1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng sức khỏe răng miệng của người dân đồng bằng sông cửu long và các yếu tố liên quan

201 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, các nghiêncứu này chỉ giới hạn trong phạm vi một số tỉnh và thường tập trung vào lứa tuổithiếu niên, chưa có nghiên cứu nào đưa ra được bức tranh toàn cảnh cho khu vực.Chúng tôi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

TRẦN THỊ PHƯƠNG ĐAN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

TRẦN THỊ PHƯƠNG ĐAN

Chuyên ngành : Nha khoa

Mã số : 62.72.28.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học :

1 GS.TS Hồng Tử Hùng

2 PGS.TS.Phạm Hùng Lực

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kếtquả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Trần Thị Phương Đan

Trang 4

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt i

Bảng đối chiếu các thuật ngữ Việt - Anh i

Danh mục Bảng – Hình – Biểu đồ – Sơ đồ ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số bệnh răng miệng phổ biến và các yếu tố nguy cơ 4

1.1.1 Bệnh sâu răng 4

1.1.2 Bệnh nha chu 20

1.2 Tình hình bệnh răng miệng trên thế giới và ở Việt Nam 29

1.2.1 Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và ở Việt Nam 29

1.2.2 Tình hình bệnh nha chu trên thế giới và ở Việt Nam 33

1.2.3 Tình trạng một số bệnh răng miệmg khác 39

Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 43

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 43

2.1.2 Đặc điểm về dân số học 43

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế – xã hội 44

2.1.4 Đơn vị hành chính 45

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 46

2.2.1 Dân số mục tiêu 46

2.2.2 Dân số chọn mẫu 46

2.2 3 Dân số nghiên cứu 46

2.2.4 Phương pháp chọn mẫu 47

2.2.5 Kỹ thuật chọn mẫu 48

Trang 5

2.3 Phương pháp nghiên cứu 54

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 54

2.3.2 Mô tả các biến nghiên cứu 54

2.4 Công tác chuẩn bị 59

2.4.1 Soạn và điều chỉnh bộ câu hỏi 59

2.4.2 Huấn luyện định chuẩn 60

2.4.3 Công tác chuẩn bị về hành chính và chuyên môn 62

2.5 Phương pháp thu thập dữ liệu 62

2.5.1 Thu thập số liệu từ các bảng câu hỏi 63

2.5.2 Phương pháp thực hiện khám và ghi nhận tình trạng răng miệng 63

2.5.3 Tiêu chuẩn đánh giá và ghi nhận tình trạng răng miệng 64

2.6 Phân tích dữ liệu 64

2.6.1 Xử lý dữ liệu thô 64

2.6.2 Nhập liệu 64

2.6.3 Phân tích dữ liệu 65

2.7 Kiểm soát sai số 71

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73

3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 73

3.2 Tình hình bệnh sâu răng 74

3.2.1 Tỷ lệ bệnh sâu răng và chỉ số smtr/ SMTR 74

3.2.2 Mối liên quan giữa bệnh sâu răng và các điều kiện kinh tế - xã hội 77

3.2.3 Mối liên quan giữa bệnh sâu răng và thói quen chăm sóc răng miệng 81

3.2.4 Phân tích mối liên quan giữa bệnh sâu răng và một số yếu tố theo mô hình hồi qui đa biến 84

3.2.5 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng 92

Trang 6

3.3 Tình hình bệnh nha chu 95

3.3.1 Tỷ lệ và trung bình các vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng và túi nha chu 95

3.3.2 Mối liên quan giữa bệnh nha chu và các điều kiện kinh tế – xã hội 100

3.3.3 Mối liên quan giữa tình trạng bệnh nha chu và thói quen chăm sóc răng miệng 103

3.3.4 Phân tích mối liên quan giữa trung bình vùng lục phân có cao răng và một số yếu tố theo mô hình hồi qui đa biến 104

3.3.5 Nhu cầu điều trị bệnh nha chu 106

3.4 Tình hình các bệnh răng miệng khác 107

3.4.1 Tình trạng khớp thái dương hàm 107

3.4.2 Tình trạng bệnh niêm mạc miệng 107

3.4.3 Tình trạng nhiễm fluor răng 108

Chương 4: BÀN LUẬN 112

4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu: 112

4.2 Tình hình bệnh sâu răng 113

4 2.1 Tỷ lệ sâu răng và chỉ số smtr/SMTR 113

4.2.2 Mối liên quan giữa bệnh sâu răng và các điều kiện kinh tế – xã hội 119

4.2.3 Mối liên quan giữa bệnh sâu răng với thói quen chăm sóc răng miệng 125

4.2.4 Phân tích mối liên quan giữa bệnh sâu răng và một số yếu tố liên quan theo mô hình hồi qui đa biến 128

4 2 5 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng 132

4.3 Tình hình bệnh nha chu 134

4.3.1 Tỷ lệ người có bệnh nha chu và trung bình các vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng và túi nha chu 134

Trang 7

4.3.3 Mối liên quan giữa bệnh nha chu với thói quen chăm sóc răng miệng 139

4.3.4 Phân tích mối liên quan giữa bệnh nha chu với một số yếu tố theo mô hình hồi qui đa biến ở người 35-44 tuổi 140

4.3.5 Nhu cầu điều trị bệnh nha chu 141

4.4 Tình hình các bệnh răng miệng khác 141

4.4.1 Tình trạng khớp thái dương hàm 141

4.4.2 Tình trạng bệnh lý vùng niêm mạc miệng: 142

4.4.3 Tình trạng nhiễm fluor răng: 142

4.5 Đặc điểm về lối sống của người dân Đồng bằng sông Cửu Long liên quan đến tình hình bệnh răng miệng 143

4.6 Ýnghĩa của đề tài 144

4.7 Hạn chế của đề tài 147

KẾT LUẬN 148

KIẾN NGHỊ 151

Danh mục các cơng trình nghiên cứu đã cơng bố liên quan đề tài luận án Tài liệu tham khảo Phụ lục.

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CSRM Chăm sóc răng miệng

BSRHM Bác sĩ răng hàm mặt

BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC THUẬT NGỮ VIỆT - ANH

ICDAS International Caries Detection Hệ thống chỉ số phát hiện và

and Assessement System đánh giá sâu răngFS-T Fill-Sound Teeth Chỉ số răng trám và lành mạnh,

Chỉ số răng chức năngSic Significant caries index Chỉ số sâu răng đáng kể

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 1.1 Chỉ số SMTR của trẻ 12 tuổi ở một số nước phát triển

trên thế giới 30

2 1.2 Chỉ số SMTR của trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển trên thế giới 32

3 1.3 Sâu răng theo nhóm tuổi ở Việt Nam 32

4 1.4 So sánh tình trạng sâu răng vĩnh viễn giữa ĐBSH và ĐBSCL 33

5 1.5 Tỷ lệ người 35-44 tuổi có số điểm cao nhất theo chỉ số CPI ở một số quốc gia trên thế giới 36

6 1.6 Trung bình các vùng lục phân với chỉ số CPI ở Việt Nam 37

7 1.7 Tỷ lệ và phạm vi chảy máu nướu ở trẻ em Việt Nam 37

8 1.8 Tỷ lệ và phạm vi cao răng ở trẻ em Việt Nam 38

9 1.9 Tỷ lệ người có trung bình vùng lục phân theo chỉ số CPI ở người Việt Nam trên 18 tuổi 38

10 2.1 Chỉ số KAPPA giữa các điều tra viên 61

11 3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 73

12 3.2 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số SMTR và SiC theo nhóm tuổi 74

13 3.3 Phân bố tỷ lệ, chỉ số smtr/SMTR theo giới tính 75

14 3.4 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR theo vùng cư trú 77

15 3.5 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR theo yếu tố dân tộc 78

16 3.6 Mối liên quan giữa bệnh sâu răng với một số yếu tố kinh tế-xã hội 79

17 3.7 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR ở trẻ em theo TĐHV

Trang 10

18 3.8 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR với số lần

chải răng /ngày 81

19 3.9 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR theo thời gian từ lần khám răng gần nhất 82

20 3.10 Phân bố tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR theo thói quen ăn uống ở trẻ em 83

21 3.11 Phân tích hồi qui tuyến tính tổng quát cho chỉ số smtr và các yếu tố liên quan ở trẻ em 6 tuổi 85

22 3.12 Phân tích hồi qui cho chỉ số smtr và các yếu tố liên quan ở trẻ 6 tuổi 86

23 3.13 Mô hình hồi qui cho smtr và các yếu tố liên quan ở trẻ 6 tuổi 87

24 3.14 Phân tích hồi qui tuyến tính tổng quát cho chỉ số SMTR và các yếu tố liên quan ở trẻ em 12 và 15 tuổi 88

25 3.15 Phân tích hồi qui cho chỉ số SMTR và các yếu tố liên quan ở trẻ 12 và 15 tuổi 89

26 3.16 Mô hình hồi qui cho chỉ số SMTR và các yếu tố liên quan ở trẻ 12 và 15 tuổi 89

27 3.17 Phân tích hồi qui tuyến tính tổng quát cho chỉ số SMTR và các yếu tố liên quan ở người 35-44 tuổi 90

28 3.18 Phân tích hồi qui cho chỉ số SMTR và các yếu tố liên quan ở người 35-44 tuổi 91

29 3.19 Mô hình hồi qui tuyến tính cho chỉ số SMTR và các yếu tố liên quan ở người 35-44 tuổi 91

30 3.20 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng của trẻ 6 tuổi 92

31 3.21 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng của trẻ 12 tuổi 93

32 3.22 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng của trẻ 15 tuổi 93

Trang 11

33 3.23 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng của người 35-44 tuổi 94

34 3.24 Tỷ lệ người có mô nha chu lành mạnh, viêm nướu, cao răng và túi nướu

theo nhóm tuổi 95

35 3.25 Trung bình vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng

và túi nướu theo nhóm tuổi 96

36 3.26 Tỷ lệ người có mô nha chu lành mạnh, viêm nướu, cao răng và túi

nướu theo giới tính 96

37 3.27 Trung bình vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng

và túi nướu theo giới tính 97

38 3.28 Tỷ lệ người có mô nha chu lành mạnh, viêm nướu, cao răng và túi nướu

theo vùng cư trú 100

39 3.29 Trung bình vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng

và túi nướu theo vùng cư trú 100

40 3.30 Tỷ lệ người có mô nha chu lành mạnh, viêm nướu, cao răng và túi nướu

theo dân tộc 101

41 3.31 Trung bình vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng

và túi nướu theo yếu tố dân tộc 101

42 3.32 Trung bình vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng và

túi nướu theo theo TĐHV, nghề nghiệp và thu nhập ở người35-44 tuổi 102

43 3.33 Trung bình vùng lục phân lành mạnh, chảy máu nướu, cao răng

và túi nướu theo thói quen chăm sóc răng miệng 103

44 3.34 Phân tích hồi qui tuyến tính tổng quát cho trung bình vùng lục phân có

cao răng và các yếu tố liên quan ở người 35-44 tuổi 104

45 3.35 Phân tích hồi qui tuyến tính cho trung bình vùng lục phân có

cao răng và các yếu tố liên quan ở người 35-44 tuổi 105

Trang 12

46 3.36 Mô hình hồi qui tuyến tính cho trung bình vùng lục phân có cao răng

và các yếu tố liên quan ở người 35-44 tuổi 106

47 3.37 Tỷ lệ người có nhu cầu điều trị bệnh nha chu 106

48 3.38 Tỷ lệ người có dấu hiệu và triệu chứng ở khớp thái dương hàm

107

49 3.39 Tỷ lệ bệnh niêm mạc miệng 107

50 3.40 Tỷ lệ trẻ 12 và 15 tuổi có răng nhiễm fluor theo chỉ số Dean 108

51 4.1 So sánh tỷ lệ sâu răng, chỉ số smtr/SMTR ở ĐBSCL tại

hai thời điểm 1999 và 2009 116

52 4.2 Chỉ số SMTR và chỉ số SiC trên trẻ 12 tuổi của một số

quốc gia trên thế giới 117

53 4.3 Phân tích hồi qui logistic giữa các yếu tố nguy cơ gây sâu răng

và nguy cơ mắc bệnh của trẻ em 6 tuổi ở Đan Mạch 125

54 4.4 So sánh chỉ số CPI ở người 35-44 tuổi ở 2 thời điểm 1999 và 2009

135

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

55 1.1 Mô hình “tảng băng nổi” với các ngưỡng chẩn đoán của Pitts 5

56 1.2 Phân loại tình trạng tổn thương sâu răng dựa trên tiêu chuẩn ICDAS 7

57 2.1 Bản đồ vùng Đồng bằng sông Cửu Long 46

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT Biểu đồ Nội dung Trang

58 1.1 Ví dụ mô tả sự phân phối tần suất bệnh theo chỉ số SMTR 13

59 3.1 Phân bố chỉ số SMTR theo cụm tỉnh và theo nhóm tuổi 76

60 3.2 Phân bố trung bình vùng lục phân có chảy máu nướu theo cụm tỉnh

98

61 3.3 Phân bố trung bình vùng lục phân có cao răng theo cụm tỉnh 99

62 3.4 Phân bố trung bình vùng lục phân có túi nướu 4-5mm theo

cụm tỉnh 99

63 3.5 Phân bố trung bình vùng lục phân có túi nướu ≥ 6mm theo

cụm tỉnh 99

DANH MỤC SƠ ĐỒ

64 2.1 Qui trình nghiên cứu 53

Trang 14

MỞ ĐẦU

Sâu răng và nha chu là hai bệnh thường gặp nhất trong các bệnh răng miệng,ảnh hưởng đến 60%–90% trẻ em và đa số người lớn Ở các nước phát triển, bệnhđang có chiều hướng giảm dần do sự thay đổi điều kiện sống và việc áp dụng cácchương trình phòng ngừa; ngược lại, tỷ lệ bệnh sâu răng giảm ít hoặc tiếp tụctăng ở các nước đang phát triển [72]

Trên thế giới, tỷ lệ hiện mắc và độ trầm trọng của bệnh sâu răng và nha chukhác nhau ở ngay trong một quốc gia Tỷ lệ bệnh răng miệng cao được thấy trongcác cộng đồng người dân có thu nhập thấp, ở vùng nông thôn xa, hẻo lánh Gầnđây, nhiều nghiên cứu được thực hiện đã chứng minh vai trò rất lớn của các yếutố thuộc kinh tế-xã hội như điều kiện sống, mức thu nhập, trình độ văn hóa… đốivới bệnh răng miệng Ngoài ra, những yếu tố thuộc hành vi cá nhân như: thóiquen giữ gìn vệ sinh răng miệng, việc tiêu thụ đường và các sản phẩm có đường,thói quen hút thuốc lá và uống rượu…cũng được xem là những yếu tố nguy cơ gâybệnh [70]

Việt Nam là nước thuộc khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ bệnh răng miệng hiện nayđang còn ở mức độ cao Theo điều tra quốc gia thực hiện năm 1999, được côngbố năm 2001, có hơn 85% trẻ em từ 6-8 tuổi mắc bệnh sâu răng, mỗi người lớn cótrung bình 8 răng sâu, 2/3 người lớn có ít nhất một vùng lục phân có cao răng và30% người có ít nhất một túi nha chu ≥ 4mm [17], [44] Hệ thống chăm sóc sứckhỏe cho người dân còn nhiều bất cập: tại khu vực đô thị, dịch vụ chăm sóc sứckhỏe răng miệng (CSSKRM) đang phát triển nhanh, chủ yếu phục vụ cho các đốitượng có thu nhập trung bình và cao trong xã hội, trong khi đó, người dân ở cácvùng nông thôn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ này.

Trang 15

Những rào cản gồm nhiều nguyên nhân như phải đi xa, thiếu cán bộ y tế, khôngcó khả năng chi trả hoặc thiếu kiến thức hay ý thức về chăm sóc răng miệng Hệthống phân phối nguồn nhân lực hiện nay cũng đang có sự mất cân xứng: đa sốbác sĩ tập trung ở các thành phố lớn và vùng đô thị làm cho việc thiếu nguồn nhânlực trở thành vấn đề trầm trọng ở vùng nông thôn[64]

Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở phía nam Việt Nam là vùngtrọng điểm về kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, ĐBSCL cũng còn gặp nhiều khókhăn và hạn chế: tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi lên tới gần 20% (trong khi cảnước là 16,5%); tỷ lệ lao động được đào tạo có trình độ kỹ thuật so với lao độngtrong độ tuổi đạt thấp, khoảng 4% (thấp nhất so với các vùng khác) Đời sống củangười dân nói chung còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dântộc [19] Theo thống kê đươc thực hiện bởi Trường Đại học Y Dược Cần Thơ,nguồn nhân lực y tế đang thiếu hụt và mất cân đối Toàn vùng chỉ có 4,1 bác sĩ/1vạn dân [9] Một số điều tra thực hiện ở vùng ĐBSCL cho thấy bệnh răng miệnglà bệnh thường gặp, chủ yếu là bệnh sâu răng và nha chu Tuy vậy, các nghiêncứu này chỉ giới hạn trong phạm vi một số tỉnh và thường tập trung vào lứa tuổithiếu niên, chưa có nghiên cứu nào đưa ra được bức tranh toàn cảnh cho khu vực.Chúng tôi nhận thấy cần có những nghiên cứu xác định tình trạng các bệnh răngmiệng trong toàn khu vực và các yếu tố chi phối chúng Những thông tin từ cácnghiên cứu này sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra chiến lược chăm sóc sứckhỏe răng miệng, bao gồm kế hoạch đào tạo bổ sung nguồn nhân lực, trang thiết

bị và kinh phí cho mạng lưới y tế… Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Tình trạng sức khỏe răng miệng của người dân Đồng bằng sông Cửu Long và các

yếu tố liên quan”.

Trang 16

Mục tiêu nghiên cứu :

1 Xác định tỷ lệ bệnh sâu răng, chỉ số Sâu Mất Trám Răng (smtr/ SMTR),chỉ số SiC và phân tích các yếu tố liên quan trong cộng đồng người dân ởĐBSCL

2 Xác định tỷ lệ người có vấn đề về nha chu, chỉ số nhu cầu điều trị nha chu(CPITN) và phân tích các yếu tố liên quan

3 Xác định tỷ lệ một số bệnh răng miệng thường gặp khác gồm: bệnh niêmmạc miệng, bệnh khớp thái dương hàm và tình trạng nhiễm fluor răng.

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số bệnh răng miệng phổ biến và các yếu tố nguy cơ:

1.1.1 Bệnh sâu răng:

Theo quan niệm hiện nay, sâu răng là bệnh đa yếu tố Ngoài các yếu tố quan trọngtrong vòng tròn Keyes, sâu răng là kết quả của sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệvà bệnh lý Bên cạnh yếu tố sinh học, các yếu tố về kinh tế-xã hội (KT–XH) và thóiquen chăm sóc răng miệng (CSRM) cũng đóng vai trò quan trọng đối với bệnh sâurăng [21],[33]

1.1.1.1 Vấn đề chẩn đoán bệnh sâu răng trong cộng đồng:

Chẩn đoán sâu răng không chỉ đơn giản là phát hiện lỗ sâu, theo các quan niệmhiện nay, chẩn đoán sâu răng bao gồm nhiều mức độ tùy vào mục tiêu của nhànghiên cứu, lâm sàng và dịch tễ

* Chẩn đoán sâu răng theo “Mô hình tảng băng nổi” [57],[58]: mô hình được

Pitts (2001; 2004) mô tả như sau: tảng băng được chia ra 4 mức độ tương ứng với cácgiai đoạn tiến triển của bệnh sâu răng: D1, D2, D3, D4.

- Mức D1: tổn thương men với bề mặt còn nguyên vẹn

- Mức D2: tổn thương men có tạo xoang

- Mức D3: tổn thương đã đi vào ngà

- Mức D4: tổn thương đã đi vào tủy

Các tổn thương này có thể phát hiện được qua việc khám lâm sàng Tổn thương ở giaiđọan sớm (ở 2 tầng dưới cùng)(hình 1.1) không thể phát hiện được trên lâm sàng vàcần các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán

Trang 18

Ý nghĩa của mô hình: mô hình có thể giúp phân biệt các giai đọan diễn tiến của bệnhsâu răng Mức độ nổi của tảng băng tùy thuộc vào ngưỡng chẩn đoán và mục đích sửdụng của các nhà nghiên cứu

- Đối với các nhà dịch tễ học: chẩn đoán sâu răng thường được xác định khi tổnthương đã đi vào ngà tương ứng với ngưỡng chẩn đoán ở mức D3

- Đối với các nhà lâm sàng: chẩn đoán đi liền với các quyết định điều trị, vì vậycần chẩn đoán sâu răng ở giai đoạn sớm tương ứng với mức D1 và D2 để cóthể đưa ra các biện pháp dự phòng và điều trị thích hợp

n à dịch ễ h ïc Tổn h ơ g h áy n à (D3)

Ph ùt hiện ổn h ơ g me n ờ các d ïn cụ ch ån đ án Ch ån đ án n ờ

côn cụ ch ån đ án

Tổn h ơ g k ởi p át k ôn n ìn h áy rên âm sàn cần côn cụ

ch ån đ án mới

Ngưỡng chẩn đoán không sâu ở mức D 3

Hình 1.1 : Mô hình “tảng băng nổi” với các ngưỡng chẩn đoán của Pitts[25]

“Nguồn:Pitts NB, (2004) Community Dental health, 193-198”[25].

* Các tiêu chuẩn chẩn đoán sâu răng cho cộng đồng:

- Chẩn đoán sâu răng theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) [69]: hiện nay các

nghiên cứu sâu răng trong cộng đồng vẫn đang áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán củaTCYTTG Theo tiêu chuẩn này, chỉ có hai mức độ để đánh giá tình trạng sâurăng (có sâu hoặc không sâu):

Trang 19

- Một răng được đánh giá lành mạnh (không sâu) khi không có bằng chứngcho thấy sâu răng đã điều trị hoăïc sâu răng không điều trị Do đó, tất cảnhững răng có dấu hiệu của giai đoạn sâu răng sớm (chưa tạo xoang) đượcghi nhận là lành mạnh

- Một răng được đánh giá là sâu khi có sự hiện diện rõ ràng của tổn thương(xoang sâu) ở hố hoặïc rãnh với thành hoặc đáy mềm khi thăm dò bằng câythám trâm đầu tròn

Với tiêu chuẩn này, các tổn thương sâu răng không xoang (vùng đục men domất khoáng) được chẩn đoán là không sâu và có khả năng đi đến tạo xoang thậtsự hoặc được tái khoáng hoá Do đó, tiêu chuẩn chẩn đoán này chỉ phát hiện racác tổn thương là hậu quả của tiến trình bệnh sâu răng chứ không phản ánh đượcthực chất tiến trình bệnh trên từng cá nhân

- Chẩn đoán sâu răng theo tiêu chuẩn TCYTTG được bổ sung bởi Beltran và Baez[24].

Với tiêu chuẩn này, răng được đánh giá như sau:

- Răng được đánh giá lành mạnh khi không có dấu hiệu nào của xoang sâu,miếng trám hoặc sealant

- Sang thương không xoang: mã số này được ghi nhận cho các hố rãnh sẫmmàu (nâu tới đen) hơn 5% mà không có dấu hiệu lâm sàng của sâu răng nhưsự mất khoáng dưới men hoặc vùng men chung quanh hố rãnh, hoặc mấtkhoáng ở đáy hố rãnh

- Sang thương tạo xoang: có 3 dạng sâu răng được đánh giá như sau:

Sâu ở hố rãnh: trên hố và rãnh có sự hiện diện của xoang sâu rõ ràng hoặc nhìnthấy được sự mất khoáng của men răng xung quanh hố và rãnh, biểu hiện bởi sựthay đổi màu sắc từ trắng đục đến sẫm màu (nâu, đen)

Trên mặt láng: có bằng chứng rõ ràng về sự hiện diện của xoang sâu

Trang 20

Giai đoạn 1: phân loại mỗi bề mặt răng theo các mức độ: răng lành mạnh, có trám bít

hố rãnh, có miếng trám, mão răng hoặc mất răng

Theo ICDAS, mỗi răng được chia ra các mặt sau: gần, xa, mặt má, mặt lưỡi và mặtnhai Một số răng được tiếp tục chia thành nhiều phần Tổng cộng có 182 bề mặtrăng được khám Tuy nhiên, tùy vào mục đích nghiên cứu của tác giả mà những bềmặt nào được lựa chọn khám

Giai đoạn 2: Phân loại tình trạng tổn thương sâu răng dựa trên tiêu chuẩn

ICDAS

Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3

Trang 21

Độ 4 Độ 5 Độ 6

Hình 1.2 : Phân loại tình trạng tổn thương sâu răng dựa trên tiêu chuẩn ICDAS.

1.1.1.2 Lượng giá sâu răng trong các nghiên cứu cộng đồng [27]:

Dịch tễ học là nghiên cứu về tình trạng sức khỏe và bệnh tật của cộng đồng hơn làcá nhân Trong các nghiên cứu điều tra, các nhà dịch tễ thường xác định tỷ lệ và mứcđộ trầm trọng của các vấn đề sức khỏe trong mối liên quan với các yếu tố như: tuổi,giới, tình trạng kinh tế-xã hội, dinh dưỡng v.v…

Dịch tễ học răng miệng “là khoa học nghiên cứu về sự phân bố sức khỏe vàbệnh răng miệng của con người, lý giải sự phân bố đó nhằm giúp cho các cơ sở y tếrăng miệng thiết lập kế hoạch, chương trình can thiệp phù hợp và có hiệu quảnhằm khống chế các bệnh răng miệng đang lưu hành”

Để lượng giá bệnh sâu răng có 3 vấn đề cần nghiên cứu:

- Tần suất bệnh răng miệng

- Sự phân bố bệnh răng miệng và lý giải sự phân bố đó

- Các chương trình can thiệp và hiệu quả của nó

* Các chỉ số sử dụng đo lường bệnh sâu răng trong cộng đồng:

Chỉ số là công cụ giúp ước lượng được tình trạng bệnh tật Chỉ số răng miệng cungcấp một phương pháp tính toán để ước lượng, ghi điểm và phân tích tình trạng răngmiệng của cá nhân hoặc nhóm người Chỉ số có thể đơn giản chỉ đo lường có bệnhhoặïc không, hoặc có thể ước lượng tiến triển của tình trạng bệnh tật trong quá khứ hay

“Nguồn: Pitts N.B Community Dental health 2004 21: 193-198”[25]

Trang 22

hiện tại cung cấp những dữ liệu cơ bản để xác định nhu cầu của cộng đồng và đánh giáhiệu quả của một chương trình cộng đồng [20]

- Chỉ số sâu mất trám SMTR [27],[38],[41],[67]:

Chỉ số SMTR được TCYTTG khuyên dùng và hiện nay nó vẫn là chỉ số cơbản, hướng dẫn cho việc ước lượng tình trạng sâu răng trong các nghiên cứu lâmsàng và dịch tễ học Chỉ số SMTR là một trong số những chỉ số đơn giản nhấtdùng để lượng giá sự khác biệt về tình trạng bệnh sâu răng giữa các cộng đồngkhác nhau hoặc trong cùng một cộng đồng ở những thời điểm khác nhau

Chỉ số SMTR là trung bình số răng sâu, mất, trám trên mỗi cá nhân đượckhám Giá trị tối đa cho SMTR là 28 (loại trừ răng khôn) hoặïc 32 (bao gồm cả 4răng khôn) Chỉ số SMTR cho cộng đồng được tính toán như sau:

Tổng số răng sâu, mất, trámSMTR = -

Số người được khámChỉ số SMT-MR là trung bình số mặt răng sâu, mất, trám trên mỗi cá nhânđược khám Răng cối lớn và răng cối nhỏ được tính cho 5 mặt răng Răng trướcđược tính cho 4 mặt răng Giá trị tối đa cho SMT-MR là 128 cho 28 răng Đối vớibộä răng sữa, chỉ số smtr và smt-mr được tính cho 20 răng

Chỉ số SMTR có ưu điểm là đơn giản, có thể cải tiến trong một số trường hợp và đượcchấp nhận rộng rãi Tùy theo tiêu chuẩn đo lường sâu răng của nghiên cứu, chỉ số có thểđủ nhạy để đo lường sự khác biệt giữa các cộng đồng [25]

Một số hạn chế của chỉ số SMTR:

- Theo Birch, chỉ số SMTR chỉ đo lường tình trạng sâu răng đã qua và hậuquả của nó mà không chỉ ra được mức độ trầm trọng của bệnh [41]..

Trang 23

- Với chỉ số này tất cả các răng mất được xem như mất do sâu răng nhưng

do tiến trình tự nhiên, ở các lứa tuổi lớn đa số các răng mất thường liên hệvới bệnh nha chu

- Tất cả các răng trám cũng được xem như trám do sâu răng, mặc dù một sốtrường hợp do trám phòng ngừa hoặc vì lý do thẫm mỹ

- Một răng sâu trầm trọng và bị phá hủy nhiều cần được nhổ hoặc điều trịtủy vẫn được ghi nhận cùng một điểm với răng sâu ngà

- Một răng sâu và một răng trám có tầm quan trọng như nhau, có nghĩa làkhi một răng sâu chuyển qua thành chỉ số trám thì cũng không ảnh hưởngđến chỉ số SMTR

- Chỉ số SMTR cho giá trị đo lường như nhau đối với răng sâu, đã nhổ haytrám Vì vậy, một số cá nhân có cùng chỉ số SMTR nhưng tình trạng răngmiệng của họ rất khác nhau Người thường xuyên đến điều trị tại các cơ sởđiều trị răng miệng sẽ có số lượng răng trám và nhổ nhiều hơn Do đó,theo kết quả của một số nghiên cứu, người thường xuyên đi điều trị răngmiệng không có sức khỏe răng miệng tốt hơn theo chỉ số SMTR Chính vìvậy, chỉ số SMTR trong các nước có thu nhập cao lại “xấu” hơn so với cácnước có thu nhập thấp

Nhận ra được những giới hạn của chỉ số SMTR, Sheiham và cộng sự (1987) đãđề nghị 2 chỉ số thay thế: chỉ số FS-T và T health

- Chỉ số FS-T [41],[51],[60].

Chỉ số FS-T là chỉ số đo lường số răng có chức năng (răng lành vàrăng trám).Theo chỉ số này răng lành mạnh và răng trám sẽ có cùng giá trị đo lường (FS-T=số răng lành + số răng trám) Trong khi SMTR đại diện cho tình trạng bệnh và

Trang 24

- Ở những người trẻ tuổi nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa tình trạngrăng miệng và yếu tố kinh tế–xã hội không rõ ràng khi mô tả bằng chỉ sốSMTR, nhưng mối liên hệ này rõ hơn khi sử dụng chỉ số FS-T.

Tuy nhiên, cả 2 chỉ số đều có giới hạn, chỉ số SMTR và FS-T đều tùy thuộcvào ngưỡng chẩn đoán cho tình trạng sâu răng: tức chỉ số S (sâu) trong SMTR và

S (lành mạnh, không sâu) trong FS-T Theo các tác giả khi mô tả tình trạng răngmiệng trong cộng đồng nên mô tả cả hai: tình trạng sức khỏe răng miệng và tìnhtrạng bệnh răng miệng Chỉ số FS-T đại diện cho sức khỏe và chức năng của bộrăng, trong khi đó chỉ số SMTR đại diện cho tình trạng bệnh sâu răng và hậu quảcủa nó Hai chỉ số này bổ sung cho nhau hơn là cạnh tranh nhau Bằng cách sửdụng cả hai chỉ số, sẽ cho bức tranh toàn diện hơn về tình trạng răng miệng[41],[60]

- Chỉ số T-Health [47]:

Chỉ số này được Sheiham đề nghị sử dụng năm 1987, là phương pháp đolường số răng lành mạnh Theo chỉ số T-Health, số điểm đo lường tùy vào tìnhtrạng răng: điểm 4 cho răng lành, 2 cho răng trám, 1 cho răng sâu Chỉ số này cógiá trị từ 0–128

* Necmi Namal và cộng sự gọi chỉ số này là “The number of functioning teeth” [51].

Trang 25

Theo Benigeri, Payette, Brodeur (1998) chỉ số SMTR tăng khi có sự gia tăngmức độ bệnh sâu răng Trong khi đó, FS-T và T-health giảm khi có sự gia tăngbệnh

Tóm lại, chỉ số SMTR được TCYTTG khuyến cáo sử dụng trong các nghiêncứu dịch tễ Trong chỉ số này, thành phần sâu quan trọng trong một số trườnghợp, đặïc biệt làở các nước đang phát triển có mức độ điều trị sâu răng rất thấp, vàhầu như chỉ số T bằng 0

Hai chỉ số FS-T và T-health thích hợp cho việc nhận ra sự khác biệt về sứckhỏe răng miệng trong các cộng đồng có điều kiện KT-XH và hành vi khác nhauvà chúng cũng được sử dụng để đo lường sự cải thiện tình trạng sức khỏe răngmiệng theo thời gian Ở mỗi mục đích đo lường khác nhau, các chỉ số bổ sung chonhau

FS-T và T- Health là chỉ số tốt hơn cho việc đánh giá “chất lượng” của răng,cung cấp phương pháp đo lường tốt hơn trong việc đánh giá các dịch vụ chăm sócrăng miệng và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ Để xây dựng chỉ sốFS-T và T- Health không cần thu thập thêm dữ liệu nào từ dữ liệu cho SMTR.Với các dữ liệu có sẵn, chúng ta có thể chuyển đổi thành các tính toán cho 2 chỉsố trên

- Chỉ số SiC [46] (chỉ số sâu răng đáng kể):

Năm 1981, TCYTTG đặt mục tiêu đến năm 2000, tất cả các nước trên thế giớinên đạt được chỉ số SMTR cho trẻ 12 tuổi không vượt quá 3 Đến năm 2000, cókhoảng 70% quốc gia đạt được mục tiêu này Kết quả đó phản ánh sự thành côngtrong việc cải thiện sức khỏe răng miệng Tuy nhiên, khi phân tích một cách chitiết hơn về tình trạng bệnh sâu răng trong một số quốc gia, các dữ liệu cho thấycó sự phân bố không đồng đều về tỷ lệ bệnh trong cộng đồng Điều này có nghĩa

Trang 26

là vẫn có một tỷ lệ trẻ có giá trị SMTR cao hoặc rất cao trong khi có một tỷ lệ trẻkhông sâu răng Vì vậy, chỉ số SMTR không phản ánh chính xác về sự phân phốibệnh sâu răng trong cộng đồng dẫn đến các kết luận không đúng về tình trạngbệnh Năm 2000, một chỉ số mới được TCYTTG đề nghị: chỉ số SiC.Chỉ số nàychú trọng tới các các cá nhân có điểm cho sâu răng cao nhất trong mỗi cộngđồng Trung bình SMTR được tính toán cho 1/3 cá nhân có điểm số sâu răng caonhất Giá trị này chính là chỉ số SiC Chỉ số này được sử dụng để bổ sung cho giátrị của SMTR

Phương pháp tính toán cho chỉ số SiC: tính toán SMTR cho từng cá nhân; chọn ra1/3 các cá nhân có SMTR cao nhất; tính trung bình SMTR cho nhóm này

Biểu đồ 1.1: Ví dụ mô tả sự phân phối tần suất bệnh theo chỉ số SMTR

Trong ví dụ này khoảng 45% cá nhân không có sâu răng (SMTR =0) Trungbình SMTR trên trẻ 12 tuổi là 1,91; chỉ số SiC là 4,61 Mũi tên và đường đứngdọc chỉ ra các cá nhân được bao gồm trong tính toán cho chỉ số SiC

TCYTTG đề nghị một mục tiêu mới cho đến năm 2015, các quốc gia nên đạtđược chỉ số SiC thấp hơn 3 Khi quốc gia nào đạt được thì phải xem xét đến cácđơn vị tỉnh, thành phố, quận, huyện, các cộng đồng trong các đơn vị hành chínhđể xác định những cộng đồng có chỉ số SiC cao hơn 3

SMTR ở trẻ 12 tuổi

% nhóm

Trang 27

- Yếu tố kinh tế-xã hội [27].

Yếu tố kinh tế-xã hội và môi trường có ảnh hưởng lớn đối với sức khỏe răngmiệng Dữ liệu từ nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan nghịch giữa tìnhtrạng KT-XH với tỷ lệ hiện mắc và mới mắc của bệnh tật: khi điều kiện KT-XHtăng, tình trạng bệnh tật giảm

Theo báo cáo của WHO năm 2003, một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnhrăng miệng bao gồm điều kiện sống thiếu thốn, trình độ học vấn thấp, phong tục

Trang 28

tập quán Bên cạnh đó, những yếu tố môi trường, văn hóa xã hội đóng vai tròtrung gian hay hỗ trợ thêm cho các yếu tố nguy cơ thuộc về hành vi như chăm sócrăng miệng, tiêu thụ đường, cũng như thói quen hút thuốc và uống rượu Chínhtrị, KT-XH, văn hóa, môi trường, hành vi và các yếu tố sinh học có thể làm giatăng hoặc suy giảm sức khỏe Nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa các yếu tốxã hội và bệnh răng miệng đã được tiến hành Đa số các nghiên cứu thực hiệnphân tích hồi qui đa yếu tố để tìm mức độ liên quan của mỗi biến số đối với sứckhỏe răng miệng

Kết quả từ các nghiên cứu chứng minh rằng: trình độ học vấn (TĐHV) có ảnhhưởng đối với bệnh sâu răng và mối liên hệ này đặïc biệt mạnh ở những vùng cótỷ lệ sâu răng cao Một nghiên cứu được thực hiện ở Đan mạch từ năm 1994 đến

2000 cho thấy có mối liên quan giữa các yếu tố xã hội học và nguy cơ sâu răng.Khi phân tích đường cong đa biến hồi qui cho thấy chỉ số sâu và mất thấp ởnhững người lớn có thói quen chăm sóc răng miệng tốt Và ngược lại, chất lượngcuộc sống thấp (đo bằng tình trạng đau, khó chịu, không ăn nhai được…) gặp ởnhững đối tượng phụ nữ, người có thu nhập thấp, người lao động tay chân, không

đi khám răng đều đặn, có thái độ và hành vi chăm sóc răng miệng không tốt

Nghiên cứu quốc gia được thực hiện từ năm 1990-1996 trên trẻ 5–11 tuổitrong 62 cộng đồng Tennessee (Mỹ) cho thấy: tình trạng KT–XH là yếu tố tiênlượng quan trọng đối với sức khỏe răng miệng, trung bình số răng sâu/st ở hệrăng sữa và trung bình số răng sâu/SMT ở hệ răng vĩnh viễn cao hơn có ý nghĩa ởtrẻ em thuộc tầng lớp xã hội thấp [37]

Wigen TI và cộng sự [75] thực hiện mô hình hồi qui logistic đa biến để phântích mối liên quan giữa các yếu tố TĐHV, các thói quen hành vi chăm sóc răngmiệng của cha mẹ ảnh hưởng đến tình trạng sâu răng ở trẻ em 5 tuổi

Trang 29

- Việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng[55] :

Việc cung cấp các dịch vụ CSSKRM ảnh hưởng rất lớn đến tình hình bệnhrăng miệng trong cộng đồng Đa số các dịch vụ CSSKRM tập trung ở nhữngthành phố lớn, nguồn nhân lực thiếu trầm trọng ở những vùng nông thôn Vì vậy,người dân khó khăn trong việc tiếp cận được các dịch vụ này Ngoài ra, tình trạngsâu răng còn phụ thuộc vào chính sách của ngành y tế đang áp dụng để kiểm soátbệnh răng miệng nghiêng về điều trị hay phòng ngừa Hiện nay, các nước đã pháttriển đang rất chú trọng đến vấn đề phòng ngừa và chiến lược này đạt được hiệuquả cao trong việc làm giảm tỷ lệ bệnh sâu răng

- Yếu tố sinh học

Mảng bám [45] :Mảng bám được liên tục lấy đi bởi quá trình chải răng nhưng nó sẽ được tái tạotrở lại sau vài phút Lượng mảng bám trên răng càng nhiều, lượng vi khuẩn tíchtụ càng lớn, khả năng sinh axít làm giảm pH nước bọt càng cao, nguy cơ sâu răngcao Lớp mảng bám có khuynh hướng tạo thành và trưởng thành ở một số vị trítrên răng nhằm tránh khỏi những hoạt động gây mòn cơ học của lưỡi, má, bànchải…như mặt tiếp giáp, hố rãnh của răng

Vi khuẩn [45]:

Trang 30

Sâu răng là bệnh nhiễm khuẩn, sự lây nhiễm được truyền từ mẹ sang con quacác hành vi như hôn, mớm thức ăn cho con, dùng chung muỗng… Mức độ vi khuẩn

ở mẹ càng lớn, số lượng vi khuẩn lây truyền càng lớn Vi khuẩn gây sâu răng chủ

yếu là Streptoccoccus mutans và Lactobaccillus Streptoccoccus mutans có mật độ

cao ở vùng mảng bám phủ trên tổn thương sâu răng sớm Trong khi đó cả hai vikhuẩn có mật độ cao ở vùng men răng mất khoáng trắng đục

Một số yếu tố có thể thúc đẩy việc trú ngụ sớm và mật độ cao của vi khuẩn ở trẻ:chế độ ăn nhiều carbonhydrate, ngậm kẹo, nước trái cây, nước ngọt, suy dinhdưỡng bào thai (có thể gây thiểu sản men và có nguy cơ sâu răng sớm)

Nước bọt [22],[55]:

Nước bọt có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe răng miệng Ngoàiviệc bôi trơn giúp các chức năng nói, nuốt, nhai, tiêu hóa thức ăn, nước bọt cònđóng vai trò bảo vệ chống lại sâu răng Chức năng phòng ngừa sâu răng quantrọng nhất là làm sạch cơ học các mảnh vụn thức ăn và cung cấp hệ thống đệmổn định pH của môi trường miệng, cung cấp các yếu tố cần thiết (ion calcium,phosphate) cho quá trình tái khoáng của men răng Ngoài ra, trong nước bọt cóchứa một số yếu tố kiểm soát vi khuẩn qua IgA, enzyme, peptide…

Lưu lượng nước bọt: tốc độ chảy nước bọt càng nhanh, khả năng làm sạch vàkhả năng đệm càng tăng Lưu lượng nước bọt giảm, nguy cơ sâu răng tăng

Khả năng đệm của nước bọt: là khả năng duy trì pH nước bọt ổn định trong môitrường miệng khi có tác nhân axít hay ba-sơ tác động làm thay đổi pH pH nước bọt lúcnghỉ duy trì trong khoảng từ 6,7 -7,4 Bình thường khả năng đệm nước bọt khi cókích thích khoảng 5,75 – 6,5 Một người được xem là có nguy cơ cao khi khảnăng đệm rất thấp (thấp hơn 4)

Trang 31

Độ nhớt nước bọt: hiệu quả bôi trơn của nước bọt phụ thuôc vào độ nhớt nước

bọt Bình thường sợi nước bọt duy trì ở độ dài 5cm Nếu nước bọt quánh có thểkéo dài 15cm Độ quánh nước bọt càng nhiều nguy cơ sâu răng càng cao

- Thói quen và hành vi:

Yếu tố về hành vi đóng vai trò quan trọng trong các yếu tố nguy cơ gây sâurăng Yếu tố hành vi bao gồm:

Chế độ ăn và sâu răng [22],[30],[45]:

Chế độ ăn có đường và chất carbohydrate: nguy cơ mắc bệnh sâu răng cao ởnhững trẻ có số lần tiêu thụ đường cao Sự lên men đường từ sự biến dưỡng của vikhuẩn dẫn đến tình trạng pH thấp xuống đến ≤ 5 Khi đường được tiêu thụ hết vànước bọt đủ để trung hoà axít, sâu răng không xảy ra Theo David Arcella tiếntrình mất khoáng không chỉ tuỳ thuộc vào lượng axit tấn công mà còn tuỳ thuộcvào thời gian, số lượng, loại và thành phần của thực phẩm

Chế độ ăn nhiều chất axít [50]: tiêu thụ quá nhiều thức uống chứa axít như

nước ngọt có gas, nước trái cây… sẽ làm thay đổi cân bằng các chủng vi khuẩn

dưới nướu, tạo thuận lợi cho các vi khuẩn tạo axít như Streptoccoccus mutans và

Lactobaccilus

Năm 2001, Vanobbergen thực hiện nghiên cứu đánh giá các yếu tố nguy cơđối với bệnh sâu răng trên hệ răng sữa Qua các kết quả, tác giả khẳng định tầmquan trọng của thói quen ăn uống đối với bệnh sâu răng Theo kết quả hồi quilogistic, việc sử dụng thức uống có đường (OR=1,38) và snack giữa các bữa ăn(OR=1,22) mỗi ngày có mối liên hệ rất có ý nghĩa đối với bệnh sâu răng[66 ].Sử dụng fluor [50] :

Trang 32

Việc sử dụng fluor thường xuyên để đạt được nồng độ thấp lý tưởng tích chứatrong nước bọt có hiệu quả trong việc ngăn chặn sự khởi phát và tiến triển củabệnh sâu răng

Việc chải răng với kem đánh răng 2 lần/ngày giúp tích trữ fluor trong nước bọt.Fluor trong nước uống cung cấp yếu tố kháng khuẩn Ngoài ra các sản phẩm fluorkhác nếu sử dụng hợp lý sẽ gia tăng khả năng phòng bệnh sâu răng: gel fluor, súcmiệng fluor… Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển thuộc Châu Á hoặc Châu Phi,nơi có rất ít nguồn fluor, việc tiêu thụ đường đóng vai trò rất quan trọng trong cácyếu tố nguy cơ gây sâu răng

Thói quen chăm sóc răng miệng[50]: bao gồm các yếu tố như số lần chải răng,chải răng ngay sau khi ăn, khám răng miệng định kỳ…

- Chải răng đúng cách giúp lấy đi mảng bám vi khuẩn để lại bề mặt răngsạch Chải răng phải thực hiện đầy đủ các mặt răng để có thể loại trừmảng bám Chải răng nhiều lần/ngày nhưng không đúng cách, hiệu quảphòng bệnh sẽ không đạt được

- Số lần chải răng: theo các tác giả chải răng ít nhất 2 lần/ngày với kemđánh răng có fluor giúp cung cấp fluor tích trữ trên bề mặt răng Chải răngtrước khi đi ngủ là đặc biệt quan trọng vì trong khi ngủ lưu lượng nước bọt

ít đi, và khả nặng đệm cũng giảm

- Việc tuân thủ khám răng miệng định kỳ sẽ giúp phát hiện các tổn thươngsâu răng sớm, điều trị thích hợp sẽ giúp sữa chữa được tổn thương sâu răngbằng các biện pháp gia tăng sự tái khoáng

- Tình trạng bệnh toàn thân[50]: một số bệnh toàn thân gián tiếp ảnh hưởng đến

tiến trình sâu răng như:

Trang 33

- Bệnh tiểu đường không kiểm soát có thể gâyï giảm lưu lượng nước bọtlúc nghỉ cũng như lúc kích thích Việc kiểm soát đường huyết kém có thểgây đa niệu dẫn đến rối loạn cân bằng dịch cơ thể và mất nước Khi bệnhkéo dài, có sự xâm nhập của các lympho bào vào tuyến nước bọt lớn dẫnđến làm giảm lưu lượng nước bọt

- Việc sử dụng một số thuốc có thể gây giảm tiết nước bọt: thuốc hạ áp, anthần

- Xạ trị vùng đầu-mặt-cổ có thể phá hủy một số tuyến nước bọt

- Bệnh lý sớm ở trẻ có thể ảnh hưởng đến sự hình thành men răng

- Tình trạng sâu răng đã có [28]:

Theo một vài nghiên cứu, một cách để tiên lượng sâu răng trong tương lai làdựa trên bệnh sâu răng đã có, những cá nhân có sâu răng sớm khi còn trẻ cókhuynh hướng có thêm những tổn thương sâu răng trong những năm sau đó.Những đứa trẻ này được gọi là những người có nguy cơ cao đối với bệnh sâu răng

1.1.2 Bệnh nha chu:

Bệnh nha chu là một trong hai bệnh răng miệng thường gặp nhất trong cộngđồng ở các nước trên thế giới với tỷ lệ hiện mắc rất cao Các công bố gần đây củaTCYTTG cho thấy tỷ lệ bệnh và độ trầm trọng của nó cao trong nhóm người lớntuổi khi so sánh với độ tuổi trẻ hơn [43]

Bệnh nha chu là tiến trình viêm xảy ra ở mô xung quanh răng đáp ứng lại sựtích tụ của vi khuẩn trong các mảng bám răng Bệnh nha chu là bệnh nhiễmkhuẩn, vi khuẩn trong mảng bám là tác nhân gây viêm nướu (Loe, Thelaid vàJensen, 1965) và nhiều dạng viêm nha chu khác nhau (Haffajee và Socransky,1994; Listgaten, 1994; Moore, 1994) Tuy nhiên, tình trạng viêm nướu có quan

Trang 34

1.1.2.1 Vấn đề chẩn đoán bệnh nha chu trong cộng đồng

Chẩn đoán bệnh nha chu cho cộng đồng trước hết dựa vào chẩn đoán bệnh trêntừng cá nhân Bệnh nha chu có nhiều dạng và nhiều mức độ khác nhau:

- Chẩn đoán tình trạng viêm nướu: viêm nướu là tình trạng viêm nướu viềnkhông ảnh hưởng mô nâng đỡ ở sâu, biểu mô bám dính (BMBD) vẫn cònnguyên vẹn Chẩn đoán viêm nướu dựa vào các dấu chứng trên lâm sàngnhư màu sắc nướu, sự chảy máu, đường viền nướu, sự tiết dịch nướu

- Chẩn đoán bệnh viêm nha chu: bao gồm tình trạng viêm nướu, mất bámdính của BMBD, sự hiện diện túi nha chu và tiêu xương ổ răng

1.1.2.2 Lượng giá bệnh nha chu:

Bệnh nha chu trong cộng đồng có thể được đo lường như sau[43]:

- Số lượng người mắc bệnh

- Tỷ lệ % người mắc bệnh vào một thời điểm

- Chỉ số dùng đo lường số lượng và mức độ trầm trọng của bệnh cho cánhân hay cộng đồng

* Chỉ số sử dụng lượng giá bệnh nha chu cho cá nhân và cộng đồng [41]:

Trang 35

- Chỉ số GI của Loe và Silness, sử dụng từ năm 1963, thường được đánh giá cho

tình trạng viêm nướu trong các nghiên cứu dịch tễ học Điểm số được cho ở 4mức độ từ 0 đến 3:

- Điểm 0: nướu bình thường

- Điểm 1: viêm nhẹ, nướu đổi màu, không chảy máu khi thăm khám

- Điểm 2: viêm trung bình, phù nề, chảy máu khi thăm khám

- Điểm 3: viêm nặng, đỏ, lở loét, chảy máu tự phát

Việc đo lường tình trạng viêm nướu trong cộng đồng được đánh giá như sau:

- Mức độ nhẹ: từ 0,1 – 1 điểm

- Mức độ trung bình: 1,1 - 2 điểm

- Mức độ nạêng: 2,1 - 3 điểm

- Chỉ số nha chu PI: chỉ số của Russell (1956) Chỉ số này đánh giá cả mô nướu

và mô nha chu cùng lúc Chỉ số này đơn giản dễ sử dụng nên đươc sử dụng rộngrãi trong các nghiên cứu dịch tễ mô tả

Chỉ số PI được cho điểm số từ 0 – 8:

- Điểm 0: bình thường

- Điểm 1: viêm nhẹ một phần nướu viền

- Điểm 2: viêm toàn bộ nướu nhưng không ảnh hưởng đến BMBD

- Điểm 6: viêm nướu kèm túi nha chu, BMBD bị phá hủy

- Điểm 8: mô nha chu bị phá hủy nặng, mất chức năng nhai

- Chỉ số nhu cầu điều trị nha chu CPITN :

Chỉ số CPITN cung cấp những dữ liệu về tình trạng sức khỏe mô nha chutrong các quốc gia, giúp các nước này xây dựng chương trình phòng ngừa và kiểm

Trang 36

Hệ thống ghi nhận và cho điểm của chỉ số CPITN dựa trên việc phát hiện vàđánh giá tình trạng chảy máu nướu, sự hiện diện của cao răng và độ sâu của túinướu Tuy nhiên, việc đánh giá độ sâu của túi nha chu có thể dẫn đến việc đánhgiá dưới mức độ trầm trọng của bệnh ở người lớn tuổi khi có tình trạng tụt nướuhiện diện Baelum và Papapanou (1996), Schurch và cộng sự (1988) chỉ ra nhữnggiới hạn khi sử dụng chỉ số CPITN để đánh giá tỷ lệ và mức độ trầm trọng củabệnh viêm nha chu phá hủy Mặc dù vậy, chỉ số này vẫn là công cụ chính được sửdụng trong nghiên cứu dịch tễ học và đánh giá các yếu tố nguy cơ ở các nướcđang phát triển

- Đo lường mức độï mất bám dính (MBD) dây chằng nha chu:

Việc đo lường mức độ MBD của dây chằng nha chu cho những thông tin cógiá trị và được sử dụng kể từ những năm 1970 Năm 1997, TCYTTG đề nghị cácnghiên cứu quốc gia về bệnh nha chu nên bao gồm thông tin về mức độï MBD củadây chằng nha chu [70]

Các nghiên cứu được thực hiện bởi Loe (1978), Baelum (1988; 1997) cho thấy:có sự khác biệt về mức độ MBD giữa các cá nhân tham gia nghiên cứu, giữa cácrăng và các vùng khác nhau trên răng, sự khác biệt rõ rệt hơn khi tuổi càng cao.Trung bình MBD cao nhất ở răng cối lớn hàm trên và răng cửa dưới

Trang 37

Tóm lại: tỷ lệ, mức độ lan rộng và độ trầm trọng của bệnh là 3 yếu tố chính đểđánh giá bệnh nha chu

- Tỷ lệ bệnh : % người có bệnh trong cộng đồng

- Mức độ bệnh: tỷ lệ răng hoặc vùng mất bám dính

- Độ trầm trọng: trung bình số đo (tính bằng mm) MBD của tất cả cácvùng có mức độ MBD ≥ 2mm

Tỷ lệ bệnh nha chu ở cộng đồng người lớn tuổi được đo lường bởi việc đánhgiá tình trạng mất bám dính của dây chằng nha chu (Brown Olive và Loe, 1990;Slade và Spence, 1990; Thomson Hashim và Pack, 2000…), đánh giá mức độ tiêuxương (Papapanou, Wennstrom và Grondahl,1988; Salonen và cộng sự, 1991)hoặc kết hợp cả hai (Papapanou và cộng sự, 1990)

Đa số các nghiên cứu hiện nay trình bày các dạng bệnh nha chu ở nhiều lứatuổi trong cộng đồng Tuy nhiên, tiêu chuẩn xác định có bệnh rất khác nhau vàrất khó để thực hiện so sánh giữa các nghiên cứu Ngoài ra, tỷ lệ người có bệnhviêm nha chu nặng chiếm thiểu số trong dân số nghiên cứu Do đó, quan niệm vềtính phổ biến của bệnh viêm nha chu không còn phù hợp và bệnh viêm nha chulà nguyên nhân chính gây mất răng ở người lớn tuổi vẫn còn là câu hỏi

1.1.2.3 Vai trò yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu đối với cá nhân và cộng đồng[41] [43]

* Quan niệm yếu tố nguy cơ:

Theo các quan niệm cũ, bệnh viêm nha chu là bệnh phổ biến và chỉ có mộtnguyên nhân gây bệnh đã được nhận biết, đó là vi khuẩn Đối với các quan niệmmới, tỷ lệ bệnh viêm nha chu rất thấp, chỉ gặp ở một vài cá nhân hoặc một nhómngười dễ mắc bệnh hơn các nhóm khác Vì vậy, việc đánh giá các yếu tố nguy cơcó vai trò quan trọng trong các nghiên cứu nha chu học

Trang 38

Định nghĩa này nhấn mạnh mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ trong chuỗi cácnguyên nhân gây bệnh Các nghiên cứu được thực hiện ở các nước công nghiệp hóa(Burt,1991) và các nước đang phát triển (Baelum, Manji và Fejerkov,1991) cho kếtquả như sau: có một số cá nhân hay nhóm người có nguy cơ mắc bệnh cao tồn tạitrong cộng đồng Nhiều yếu tố liên hệ với quá trình khởi phát và tiến triển bệnh đượcxác lập và kết quả này cho thấy bản chất bệnh nha chu là bệnh đa yếu tố.

* Yếu tố nguy cơ đối với cộng đồng

- Tuổi:

Theo một số nghiên cứu cắt ngang, tỷ lệ và mức độ trầm trọng của MBD liênquan với tuổi Từ năm 1985-1986, theo nghiên cứu quốc gia ở Mỹ, có 70% người35-44 và 90% người 55-64 tuổi có ít nhất một vùng MBD; 13,8% người 25-34tuổi và 53,6% người 55-64 tuổi có ít nhất một vùng túi nha chu ≥ 4mm Túi nhachu ≥ 7mm được ghi nhận ở 0,6% người được khám Tuy nhiên, các nghiên cứugần đây cho thấy không đủ bằng chứng để kết luận rằng tỷ lệ bệnh nha chu caohơn ở người lớn tuổi sau khi kiểm soát tất cả các yếu tố khác [35], quan niệmbệnh viêm nha chu là bệnh của người cao tuổi không còn phù hợp Các quan

Trang 39

- Tình trạng kinh tế–xã hội [54]:

Trong hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học được thực hiện cho thấy có mối liênquan giữa tình trạng KT-XH với bệnh nha chu Theo Duray và cộng sự, có 10-20%khác biệt trong tỷ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu giữa các tầng lớp xã hội

ở Mỹ Sự phân phối bệnh cũng có sự khác biệt trong cùng quốc gia Nghiên cứu củaBeck chứng tỏ rằng người da đen có nguy cơ đối với bệnh viêm nha chu phá hủy gấp

3 lần so với người da trắng ở cùng độ tuổi trong nghiên cứu dọc Tuy nhiên, nghiêncứu quốc gia ở Mỹ năm 1985-1986 cho thấy tỷ lệ và mức độ MBD của mô nhachu không liên quan chặt chẽ với thu nhập Mức độ trầm trọng của bệnh nha chukhác nhau giữa các tầng lớp xã hội do sự khác biệt về trình độ học vấn (TĐHV).Người có TĐHV cao VSRM tốt hơn, có thái độ tích cực hơn đối với sức khỏe răngmiệng, họ thường xuyên đi khám và điều trị răng miệng hơn Trong khi đó, sự

Trang 40

khác biệt về tình trạng bệnh nha chu giữa các nhóm dân tộc được cho là do sựkhác biệt về yếu tố gen

*Yếu tố nguy cơ bệnh nha chu đối với cá nhân:

- Yếu tố gen [54]:

Đa số các nghiên cứu trong vài năm gần đây chứng minh được mối liên hệmạnh giữa yếu tố gen và bệnh nha chu Gen IL-1 được các nhà nghiên cứu quantâm nhiều nhất, và gen này đóng vai trò chìa khóa điều khiển các đáp ứng của kýchủ đối với sự nhiễm khuẩn

- Mảng bám, vi khuẩn và tình trạng vệ sinh răng miệng:[54]

Trong khi tình trạng VSRM kém có liên quan đến tình trạng viêm nướu, cácnhà nghiên cứu cho rằng ít có bằng chứng cho thấy có mối liên quan giữa tìnhtrạng VSRM kém và bệnh viêm nha chu Tình trạng VSRM có thể ảnh hưởngđến cộng đồng vi khuẩn trong túi nha chu nhưng không ảnh hưởng đến sự đáp ứngcủa ký chủ Các nhóm vi khuẩn gram âm được tìm thấy có liên hệ với bệnh nha chu

là Actinomyces actinomycetemcomitans (Aa), Bacteroides forsythus (Bf) (now Tannerella forsythensis), Porphyromonas gingivalis (Pg), Prevotella intermedia (Pi),

- Hút thuốc lá [43],[54]ù:Hút thuốc lá là một trong chuỗi các yếu tố nguy cơ đối với bệnh nha chu Tuynhiên, tác động của thuốc lá đối với bệnh nha chu vẫn còn là chủ đề cho cácnghiên cứu Theo TCYTTG, ở các nước công nghiệp hóa, hút thuốc lá là yếu tốnguy cơ chủ yếu gây bệnh viêm nha chu trên nhóm tuổi 35-44 [70] Hơn nữa, sựlành thương sau điều trị cơ học ở những người hút thuốc chậâm do khói thuốc ngănchặn sự phát triển và bám dính của nguyên bào sợi trong cấu trúc của dây chằngnha chu

Ngày đăng: 05/04/2021, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w