1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của cộng đồng trong ứng xử với nước ở châu thổ Bắc Bộ và Tây Nguyên Việt Nam

7 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 126,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như trong tâm thức của người Kinh (Việt) nơi châu thổ Bắc Bộ chứa đựng cả sự sợ nước và mong muốn chinh phục nước, thì cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên luôn k[r]

Trang 1

VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG ỨNG XỬ VỚI NƯỚC

Ở CHÂU THỔ BẮC BỘ VÀ TÂY NGUYÊN VIỆT NAM

NGUYỄN CHÍ BỀN Tóm tắt

Ở Việt Nam, vùng châu thổ Bắc Bộ là nơi sinh sống chủ yếu của người Việt và vùng đất đỏ Tây Nguyên là nơi sinh sống của 11 dân tộc thiểu số tại chỗ hiện nay Nước là tài nguyên vô cùng quý giá

để họ sinh tồn và phát triển, sáng tạo một văn hóa nước: họ vừa cần nước, yêu quý nước nhưng vừa sợ hãi nước Cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ và cư dân vùng đất đỏ Tây Nguyên đều thờ cúng thần nước và coi đó là vị thần tối linh của họ Sự phát triển tín ngưỡng thờ nước của cư dân cả hai vùng, đều có vai trò to lớn của cộng đồng, nhưng vị thế địa - kinh tế, địa - lịch sử, địa - văn hóa của vùng châu thổ Bắc Bộ

và vùng đất đỏ Tây Nguyên có khác biệt, nên vai trò của cộng đồng với tín ngưỡng thờ nước của cư dân hai vùng cũng khác biệt Bài viết phân tích vai trò của cộng đồng trong ứng xử với nước, thể hiện qua: vai trò của các thầy cúng, vai trò của làng, chủ thể và khách thể của tín ngưỡng thờ nước; sự khác biệt vai trò cộng đồng với tín ngưỡng thờ nước ở hai vùng đặc thù của Việt Nam; trên cơ sở ấy, trình bày khái quát về lịch sử văn hóa - tín ngưỡng thờ nước qua các không gian văn hóa của Việt Nam

Từ khóa: Châu thổ Bắc Bộ, Tây Nguyên, vai trò cộng đồng, thờ nước, lễ hội cổ truyền

Abstract

In Vietnam, Northern delta region is the primary living space of the Viet people; whereas, the Central Highlands region is currently the home of 11 ethnic minority groups Water is a valuable natural resource for their existence and development To creat a cultural water, it’s neccessary for them to need water, love water and fear water at the same time Inhabitants of the Northern delta and those of the Central Highlands both worship water gods and consider it their supreme deity The development of the cult of water in the two regions has had the role of communities However, due to the difference in geo-economical, geo-historical and geo-cultural positions between the Northern delta and the Central Highlands, the role of community in the cult of water in these two regions are also different This article analyzes the role of community in dealing with water, manifested through: the role of priests, villages, other subjects and objects of the worship of water; the difference between roles played by communities

in the cult of water practiced in two studied region From that point, an overview of the cultural history

- the beliefs of water worship through Vietnamese cultural spaces is presented

Keywords: Northern delta, Central Highlands, community role, water worship, traditional festivals

Việt Nam, theo GS Trần Quốc Vượng

(1934 - 2005) và các cộng sự trong

giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam

(11), chia thành 6 vùng văn hóa Vùng văn hóa

châu thổ Bắc Bộ và vùng văn hóa Trường Sơn

- Tây Nguyên là hai vùng văn hóa khác nhau

Vị thế địa - văn hóa, địa - kinh tế của hai vùng

khác nhau, đem đến cho cư dân nơi đây hai

ứng xử khác nhau với nước, hiện tượng thiên nhiên gần gũi với con người

1 Cộng đồng cư dân Việt châu thổ Bắc Bộ trong ứng xử với nước

Châu thổ Bắc Bộ, hay nói cách khác là đồng bằng sông Hồng, trải rộng từ vĩ độ 21034’B (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) tới vùng bãi bồi khoảng 1905’B, từ 105017’Đ (huyện Ba Vì,

Trang 2

V Ă N HÓ A

thành phố Hà Nội) đến 10707’Đ (trên đảo Cát

Bà, thành phố Hải Phòng) Toàn vùng có diện

tích trên 14.860km2, chiếm khoảng 4,5% diện

tích cả nước Việt Nam Là địa bàn của hai thành

phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng)

và 8 tỉnh (Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng

Yên, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc và Ninh

Bình), châu thổ Bắc Bộ tính đến năm 2016 có

khoảng 21 triệu người, chiếm khoảng 22%

dân số cả nước, bình quân 1.413 người trên

một cây số vuông Cư dân đa số là người Kinh

(Việt), riêng ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

và huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình có người

Mường Vì thế, nói làng xã ở châu thổ Bắc Bộ là

nói làng xã của người Việt (Kinh)

Thập niên ba mươi của thế kỷ trước, Pierre

Gourou đã viết: “Một ngôi làng không xuất

hiện trong cảnh quan như một tập hợp của nhà

cửa, mà là một khối cây xanh Nó được bao bọc

bằng một rào tre với những ngọn cây dày đặc

tạo thành một lũy chắc chắn và những cành tre

rung rinh đem lại một khung cảnh xanh tươi

và trang trọng cho ngôi làng Là yếu tố chủ yếu

của cảnh quan, làng còn đóng vai trò hàng đầu

trong đời sống tâm linh và xã hội của người

nông dân Nông dân không phải là những cá

thể cô độc, không phải là một công dân bất kỳ

của một xã chỉ tham gia từ xa vào đời sống của

xã, như cư dân của nông thôn Pháp; ngược lại,

đời sống tôn giáo, chính trị và xã hội của làng

xã Việt Nam rất sôi nổi và thường nhật, và mọi

người nông dân đều tham gia một cách chân

thành, nhiệt tình với tham vọng sẽ được giữ

vai trò ngày một lớn hơn” (8, tr.216) Mỗi làng

như vậy, bao gồm một số gia đình cùng sống

bằng nghề trồng lúa nước, cùng sống trong

một không gian xác định Toàn bộ ruộng đất

cày cấy, sông ngòi, hồ đầm đều thuộc quyền

sở hữu của làng Ruộng của làng được phân

chia cho mọi gia đình trong làng sử dụng theo

quy định có tự bao đời, để cày cấy tự nuôi sống

mình, từ mùa vụ này qua mùa vụ khác Loại cây

mà người nông dân vùng châu thổ Bắc Bộ lựa

chọn là cây lúa, loài cây hầu như được trồng

Bắc Bộ Năm 1936, Pierre Gourou công bố dữ liệu “tổng diện tích của tỉnh Bắc Ninh là 110.367

ha, đất đai không dùng cho trồng trọt (làm nhà ở, sông ngòi, gò đất, v.v.) chiếm diện tích 82.543ha tức là gần 20% diện tích đất đai không trồng trọt mà chúng tôi đã quy cho toàn bộ châu thổ, ruộng lúa chiếm diện tích 82.543ha,

và đất đai chỉ chuyên trồng những cây khác không phải lúa là 4.965ha, tức là khoảng 4,5% đất đai toàn tỉnh” (8, tr.363) Và chính ông, trong ghi chú, đã phác thảo: “Nếu áp dụng tỷ lệ phần trăm đất không trồng lúa của Bắc Ninh cho toàn châu thổ, ta có kết quả như sau: 68.000ha đất trồng không phải là lúa, 1.132.000ha ruộng” (8, tr.363) Như vậy, lúa là loài cây gắn bó chặt chẽ với vùng châu thổ Bắc Bộ Khi ấy, chắc chắn, yếu tố mà người nông dân quan tâm nhất phải

là nước Bản thân Pierre Gourou, khi viết công

trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ vào năm

1935 - 1936, cũng đã dành chương 3 để đề cập yếu tố này: Nước của phần Môi trường vật chất Theo ông, việc trồng lúa đòi hỏi rất nhiều nước Nước là yếu tố chi phối tất cả mọi thứ trong cuộc đời của người nông dân châu thổ Bắc Bộ: giàu hay nghèo, đủ ăn hay thiếu ăn, ngủ yên,

ăn ngon trong nếp nhà trầm mặc hay phải bỏ làng đi kiếm sống ở miền quê khác Ứng xử của người Việt nơi châu thổ Bắc Bộ với sông nước là chọn cách đắp đê Không phải đây là cách duy nhất, nhưng ở châu thổ Bắc Bộ, người Việt chọn cách ứng xử này Đó là cách ứng xử thể hiện

“khả năng thích ứng” của người Việt với nước (mà năm 2008 tôi đã lấy ý tưởng của GS Cao Xuân Huy khi nói về con người Việt Nam “đặc tính mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt lưu động như nước… khả năng thích ứng, đó là cái tính

ưu việt, cái bí quyết sinh tồn của dân tộc ta” (1, tr.920) để đặt tên) Hơn nữa, dòng sông Hồng, trong thời gian và không gian, không thể nhìn

nó như hiện nay, mà phải thấy dòng sông đã tạo ra bao biến đổi cho châu thổ Bắc Bộ, nhất

là khi người Việt lựa chọn cách ứng xử với sự hung dữ của nó bằng cách đắp đê Khi ứng xử với dòng sông Hồng hung dữ bằng cách đắp đê thì vỡ đê là hiện tượng xảy ra thường xuyên từ thập niên bảy mươi của thế kỷ XX về trước, tạo

ra cho châu thổ Bắc Bộ những ô trũng hai bên

Trang 3

đối tượng cầu xin Lâu ngày không có mưa, họ

phải cầu xin Trời, Phật, thần linh để có mưa, có

nước như câu ca dao:

Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Có mấy hình thức để người dân cầu xin

thần nước: rước tượng thờ trong cung cấm ra

ngoài như các lễ hội thờ Tứ Pháp vùng Thuận

Thành, tỉnh Bắc Ninh Người dân rước bốn pho

tượng: Pháp Vân (nữ thần Mây), Pháp Vũ (nữ

thần Mưa), Pháp Lôi (nữ thần Sấm), Pháp Điện

(nữ thần Chớp) từ cung cấm ra ngoài với lời ca

cầu khấn: Ba Bà trẩy hội chùa Un, mưa gió đùn

đùn thiên hạ dễ làm ăn; đem tượng thờ trong

cung cấm ra phơi ngoài nắng như lễ hội chùa

Bối Khê (huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội)

Nhưng, nước cũng là đối tượng cần phải

chinh phục Nhiều lễ hội cổ truyền còn những

trò diễn ca ngợi những anh hùng chống lụt

Những lễ hội thờ Sơn Tinh, Thuỷ Tinh vùng

Ba Vì thuộc tỉnh Hà Tây cũ, thành phố Hà Nội

hiện nay, chính là những lễ hội thể hiện thái

độ chinh phục nước, chinh phục lũ lụt của

cư dân trồng lúa nước Trong bóng dáng của

huyền thoại anh hùng Lê Lợi trả gươm ở hồ

Hoàn Kiếm, có một khát vọng đất nước thái

bình, nhưng vẫn hiển hiện bóng dáng một anh

hùng văn hoá trị thuỷ Mặt khác, với người Việt

(Kinh) nơi châu thổ Bắc Bộ, nước là thực thể

thiên nhiên vừa hiền lành, vừa hung dữ, được

người Việt nơi đây thiêng hóa thành một vị

thần: thần nước

Ứng xử với nước, người dân vùng châu thổ

sông Hồng có nhiều cách khác nhau Trước hết,

nước là môi trường diễn ra lễ hội cổ truyền

Không gian của lễ hội cổ truyền người Việt

có không gian thế tục và không gian thiêng

Nhiều lễ hội cổ truyền của người Việt có không

gian thiêng là sông nước hoặc biển cả Chẳng

hạn, lễ hội thờ cá voi của cư dân ven biển từ Hà

Tĩnh trở vào đến Cà Mau diễn ra từ cửa sông

đến ven biển và ngoài biển, với các lễ hội này,

mọi hành động hội, nhất là các trò diễn, đều

diễn ra trên sông nước, hoặc biển cả Tiêu biểu

Bạch Hạc (thị xã Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), lễ hội đền Chèm (quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội),

lễ hội làng Khê Hồi (huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội), lễ hội đền Đồng Xâm (huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình), v.v Đồng thời, nước là môi trường tiếp nhận các lễ vật dâng cúng của người dân trong lễ hội cổ truyền Thể hiện tấm lòng thành kính với nhân vật thờ phụng, người dân mang các lễ vật sau khi cúng tế đưa xuống nước, để dâng cúng cho nhân vật phụng thờ

Ví dụ lễ hội làng Bình Đà (huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), người dân mang bánh Vía, sau khi đã dâng cúng ra bờ sông, bóp nát, thả xuống sông Nước là yếu tố chứa đựng khát vọng đổi mới, là sự mở đầu cho sự thay đổi, người dân dùng nước làm lễ mộc dục - một thành tố bắt buộc, rất quan trọng trong diễn trình lễ hội Người dân cho rằng nước được lấy giữa dòng sông là nước tinh khiết để con người làm sạch những pho tượng thờ Từ ngày

lễ hội năm trước đến ngày lễ hội năm sau, pho tượng thờ để nơi cung cấm cần được lau chùi sạch sẽ Nước để làm lễ mộc dục phải lấy

ở giữa sông, sau khi đã làm các nghi thức cần thiết Có thể thấy nhiều lễ hội như lễ hội đền

Bà Tấm (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội), lễ hội đền Hoá Dạ Trạch (huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), lễ hội đền Cuông (tỉnh Nghệ An), v.v có hình thức nghi lễ này

Thứ hai, nước là đối tượng được thiêng hóa

thành các nhân vật thờ cúng, nơi chứa đựng niềm tin, khát vọng của người dân Những loài vật như con rắn, con rồng, con cá voi, v.v được biến thành các nhân vật thiêng, nhân vật trung tâm được thờ trong các lễ hội cổ truyền Rất nhiều lễ hội của người Việt thờ rắn, ngay như ở lễ hội thờ Mẫu, con rắn xuất hiện trong điện thần của tín ngưỡng này với tên gọi ông Lốt Chưa kể con rắn, tất cả các loài vật còn lại

mà người Việt phụng thờ đều gắn bó với môi trường nước Nước là nơi xuất phát, nơi trở về của các loài vật thiêng để người dân thờ cúng trong lễ hội cổ truyền Trong khi đó, các làng chài ven biển Việt Nam từ Hà Tĩnh trở vào Nam đều thờ cá voi Nhân vật trung tâm trong lễ hội của các làng chài ven biển là cá voi Cá voi là

Trang 4

V Ă N HÓ A

loài vật sinh sống ngoài biển khơi Với cư dân

làm nghề đánh bắt hải sản, biển khơi là nơi

cung cấp nguồn lợi cho họ, cho họ cuộc sống,

nhưng cũng là nơi gây ra bao tai ương, bất trắc

cho họ Vì vậy cư dân ven biển tin tưởng rằng

cá voi là vị thần hộ mệnh của họ, cứu vớt họ khi

họ gặp bất trắc nơi biển khơi Mặt khác, người

dân các thế hệ đã thiêng hoá các vật siêu nhiên

thành những nhân vật lịch sử - văn hóa có vai

trò rất quan trọng trong tâm thức người Việt

Đáng chú ý, nhiều nhân vật lịch sử văn hóa vốn

có gốc gác là những vật gắn bó với nước được

huyền thoại hóa, lịch sử hóa Khảo sát 94 bản

thần tích của lễ hội 94 làng quê châu thổ Bắc

Bộ, chúng tôi đã gặp 25 nhân vật thành hoàng

làng có nguồn gốc sinh nở thần kỳ, sinh ra do

người mẹ kết hợp với giao long, rồng, rắn, v.v

Ví dụ: Nhân vật Linh Lang trong lễ hội ở vùng

ven Kinh thành Thăng Long và lễ hội làng Lệ

Mật (huyện Gia Lâm, nay thuộc phường Việt

Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội),

vốn có gốc gác từ sông nước; hay những vị

thần mang tên Trương Hống, Trương Hát, được

người dân thờ hai bên bờ sông Cầu (ranh giới

hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang), vốn có nguồn

gốc từ những con rắn, v.v Với những cư dân

sống bằng nghề trồng lúa nước hoặc bằng

nghề đánh bắt thuỷ, hải sản trên sông nước

hay ngoài biển khơi, nước là yếu tố rất quan

trọng đối với họ Bởi vậy, người dân thờ cúng

các thuỷ thần, các nhân vật lịch sử văn hoá -

nhân vật trung tâm của lễ hội cổ truyền, thực

ra là thờ nước

Chính vì sống tại một vùng châu thổ, ứng

xử với một dòng sông hung dữ như sông

Hồng, nên vai trò của cộng đồng trong quan

hệ của người dân với thần nước, với nước rất

quan trọng Nói đến cộng đồng làng xã của

người Việt (Kinh) ở châu thổ Bắc Bộ là phải nói

tới vai trò của hương ước “Làng nào có hương

ước nấy và hương ước của từng làng thường

bao gồm trong nội dung cụ thể của nó những

chi tiết mà hương ước làng khác không có

Hơn thế nữa, mỗi hương ước lại có thể mang

một hợp thể riêng, nghĩa là có thể đề cập đến

một số vấn đề hay khía cạnh mà hương ước các

nhà nghiên cứu đã thống nhất: hương ước có nhiều tên gọi khác nhau như hương lệ, hương biên, khoán lệ, khoán ước, tục lệ, điều lệ, v.v Trong lịch sử Việt Nam, hương ước manh nha từ thế kỷ XV, đến thế kỷ XVI, XVII dần được hoàn thiện, thế kỷ XVIII được xem như phổ biến Hương ước là những quy ước theo lối sống Nho giáo được khuôn trong phạm

vi một làng Khi nghiên cứu về hương ước, tục lệ nói riêng và cơ chế tự trị làng xã nói

chung, người ta thường nói phép vua thua lệ

làng Nhưng qua kết quả nghiên cứu đã nêu,

làng xã chỉ có thể tự trị ở mức độ cho phép, bên cạnh đó, nhà nước trung ương vẫn tăng cường quyền quản lý Trong quan hệ của các thành viên trong làng với nước, với thần nước, hương ước rất quan tâm đến các ứng xử của các thành viên trong cộng đồng làng xã với nước Xin đơn cử hương ước của một số làng ở tỉnh Thái Bình: Hương ước xã Đại Hữu, tổng Tân Định, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, soạn năm 1924 có Điều 3: “Ai làm hư hỏng bờ ruộng phải phạt… và bắt phải làm lại”; Điều 4:

“Ai tháo trộm nước ruộng và đơm đó để mất nước màu phải phạt… và bắt tát nước đền cho người điền chủ” (9, tr.140) Hương ước xã Noi Trang, tổng Hà Lý, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình có Điều 20: “Bổn phận trương tuần xã đoàn phải đem tuần đi tuần trong làng ngoài đồng, thúc giục sưu thuế, trông coi lúa mạ hoa màu, sửa chữa đường sá cầu cống, bắt tuần tráng phải đóng nước, tháo nước để lợi nông công, trông coi cây cối của làng, cấm không được ai nuôi vịt ở đồng” (9, tr.146) Hương ước làng Hoàng Nông, tổng Canh Nông, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình có Điều thứ 7: “Tuần coi việc giữ nước và tháo nước những khi nên tháo nên giữ Phải hỏi ý kiến hương hội không được tự quyết, những người tháo nước đơm

cá để cho ruộng khô cạn thì tuần tráng phải bắt ngay giải hương hội xét phạt”; Điều thứ 13:

“… ai cần tháo nước qua đường trước phải xin phép hương hội” (9, tr.153) Người dân trong các làng, một năm, ngoài những hội hè cúng thành hoàng, còn phải liệt kê vào lễ hội công cộng… để cúng cơm mới vào tháng 10, gọi là

Trang 5

đồng chú trọng đến việc giữ gìn nguồn nước,

tổ chức các hoạt động thể hiện niềm tin tưởng

của mình với thần nước, có một văn bản thỏa

thuận trong cộng đồng về bảo vệ nguồn nước

2 Cộng đồng cư dân các dân tộc thiểu số

Tây Nguyên trong ứng xử với nước

Trong khi đó, cộng đồng cư dân các dân tộc

thiểu số ở Tây Nguyên Việt Nam lại có ứng xử

khác Nói đến Tây Nguyên cần thấy Tây Nguyên

không phải là một cao nguyên mà là các cao

nguyên liền kề từ Bắc vào Nam: cao nguyên

Kontum, KonPlông, Kon Hà Nừng, Pleiku,

M’Drăk, Buôn Ma Thuột, Mơ Nông, Lâm Viên,

Di Linh Độ cao của các cao nguyên này cũng

không giống nhau, nếu cao nguyên Lâm Viên

cao khoảng 1.500m, cao nguyên Di Linh cao

khoảng 900 - 1.000m, cao nguyên Pleiku cao

800m, thì cao nguyên Kontum, cao nguyên

Buôn Ma Thuột chỉ cao khoảng 500m Nói đến

Tây Nguyên là nói đến một vùng đất đỏ bazan,

với diện tích hơn 54.000 km2, bao gồm địa giới

của 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông

và Lâm Đồng; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam,

phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình

Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình

Thuận, phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình

Phước, phía Tây giáp các tỉnh Attapeu (Cộng

hòa dân chủ nhân dân Lào), Ratanakiri,

Mon-dukiri (Vương quốc Campuchia) Là một vùng

đất không giáp biển và khá gần xích đạo nên

một năm khí hậu ở Tây Nguyên chia làm hai

mùa: mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 10,

mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Nói đến cộng đồng các dân tộc thiểu số ở

Tây Nguyên Việt Nam là nói đến cộng đồng cư

dân ngữ hệ Nam Đảo (Malayo Polynedi) gồm

các dân tộc: Giarai, Ê đê, Chu ru và cộng đồng

cư dân Nam Á (Môn - Khơ me) gồm các dân

tộc: Bana, Cơ ho, Xơ đăng, Mơ nông, Mạ, Giẻ

Triêng, Rơ măm, Brâu Cả hai cộng đồng dân

cư này đều cư trú thành làng, tên gọi tùy theo

cộng đồng từng dân tộc Nếu người Gia rai,

người Chu ru gọi plei, người Ba na gọi plơi, thì

người Cơ ho gọi bon, người Ê đê gọi buôn, v.v

Các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, “dù

thuộc dân tộc nào, đều định cư trong từng

lúa khô trên rẫy làm nguồn chính để nuôi thân… Để trồng trọt, con người phải định

cư lại thành từng làng, đơn vị tập hợp người hoàn chỉnh nhưng nhỏ nhất, mỗi làng chiếm lĩnh một địa bàn có ranh giới rõ ràng, mà làng khác không được xâm phạm đến, không thế thì xảy ra chiến tranh” (2, tr.521) Hoạt động kinh tế của các tộc người này cũng có những khác biệt trong ứng xử với nguồn nước Nếu người Ba na, người Brâu, người Rơ măm, người Giẻ Triêng sinh sống với phương thức canh tác trồng lúa rẫy (lúa khô) thì người Chu ru, người

Cơ ho lại là những tộc người sinh sống với phương thức canh tác trồng lúa nước Hoặc,

cả tộc sinh sống bằng trồng lúa rẫy, nhưng có nhóm sinh sống bằng trồng lúa nước, như dân tộc Êđê sinh sống bằng trồng lúa rẫy, nhưng nhóm Êđê Bih lại sinh sống bằng trồng lúa nước, hoặc người Xơ đăng làm rẫy là chính nhưng nhóm Mơ nâm lại sinh sống bằng ruộng nước, v.v Dù sinh sống với phương thức trồng lúa rẫy hay canh tác lúa nước thì tất cả các dân tộc thiểu số tại chỗ ấy đều gắn bó số phận của mình trên những cao nguyên đất đỏ, cho nên nước là yếu tố vô cùng quan trọng với

họ Trong tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên đều thiêng hóa hiện tượng

tự nhiên này là thần nước Lễ cúng bến nước luôn là một lễ cúng thiêng liêng đối với họ

Chẳng hạn, với người Gia rai, thần nước (Yang

Ia) là vị thần vừa linh thiêng, vừa thân thiết, vị

thần cung cấp nguồn nước mát lành cho họ

Lễ cúng nước giọt (cúng bến nước) rất quan trọng với họ, được thực hiện hàng năm, sau khi đã thu hoạch mùa màng Lời khấn của vị già làng chủ lễ luôn có nội dung xin thần suối hãy đến với dân làng, cho dân làng dòng nước trong trẻo, tràn trề Và ông là người đầu tiên lấy quả bầu khô hứng nước châm vào ghè rượu, rồi uống ngụm rượu đầu tiên qua cần ở ghè rượu Kết thúc buổi lễ, bao giờ phụ nữ trong plei cũng lấy bầu khô hứng nước, mang về nhà dùng Nói đến ứng xử với nước của người Gia rai, không thể không nói đến các Pơtao Puih, Pơtao Ia, các thủ lĩnh tín ngưỡng Lửa và Nước Một thời, trong sử sách của người Việt như

Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1784),

Trang 6

V Ă N HÓ A

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy

Chú (1782 - 1840), Đại Nam thực lục tiền biên

và chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn

(1802 - 1945), v.v từng nhắc đến, coi như một

vương quốc: nước Thủy Xá, nước Hỏa Xá (6; 7)

Với Pơ tao Puih, lễ cầu mưa là nghi lễ quan

trọng nhất mà các Pơ tao Puih thực hiện Người

Gia rai trong khu vực ảnh hưởng của Pơ tao Puih

tin rằng với chiếc gươm thần mà người dân gọi

là ơi Tha làm vật trung gian, Powtao Puih là

người duy nhất có thể liên hệ với thần linh để

gọi mưa về tưới mát cho ruộng rẫy Lễ cầu mưa

bắt đầu khoảng tháng 4 dương lịch, được thực

hiện bên cửa hông phía mặt trời mọc, trong nhà

của Pơtao Puih, nghi thức cuối cùng là lấy nước

vẩy ra xung quanh, kết thúc buổi lễ

Hàng năm, sau mùa thu hoạch, người Ê đê

tổ chức lễ cúng bến nước để bày tỏ niềm biết

ơn của mình với thần nước Lễ cúng thường

do chủ bến nước - người tìm ra bến nước - tổ

chức, dưới sự chủ trì của già làng Mọi thành

viên trong buôn tham gia rất nhiệt tình, tự

giác, với niềm biết ơn và tin tưởng thần bến

nước, cảm ơn vị thần ban cho họ nguồn nước

trong lành, không vơi cạn

Đáng quan tâm nhất là người Chu ru, dân

tộc sống bằng ruộng nước, phương thức

canh tác là trồng lúa nước Mỗi plei thường có

một người phụ trách công việc thủy lợi và hai

người giúp việc Trưởng thủy cũng do tập thể

các thành viên trong làng bầu ra Ông là người

có khả năng về thủy lợi và có đức tính công

bằng Trưởng thủy có nhiệm vụ phân phối đều

lượng nước từ các mương, máng công cộng

đến từng thửa ruộng của các gia đình Khi

cần thiết, ông có thể đề nghị với chủ làng huy

động nhân lực để tu bổ các công trình thủy lợi

chung trước mùa cày cấy

Như thế, cộng đồng các dân tộc thiểu số

tại chỗ ở Tây Nguyên luôn biết ơn thần nước,

kính trọng thần nước Vai trò của cộng đồng

với thần nước rất quan trọng, cả cộng đồng

đều coi thần nước là thiêng liêng Đáng lưu ý là

vai trò của các vị thầy cúng và của các già làng

khi cộng đồng tiến hành các nghi lễ đối với

thần nước Trong lịch sử, chỉ có ở cộng đồng

vươn tới vai trò của thủ lĩnh tín ngưỡng thần lửa, thần nước mà xa mờ là bóng dáng của một vương quốc Thủy Xá, Hỏa Xá như ghi chép của

sử gia người Việt Nhận xét của F Ăng-ghen:

“Ngay từ đầu trong mỗi công xã đó, có một

số lợi ích chung nào đó mà việc gìn giữ phải trao cho mỗi cá nhân, tuy có sự kiểm soát của toàn thể: như là xét xử những vụ tranh chấp; trừng phạt những kẻ lạm quyền; như là trông nom các nguồn nước…” (3, tr.304) gợi mở cho chúng ta tiếp tục suy nghĩ về vai trò của các

vị thầy cúng trong tín ngưỡng thờ nước của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên Việt Nam

3 Văn hóa nước ở Việt Nam qua hai cộng đồng cư dân hai vùng văn hóa

Người Kinh (Việt) ở châu thổ Bắc Bộ và cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên Việt Nam là hai cộng đồng cư dân khác nhau, sinh sống ở hai vùng không gian khác nhau Ứng xử của họ với nước cũng khác nhau Nếu như trong tâm thức của người Kinh (Việt) nơi châu thổ Bắc Bộ chứa đựng cả sự sợ nước và mong muốn chinh phục nước, thì cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên luôn kính trọng biết ơn hiện tượng tự nhiên

đã được thiêng hóa Văn hóa nước của Việt Nam cần được xem xét theo tiến trình lịch sử

và không gian văn hóa, có sự biến đổi Ở Việt Nam, dân tộc giữ vai trò chủ thể là người Kinh (Việt), “Qua những thăng trầm trong buổi đầu của lịch sử, dân tộc sau này sẽ là chủ thể bao giờ cũng định cư ở đồng bằng, còn các dân tộc khác thì quanh các thung lũng chân núi, hay trên sườn núi, trên cao nguyên Ở đồng bằng, con người nhanh chóng chuyển sang trồng lúa nước, mà năng suất cao hơn, so với các loại

củ và lúa nương ở những vùng trên (2, tr.518) Việc trồng lúa nước khiến tâm thức họ tồn tại

cả hai thái cực: sợ nước và chinh phục nước Huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh thể hiện thái

độ chinh phục nước của người Kinh (Việt) Nước càng dâng cao thì người Việt đắp đê để ngăn chặn (Năm 2008, tại hội thảo khoa học quốc tế về văn hóa sinh thái của cư dân sông Hồng từ thượng nguồn đến hạ lưu, tôi đã trình

Trang 7

(1, tr.912-934) Nhưng người Kinh (Việt) vẫn

coi nước là môi trường của nghi lễ trong lễ hội

làng, phải lấy nước ngoài sông lớn, giữa dòng

sông làm lễ mộc dục Tượng thờ trong di tích

phải được lau chùi bằng nước lấy giữa sông

sau khi làm nghi lễ với thần sông, thần nước

mang về hậu cung Cộng đồng cư dân trong

mỗi làng có quy định bằng hương ước để giữ

gìn, bảo vệ nước cho sự tồn tại của mình, cho

cây lúa ngoài đồng, có phân công người chịu

trách nhiệm quản lý nguồn nước Trong 11 dân

tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, chỉ có người

Chu ru đồng dạng với người Kinh (Việt) ở châu

thổ Bắc Bộ trong ứng xử với nước Họ đã làm

mương phai, đê đập dẫn nước, nói cách khác

là làm thủy lợi cho cây lúa Văn hóa nước của

người Chu ru ở Tây Nguyên đồng dạng với văn

hóa nước của người Kinh (Việt) ở châu thổ Bắc

Bộ, mặc dù hai dân tộc sinh sống ở hai không

gian địa lý - văn hóa khác nhau Các dân tộc

thiểu số tại chỗ còn lại ở Tây Nguyên ứng xử

với nước khác với người Kinh (Việt) nơi châu

thổ Bắc Bộ “Ở đây làng không gắn với nước

như trong trường hợp xã hội Việt, để thành

“làng nước”, mà làng là nước tại nhiều vùng

đã có tù trưởng lớn… ít nhất cũng có một chế

độ thủ lĩnh tôn giáo, với các vua Lửa, vua Nước”

(2, tr.527) Cúng thần bến nước, thần nước sau

mùa thu hoạch hằng năm là một sinh hoạt tín

ngưỡng văn hóa thường xuyên của cư dân

các dân tộc thiểu số tại chỗ ở nơi đây, dù họ là

người Gia rai hay Ê đê, Mơ nông, v.v Chưa thấy

thái độ chinh phục nước của họ

Kết luận

Người Kinh (Việt) nơi châu thổ Bắc Bộ và

cộng đồng 11 dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên

Việt Nam là hai chủ thể văn hóa ở hai không

gian văn hóa khác nhau của Việt Nam Trong

tâm thức người Kinh (Việt) nơi châu thổ Bắc Bộ

và tâm thức cộng đồng các dân tộc thiểu số tại

chỗ Tây Nguyên chứa đựng sự tôn kính, biết ơn

nước, sợ nước nhưng cũng vươn lên để chinh

phục nước Ứng xử với nước của các dân tộc tại

hai không gian văn hóa khác nhau ở Việt Nam

làm nên văn hóa nước Việt Nam vừa thống

khác nhau trong không gian và thời gian, rất cần được nghiên cứu của các nhà nhân học, văn hóa học trong và ngoài Việt Nam

N.C.B

(GS.TS, Nguyên Viện trưởng Viện VHNTQG Việt Nam)

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Chí Bền (2018), Văn hóa Việt Nam

nghiên cứu và tiếp cận, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội, tập 1, quyển 1

2 Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu

văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa - Thông tin,

Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội

3 F.Ăng ghen (1971), Chống Đuyring, Nxb Sự

thật, Hà Nội

4 Georges Condominas (2003), Chúng tôi ăn

rừng, Trần Thị Lan Anh, Phan Ngọc Hà, Trịnh Thu

Hồng, Nguyễn Thu Phương dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, Nxb Thế giới, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, Hà Nội

5 Lưu Hùng (1994), Buôn làng cổ truyền xứ

Thượng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

6 Jacques Dournes (2013), Potao, một lý

thuyết về quyền lực của người Jorai ở Đông Dương,

Nguyên Ngọc dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội

7 Nhiều tác giả (2004), Pơ tao Apuih, tư liệu và

nhận định, Sở văn hóa - Thông tin Gia Lai, Plei ku.

8 Piere Gourou (2003), Người nông dân châu

thổ Bắc Kỳ, Nguyễn Khắc Đạm, Đào Hùng, Nguyễn

Hoàng Oanh dịch, Đào Thế Tuấn hiệu đính, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, Nxb Trẻ, Hà Nội

9 Nguyễn Thanh (biên soạn) (2000), Hương

ước Thái Bình, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

10 Trần Từ (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt

cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

11 Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2018), Cơ sở

văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tái bản

lần thứ 20

Ngày nhận bài: 20 - 10 - 2018 Ngày phản biện, đánh giá: 21 - 11 - 2018 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 12 - 2018

Ngày đăng: 05/04/2021, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w