân tích kết quả 43
2.2 Trên lâm sàng 43
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 43
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
2.2.3 Dụng cụ nghiên cứu 44
2.2.4 Các biến cần thu thập 44
2.2.5 Phương pháp phân tích kết quả 45
Trang 52.3 Phương pháp thu thập số liệu 45
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 46
2.5 Địa điểm thực hiện nghiên cứu 46
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 Đo trên thực nghiệm 47
3.1.1 Mối tương quan tuyến tính giá trị đo của ba máy 47
3.1.2 Tương quan giữa kết quả đo bằng máy Whitesides cổ điển với áp suất chuẩn 48
3.1.3 Tương quan giữa kết quả đo bằng máy Whitesides cải biên với áp suất chuẩn 49
3.1.4 Tương quan giữa kết quả đo bằng máy Stryker với áp suất chuẩn 51
3.1.5 Độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cải biên và máy Whitesides cổ điển 52
3.1.6 Độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cổ điển và Stryker 53
3.1.7 Độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cải biên và Stryker 54
3.1.8 Độ chênh với áp suất chuẩn của 3 máy 55
3.1.9 Độ chênh với áp suất chuẩn của ba máy đo ở một số áp suất chuẩn nhất định 56
3.2 Đo trên lâm sàng 58
3.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 58
3.2.2 Thống kê giá trị áp lực khoang đo được trên bệnh nhân 59
Trang 63.2.3 Độ chênh giữa 2 máy Whitesides cải biên và Stryker trên
bệnh nhân 60
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 62
4.1 Trên thực nghiệm 62
4.1.1 Cải biên máy đo Whitesides 62
4.1.2 Phân tích các yếu tố gây nhiễu kết quả đo của máy Whitesides cải biên 64
4.1.3 Thực nghiệm tiền lâm sàng 65
4.1.4 Kết quả thực nghiệm 65
4.2 Trên lâm sàng 70
4.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 70
4.2.2 Bàn luận kết quả đo trên bệnh nhân 71
KẾT LUẬN…… 74
KIẾN NGHỊ… 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỆNH ÁN SỐ 1
BỆNH ÁN SỐ 2
BỆNH ÁN SỐ 3
PHỤ LỤC…… .
Phụ lục 1: Phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu
Phụ lục 2: Bảng thu thập số liệu nghiên cứu trên thực nghiệm
Phụ lục 3: Bảng tổng hợp số liệu trên thực nghiệm
Phụ lục 4: Bảng thu thập số liệu nghiên cứu trên lâm sàng
Phụ lục 5: Bảng tổng hợp số liệu đo được trên lâm sàng
Phụ lục 6: Danh sách bệnh nhân
Trang 7Phụ lục 7: Giấy chấp thuận của Hội đồng đạo đức
Phụ lục 8: Kết luận của Hội đồng chấm luận văn
Phụ lục 9: Bản nhận xét của Phản biện 1, Phản biện 2
Phụ lục 10: Giấy xác nhận đã hoàn thành sửa chữa luận văn
Trang 9DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT
Long cuff tourniquet Garo cuộn dài
Slit catheter Ống catheter có nhiều khe nhỏ ở đầu
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại và giai đoạn của chèn ép khoang 12 Bảng 1.2 Tỉ lệ phần trăm chèn ép khoang cấp gây ra bởi từng loại chấn thương 15 Bảng 1.3 Thống kê kết quả đo áp suất của máy đo Stryker và “IV pump” 27 Bảng 3.1 Sự tương quan giữa các máy đo so với áp suất chuẩn 47 Bảng 3.2 Mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến của máy Whitesides cổ điển 48 Bảng 3.3 Mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến của máy Whitesides cải biên 49 Bảng 3.4 Mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến của máy Stryker 51 Bảng 3.5 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cổ điển và cải biên 52 Bảng 3.6 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cổ điển và Stryker 53 Bảng 3.7 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cải biên và Stryker 54 Bảng 3.8 Tổng hợp độ chênh với áp suất chuẩn của ba máy 55 Bảng 3.9 Độ chênh với áp suất chuẩn của máy đo Whitesides cổ điển ở một số
áp suất chuẩn nhất định 57 Bảng 3.10 Độ chênh với áp suất chuẩn của máy đo Whitesides cải biên ở một
số áp suất chuẩn nhất định 57 Bảng 3.11 Độ chênh với áp suất chuẩn của máy đo Stryker ở một số áp suất chuẩn nhất định 58 Bảng 3.12 Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu 58 Bảng 3.13 Thống kê giá trị đo áp lực khoang trên bệnh nhân của máy Whitesides cổ điển và Stryker 59
Trang 11Bảng 3.14 Độ chênh giữa hai máy Whitesides cải biên và Stryker trên bệnh nhân 60
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ mắc hàng năm phân bố theo giới và theo tuổi của chèn ép khoang cấp 14 Biểu đồ 3.1 Sự tương quan giá trị đo giữa máy Whitesides cổ điển và áp suất chuẩn 48 Biểu đồ 3.2 Sự tương quan giá trị đo giữa máy Whitesides cải biên và áp suất chuẩn 50 Biểu đồ 3.3 Sự tương quan giá trị đo giữa máy Stryker và áp suất chuẩn 51 Biểu đồ 3.4 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cổ điển và Whitesides cải biên 53 Biểu đồ 3.5 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whiteside cổ điển và Stryker 54 Biểu đồ 3.6 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của máy Whitesides cải biên
và Stryker 55 Biểu đồ 3.7 So sánh độ chênh với áp suất chuẩn của 3 máy 56 Biểu đồ 3.8 So sánh giá trị đo giữa máy Whitesides cải biên và Stryker trên bệnh nhân 60 Biểu đồ 4.1 Sự tương quan giá trị đo của máy Whitesides cổ điển với áp suất chuẩn trong nghiên cứu của Boody 66
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Thiết đồ cắt ngang 1/3 giữa cánh tay 5
Hình 1.2 Thiết đồ cắt ngang 1/3 giữa cẳng tay 6
Hình 1.3 Thiết đồ cắt ngang phần gần bàn tay 7
Hình 1.4 Giải phẫu các khoang ở vùng đùi 8
Hình 1.5 Thiết đồ cắt ngang điểm giữa cẳng chân cho thấy 4 khoang ở cẳng chân 9
Hình 1.6 Các khoang ở vùng bàn chân 11
Hình 1.7 Mô hình máy đo Whitesides cổ điển 22
Hình 1.8 Các bộ phận của máy đo Stryker 23
Hình 1.9 Đo áp lực khoang sử dụng máy đo Synthes 24
Hình 1.10 Các loại kim dùng trong đo áp lực khoang 25
Hình 1.11 Mô hình nghiên cứu của Boody 28
Hình 2.1 Máy đo Whitesides cổ điển dùng trong nghiên cứu 32
Hình 2.2 Chạc ba dùng trong máy đo Whitesides cổ điển và cải biên loại dùng một lần 32
Hình 2.3 Mô hình máy Whitesides cải biên có gắn thêm cảm biến đọc chuyển động nước để biết một lượng nước nhỏ được bơm vào khoang 33
Hình 2.4 Máy đo Whitesides dùng trong nghiên cứu 34
Hình 2.5 Kim dùng trong máy đo Whitesides cải biên 34
Hình 2.6 Bộ cảm biến sợi quang của máy đo Whitesides cải biên 35
Hình 2.7 Cảm biến sợi quang Keyence FU-95 36
Hình 2.8 Thiết bị khuếch đại cảm biến sợi quang Keyence FS-N41N dùng nguồn điện một chiều 10-30V 36
Hình 2.9 Pin dùng cho thiết bị, hai viên pin 9V mắc nối tiếp 37
Hình 2 10 Mô hình máy đo Whitesides cải biên 37
Trang 14Hình 2.11 Máy đo Stryker dùng trong nghiên cứu 38
Hình 2.12 Kim dùng trong máy đo Stryker 39
Hình 2 13 Ống nhựa Acrylic để làm cột nước trên thực nghiệm 39
Hình 2 14 Cột nước dùng trong nghiên cứu 40
Hình 2.15 Dùng máy Whitesides cổ điển đo trên thực nghiệm 40
Hình 2.16 Dùng máy Whitesides cải biên đo trên thực nghiệm 41
Hình 2.17 Dùng máy Stryker đo trên thực nghiệm 41
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chèn ép khoang (CEK) được ghi nhận lần đầu tiên bởi Richardvon Volkmann vào năm 1881, tuy nhiên ông chưa hiểu rõ về hội chứng này.Trong bài báo của mình ông chỉ ghi nhận sự co rút gập các cơ ở cẳng tay khôngthể phục hồi do hậu quả của quá trình thiếu máu mà được biết đến với tên “hộichứng Volkmann” ngày nay Năm 1906, Hildebrand sử dụng thuật ngữ “co rútVolkmann” để chỉ tình trạng thiếu máu do tăng áp lực trong mô và không đượcđiều trị Năm 1914, Murphy lần đầu tiên đề nghị rạch cân mạc giải áp trước khibệnh tiến triển có thể ngăn ngừa tình trạng co rút Volkmann [42] Sau hơn mộttrăm năm phát triển trong chẩn đoán và điều trị, hội chứng CEK vẫn là mộtthách thức với các bác sĩ lâm sàng
Hội chứng CEK là tình trạng tăng áp lực trong khoang dẫn đến thiếu máucục bộ các mô trong khoang sẽ dẫn đến những tổn thương không thể hồi phụcnhư yếu cơ, co rút và thậm chí là hoại tử phải cắt cụt chi, đe dọa tính mạng nếukhông được chẩn đoán và điều trị kịp thời Do đó chìa khóa then chốt trongviệc điều trị CEK là chẩn đoán sớm
Về kinh điển, triệu chứng “5P” (pain, pallor, pulselessness, paresthesia,paralysis) hoặc “6P” (pain, pallor, pulselessness, paresthesia, paralysis,poikilothermia) luôn được xem là các dữ liệu chính để chẩn đoán CEK [27].Tuy nhiên ngoại trừ triệu chứng đau, các triệu chứng còn lại xuất hiện khi CEK
đã ở giai đoạn muộn, và do vậy không có giá trị trong việc chẩn đoán sớm Đaukhi vận động thụ động và đau không tương xứng với tổn thương có giá trị trongchẩn đoán sớm CEK, tuy nhiên đau là cảm giác chủ quan nên khó đánh giáđược chính xác
Theo các số liệu ở châu Âu CEK có tỉ lệ mắc hàng năm vào khoảng3.1/100 000 dân [25] Tại Việt Nam hiện chưa có một thống kê đầy đủ, nhưng
Trang 16do tập quán sử dụng xe gắn máy làm phương tiện lưu thông chính, nên chấnthương phần mềm, gãy xương do tai nạn giao thông là điều đáng báo động hiệnnay Do đó tỉ lệ CEK chắc chắn không phải là thấp nếu không muốn nói là haygặp ở các trung tâm lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Chấn thương chỉnhhình Thành phố Hồ Chí Minh Nhất là trong gãy thân xương chày CEK chiếm
tỉ lệ từ 2.7% đến 15% theo nhiều nghiên cứu khác nhau [1], [6], [12], [24], [25],[37]
Trong những lưu đồ về chẩn đoán và điều trị CEK hiện nay người ta luôn
đề cập đến giá trị đo áp lực khoang (ALK) cụ thể là trị số ∆P [9], [13] Thêmnữa, CEK thường xảy ra ở những bệnh nhân chấn thương năng lượng cao, khi
đó bệnh nhân có thể bị đa chấn thương, hay chấn thương đầu làm tri giác khôngtỉnh táo hoặc có thể hôn mê Khi đó việc khám lâm sàng trở nên khó khăn hơnrất nhiều Lúc này, đo ALK là một biện pháp chẩn đoán tốt và quyết định trongđiều trị
Hiện nay có nhiều dụng cụ để đo ALK Lâu đời nhất là dụng cụ tự chế củaWhitesides, máy đo của hãng Stryker, máy đo Mammendorf dùng cảm biếnđiện tử, một số nghiên cứu dùng máy bơm truyền tĩnh mạch có cảm biến cảnhbáo áp suất để đo ALK Ở Việt Nam CEK hiện nay chủ yếu được chẩn đoánbằng lâm sàng và chưa có dụng cụ đo ALK, trong khi đó máy đo Whitesides
có thể tự chế được nhưng cho kết quả đo không chính xác, các máy đo nhập vềnhư của Stryker thì đắt tiền Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu cải biên máy
đo Whitesides để cho kết quả đo chính xác hơn để áp dụng trên lâm sàng Máy
đo Whitesides cải biên sẽ được kiểm tra trên thực nghiệm, so sánh với máy đoStryker, trước khi áp dụng trên bệnh nhân
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Máy đo Whitesides cải biên có kết quả đo tương đương với máy đo Strykerhay không ?
Trang 17MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Xác định độ chênh với áp suất chuẩn khi đo bằng máy Whitesides cổđiển, Whitesides cải biên và Stryker trên thực nghiệm
Xác định độ chênh áp lực khoang khi đo bằng máy Whitesides cải biên
và Stryker trên một số trường hợp lâm sàng
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI NIỆM VỀ KHOANG [5]
Trong chấn thương chỉnh hình nói đến khoang thì đề cập đến các khoang
ở tứ chi còn gọi là các khoang cân mạc, thuật ngữ tiếng Anh là “fascialcompartment”
Cân mạc “fascia” là một thuật ngữ nguồn gốc Latin để chỉ một dãy bănghay cuộn băng đã được các nhà giải phẫu học sử dụng từ lâu để chỉ những mô
có nguồn gốc trung mô chưa biệt hóa bao lấy những cơ quan và mô biệt hóahơn trong cơ thể Do đó người ta có một cách nhìn không hợp lí về vai trò củacân mạc là nó không quan trọng bằng những mô mà nó bọc lấy Tuy nhiên càngngày cân mạc giữ vai trò quan trọng trong nhiều bệnh lý của cơ thể trong đó cóCEK
Vậy khoang là một không gian mô kín của cơ thể được bọc trong cânmạc Thành phần bên trong là cơ và các bó mạch thần kinh Theo đó một sốbệnh lý có thể giới hạn trong khoang như nhiễm trùng, tăng áp lực
1.2 GIẢI PHẪU CÁC KHOANG Ở TỨ CHI
1.2.1 Các khoang ở cánh tay
Ở cánh tay chỉ có 2 khoang là khoang trước và khoang sau được ngăn cáchnhau bởi vách gian cơ trong và vách gian cơ ngoài CEK ở cánh tay thì hiếmxảy ra
Trang 19Hình 1.1 Thiết đồ cắt ngang 1/3 giữa cánh tay (Nguồn: Rockwood and
Green's Fractures in Adults, 2015, [13]) Khoang trước: gồm cơ nhị đầu cánh tay, cơ cánh tay, cơ quạ cánh tay,
thần kinh giữa, thần kinh trụ, thần kinh cơ bì, thần kinh bì cánh tay ngoài, thầnkinh quay (ở 1/3 dưới cánh tay)
Khoang sau: gồm cơ tam đầu cánh tay, thần kinh quay (ở 2/3 trên cánh
tay) và thần kinh trụ
1.2.2 Các khoang ở cẳng tay
Ở vùng cẳng tay có 3 khoang là khoang lòng, khoang lưng và khoangngoài (mobile wad)
Trang 20Hình 1.2 Thiết đồ cắt ngang 1/3 giữa cẳng tay (Nguồn: Thieme atlas of
anatomy, 2007, [34]) Khoang lòng: gồm cơ gan tay dài, cơ gấp cổ tay quay dài và ngắn, cơ gấp
các ngón nông và sâu, cơ sấp tròn, cơ sấp vuông, thần kinh giữa và thần kinhtrụ
Khoang lưng: gồm cơ duỗi các ngón, cơ duỗi ngón cái dài, cơ dạng ngón
cái dài, cơ duỗi cổ tay trụ
Khoang ngoài (mobile wad): gồm cơ cánh tay quay và cơ duỗi cổ tay quay
Trang 21ngón út, cơ gấp ngón út và cơ đối ngón út, bốn khoang gian cốt mu tay chứacác cơ gian cốt mu tay, ba khoang gian cốt lòng bàn tay chứa các cơ gian cốtlòng bàn tay và cuối cùng là khoang cơ khép ngón cái chứa cơ khép ngón cái.
Hình 1.3 Thiết đồ cắt ngang phần gần bàn tay (Nguồn: Rockwood and
Green's Fractures in Adults, 2015, [13])
1.2.4 Các khoang ở đùi
Ở đùi có 3 khoang gồm khoang trước, khoang sau và khoang cơ khép đượcngăn cách nhau bởi 3 vách gian cơ là vách gian cơ ngoài, vách gian cơ trong vàvách gian cơ sau
Trang 22Hình 1.4 Giải phẫu các khoang ở vùng đùi (Nguồn: Campbell's operative
orthopaedics, 2013, [11]) Khoang trước: gồm cơ tứ đầu đùi, cơ may và thần kinh đùi.
Khoang sau: gồm cơ bán gân, cơ bán màng, cơ nhị đầu đùi và thần kinh
ngồi
Khoang cơ khép: gồm cơ khép lớn, cơ khép ngắn, cơ khép dài, cơ thon,
cơ lược, động tĩnh mạch đùi sâu và thần kinh bịt
Ở vùng đùi cân mạc không chắc nên CEK ít gặp ở đùi [13]
1.2.5 Các khoang ở cẳng chân
Ở cẳng chân có 4 khoang gồm khoang trước, khoang ngoài, khoang saunông và sau sâu ngăn cách nhau bởi xương chày, xương mác, màng gian cốt,vách gian cơ trước, vách gian cơ sau và vách gian cơ ngang
Trang 23Hình 1.5 Thiết đồ cắt ngang điểm giữa cẳng chân cho thấy 4 khoang ở cẳng
chân (Nguồn: Atlas of human anatomy, 2006, [29]) Khoang trước: gồm cơ chày trước, cơ duỗi các ngón chân dài và cơ duỗi
ngón cái dài Mạch máu thần kinh gồm có động mạch tĩnh mạch chày trước vàthần kinh mác sâu
Khoang ngoài: gồm cơ mác dài, cơ mác ngắn và thần kinh mác nông Khoang sau nông: gồm cơ dép, hai cơ bụng chân và thần kinh bắp chân
trong
Khoang sau sâu: gồm cơ chày sau, cơ gấp ngón cái dài và cơ gấp các ngón
chân dài Mạch máu và thần kinh gồm có động mạch và tĩnh mạch mác, độngtĩnh mạch chày sau và thần kinh chày
Các cân mạc ở vùng cẳng chân rất dày và chắc tạo thành bức tường thànhgiới hạn các khoang cơ nên đây là vùng hay gặp CEK nhất trong các phần chicủa cơ thể [13]
Trang 241.2.6 Các khoang ở bàn chân
Các khoang ở bàn chân có cấu tạo rất phức tạp và hiện nay vẫn còn tranhcải về số lượng khoang ở bàn chân [15] Vào những năm 1920 người ta nhậnthấy bàn chân có 3 khoang, và được xác nhận bởi Kamel và Sakla năm 1961[21] Myerson cho rằng bàn chân có 4 khoang [28] Trong một nghiên cứu trênxác Manoli và CS miêu tả bàn chân có 8 khoang chính và có cả khoang thứ 9gọi là khoang gót chứa cơ vuông gan chân [22] (nằm ở lớp giữa lòng bàn chân
như Hình 1.3) Tuy nhiên các nghiên cứu sau này cho rằng khoang gót không
thể là một khoang độc lập [17] Chín khoang miêu tả gồm khoang trong (chứa
cơ dạng ngón chân cái và cơ gấp ngón chân cái ngắn), khoang ngoài (chứa cơdạng ngón chân út và cơ gấp ngón chân út ngắn), khoang nông (ở giữa chứa cơgấp các ngón chân ngắn và các cơ giun) chạy dọc hết chiều dài bàn chân Bốnkhoang gian cốt chứa các cơ gian cốt và khoang cơ khép chứa cơ khép ngóncái (lớp sâu giữa lòng bàn chân)
Trang 25Hình 1.6 Các khoang ở vùng bàn chân (Nguồn: Thieme atlas of anatomy,
2007, [34])
1.3 ĐỊNH NGHĨA HỘI CHỨNG CHÈN ÉP KHOANG
Hội chứng CEK là tình trạng tăng áp lực trong một hay nhiều khoang dẫnđến thiếu máu cục bộ Áp lực trong khoang gia tăng có thể do tăng thể tíchtrong khoang hay do giảm thể tích khoang do lực bên ngoài chèn vào Có nhiềunguyên nhân gây ra CEK, nhưng cuối cùng tất cả đều dẫn đến sự tăng áp suấtlàm thiếu máu cục bộ trong khoang kín Áp suất trong mô quá cao dẫn đến tắccác mạch máu nuôi dưỡng, nếu không điều trị kịp thời các mô trong khoangnhư cơ, dây thần kinh thiếu máu kéo dài sẽ dẫn đến tổn thương không hồi phục[42]
Trang 261.4 PHÂN LOẠI CHÈN ÉP KHOANG [35]
Chèn ép khoang được phân thành ba loại chính là dọa CEK, CEK cấp vàCEK mạn CEK cấp còn phân thành nguyên nhân do chấn thương và không dochấn thương
Bảng 1.1 Phân loại và giai đoạn của chèn ép khoang [35]
Dọa chèn ép khoangDọa CEK
Giai đoạn sớm có phù mô trong khoang và có thểtiến triển thành CEK
Chèn ép khoang cấpGiai đoạn sớm
ALK cao dẫn đến thiếu máu cục bộ, tế bào phù
và bắt đầu chết Thường dưới 8 giờ sau khởi phátGiai đoạn muộn
Cơ và thần kinh đã chết nhiều, có thể phải đoạnchi Thường trên 8 giờ sau khởi phát
Co rút Volkmann
Giai đoạn cuối của CEK Đặc trưng bởi các cơchết và được thay thế bằng mô sợi Bệnh nhân cóbiểu hiện co rút và mất chức năng
1.4.1 Dọa chèn ép khoang
Tình trạng này biểu hiện hội chứng CEK sắp xảy ra trừ khi có biện phápngăn ngừa nó Trong dọa CEK thì ALK đo được có thể không đủ để chẩn đoánnhưng bệnh nhân có nguy cơ để tiến triển thành CEK thật sự Giai đoạn này
Trang 27không có sự tổn thương cơ, thần kinh bất hồi phục Ví dụ thường gặp là bệnhnhân than đau tăng lên không thể chịu được sau bó bột Nếu không cắt bột rathì CEK hoàn toàn có thể xảy ra Một trường hợp khác là sau phục hồi lưu thôngmạch máu với thời gian thiếu máu trên 6 giờ Nếu không rạch cân mạc dự phòngthì có thể xảy ra hội chứng tái tưới máu làm phù mô và tăng ALK.
1.4.2 Hội chứng chèn ép khoang cấp
Thông thường xảy ra sau một chấn thương cơ quan vận động Áp lựckhoang đã tăng cao gây thiếu máu và rơi vào vòng xoắn bệnh lý vì thế rạch cânmạc giải áp là biện pháp điều trị hiệu quả nhất
1.4.3 Hội chứng chèn ép khoang mạn tính
Thay vì xảy ra sau một chấn thương cụ thể thì CEK mạn tính thường tiếntriển do hoạt động gắng sức, triệu chứng giảm dần khi nghỉ ngơi Đây khôngphải là trường hợp cấp cứu ngoại khoa như CEK cấp Tập luyện thể thao làmtăng lưu lượng máu, làm tăng thể tích cơ [4] Tập luyện lặp đi lặp lại làm cho
cơ tăng thể tích vì thế làm tăng áp lực trong khoang Điều này làm rối loạn tuầnhoàn vi mạch làm thiếu máu cục bộ dẫn đến đau và dị cảm
Chèn ép khoang mạn thường biểu hiện trên một số khoang nhất định vàhay gặp biểu hiện cả hai bên chi Chẩn đoán dựa vào bệnh sử và đo ALK.Pedowitz và CS [32] đã xác định tiêu chuẩn khách quan chẩn đoán CEK mạn
là ALK khi nghỉ ngơi từ 15mmHg trở lên, áp lực sau tập thể thao 1 phút từ30mmHg trở lên và sau tập thể thao 5 phút là từ 20mmHg trở lên
Trang 28Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ mắc hàng năm phân bố theo giới và theo tuổi của chèn ép khoang cấp (Nguồn: Rockwood and Green’s Fracture in Adults, 2015, [13])
Độ tuổi trung bình cả nam và nữ là 32, ở nam là 30, ở nữ là 44 tuổi [10].Tình trạng CEK cấp xảy ra thường gặp nhất trong gãy xương (chiếm 69%trường hợp) Con số này cũng tương tự ở trẻ em (chiếm 76% trường hợp) chủyếu là gãy thân xương chày, gãy đầu dưới xương quay và gãy cẳng tay [3] Hầuhết gãy xương liên quan đến CEK cấp ở người lớn là gãy thân xương chày Tỉ
lệ CEK cấp trong gãy thân xương chày theo nhiều báo cáo khác nhau dao động
từ 2,7 đến 15% do khác nhau về cách chẩn đoán và chọn lọc bệnh nhân
Đứng thứ hai là nguyên nhân chấn thương mô mềm, nếu cộng thêm vớigãy thân xương chày sẽ chiếm 2/3 trường hợp Gãy xương thường gặp thứ haigây ra CEK cấp là gãy đầu dưới xương quay, sẽ có khoảng 0.25% bị CEK cấpkhi gãy xương này Gãy thân xương cẳng tay sẽ có khoảng 3% dẫn đến CEKcấp Tỉ lệ bị CEK cấp ở các vùng khác thì ít được báo cáo Bỏng chi cũngthường gây ra CEK, nhất là bỏng độ 3, độ 4
Trang 29Bảng 1.2 Tỉ lệ phần trăm chèn ép khoang cấp gây ra bởi từng loại chấn thương (Nguồn: Rockwood and Green’s Fracture in Adults, 2015, [13])
Loại chấn thương Phần trăm số ca (%)Gãy thân xương chày
Chấn thương mô mềmGãy đầu dưới xương quayHội chứng vùi lấp
Gãy thân xương cẳng tayGãy mâm chày
Gãy xương bàn tayGãy trần chàyGãy xương bàn chânGãy mắt cá
Trật khớp khuỷuGãy khung chậuGãy thân xương cánh tay
3623.29.87.97.93.03.02.52.50.60.60.60.6
Ở những bệnh nhân trẻ, vị thành niên thì có nguy cơ CEK cấp cao hơn.Trong gãy thân xương chày, tỉ lệ CEK cấp ở nhóm này cao hơn 3 lần so vớinhóm trên 35 tuổi, và tỉ lệ này là trên 35 lần ở gãy đầu dưới xương quay [25].Chấn thương năng lượng cao dễ dẫn đến CEK cấp hơn với điều kiện các khoangvẫn còn nguyên vẹn không bị rách quá nhiều
Những số liệu về dịch tễ học của CEK ở Việt Nam chưa có báo cáo đầy
đủ Tuy nhiên do tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam quá phức tạp, đặcbiệt là những chấn thương do lưu thông bằng xe gắn máy thì tỉ lệ gãy xươngchấn thương luôn cao hơn các nước phương Tây Trong đó gãy thân xươngchày, chấn thương phần mềm, gãy đầu dưới xương quay, thân xương cẳng tayrất hay gặp Do đó CEK không phải là hiếm, nhất là ở những trung tâm Chấn
Trang 30thương chỉnh hình lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Chấn thương chỉnhhình TP Hồ Chí Minh thì rất thường gặp.
1.6 SINH LÝ BỆNH
Bất kì tình trạng nào làm tăng chất chứa bên trong khoang hay làm giảmthể tích khoang đều dẫn đến CEK, tuy nhiên nguyên nhân thường gặp nhất làchấn thương kèm gãy xương Trong trường hợp này năng lượng chấn thươngđược truyền vào xương và cơ, gây phù nội bào tại vị trí chấn thương Thêm vào
đó, máu tụ góp phần làm tăng chất chứa trong khoang và làm tăng ALK.Sinh lý bệnh của CEK vẫn chưa được hiểu rõ ràng đến thời kì chiến tranhTriều Tiên 1950-1953 Việc chẩn đoán sai thường dẫn đến kết cục bi thảm Vàothời điểm đó và thậm chí ngày nay triệu chứng 6P (pain, pallor, pulselessness,paralysis, paresthesia, poikilothermia) thường được sử dụng nhất trong chẩnđoán CEK [27] Tuy nhiên trong hầu hết trường hợp khi có các chữ “P” trừ đauthì triệu chứng thiếu máu đã quá muộn và không thể hồi phục Một loạt nghiêncứu của Whitesides năm 1971 đã nâng cao hiểu biết của chúng ta về sinh líbệnh trong CEK Bằng cách sử dụng garo cuộn dài và chụp đồng vị phóng xạxenon, nghiên cứu đã đánh giá sự hồi lưu máu dưới các áp suất khác nhau, khi
áp suất garo vượt quá áp suất tâm trương sẽ không còn sự hồi lưu máu ở cẳngchân Khi áp suất garo nhỏ hơn huyết áp tâm trương sự hồi lưu máu hồi phục.Nghiên cứu này đã xác định được công thức về áp lực tưới máu: Áp lực tướimáu “∆P =huyết áp tâm trương – áp lực trong khoang” [14]
Hiện nay có 3 giả thuyết về sinh lý bệnh của CEK
Giả thuyết thứ nhất là “áp suất đóng tới hạn” được miêu tả qua định luậtLaplace: TM = TC ÷ r TM là chênh lệch áp suất trong và ngoài lòng maomạch, TC là lực đàn hồi của thành mạch và r là bán kính thành mạch Khi ALKtăng lên tức áp lực ngoại mạch tăng làm cho TM giảm xuống đến mức nhữngsợi đàn hồi của thành mạch không còn đủ để tạo nên trương lực đàn hồi thành
Trang 31mạch và r sẽ giảm làm cho TC ÷ r lớn hơn TM đẫn đến không còn trao đổi chấtqua thành mạch [2], [30] làm giảm cung cấp oxy cho mô.
Giả thuyết thứ hai là “chênh lệch áp suất động tĩnh mạch” [23] Theothuyết này thì tăng áp suất mô sẽ làm giảm chênh lệch áp suất động tĩnh mạchlàm giảm lưu thông máu được biểu hiện qua công thức sau: LBF = (Pa − Pv)
÷ R LPF là tốc độ lưu thông máu tại chỗ, Pa là áp suất động mạch, Pv là ápsuất tĩnh mạch, R là kháng trở mạch máu tại chỗ Khi ALK tăng lên làm cho
Pv tăng theo đó (Pa – Pv) giảm nên LBR sẽ giảm kết quả làm giảm tưới máumô
Giả thuyết thứ ba là “sự tắc nghẽn mạch máu nhỏ” là cơ chế chính dẫnđến giảm lưu thông máu trong hội chứng CEK cấp Mao mạch là những ốngrất dễ bị xẹp xuống và khi áp suất mô tăng lên thì số lượng mao mạch còn hoạtđộng trên một đơn vị mô sẽ giảm xuống do đó làm giảm sự tưới máu mô [18],[19]
Tóm lại dù là giả thuyết gì đi chăng nữa thì thủ phạm chính của hội chứngCEK cấp là sự tăng áp lực trong khoang đủ lớn để dẫn đến giảm tưới máu mô
1.7 CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán CEK giai đoạn muộn tương đối dễ dàng nhưng chẩn đoán sớm
là thật sự khó khăn Chẩn đoán sớm đòi hỏi người bác sĩ lâm sàng phải có kinhnghiệm, phải nghĩ đến, kết hợp yếu tố dịch tễ, lâm sàng và đo ALK
Tại điểm gãy xương dễ dàng có máu tụ sau chấn thương và càng nhiềucàng gây tăng ALK Gãy xương chày năng lượng cao là nguyên nhân phổ biếnliên quan đến CEK Tuy nhiên, CEK cũng có thể xảy ra thứ phát sau chấnthương động mạch, tắc mạch, tái tưới máu, tổn thương dập nát, bỏng, điện giật,rắn cắn, luyện tập thể thao quá mức, các thủ thuật xâm lấn, truyền tĩnh mạch.CEK cũng có thể xuất hiện sau truyền máu và dịch lượng lớn
Trang 32Chèn ép khoang xảy ra sau tổn thương động mạch thấy được sau hiện tượng tái tưới máu trong khoang Trước thời kì tái thông mạch máu là thời kì thiếu máu của cơ và thần kinh Trong lúc thiếu máu, có sự thẩm thấu qua màng đáy mao mạch của cơ vân Khi tái thông mạch trở lại sự rò rĩ này tiếp tục xảy
ra vào khoảng kẽ do đó làm tăng chất chứa trong khoang
Áp lực tưới máu ∆P ban đầu được đề xuất bởi Whitesides và CS dựa trên yếu tố lưu lượng máu giảm dần khi ALK tăng dần càng gần với huyết áp tâm trương Bằng thực nghiệm của mình Dahn và Clayton [14] đã cho thấy rằng sự phát xạ Xenon dừng lại khi áp suất của garo cuộn dài đạt đến bằng áp suất tâm trương McQueen và Court-Brown [24] đã báo cáo 116 trường hợp gãy thân xương chày có theo dõi bằng đo ALK liên tục ở khoang trước Trong 12 giờ đầu có 53 ca ALK trên 30mmHg, 30 ca ALK trên 40 và 4 ca ALK trên 50 Tuy nhiên chỉ có 1 bệnh nhân có áp lực tưới máu dưới 30mmHg và đã được rạch cân mạc khi chưa có biến chứng gì xảy ra Từ 12 đến 24 giờ sau chấn thương cũng chỉ có 2 ca được rạch cân mạc khi ∆P dưới 30mmHg Không có ca nào bị
bỏ sót chẩn đoán CEK cấp Báo cáo này đã chỉ ra theo dõi ALK liên tục ở khoang trước cẳng chân sẽ chẩn đoán sớm CEK cấp hơn (trung bình 16 giờ sau chấn thương) và những biến chứng muộn do CEK cấp thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm không được theo dõi ALK liên tục bị chẩn đoán muộn (trung bình đến 32 giờ sau chấn thương) Các biến chứng muộn bao gồm yếu cơ, cứng cơ,
co rút, hay chậm lành xương Dựa trên công trình này McQueen và Brown đã khuyến cáo lấy áp lực tưới máu hay ∆P dưới 30mmHg làm ngưỡng cho chẩn đoán CEK ở cẳng chân
Court-White và CS đã so sánh hai nhóm theo dõi ALK liên tục [41] Nhóm chứng gồm 60 bệnh nhân gãy xương chày với ALK tuyệt đối duy trì dưới 30mmHg Nhóm nghiên cứu gồm những bệnh nhân gãy xương chày với ALK lớn hơn 30mmHg duy trì ít nhất 6 giờ Tất cả đều không được rạch cân mạc giải áp, và
Trang 33không có sự khác biệt nào về kết quả cuối cùng giữa hai nhóm trong việc phục hồi chấn thương và sức cơ sau khi lành chấn thương Công trình này cung cấp bằng chứng lâm sàng về sự ưu việc của việc sử dụng ∆P so với ALK tuyệt đối
để chẩn đoán CEK cấp
Chấp nhận ∆P là giá trị tối ưu hơn so với ALK tuyệt đối trong theo dõi đo ALK, những nghiên cứu tiếp theo nhằm mục đích tìm ra ngưỡng chẩn đoán tốt nhất của ∆P Prayson và CS đã theo dõi 19 bệnh nhân gãy xương chày, tất cả đều không có triệu chứng của CEK cấp [33] Nghiên cứu ông cũng được tiến hành trên động vật thấy ngưỡng thiếu máu làm cho mô tổn thương không thể phục hồi là ∆P từ nhỏ hơn 20mmHg Mặc dù kết quả nghiên cứu là vậy nhưng ngưỡng ∆P dưới 30mmHg được đề nghị chẩn đoán có CEK để tăng độ nhạy của chẩn đoán và có đủ thời gian để thực hiện can thiệp rạch cân mạc giải áp Tóm lại trong quá khứ người ta sử dụng ALK tuyệt đối nhưng hiện nay áp lực tưới máu hay ∆P dưới 30mmHg để làm ngưỡng chẩn đoán CEK đã được chứng minh có nhiều ưu điểm vượt trội hơn [42], [24] Hiện nay giá trị tuyệt đối của ALK trong chẩn đoán CEK đã là quá khứ Lưu ý rằng ∆P từ nhỏ hơn 20mmHg là có sự thiếu máu đáng kể các mô trong khoang để phẫu thuật viên tránh những biến chứng đáng tiếc không thể phục hồi cho bệnh nhân Sử dụng
∆P trong mối quan hệ mật thiết với thăm khám, bác sĩ lâm sàng có thể giảm thiểu những rạch cân mạc không cần thiết trong khi vẫn không để bỏ sót chẩn đoán CEK cấp
Về lâm sàng phải theo dõi liên tục bệnh nhân CEK cấp không xảy ra ngay lập tức và áp lực tăng lên từ từ đến 48 giờ sau chấn thương hay sau phẫu thuật Tìm ra dấu hiệu lâm sàng thay đổi theo thời gian là chìa khóa để chẩn đoán sớm CEK cấp Kết quả điều trị phụ thuộc trực tiếp vào thời gian chẩn đoán, nếu điều trị trễ sau 12 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng, kết cục sẽ xấu đi đáng kể Các dấu hiệu lâm sàng của CEK cấp sắp xảy ra là đau khi sờ vào vùng phù nề,
Trang 34đau khi vận động thụ động cơ trong khoang Những dấu hiệu muộn bao gồm giảm cảm giác vùng chi phối của dây thần kinh đi qua khoang, yếu cơ Tím tái, mất mạch, liệt, giảm nhiệt độ chi khi hiện diện là quá trễ Nếu có những dấu hiệu này thì đó là một dự báo xấu, khi đó chi có thể đã hoại tử Đánh giá lâm sàng là khá chủ quan với cả yếu tố ở bệnh nhân và bác sĩ Yếu tố chủ quan đến
từ bác sĩ chỉnh hình đã được O’Toole chứng minh Trên cùng một nhóm bênh nhân gãy thân xương chày nhưng các bác sĩ khác nhau dù đã cùng được đào tạo tại một trung tâm chỉnh hình thì tỉ lệ chẩn đoán CEK cấp dao động từ 2% đến 24% [31] Kết hợp yếu tố dịch tễ CEK cấp xảy ra phổ biến ở nam hơn 10 lần so với nữ và hay gặp hơn ở người trẻ, tuổi trung bình 30 ở nam và 44 ở nữ [10] Gãy xương chày năng lượng cao hay gãy cẳng tay thường liên quan đến CEK cấp Bên cạnh đó chảy máu do dùng kháng đông cũng hay gặp CEK cấp
Sự thay đổi lâm sàng theo thời gian rất có giá trị trong chẩn đoán Dấu hiệu lâm sàng sớm nhất là đau với đặc điểm đau khi nghỉ ngơi, không tương xứng với mức độ thương tổn, đau tăng khi vận động thụ động, đau khi sờ nắn vào vùng CEK, và đau không đáp ứng với thuốc giảm đau Trong khi lâm sàng được xem là tiêu chuẩn vàng của chẩn đoán thì dấu hiệu “5P” có độ nhạy từ 13% đến 19%, giá trị tiên đoán dương 11% đến 15%, độ đặc hiệu 97% và giá trị tiên đoán âm là 98% [39] Như vậy nếu bệnh nhân có tất cả các dấu hiệu lâm sàng thì chẩn đoán CEK cấp chính xác nhưng đã trễ còn nếu vắng mặt tất cả các dấu hiệu lâm sàng thì có thể không nghĩ đến chẩn đoán CEK
Thông thường bệnh nhân có đa chấn thương, có chấn thương sọ não, say rượu làm giảm tri giác hay hôn mê Vì vậy chẩn đoán muộn là hay xảy ra, nhất
là ở những bệnh viện bị quá tải bệnh nhân Do vậy, ALK là một dữ liệu có giá trị tốt trong chẩn đoán những ca CEK khó
Trang 351.8 KĨ THUẬT ĐO ÁP LỰC KHOANG
Áp lực khoang chính xác không thể thay thế một bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm Trong lúc đo phải chú ý đến các chi tiết nhỏ nhằm giảm thiểu sai số Khi kết quả đo lớn hơn giá trị thực tế bệnh nhân có thể bị rạch cân mạc một cách quá tay không cần thiết Do đó điều quan trọng là phải có kết quả đo chính xác Theo Heckman và CS nên đo trong bán kính 5cm từ ổ gãy vì càng xa ổ gãy áp lực càng nhỏ đi [20] Áp lực trong sâu thì cao hơn các giá trị đo gần bề mặt
Khi đo ALK ở cẳng chân thì bàn chân ở tư thế trung tính, không gập lòng hay gập lưng Khi gập lòng thì làm tăng áp suất các khoang trước và khoang ngoài, khi gập lưng làm tăng áp suất khoang sau Vị trí bàn chân trung tính và bàn chân lúc nghỉ là từ 00 đến 370 gập lòng [40] Ngoài ra khi đo khoang sau nên kê gót chân bằng khăn mềm để cẳng chân không tì lên giường Chân bị thương không nên kê cao để giảm phù nề vì nó sẽ làm giảm tưới máu đến khoang và làm tăng áp lực trong khoang [23] Nên tháo bỏ băng, nẹp và bột Gafin và CS đã chứng minh trên động vật ALK sẽ giảm đến 60% nếu tháo bỏ
bó bột tròn [16]
Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá sự khác biệt giữa các cách đo ALK khác nhau Đo bằng máy Stryker và dụng cụ đo huyết áp động mạch đã được chứng minh là đáng tin cậy và có thể thực hiện nhiều lần Dụng cụ đo sử dụng kim 18G hay cho kết quả cao hơn thực tế Dụng cụ sử dụng ống thông Wick và kim
có lỗ bên (side-port needle) cho kết quả đáng tin cậy hơn dụng cụ đo sử dụng kim 18G Dù là dùng dụng cụ đo nào thì cũng sử dụng một kim nhỏ đưa vào khoang cần đo, bơm vào 1 lượng nhỏ dịch (0.1ml đến 0.2ml) để áp suất trong khoang cân bằng với áp suất áp kế
Trang 361.8.1 Đo áp lực khoang sử dụng áp kế thủy ngân và kim 18G
Lần đầu tiên được thực hiện bởi Landerer vào năm 1884 Nhưng được biết đến nhiều nhất là Whitesides và CS đã sử dụng công cụ này để chẩn đoán CEK cấp [44] vào năm 1975 Dụng cụ tự chế của ông gồm một kim 18G nối với xy lanh 20ml và áp lực kế thủy ngân qua một chạc ba, kim 18G có ống nối dài trong suốt Phần ống bên kim 18G có một ít dung dịch nước muối sinh lý Khi
đo ông chích kim 18G vào khoang cần đo, bơm xy lanh quan sát mức khí-dung dịch nước muối sinh lý, khi thấy mức này vừa di chuyển, mặt giới hạn này không lồi không lõm thì đọc kết quả trên áp kế Để kết quả chính xác thì phải bơm đều tay, xy lanh phải mới, trơn láng, phải vừa quan sát mức khí-dung dịch nước muối sinh lý vừa quan sát áp kế thủy ngân, nếu bơm quá tay thì áp suất
đo sẽ cao hơn giá trị thực tế Trong nghiên cứu này chúng tôi gọi đây là máy
đo Whitesides cổ điển (WCĐ) để phân biệt với máy Whitesides cải biên (WCB) của chúng tôi
Hình 1.7 Mô hình máy đo Whitesides cổ điển (Nguồn: Whitesides T E, Haney
T C, Morimoto K, Harada H, 1975, [43])
Trang 371.8.2 Đo áp lực khoang sử dụng máy Stryker
Máy Stryker cùng nguyên lý như máy Whitesides nhưng gọn nhẹ dễ sử dụng hơn, tuy nhiên giá thành cho mỗi lần đo khá cao Giá của máy đo là 1575
đô la Mỹ, mỗi lần đo mất 66 đô la Mỹ cho bộ kit sử dụng một lần [38] Theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cách sử dụng máy đo như sau theo 8 bước: (1) Lúc chưa gắn kim và xy lanh và ngăn khóa vào máy đo, khởi động máy, chờ 5 giây, bấm “zero” Màn hình hiển thị “00” là được (2) Gắn kim vào đầu nhọn ngăn khóa, vặn xy lanh vào đầu có răng ngăn khóa (3) Gắn bộ kim – ngăn khóa –
xy lanh vào máy đo (để phần nhẵn của ngăn khóa hướng lên trên), ấn ngăn khóa xuống nhẹ nhàng Đóng cửa của máy đo, không dùng lực quá mạnh Chắn chắn rằng nghe được tiếng tách (4) Bơm xy lanh có sẵn dung dịch nước muối sinh
lý để đuổi không khí (5) Màn hình hiển thị phải ở từ -8 đến +9mmHg (6) Ước lượng góc chích kim vào khoang cơ Bấm “zero” (7) Chích kim vào cơ Bơm
ít hơn 3/10 ml nước muối sinh lý Đọc kết quả sau khi ổn định (8) Để đo lại bấm “zero” Lặp lại các bước 6-7
Hình 1.8 Các bộ phận của máy đo Stryker (Nguồn: Tài liệu hướng dẫn sử
dụng máy đo Stryker)
Trang 381.8.3 Đo áp lực khoang sử dụng cảm biến áp lực điện tử
Theo dõi được ALK liên tục, có thể đo lúc hoạt động trong chẩn đoán CEK mạn tính, thường dùng máy đo Mammendorf, máy đo Synthes Người ta đặt đầu cảm biến điện tử vào trong khoang cơ và nối với máy đặt bên ngoài để hiển thị trị số đo được, bệnh nhân có thể hoạt động thể lực trong lúc đo qua đó làm ALK thay đổi
Hình 1.9 Đo áp lực khoang sử dụng máy đo Synthes (Nguồn: Tài liệu hướng
dẫn sử dụng máy đo Synthes)
Trang 391.9 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐO ÁP LỰC KHOANG
1.9.1 Moed và CS (1993) [26]
Năm 1993 Moed và CS đã tiến hành một nghiên cứu trong phòng thực nghiệm so sánh sự khác nhau giữa đo ALK bằng kim thường 18G (simple needle), slit catheter (16G) và side-port needle (18G)
Hình 1.10 Các loại kim dùng trong đo áp lực khoang (Nguồn: Moed B R,
Thorderson P K, 1993, [26])
Ông đã dùng 3 dụng cụ trên để làm kim đưa vào khoang cơ đùi sau của chó đã gây mê để đo ALK Ba kim được nối với một máy đo áp lực điện tử của Stryker Đùi sau của chó được ngâm trong cột nước để có thể thay đổi áp suất chuẩn như nghiên cứu của Uliasz [38] Cách đo là giống nhau cho cả 3 kim Cuối cùng ông kết luận là simple needle 18G sẽ cho kết quả đo cao hơn
áp suất chuẩn Side-port needle và slit catheter cho kết quả đo chính xác so với
áp suất chuẩn
Trang 40Nghiên cứu này chỉ ra phần kim đưa vào mô để đo cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả đo Máy Whitesides cổ điển cho kết quả không chính xác một phần
là do dùng kim 18G simple needle Và nghiên cứu này cũng chỉ thực hiện trên
mô hình trong phòng thực nghiệm
có 45 kết quả đo Máy đo Stryker thực hiện đo theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Đo bằng “IV pump” trong thực nghiệm dùng hệ thống “IV pump” có khả năng cảm biến áp lực (tên mã máy là Alaris Medical Systems #7130B7, San Diego, CA): (1) cài đặt chế độ đo áp suất, (2) kết quả hiển thị cho về mức 0, (3) chích kim vào miếng thịt bò, (4) bơm 0.3ml nước muối sinh lý thật nhẹ, (5) đọc kết quả
Đo bằng máy đo Whitesides phức tạp hơn: (1) nối kim 18G xy lanh 10ml
và áp kế thủy ngân qua chạc ba có khóa, kim 18G nối gián tiếp với chạc ba bằng 1 ống nhựa trong để có thể thấy được nước muối sinh lý bên trong, (2) xy lanh để ở mức 7ml, (3) chỉnh khóa chạc ba sao cho xy lanh và kim 18G thông nhau, áp kế thủy ngân ở mức 0, (4) hút nước muối sinh lý làm đầy kim 18G và một phần ống nhựa nối với nó, cho thấy được mức khí-dịch, (5) chích kim vào
mô đo, (6) chỉnh khóa chạc ba để thông 3 chiều, (7) bơm xy lanh thật chậm, áp
kế thủy ngân dâng lên đến khi cân bằng ALK, (8) đọc kết quả tại thời điểm cân