1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tóm tắt bài 9 -  Does FDI Increase the Productivity of Domestic Firms?

8 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 711,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự có mặt của nước ngoài trong lĩnh vực cung cấp bởi ngành j càng nhiều và thị phần trung gian cung cấp cho các ngành có sự hiện diện của một công ty đa quốc gia càng [r]

Trang 1

TÓM TẮT BÀI NGHÊN CỨU

Does Foreign Direct Investment Increase the Productivity of Domestic Firms?

In Search of Spillovers Through Backward Linkages

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có làm Tăng Năng suất của các doanh nghiệp trong nước?

Tìm kiếm sự lan tỏa qua liên kết ngược

Tác giả: BEATA SMARZYNSKA JAVORCIK*

Người tóm tắt: Trần Đình Hợp - Lớp Cao học K24 KTPT

I - ĐẶT VẤN ĐỀ

Lý thuyết kinh tế có hai cách tiếp cận để

nghiên cứu các tác động của FDI lên các nước

chủ nhà Một cách tiếp cận có nguồn gốc từ lý

thuyết thương mại quốc tế Đây là cách tiếp cận

so sánh tĩnh chú trọng đến các tác động trực

tiếp của FDI lên các nhân tố sản xuất, công ăn

việc làm và các dòng vốn Cách tiếp cận thứ

hai xuất phát từ lý thuyết tổ chức công nghiệp

nhấn mạnh nhiều hơn đến các tác động gián

tiếp Trong nghiên cứu này, tác giả

nghiệp, tập trung vào những vấn đề liên quan

đến sự lan tỏa của công nghệ và tri thức của

FDI đến các nước chủ nhà và làm tăng năng

suất trong các ngành

Trái ngược với lý thuyết trước đó đã không tìm

thấy tác động lan tỏa tích cực trong nội ngành

của FDI, nghiên cứu này tập trung vào các hiệu

ứng hoạt động của các ngành Các phân tích

cung cấp các bằng chứng phù hợp với sự lan

tỏa năng suất tích cực từ FDI diễn ra thông

qua sự liên hệ giữa các chi nhánh nước

ngoài và các nhà cung ứng trong nước của

họ trong các ngành sản xuất Kết quả cho

thấy rằng tác động lan tỏa xảy ra với các dự án

liên doanh trong nước và nước ngoài nhưng

không xẩy ra ở những doanh nghiệp có 100%

vốn nước ngoài

II - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Câu hỏi nghiên cứu: FDI có làm tăng tăng

suất của các doanh nghiệp trong nước không?

Nếu có thì thông qua những kênh nào mà FDI

tác động đến năng suất của các doanh nghiệp trong nước?

Mục tiêu: Nghiên cứu này có 2 mục tiêu: Thứ

nhất, nghiên cứu này kiểm tra xem giữa năng

suất của các doanh nghiệp trong nước có liên quan gì tới sự hiện diện của các công ty đa quốc gia trong ngành hay không Nếu phát hiện được những hiệu ứng như vậy thì phù hợp với

sự tồn tại của hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc

Thứ hai, nghiên cứu này phát triển thêm các lý

thuyết hiện có bằng cách làm sáng tỏ những

nhân tố quyết định đến sự lan tỏa theo chiều

dọc Nó kiểm tra xem liệu những tác động đến

từ các mối liên kết dọc có liên quan đến mức

sở hữu nước ngoài tại các chi nhánh, sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng trong nước với một

số công ty đa quốc gia và lợi ích tiềm tàng của các liên kết ngược mà theo tác giả thì tác động của chúng đã không được kiểm chứng một cách có hệ thống trong các nghiên cứu trước đây

III - TÓM TẮT LÝ THUYẾT

Trước hết, tìm hiểu vài khái niệm sau:

 Liên kết ngược: doanh nghiệp đa quốc gia chuyển giao công nghệ cho nhà cung cấp đầu vào trong nước

 Liên kết xuôi: nhà cung cấp là doanh nghiệp đa quốc gia chuyển giao công nghệ cho khách hàng trong nước

 Hiệu ứng lan tỏa: xảy ra khi sự gia nhập hay hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia làm tăng năng suất của các công ty ở nước

Trang 2

tiếp nhận FDI và các công ty đa quốc gia

không nội địa hóa hoàn toàn các giá trị của

những lợi ích này

 Lan tỏa năng suất có thể diễn ra theo các

hình thức sau: (i) chuyển giao tri thức trực

tiếp; (ii) yêu cầu nghiêm ngặt hơn với chất

lượng sản phẩm và dịch vụ; (iii) nhu cầu

của các doanh nghiệp đa quốc gia tăng

thêm đối với những yếu tố đầu vào do các

doanh nghiệp trong nước sản xuất

Những lý thuyết hiện có về chủ đề này gồm 3

nhóm như sau:

Đầu tiên là các nghiên cứu tình huống, chúng

thường rất nhiều thông tin và chứa đựng những

thông tin có giá trị (ví dụ, xem Theodore H

Moran, 2001) nhưng bởi vì các nghiên cứu ấy

liên quan đến các dự án FDI riêng hoặc các

quốc gia cụ thể, nên chúng không dễ dàng

được tổng quát hóa

Thứ hai, có các nghiên cứu ở cấp độ ngành,

hầu hết đều tìm thấy có mối tương quan dương

giữa sự có mặt của nước ngoài và năng suất

trung bình của mỗi công nhân trong lĩnh vực

đó Hầu hết các nghiên cứu này đều dựa vào dữ

liệu thu thập một thời điểm (dữ liệu chéo) nên

hạn chế của những nghiên cứu này là khó thiết

lập quan hệ nhân quả

Cuối cùng, có một số nghiên cứu dựa trên dữ

liệu bảng cấp doanh nghiệp để kiểm tra xem

liệu năng suất của các doanh nghiệp trong nước

có tương quan với mức độ hiện diện của doanh

nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực của họ

không

Nhưng dù vậy, hầu hết những nghiên cứu này

đều nghi ngờ về sự tồn tại của hiệu ứng lan tỏa

từ FDI ở các nước đang phát triển, chẳng hạn

những phân tích kỹ càng của Mona Haddad

and Ann E Harrison (1993) về Morocco, Brian

J.Aitken and Harrison (1999) về Venezuela,

Simeon Djankov và Bernard Hoekman (2000)

về Cộng hòa Czech, và Jozef Konings (2001)

về Bulgaria, Romania, và Hà Lan Những nhà

nghiên cứu này đưa ra bằng chứng về sự ảnh hưởng tiêu cực do sự hiện diện của các công ty

đa quốc gia đến các doanh nghiệp trong nước cùng lĩnh vực

Bức tranh có vẻ sáng sủa hơn trong trường hợp các quốc gia công nghiệp phát triển, như nghiên cứu được thực hiện bởi Jonathan E Haskel et al (2002) và Wolfgang Keller and Stephen R Yeaple (2003) cung cấp các bằng chứng tin cậy về sự lan tỏa tích cực của FDI đối với Anh và Mĩ

Về bản chất thì sự lan tỏa của FDI dường như theo chiều dọc (theo liên kết ngược) hơn là theo chiều ngang mà những sự lan tỏa này đã không được nhắc đến trong các nghiên cứu trước đó Như Blomstro¨m và các cộng sự (2000) chỉ ra rằng, các nghiên cứu thực nghiệm hiếm khi phân tích về sự lan tỏa theo chiều dọc

Trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là trong các bài báo gần đây của Garrick Blalock (2001) sử dụng dữ liệu bảng cấp công ty từ Indonesia và của Koen Schoors và Bartoldus van der Tol (2001) dựa trên những thông tin tiêu biểu tại một thời điểm ở cấp doanh nghiệp của Hungary, cả 2 nhóm tác giả đều cung cấp các bằng chứng về sự lan tỏa tích cực của FDI thông qua các mối liên kết ngược

IV - TÓM TẮT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

A - Phương pháp ước lượng

Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp ước lượng bán tham số được đề xuất bởi Steven G Olley and Ariel Pakes (1996) để cải tiến những

lý thuyết trước đây (đã gặp phải một số vấn đề trong mô hình kinh tế lượng làm chệch kết quả của những nghiên cứu) Cụ thể, phương pháp ước lượng bán tham số được đề xuất bởi Steven G Olley and Ariel Pakes (1996) sử dụng để ghi lại các yếu tố nội sinh trong nhu cầu đầu vào Hơn nữa, sai số chuẩn được điều

Trang 3

chỉnh để ghi nhận một sự thật là các đo lường

về những lan tỏa tiềm năng trong ngành cụ thể

trong khi các mẫu quan sát trong bộ dữ liệu lại

là ở cấp độ doanh nghiệp Như Brent R

Moulton (1990) đã chỉ ra rằng nếu không sửa

chữa như vậy sẽ dẫn đến sự chệch thấp nghiêm

trọng trong các sai số ước lượng, dẫn đến

những phát hiện sai lầm trong ý nghĩa thống kê

của biến tổng hợp

B - Mô hình kinh tế lượng

Để kiểm tra sự tương quan giữa năng suất của

công ty và FDI trong cùng một ngành hay lĩnh

vực khác, theo cách tiếp cận tương tự đã mô tả

ở phần lý thuyết trước đó, một số biến của

phương trình sau đây được ước tính:

Y ijrt là ký hiệu của sản lượng thực của doanh

nghiệp i hoạt động trong lĩnh vực j và vùng r

tại thời gian t, được tính bằng cách điều chỉnh

các báo cáo doanh thu về những thay đổi trong

hàng tồn kho hàng hóa thành phẩm và bỏ đi giá

trị lạm phát bằng chỉ số giá sản xuất của các

ngành NACE hai chữ số thích hợp K ijrt, vốn,

được định nghĩa là giá trị của tài sản cố định tại

thời điểm đầu năm, trừ đi giá trị lạm phát bằng

cách tính trung bình của giá trị lạm phát cần trừ

đi của 5 ngành NACE: máy móc và thiết bị;

văn phòng, kế toán và máy tính; máy móc và

thiết bị điện; xe có động cơ, rơ-móc và sơ-mi

rơ-móc; và các thiết bị vận chuyển khác Bởi vì

trong bộ dữ liệu không thể phân biệt rõ giữa

người lao động có tay nghề và phổ thông, nên

lao động được thể hiện đều là những đơn vị

làm việc hiệu quả, được tính bằng cách chia

mức lương thực lĩnh cho mức lương tối thiểu

(L ijrt ) M ijrt, nguyên vật liệu, được tính bằng giá

trị của nguyên liệu đầu vào được điều chỉnh

theo những thay đổi trong các kho dự trữ

nguyên liệu, trừ đi lạm phát của một đầu vào

trung gian tính theo từng khu vực dựa vào ma trận đầu vào-đầu ra và giảm phát cho các

ngành có liên quan Cuối cùng, Foreign Share ijrt đo tỷ trọng tổng vốn chủ sở hữu của

công ty thuộc sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài

Về các đại diện cho sự lan tỏa, Horizontal jt

chứa mức độ hiện diện của nước ngoài trong

ngành j tại thời điểm t và được định nghĩa là sự

tham gia của vốn chủ sở hữu nước ngoài trung bình trên tất cả các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, với trọng số bằng thị phần của từng công ty trong sản lượng ngành Nói cách khác,

Như vậy, giá trị của biến này tăng lên với đầu

ra của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và phần vốn chủ sở hữu nước ngoài trong các doanh nghiệp này

Backward jt là một đại diện cho sự hiện diện của

nước ngoài trong các ngành đang được cung

cấp bởi lĩnh vực j Nó được thiết kế để lưu giữ

mức liên hệ tiềm năng giữa các nhà cung cấp trong nước và khách hàng là công ty đa quốc gia Nó được định nghĩa theo Blalock, và Schoors và Van der Tol như sau:

Với α jk là tỷ lệ sản lượng của lĩnh vực j cung cấp cho lĩnh vực k lấy từ ma trận đầu vào - đầu

ra ở cấp NACE hai chữ số Tỷ lệ này được tính ngoại trừ các sản phẩm cung cấp cho tiêu dùng cuối cùng nhưng bao gồm cả nhập khẩu các sản phẩm trung gian Như công thức đã chỉ rõ, đầu vào được cung cấp trong nội bộ lĩnh vực sẽ không được tính, vì điều này đã được lưu trong

biến Horizontal Sự có mặt của nước ngoài trong lĩnh vực cung cấp bởi ngành j càng nhiều

và thị phần trung gian cung cấp cho các ngành

có sự hiện diện của một công ty đa quốc gia càng lớn, thì giá trị của biến này càng lớn

Trang 4

Biến Forward được định nghĩa là trọng số thị

phần của sản lượng trong các lĩnh vực chế biến

được sản xuất bởi các công ty có vốn nước

ngoài tham gia Vì chỉ có hàng hóa trung gian

được bán tại thị trường trong nước là có liên

quan đến nghiên cứu này, còn hàng hóa được

sản xuất bởi các chi nhánh nước ngoài để xuất

khẩu (X it) không được tính vào Như vậy, công

thức sau đây được sử dụng:

Trong đó σ jm là thị phần của các đầu vào mua

của ngành j từ ngành m trong tổng số đầu vào

cung cấp bởi ngành j Tương tự, đầu vào được

mua bán trong nội bộ ngành sẽ bị loại trừ Giá

trị của biến này tăng cùng chiều với tỷ trọng

các chi nhánh nước ngoài (bán trong nước)

trong đầu ra của các ngành chế biến

Trong một hồi quy khám phá, mô hình mô tả ở

trên được ước tính bằng bình phương nhỏ nhất

(OLS) với lựa chọn White để khắc phục hiện

tượng phương sai thay đổi Sản lượng đầu ra

của một công ty là biến phụ thuộc và biến giải

thích bao gồm: vốn, lao động, vật tư, phần vốn

chủ sở hữu nước ngoài, và các địa diện cho

hoạt động lan tỏa FDI thông qua các kênh liên

kết ngang, liên kết ngược, liên kết xuôi Do

ngoại tác kiến thức đến từ sự hiện diện của

nước ngoài có thể có độ trễ để thể hiện chúng,

hai thông số kỹ thuật được sử dụng: một với

các biến lan tỏa đồng thời và một với các biến

lan tỏa chậm Việc ước lượng được tiến hành

trên mẫu đầy đủ và trên mẫu chỉ gồm các công

ty trong nước

Kết quả ở Bảng 5 cho thấy các công ty có vốn

nước ngoài có xu hướng năng suất cao hơn các

doanh nghiệp thuần túy của Lithuania Và quan

trọng hơn với mục đích của nghiên cứu này, tác

giả tìm thấy một hệ số có ý nghĩa và tích cực

trên cả hai biến Backward and Horizontal trong

cả bốn thông số kỹ thuật Các hệ số về giá trị trễ xuất hiện lớn hơn và (trong trường hợp

Backward) có ý nghĩa thống kê cao hơn Biến động lan tỏa thứ ba, Forward, không có ý

nghĩa thống kê Tóm lại, kết quả này phù hợp với sự lan tỏa năng suất từ FDI diễn ra cả trong nội bộ ngành và lan từ các công ty đa quốc gia đến các nhà cung cấp trong nước của họ

Do đó, tác giả đã sử dụng quy trình ước lượng bán tham số được đề xuất bởi Olley và Pakes, cho phép sự khác biệt năng suất của công ty cụ thể thể hiện những thay đổi riêng biệt theo thời gian

Theo Olley và Pakes, người ta giả định rằng vào đầu mỗi kỳ một công ty lựa chọn các yếu

tố biến đổi và một mức đầu tư, cùng với các giá trị vốn hiện hành xác định trữ lượng vốn ở đầu giai đoạn tiếp theo Phương trình tích lũy vốn được cho bởi:

với k là vốn, i là đầu tư và σ là tỷ lệ khấu hao

Xem hàm sản xuất Cobb-Douglas sau đây:

Trong đó y it , l it , và m it tương ứng, biểu thị

logarit của đầu ra, lao động và nguyên liệu đầu

vào, và chỉ số i và t kí hiệu cho công ty và thời gian ω it biểu thị năng suất, và η it là biểu thị

hoặc là lỗi đo lường hoặc một cú sốc đối với năng suất mà không thể dự báo được trong

khoảng một thời gian Cả ω it và η it đều không

quan sát được Sự khác biệt là ω it là một biến

trạng thái trong vấn đề quyết định của công ty

và do đó ảnh hưởng đến nhu cầu đầu vào, trong

khi η it thì không Lao động và nguyên vật liệu

được giả sử là các đầu vào thay đổi Vốn là một yếu tố cố định và chỉ bị ảnh hưởng bởi sự phân

phối của ω theo điều kiện về thông tin tại thời điểm t-1 và các giá trị quá khứ của ω Mối tương quan dương giữa ω it và đầu vào được sử dụng trong khoảng thời gian t sẽ làm

Trang 5

cho ước lượng OLS bị chệch lên ở các hệ số

của các biến đầu vào

C - Dữ liệu

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này lấy

từ kết quả khảo sát doanh nghiệp hàng năm do

Tổng Cục thống kê Lithuania tiến hành Phạm

vi của cuộc khảo sát rất rộng, là các doanh

nghiệp chiếm 85% sản phẩm đầu ra trong mỗi

ngành được chọn vào mẫu khảo sát Dữ liệu

doanh nghiệp Lithuania được đánh giá cao cả

về chất lượng và độ tin cậy Các dữ liệu tạo

thành một bảng dữ liệu không cân bằng của

giai đoạn 1996-2000

Bộ dữ liệu chứa thông tin về tỷ lệ sở hữu nước

ngoài, doanh thu bán hàng, hàng tồn kho, việc

làm, tài sản cố định, chi phí đầu vào, đầu tư, vị

trí và thị phần xuất khẩu trong tổng doanh thu

Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài được xác

định là doanh nghiệp trong đó phần vốn đăng

ký (vốn chủ sở hữu) thuộc sở hữu của nhà đầu

tư nước ngoài chiếm ít nhất 10%

Lithuania và các nước đang chuyển đổi khác ở

Đông Âu là đối tượng thích hợp cho việc phân

tích các tác động lan truyền của FDI vì lao

động ở đây có tay nghề cao, thuận lợi cho khả

năng lan tỏa năng suất Mặt hạn chế là thời

gian khá ngắn trong dữ liệu bảng nên khó để phát hiện được sự hiện diện của sự lan tỏa

V - TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Các kết quả thực nghiệm là phù hợp với sự tồn tại của lan tỏa thích cực từ FDI diễn ra thông qua các mối liên kết ngược, nhưng không tìm được những bằng chứng rõ ràng về sự lan tỏa xảy ra theo kiểu liên kết ngang hay liên kết xuôi Nói cách khác, năng suất của các doanh nghiệp ở Lithuanian là tương quan dương với mức độ liên hệ tiềm năng của những khách hàng đa quốc gia chứ không phải với sự có mặt của các công ty đa quốc gia trong cùng ngành hay sự tồn tại của các nhà cung cấp đầu vào trung gian đa quốc gia Độ lớn của hiệu ứng có

ý nghĩa kinh tế Tăng thêm một độ lệch chuẩn trong sự có mặt của nước ngoài trong lĩnh vực nguồn cung ứng kéo theo tăng 15% sản lượng của mỗi doanh nghiệp trong nước trong ngành cung ứng Hiệu ứng năng suất được tìm thấy bắt nguồn từ những dự án đầu tư liên danh giữa nước ngoài và trong nước nhưng không từ những chi nhánh do nước ngoài sở hữu 100% Một mô hình ước lượng các khác biệt thứ nhất tìm thấy sự phù hợp với doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ sự hiện diện nước ngoài trong các lĩnh vực mà họ cung cấp

Trang 6

Hai cột đầu tiên của Bảng 7 chứa các kết quả

tương ứng cho các mẫu đầy đủ và mẫu của các

doanh nghiệp trong nước Trong cả hai hồi

quy, hệ số của biến đại diện cho khả năng lan

tỏa thông qua các liên kết ngược là dương và

có ý nghĩa được tìm thấy Các cột thứ ba và thứ

tư trình bày các kết quả từ các hồi quy với thủ

tục điều chỉnh Olley-Pakes Một lần nữa các

ước lượng cho ra một hệ số dương và có ý

nghĩa về biến Backward trong cả hai mẫu đầy

đủ và mẫu của các doanh nghiệp trong nước Kích cỡ của các hệ số hồi quy là tương đồng ở các cột và lớn hơn một chút trong trường hợp của các mẫu đầy đủ Độ lớn của tác động là có

ý nghĩa về mặt kinh tế Tăng một tiêu chuẩn-sai lệch trong sự có mặt của công ty nước ngoài trong các lĩnh vực nguồn (có nghĩa là, tăng 4

điểm phần trăm trong biến Backward) dẫn đến

gia tăng 15% sản lượng của mỗi công ty trong nước trong các ngành cung ứng

Trang 7

Có rất ít bằng chứng về tác động lan tỏa diễn ra

qua các kênh khác Hệ số hồi quy của biến

Horizontal không có ý nghĩa thống kê, điều

này phù hợp với các lý thuyết hiện có là không

thấy một tác động tích cực trong nội ngành ở

các nước đang phát triển (Aitken và Harrison;

Djankov và Hoekman; Konings) Còn biến

Forward mang dấu âm nhưng lại có ý nghĩa

thống kê chỉ ở hai hồi quy

Đối với các biến kiểm soát khác, không có dấu

hiệu liên kết tích cực giữa những thay đổi trong

phần vốn chủ sở hữu nước ngoài và tăng năng

suất Giống như nghiên cứu của Aitken và

Harrison, kết quả cho thấy biến Foreign Share

tương quan thuận với các mức năng suất nhưng

không phải với tốc độ tăng trưởng

Để kiểm tra sự chắc chắn của các kết quả, một

mô hình những sự khác biệt thứ hai và thứ tư

được ước lượng Vì mẫu chỉ bao gồm dữ liệu

của 5 năm, nên mô hình thứ 4 có sự khác biệt

nhiều nhất có thể được sử dụng Một hệ số

dương và có ý nghĩa của biến Backward trong

tất cả các mô tả, một lần nữa là chứng cứ phù

hợp với sự lan tỏa năng suất diễn ra qua tương

tác giữa các doanh nghiệp trong nước và đối

tác nước ngoài của họ trong các lĩnh vực tiêu

dùng Không có dấu hiệu của loại hình lan tỏa

theo chiều dọc, vì biến Forward không có ý

nghĩa trong phần lớn các trường hợp

Tiếp theo, kiểm tra giả thuyết rằng các liên kết

ngược kết hợp với các dự án do nước ngoài sở

hữu một phần dẫn đến sự lan tỏa lớn hơn các

liên kết với các chi nhánh do nước ngoài sở

hữu 100% vốn Để xem xét vấn đề này, hai mô

hình đo lường các liên kết ngược được tính

toán cho hai loại hình đầu tư nước ngoài Đại

diện cho các dự án do nước ngoài sở hữu 100%

được định nghĩa là trong phương trình (16)

Các kết quả được hiển thị trong Bảng 8 ủng hộ

giả thuyết này Một sự tương quan dương và

đáng kể được tìm thấy giữa sự thay đổi sản

lượng của doanh nghiệp trong nước và các liên

kết ngược với các dự án có một phần vốn nước

ngoài nhưng không phải là các chi nhánh có 100% vốn nước ngoài

Sự khác biệt giữa độ lớn của hai hệ số có ý nghĩa thống kê ở ba trong số bốn trường hợp (trong trường hợp của các mẫu đầy đủ, ở mức ý nghĩa 1%) Những phát hiện này phù hợp với quan sát rằng các dự án liên danh giữa các tổ chức trong và ngoài nước dường như có nhiều khả năng về nguồn lực trong nước, do đó tạo ra phạm vi lan tỏa lớn hơn

Sự khác biệt giữa độ lớn của hai hệ số có ý nghĩa thống kê ở ba trong số bốn trường hợp (trong trường hợp của các mẫu đầy đủ, ở mức ý nghĩa 1%) Những phát hiện này phù hợp với quan sát rằng các dự án liên danh giữa các tổ chức trong và ngoài nước dường như có nhiều khả năng về nguồn lực trong nước, do đó tạo ra phạm vi lan tỏa lớn hơn

VI - TÓM TẮT CÁC KẾT LUẬN

Ngược lại với lý thuyết trước đó, tập trung vào tác động lan tỏa trong nội ngành của FDI, nghiên cứu này kiểm tra sự lan tỏa năng suất diễn ra qua các liên kết ngược và các mối liên kết về phía trước Các phân tích, dựa trên một tập hợp dữ liệu bảng ở cấp công ty ở Lithuania, xác định các vấn đề kinh tế lượng có thể làm chệch kết quả (theo các nghiên cứu trước đây), chẳng hạn như vấn đề nội sinh của nhu cầu đầu vào và sửa các lỗi tiêu chuẩn do các quan sát liên quan đến các doanh nghiệp trong khi các biến quan tâm lại ở cấp độ ngành

Những kết quả này phù hợp với sự tồn tại của lan tỏa năng suất diễn ra qua mối liên kết ngược

Trang 8

Chúng đưa ra gợi ý rằng việc tăng một mức-sai

lệch trong sự hiện diện của nước ngoài trong

các lĩnh vực tiêu dùng sẽ làm tăng 15% sản

lượng của mỗi công ty trong nước trong các

ngành cung ứng Lợi suất được tìm thấy có liên

quan đến các dự án thuộc sở hữu nước ngoài

một phần nhưng không thuộc sở hữu nước

ngoài 100% Cuối cùng, như trường hợp với

các nghiên cứu trước đó ở cấp độ công ty ở các

nước đang phát triển, không có bằng chứng về

tác động lan tỏa trong cùng lĩnh vực được tìm

thấy Cũng không có bất kỳ dấu hiệu của sự lan

tỏa bắt nguồn từ sự hiện diện của các công ty

đa quốc gia trong lĩnh vực cung cấp các đầu

vào trung gian

Tại Việt Nam, TS Nguyễn Thị Bích Ngọc (HSU) cũng đã nghiên cứu vấn đề "Hiệu ứng lan tỏa ngược khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc của FDI dưới góc độ khoảng cách địa lý và mức thâm dụng công nghệ của các đầu vào" Bài nghiên cứu đã phân tích sự khác biệt của hiệu ứng lan tỏa ngược từ FDI bằng cách xem xét vai trò của khoảng cách địa lý giữa nước cung cấp FDI và nước chủ nhà, và mức thâm dụng công nghệ trong sử dụng đầu vào các nhà đầu tư nước ngoài Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng cho thấy "FDI có nguồn gốc

từ các nhà đầu tư có nhu cầu về sản phẩm công nghệ thấp có thể mang lại hiệu ứng lan tỏa ngược tiềm năng cao hơn cho các nhà cung cấp trong nước" Hết

Ngày đăng: 05/04/2021, 22:22

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w