1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Nhận diện làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội

6 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 124,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, dẫu tên phố thay đổi ít nhiều, dẫu nghề nghiệp ở đó có còn hay mất, nhưng những nghề thủ công và các sản phẩm mà người thợ Thăng Long làm ra sẽ m[r]

Trang 1

1 Sự hình thành làng nghề/phố nghề Thăng

Long - Hà Nội qua khảo cứu tư liệu lịch sử và

những nghiên cứu đương đại

Làng nghề như một gương mặt khác

của làng xã nông nghiệp, nó là một bộ

phận không thể tách rời và phát triển

song hành cùng với làng xã của người Việt Sự

ra đời của làng nghề xuất phát từ sự ra đời và

phát triển của các nghề thủ công cùng với tầng

lớp thợ thủ công

Trong cuốn Sơ khảo lịch sử phát triển thủ

công nghiệp Việt Nam xuất bản năm 1957, tác

giả Phan Gia Bền đã đưa ra khái niệm về thợ

thủ công (thủ công nghiệp cá thể) “là những

người có tiêu chuẩn căn bản sau đây: 1/ Lao

động của họ là chính, có thể có những người

vừa sản xuất hàng hoá để bán, vừa bán sức

lao động đi làm thuê cho người khác; có thể

dùng công nhân trong gia đình để cùng sản

xuất; có thể mướn thêm công nhân (thợ bạn

hoặc thợ học nghề) nhưng chỉ để giúp họ sản

xuất, đại bộ phận thì giờ của thợ thủ công là để

làm công việc sản xuất đó 2/ Sản phẩm của họ chủ yếu để bán ra thị trường (không phải làm

để dùng cho bản thân hay cho gia đình, cũng không phải để làm giúp cho người khác trong xóm làng trực tiếp tiêu dùng) và đó là nguồn sống chính của họ” (1, tr.24-25)

Về khái niệm nghề thủ công, Phan Gia Bền cho rằng: Nghề thủ công gắn liền với nông nghiệp Nghề thủ công ở Việt Nam phần lớn

là nghề phụ của nông dân, được làm vào thời gian rảnh rỗi, hay nói cách khác, nghề thủ công tại các làng nghề không tách khỏi nông nghiệp, chưa trở thành nghề độc lập (1, tr.20, 38-40)

Tác giả Nguyễn Huy Phúc viết về thủ công nghiệp Việt Nam thời kỳ 1858 - 1945 đã đưa ra khái niệm tiểu thủ công nghiệp thời cận đại: “ bao gồm toàn bộ nền sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống hoặc mới du nhập do người Việt Nam tiến hành ở nông thôn, ở các làng chuyên nghề và các đô thị, thị trấn, không loại trừ một bộ phận sản xuất của tư sản công nghiệp nhỏ dân tộc” (3, tr.25)

NHẬN DIỆN LÀNG NGHỀ, PHỐ NGHỀ

THĂNG LONG - HÀ NỘI

ĐINH CÔNG TUẤN Tóm tắt

Thăng Long - Hà Nội có vị trí địa lý và điều kiện thiên nhiên đặc biệt, có nền văn hóa lâu đời, nhiều làng nghề sản xuất thủ công truyền thống Ngược dòng thời gian, dưới thời Lý - Trần, Thăng Long là nơi hội tụ các làng nghề từ khắp mọi miền đất nước đổ về với 13 trại, 61 phường; bước sang thời Lê - Nguyễn, Thăng Long có 36 phố phường Những người thợ tài hoa đã mang theo cả gia đình, bạn bè họ hàng làng xóm lên hành nghề, xây dựng nhà rồi lập phố Ngày nay, làng nghề/phố nghề Thăng Long

- Hà Nội vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Hà Nội.

Từ khóa: Làng nghề, phố nghề, Thăng Long - Hà Nội

Abstract

Thang Long - Hanoi has a special geographical location and natural conditions, with a long-standing culture, many traditional craft villages Back to ancient time, under Ly and Tran dynasties, Thang Long is the convergence of craft villages from all over the country, with 13 camps and 61 wards;

to the Le and Nguyen dynasties, Thang Long had 36 streets The talented craftsmen brought their families, neighbors and relatives there to work, built houses and made streets Today, the handicraft villages / streets of Thang Long - Hanoi still plays an important role in the life of Hanoi people.

Keywords: Craft villages, craft streets, Thang Long – Hanoi

Trang 2

V Ă N HÓ A

Tác giả Dương Bá Vượng đưa ra định nghĩa

về làng nghề như sau: “Làng nghề là một thiết

chế gồm hai bộ phận cấu thành là “làng” và

“nghề” là làng ở nông thôn có một (hoặc một

số) nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi

nông nghiệp và kinh doanh độc lập ” Tác giả

này dựa vào tính chất và số lượng nghề để phân

loại làng nghề: Làng một nghề, làng nhiều

nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề mới:

“làng nghề truyền thống là những làng nghề

xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại

cho đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn

tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm”

(6, tr.10-15)

Về khái niệm làng nghề, GS Trần Quốc

Vượng, trong cuốn Văn hóa Việt Nam tìm tòi và

suy ngẫm, đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ như

sau: Theo chúng tôi hiểu gọi là một làng nghề

(như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng,

Hương Canh, làng đồng (Bưởi, Vó, Hè Nôm,

Thiệu Lý, Phước Kiều ), làng giấy vùng Bưởi,

Dương Ổ, làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa

Hội v.v.) là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối

tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà, ), cũng có

một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm

đậu phụ, ) song đã nổi trội một nghề cổ truyền,

tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên

nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ

cấu tổ chức), có ông trùm, có phó cả, cùng

một số thợ và phó nhỏ, đã làm chuyên tâm có

quy trình công nghệ nhất định, “sinh ư nghệ, tử

ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống

chủ yếu được bằng nghề và sản xuất ra các mặt

hàng thủ công; những mặt hàng này có tính

mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa có

quan hệ tiếp thị (marketing) với một thị trường

là vùng rộng xung quanh và với cả thị trường

đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn, ) và tiến

tới mở rộng ra cả nước rồi xuất khẩu ra nước

ngoài (7, tr.372)

Tên gọi Hà Nội được xác lập vào năm Minh

Mạng thứ 11, nhưng vùng đất này đã được hình

thành từ rất lâu đời, dựa trên cơ sở tự nhiên của

vùng đất ngã ba sông Hồng, là trung tâm của

vùng châu thổ sông Hồng Thế kỷ XV, những

người làm chung một nghề ở các làng quê đã

di cư đến khu vực này và tập trung lại, lập ra các

phường riêng - 36 phường, phía trong phường

buôn bán Nhưng trước đó, vào năm 1230, nhà Trần đã hoạch định lại, chia Thăng Long thành

61 phường (8, tr.63)

Theo Đại Nam nhất thống chí, “Hà Nội là

kinh đô xưa, nguyên trước có 36 phố phường, nay ở quanh phía Đông Nam tỉnh thành có

21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng, nhân vật cũng phồn thịnh” (2, tr.189)

Trong cuốn Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam (1858

- 1945), tác giả Vũ Huy Thúc đã trích dẫn một

học giả người Pháp viết về sự buôn bán hàng tiểu thủ công ở Hà Nội như sau: “Cứ 6 ngày có một phiên chợ tại Hà Nội, người buôn bán và thợ thủ công ở thôn quê kéo về, người bán tơ lụa thì vào phố Hàng Đào, thợ đan kéo vào phố Hàng Đồng, thợ làm nón vào phố Hàng Nón ”

(3) Trong cuốn Làng nghề, phố nghề Thăng

Long - Hà Nội của GS Trần Quốc Vượng và PGS.

TS Đỗ Thị Hảo đã ghi rằng: “Người dân buôn bán ở khu vực 36 phố phường xưa khi lên kinh

đô lập nghiệp đã rước Thành hoàng làng nơi quê gốc lên kinh đô, lập ra hệ thống đình - đền

- chùa ở các phường phố” (8, tr.79)

Với vị trí địa lý giao thương thuận lợi, hay nhu cầu của thị trường trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, nghề phụ trong nông nghiệp đã trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của người dân,

một số làng đã trở thành làng nghề mang tính

chuyên biệt và khi hội tụ ở kinh đô Thăng Long,

các làng nghề đã tạo lập những phố nghề

2 Một số làng nghề/phố nghề tiêu biểu ở Thăng Long - Hà Nội

* Phố Hàng Bạc và nghề kim hoàn: Hàng Bạc

là một con phố nằm ở quận Hoàn Kiếm, thuộc không gian của khu phố cổ Hà Nội Trước năm

1945, phố Hàng Bạc có ba nghề khác nhau đó

là nghề đúc bạc nén, nghề kim hoàn và nghề đổi tiền Có thể coi Hàng Bạc là nơi tập trung những người thợ tinh xảo về kỹ thuật chế tác

đồ vàng bạc của đất kinh kỳ Trong truyền thống, thợ thủ công đều xuất thân từ ba làng nghề vàng bạc nổi tiếng ở miền Bắc Việt Nam,

đó là Định Công (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình)

và đến cuối thế kỷ XV một số người làng Châu Khê (Hải Dương) cũng kéo nhau ra mở xưởng đúc tiền, làm cho phường vàng bạc càng trở nên nhộn nhịp

Ở kinh đô Thăng Long trước đây, làng Định

Trang 3

lại rằng, vào cuối thế kỷ VI, ở làng Định Công

có ba anh em họ Trần là Trần Hòa, Trần Điện và

Trần Điền, do nghèo khổ dưới ách thống trị của

nhà Đường, anh em họ Trần phải tha phương

cầu thực tới một nước láng giềng, rồi từ đó

họ học được nghề kim hoàn Khi trở về quê

hương, họ truyền nghề cho dân làng Sau này,

làng Định Công có nghề truyền thống vàng

bạc phục vụ thị trường ở Thăng Long Từ thế kỷ

XVIII, XIX, khi nền kinh tế Thăng Long - Hà Nội

ngày một phát triển cao, những nghệ nhân này

mới chuyển dần lên Thăng Long hành nghề ở

khu phố Hàng Bạc ngày nay

Từ thế kỷ XV, khi ngành luyện kim ở nước

ta tiến bộ, nghề đúc bạc nén bước vào giai

đoạn mới, thoát thai từ làng Châu Khê (xã Thúc

Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương)

Dân gian kể lại rằng, dưới thời Lê Thánh Tông

(1460-1497), trong làng này có ông Lưu Xuân

Tín được vua cho phép lập nên một tràng đúc

bạc và tiền ở Thăng Long, sau đó làm tới chức

Thượng thư Bộ Lại, rồi được tôn làm thủy tổ của

nghề đúc bạc Về sau, người làng ông ra Thăng

Long hành nghề ngày càng đông Phố Hàng

Bạc được thành lập từ đó Họ đã xây dựng nên

các tràng đúc bạc (nay là 58 phố Hàng Bạc) làm

nơi sản xuất Hai ngôi đình: Thượng Đình (số

50 Hàng Bạc) và Kim Ngân Đình (số 42 Hàng

Bạc) là nơi giao nộp thành phẩm cho nhà nước

đương thời

Theo thời gian, phố Hàng Bạc còn có thêm

một số nghệ nhân người làng Đồng Xâm (xã

Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình)

đến đây làm ăn sinh sống, với sở trường chạm

trổ những đồ vật lớn bằng bạc như hộp trầu,

chén bát đĩa, đỉnh, lư đèn,…

Ngày nay, với đồ nghề thủ công, người thợ

kim hoàn ở phố Hàng Bạc đã làm ra nhiều sản

phẩm vàng bạc tinh xảo, nhất là đồ trang sức

Người thợ kim hoàn ở Hàng Bạc thường chạm

khắc trên đồ vàng bạc theo các mẫu trang

trí nhất định, trong đó, “tứ linh” (long, ly, quy,

phượng) là mẫu phổ biến nhất Riêng hình

tượng long (rồng) đã được bàn tay khéo léo

của nghệ nhân thể hiện với nhiều chủ đề khác

nhau: long hàm thọ (long ngậm chữ thọ), lưỡng

long tranh châu (hai con rồng tranh viên ngọc),

lưỡng long chầu nguyệt (hai con rồng chầu

bát vật (tám con vật), bát bảo (tám vật quý), bát quả (tám loại trái cây),… cũng được chạm khắc tinh xảo trên đĩa, mâm bằng vàng, bạc Trên các

đồ vàng, bạc, có thể thấy người thợ kim hoàn chạm trổ hình ảnh con người, hoặc các loại cây, hoa mà theo quan niệm phương Đông thì đó là tượng trưng cho những phẩm chất cao quý của người quân tử: tùng, trúc, cúc, mai,…

Ngày nay, có thể thấy nghề buôn bán trao đổi vàng bạc không chỉ còn tập trung ở phố Hàng Bạc mà trên nhiều phố khác, cũng rải rác

có các cửa hiệu buôn bán vàng, nhưng Hàng Bạc vẫn là nơi tập trung những người thợ kim hoàn tinh xảo với truyền thống chế tác đồ vàng, bạc

* Làng đúc đồng Ngũ Xã: Từ xưa, người dân Thăng Long đã biết đến câu: “Lĩnh hoa Yên Thái,

đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã” Ngũ Xã vốn là một làng nằm bên bờ

hồ Trúc Bạch, phía tây của Thăng Long - Hà Nội

Sử sách ghi lại rằng, vào khoảng thời Lê (1428

- 1527), dân 5 làng Đông Mai, Châu Mỹ, Long Thượng, Điện Tiền và Đào Viên (mà tên Nôm là các làng Hè, Rồng, Dí Thượng, Dí Hạ,…) thuộc huyện Văn Lâm (Hưng Yên) và Thuận Thành (Bắc Ninh), vốn có nghề đúc đồng đã về kinh thành để lập trường đúc tiền và đồ thờ Tại đây,

họ đã sinh cơ lập nghiệp và tạo dựng làng mới trên đất Thăng Long nên mới lấy tên Ngũ Xã để ghi nhớ 5 làng quê gốc của mình Về sau, những người thợ thủ công ở Ngũ Xã tổ chức thành phường nghề riêng, gọi là phường đúc đồng Ngũ Xã, nay là phố Ngũ Xã nằm ở phía đông hồ Trúc Bạch, thuộc quận Ba Đình Trước đây, nghề đúc đồng Ngũ Xã đã được coi là một trong bốn nghề tinh hoa bậc cao của Thăng Long Hiện nay, làng nghề vẫn còn tồn tại và là nơi sản sinh ra nhiều sản phẩm đẹp thể hiện tài hoa của người thợ nghề vùng đất kinh kỳ Ngoài sự thông minh sáng tạo, cái nhìn chuẩn xác, bàn tay khéo léo, người thợ thủ công Ngũ Xã còn

có bí quyết nghề nghiệp và kinh nghiệm lâu đời Sản phẩm đồ đồng Ngũ Xã nổi tiếng khắp nơi, trong đó nổi bật là pho tượng Phật Di Đà

ở chùa Thần Quang tại làng Ngũ Xã ngày nay Đây là một tác phẩm nghệ thuật bằng chất liệu đồng rất độc đáo và tinh tế Bên cạnh đó, thợ đúc đồng Ngũ Xã còn tạo ra nhiều tác phẩm

Trang 4

V Ă N HÓ A

khác rất nổi tiếng như: Pho tượng đồng Trấn

Vũ hay còn gọi là tượng Huyền Thiên Trấn Vũ

ở đền Quán Thánh, chuông chùa Một Cột (Hà

Nội) Ngoài ra, những đồ thờ bằng đồng như

lư hương, chân đèn, hạc, vạc,… được nhiều nơi

trong cả nước đánh giá cao Trải qua thời gian

lịch sử, đến nay, làng đúc đồng Ngũ Xã có các

gia đình làm nghề đúc đồng với những mặt

hàng thủ công mỹ nghệ như: Lư đồng, mâm

đồng, chuông đồng,… với kích thước nhỏ,

trong đó một phần phục vụ nhu cầu mua hàng

lưu niệm của du khách nước ngoài khi đến với

Thủ đô Hà Nội

* Làng giấy Yên (An) Thái: Nằm ở phía tây

Hà Nội, làng này còn có tên là làng Bưởi Theo

các tài liệu còn lưu lại đến ngày nay, nghề làm

giấy đã có ở nước ta từ lâu đời Năm 284, một

thương nhân La Mã đã mua của Giao Chỉ hàng

vạn tờ giấy Mật Hương, một loại giấy thơm, để

dâng lên vua Tấn Võ Đế Một học giả người Hoa

là Kê Hàm cũng đã xác nhận giấy Mật Hương

của Giao Chỉ làm bằng gỗ trầm thơm, màu

trắng, có vân vảy cá, thả vào nước không nát

Cho đến khi nhà nước Đại Việt ra đời và định

đô ở Thăng Long thì nghề này ở làng Yên Thái

đã phát triển mạnh Giấy dó Yên Thái đã từng là

mặt hàng triều cống cho triều đình nhà Tống

dưới đời vua Lý Cao Tông (1176 - 1210) Trong

sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết năm 1435

đã nói đến nghề làm giấy của làng này Ngay

từ thời đó, người thợ thủ công ở đây đã làm ra

những loại giấy đặc biệt cho triều đình phong

kiến như giấy thị (để viết chỉ thị), giấy lệnh

(để ghi mệnh lệnh), giấy sắc (để ban sắc chỉ)

Những sản phẩm chủ yếu của Yên Thái là giấy

bản để in sách hoặc để viết chữ Nho (bằng bút

lông, mực tầu) và giấy dó (để in tranh dân gian)

Giấy dó Yên Thái có đặc tính xốp nhẹ, bền dai,

không nhòe khi viết, vẽ Nó ít bị mối mọt hoặc

giòn, gẫy, ẩm, nát Giấy dó Yên Thái có giai đoạn

đã được xuất khẩu sang nhiều nước Thời Pháp

thuộc, các họa sĩ Pháp đã sử dụng giấy dó khổ

lớn để vẽ tranh bằng mực Tàu theo phương

pháp tranh cổ điển phương Đông Bên cạnh

đó, một vài bảo tàng châu Âu cũng đã dùng

giấy dó để lót bồi phía sau tranh vẽ Với đặc tính

chống ẩm rất cao, giấy dó giúp cho tác phẩm

nghệ thuật không bị ẩm mốc Tuy nhiên, trong

thời gian gần đây, trước sự lấn át mạnh mẽ của

đã bị mai một và hiện không còn gia đình nào làm nghề này

* Tranh Hàng Trống: Tranh Hàng Trống là

một trong những dòng tranh dân gian Việt Nam được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống của Thăng Long xưa Tranh Hàng Trống có hai dòng chính là tranh thờ và tranh Tết, nhưng chủ yếu vẫn là tranh thờ dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo bản địa tại các đền, phủ của Đạo giáo như: tranh thờ của Đạo Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Dầy, Nam Định), tranh Tứ Phủ công đồng, bà Chúa Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Ngũ Hổ, Ông Hoàng cưỡi cá, cưỡi ngựa, cưỡi rắn, ông Hoàng Mười, bà Chúa Ba, Đức Thánh Trần,… Tranh Tết gồm tranh chúc phúc, tứ quý,… Các nhà nghiên cứu văn hóa

và nghệ thuật học đều cho rằng, dòng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khoảng 400 năm trước đây và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các luồng tư tưởng, văn hoá, tôn giáo của các vùng miền, cư dân, là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo, Nho giáo, giữa loại hình tượng thờ, điêu khắc ở đình, chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá dân gian Hiện nay, tại Hà Nội còn duy nhất nghệ nhân Lê Đình Nghiên và con trai của ông (hiện đang sinh sống số nhà 22A phố Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm) còn làm nghề tranh truyền thống Ông Lê Đình Nghiên thuộc thế hệ thứ ba của một gia đình vốn có truyền thống làm nghề tranh ở làng Bình Vọng, Thường Tín (Hà Tây cũ) nhưng đã lên lập nghiệp

ở phố Hàng Trống (Hà Nội) Cụ Lê Xuân Quế, ông nội nghệ nhân Lê Đình Nghiên, khi xưa đã làm nghề tranh, cha của nghệ nhân Nghiên là

cụ Lê Đình Liệu tiếp nối, đến ông Nghiên, cả nhà có 7 anh chị em nhưng chỉ có một mình ông theo được nghề tranh gia truyền

* Làng gốm Bát Tràng: Bát Tràng là một làng

nghề nổi tiếng có lịch sử làm nghề gốm hơn

500 năm Ngôi làng nằm bên tả ngạn sông Hồng, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km, trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội Làng gốm Bát Tràng từ lâu đã nổi tiếng với sản phẩm gốm mang tên chính ngôi làng này Sản phẩm của làng gốm Bát Tràng, từ khi ra đời, đã được các bậc vương giả quyền quý ở kinh thành Thăng Long cho đến nông phu chân lấm tay bùn ở

Trang 5

còn vượt qua biên giới đất Việt Từ thế kỷ XV, đồ

gốm Bát Tràng có mặt trong lễ vật triều cống

cho các hoàng đế Trung Hoa - nơi có truyền

thống làm gốm sứ từ hàng ngàn năm trước và

nổi tiếng khắp thế giới Từ đó về sau, thời đại

nào, dù suy hay thịnh, thì làng gốm Bát Tràng

vẫn khẳng định giá trị hàng hoá của mình,

nghề gốm vẫn trụ vững và vượt qua mọi thử

thách Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng được xuất

khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Nhật

Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước trong khối EU

Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát Tràng đang được

lưu trữ tại một số viện bảo tàng lớn trên thế

giới Bát Tràng hiện nay không chỉ là một làng

nghề sản xuất thuần tuý, với nhiều công trình

tín ngưỡng, văn hoá cùng sản phẩm gốm nổi

tiếng, ngôi làng còn trở thành một điểm đến

du lịch hấp dẫn của Thành phố Hà Nội

3 Sự dịch chuyển không gian làng nghề/

phố nghề Thăng Long - Hà Nội

Các phố nghề ở Thăng Long - Hà Nội hình

thành do cư dân của một số làng ở các vùng lân

cận, những người thợ thủ công tài hoa mang

nghề đặc sắc từ quê hương lên kinh thành làm

ăn, sinh sống Việc hình thành và phát triển các

phố nghề ở Thăng Long - Hà Nội đã tạo sự biến

đổi văn hóa từ làng nghề sang phố nghề một

cách mạnh mẽ Đó là sự biến đổi quan niệm về

nghề nghiệp, do việc mở cửa hàng ở các phố

nghề ngày càng nhiều, sản phẩm bán được

nhiều, thúc đẩy sự phát triển của nghề ở các

làng nghề nên người làm nghề đã tập trung

vào sản xuất sản phẩm mang tính chuyên môn

hóa cao Sau khi lên phố bán hàng, người thợ

thủ công đã tạo lập ra các phường, hội liên kết

với nhau và hình thành ra các mối quan hệ xã

hội đan xen: chủ và khách, chủ và thợ, chủ và

chủ Mặt khác do cuộc sống tất bật, hối hả

của phố nghề nên quan hệ truyền thống như:

Láng giềng, huyết thống dòng họ, gia đình

cũng có sự thay đổi nhất định Văn hóa ứng xử

của người thợ từ làng ra phố đã thay đổi theo

chiều hướng mở, vừa mang tính truyền thống

của làng quê, vừa mang tính hiện đại của phố

phường

Có thể nhận thấy, trong lịch sử phát triển,

làng nghề/phố nghề Thăng Long - Hà Nội đã

có đóng góp to lớn vào sự phát triển toàn diện

nghề vừa sản xuất vừa buôn bán đã thúc đẩy nền kinh tế Thăng Long, từ chỗ phát triển tự phát đến phát triển tự giác, có kế hoạch Phố nghề Thăng Long - Hà Nội không chỉ góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế mà còn

để lại những di sản văn hóa có giá trị, tiêu biểu

là các công trình kiến trúc nhà ở dân dụng, đền chùa, đình miếu Kiểu kiến trúc phổ biến ở các phố nghề là những dãy nhà xây theo kiểu chồng diêm san sát nhau, vừa là nhà ở, lại vừa là cửa hiệu bán hàng, lòng hẹp và sâu vào trong, chia làm nhiều phòng rộng, mỗi phòng được ngăn cách với nhau bởi một khoảng sân Đây

là kiểu kiến trúc nhà ở đặc trưng của phố nghề Thăng Long vẫn còn lưu giữ lại cho đến ngày nay Bên cạnh đó, phố nghề Thăng Long còn

để lại cho thế hệ sau rất nhiều đình, đền thờ tổ nghề Các đình này do dân ngoại tỉnh ra kinh thành hành nghề, tự nguyện đóng góp xây dựng để thờ cúng tổ nghề Việc các phường thợ lập đình thờ tổ nghề là biểu hiện của ý thức uống nước nhớ nguồn, biết ơn người xưa đã có công khai sáng hay cải tiến nghề nghiệp cho con cháu nhờ đó mà sinh sống

Hiện nay, làng nghề là công xưởng sản xuất, phố nghề/khu phố cổ lại chính là nơi trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm Phố nghề hiện nay

là nơi đem lại thu nhập sau khi bán hàng để tái đầu tư về làng nghề trên nhiều phương diện khác nhau như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là chữ tín trong làm nghề của người thợ thủ công được đặt lên hàng đầu, góp phần quảng bá hình ảnh của làng nghề thông qua sản phẩm Ngược lại, làng nghề lại cung ứng cho phố nghề những sản phẩm

có chất lượng cao, kiểu dáng, mẫu mã đẹp, đáp ứng được thị hiếu của khách hàng Do vậy, làng nghề và phố nghề có mối liên hệ qua lại với nhau thông qua các phương diện khác nhau từ kinh

tế đến văn hóa, xã hội Ngày nay, các phố nghề

Hà Nội đã tìm được hướng đi của mình Hơn bao giờ hết, các phố nghề Hà Nội đang mau chóng vượt ra ngoài địa giới cũ trước kia, mở rộng ra cả phía ngoại thành cấu thành một tổng thể Đây

là một trong những chuyển đổi mang tính quy luật khách quan khi nhu cầu về quỹ đất, nhà ở và mặt hàng thủ công truyền thống thay đổi: làng nghề - phố nghề - làng nghề

Trang 6

V Ă N HÓ A

Cùng với sự chuyển dịch về mặt không

gian, sản phẩm của các làng nghề và phố buôn

bán ở Hà Nội cũng thay đổi Sự xuất hiện của

các sản phẩm thủ công truyền thống mang

tính chất sản phẩm du lịch trên các tuyến

phố cổ là một trong những nhu cầu tất yếu

của thị trường Đây cũng chính hướng đi mới

cho các làng nghề ở xung quanh Hà Nội Tuy

nhiên, làng nghề/phố nghề ở khu vực nội

đô đã không còn, hay nói cách khác, về thực

chất, phường/hội thủ công tại khu vực 36 phố

phường cũ của Hà Nội đã tan rã, thay vào đó là

sự bắt đầu hình thành nên một trung tâm buôn

bán các mặt hàng của nghề thủ công truyền

thống Họ buôn bán với 2 hình thức, đó là:

+ Chủ cửa hàng về làng nghề đặt mẫu sản

phẩm theo nhu cầu của khách; + Người thợ thủ

công tự mang hàng của mình giới thiệu và đặt

mối với các cửa hàng tại Hà Nội

Đối với người dân sinh sống ở các làng

nghề/phố nghề trước đây, họ vẫn thờ phụng

tổ nghề tại các phường hội nhưng với một

tâm thức khác Đó là: + Thị dân (phường/hội

thủ công trước đây) đã chuyển đổi hẳn về tín

ngưỡng từ thờ thành hoàng làng/tổ nghề sang

tín ngưỡng thờ thần tài; + Những người dân

làng nghề mới lập nghiệp tại Hà Nội, vẫn có

mối liên hệ về mặt kinh tế - nghề nghiệp với

quê cũ nên các tập tục liên quan đến dòng

họ, liên quan đến nghề nghiệp vẫn còn bảo

lưu, nhưng hoà nhập vào đó là tín ngưỡng của

người đi buôn - tín ngưỡng thờ thần tài

Như vậy, làng nghề/phố nghề Thăng Long

- Hà Nội, trải thời gian, đã có rất nhiều biến đổi

từ không gian, nghề nghiệp, sản phẩm và tín

ngưỡng Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu

sâu hơn để tìm ra những giải pháp phát triển

văn hóa trong sự biến đổi không ngừng của

Thăng Long - Hà Nội

Thay lời kết

Ngày nay, ta vẫn xem “36 phố phường” của

Hà Nội là khu phố cổ Trải qua bao biến thiên

của lịch sử, dẫu tên phố thay đổi ít nhiều, dẫu

nghề nghiệp ở đó có còn hay mất, nhưng

những nghề thủ công và các sản phẩm mà

người thợ Thăng Long làm ra sẽ mãi in đậm, ăn

sâu trong ký ức của người Hà Nội cũng như lịch

sử Việt Nam Từ góc độ lịch sử, văn hóa, những

tạo của những người thợ làng nghề không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội

mà còn góp phần quan trọng tạo nên tính đa dạng và đặc sắc của văn hóa Thăng Long - Hà Nội Những năm gần đây, các làng nghề và phố nghề ở Hà Nội ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước thông qua sản phẩm, kỹ thuật làm nghề cũng như không gian sinh tồn đặc thù Sự phát triển du lịch làng nghề không chỉ thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch Thủ

đô mà còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá độc đáo của các làng nghề, phố nghề ở vùng đất Thủ đô nghìn năm văn hiến

Đ.C.T

(TS., Phó Hiệu trưởng, Trường ĐHVH HN)

Tài liệu tham khảo

1 Phan Gia Bền (1957), Sơ khảo lịch sử phát

triển thủ công nghiệp Việt Nam, Nxb Văn Sử Địa,

Hà Nội

2 Quốc sử quán triều Nguyễn (1971), Đại Nam

nhất thống chí, tập III, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

3 Vũ Huy Thúc (1996), Tiểu thủ công nghiệp

Việt Nam (1858 - 1945), Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

4 Nguyễn Trãi (1960), Ức Trai di tập Dư địa chí,

Phan Huy Tiếp dịch, Nxb Văn Sử học, Hà Nội

5 Dương Bá Vương (2001), Bảo tồn và phát

triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

6 Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam

tìm tòi suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí

Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội

7 Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo (2000), Làng

nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội, Trung tâm

Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội Ngày nhận bài: 20 - 10 - 2018

Ngày phản biện, đánh giá: 21 - 11 - 2018 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 12 - 2018

Ngày đăng: 05/04/2021, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w