Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh cao bằng Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh cao bằng luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHAN THỊ MAI LAN
ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BAN BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Thành phố Cao Bằng
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trịnh Xuân Tráng
Phản biện 1: TS Lê Thị Hương Lan
Phản biện 2: TS Nguyễn Thu Hương
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn họp tại: Phòng bảo
vệ luận văn I Vào hồi 13 giờ 30 ngày 16 tháng 05 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên và Thư
viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng chuyển hóa ngày càng tăng trên thế giới, tỷ lệ này ở các nước phát triển khá cao và đang có xu hướng gia tăng báo động ở các nước đang phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội [77]
Trên thế giới có khá nhiều những nghiên cứu về HCCH như ở châu Âu, tỷ
lệ HCCH trong cộng đồng khoảng 24% dân số song nếu chỉ tính ở lứa tuổi trên
50 thì tỷ lệ đó là 40% [85]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyên Văn Thành và cộng sự tại Bạc Liêu nhận thấy tỷ lệ HCCH ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản lý chiếm 24% [31] Còn theo Trang Mộng Hải Yến (2014) nghiên cứu ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản lý tại Long An, HCCH chiếm 30,34% [39] Nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú và
CS (2012) cho thấy tỷ lệ cán bộ hưu trí bị HCCH trên địa bàn tỉnh Nghệ an là 35,1% [14]
Nhiều nghiên cứu cho thấy người mắc HCCH thường có nguy cơ bị tai biến tim mạch gấp 3 lần và có nguy cơ tử vong gấp 2 lần, nguy cơ phát triển đái tháo đường (ĐTĐ) gấp 5 lần so với những người không bị hội chứng này [1]
Nghiên cứu đặc điểm HCCH ở đối tượng cán bộ hưu là việc làm rất quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhằm phòng chống một số bệnh liên quan đến HCCH, từ đó đưa ra giải pháp và kiến nghị phù hợp và hiệu quả trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ hưu Chính vì vậy chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản lý tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng” với 02
mục tiêu:
1 Mô tả một số đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng được quản
lý tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng
2 Phân tích một số yếu tố liên quan với đặc điểm của hội chứng chuyển hóa ở các đối tượng trên
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình mắc hội chứng chuyển hóa trên thế giới và ở Việt Nam
* Trên thế giới
Tổ chức Y tế thế giới coi béo phì là đợt sóng đầu tiên của một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa ở các nước đã và đang phát triển Người ta gọi đó là “Hội chứng thế giới mới” (New world syndrome) gây nên các gánh nặng về kinh tế -
xã hội và chăm sóc sức khỏe ở các nước nghèo Đi liền với thừa cân, béo phì là các bệnh mạn tính khi bước vào độ tuổi trưởng thành Đó là biểu hiện của HCCH
ở các mức độ, trong đó có vai trò quan trọng của yếu tố dinh dưỡng HCCH như
là một vấn đề thời sự được quan tâm do sự gia tăng về tần suất trong dân số chung cũng như ở một số đối tượng nguy cơ cao như tăng huyết áp, béo phì, phụ nữ mạn kinh, đái tháo đường [15], [27] Người ta ước tính có khoảng 20-25% người trưởng thành trên thế giới mắc hội chứng chuyển hóa và những người này có nguy
cơ tử vong cao hơn gấp 2 lần và nguy cơ bị cơn đau tim hay đột qụy tăng gấp 3 lần và nguy cơ bị đái tháo đường cao gấp 5 lần [22]
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về HCCH Theo tiêu chuẩn của NCEP thì HCCH được ước tính là 24% người trưởng thành ở Mỹ, trong đó tỷ lệ này nguời có dộ tuổi trên 50 chiếm tới 44% Với định nghĩa của WHO, HCCH có mặt ở 5-22% phụ nữ tuổi từ 40-45 [95], [57]
Một nghiên cứu cắt ngang ở Venezuela đã nghiên cứu ở đối tượng từ 20 tuổi trở lên cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo NCEP là 31,2% trong đó tỷ lệ này ở nam cao hơn ở nữ Tỷ lệ mắc HCCH cũng tăng theo tuổi cùng mức độ béo phì Tỷ lệ này có sự khác biệt giữa các nhóm đàn ông chủng tộc khác nhau, đàn ông da đỏ
có tỷ lệ mắc thấp nhất (17%) so với người da đen (27,2%) và người da trắng (33,3%) nhưng không có sự khác biệt giữa các nhóm phụ nữ Các yếu tố HDL -
C (65,3%), béo bụng (42,9%) và yếu tố huyết áp (38,1%) là thường gặp nhất trong HCCH Cách sống không lành mạnh cũng làm tăng nguy cơ của hội chứng này
[44]
Trang 5Nghiên cứu tại Hồng Kông đã xác định tỷ lệ HCCH ở các đối tượng trong
độ tuổi lao động theo ba tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NCEP và EGIR cho thấy tỷ lệ mắc HCCH dao động từ 8,9% đến 13,4% tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán [71]
Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông, theo định nghĩa của NCEP đã xác định
tỷ lệ mắc HCCH tăng từ 3,1% ở lứa tuổi 25-29 đến 41% ở độ tuổi trên 70 Còn tỷ
lệ mắc chung trong nghiên cứu sau khi điều chỉnh tuổi và giới theo định nghĩa béo phì đối với người chấu Á là 21,2% [68]
Nghiên cứu trên dân cư thành thị ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của NCEP thì tỷ lệ HCCH là 41,1%, trong đó yếu tố HDL-C thấp chiếm tỷ lệ cao nhất (65,5%), sau đó là yếu tố huyết áp (55,4%), thấp nhất là yếu tố rối loạn glucose máu khi đói (26,7%) [84]
Nghiên cứu của Heng KS và cộng sự (2013) trên đối tượng là đội ngũ nhân viên trường Đại học Putra Malaysia từ 20 đến 65 tuổi cho biết tỷ lệ HCCH của nhóm đối tượng này theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Harmonised, IDF và NCEP ATP III lần lượt là 38,3%, 38,8% và 33,5%
Tỷ lệ HCCH tăng theo nhóm tuổi, ở nam cao hơn ở nữ ở dưới độ tuổi 50 nhưng trên độ tuổi 50 tỷ lệ này ở nữ lại cao hơn ở nam [60] Trước đó một nghiên cứu khác cũng tại Malaysia của Mohamud và cộng sự (2012) cho tỷ lệ HCCH ở người dân Malaysia theo tiêu chuẩn Harmonised, IDF và NCEP ATP III lần lượt
là 42,5%, 37,2% và 34,3% [81]
* Tại Việt Nam
Cùng với xu hướng chung của thế giới và khu vực, Việt Nam đang bước vào thời kì hiện đại hóa, công nghiệp hóa, kinh tế đang có bước tăng trưởng nhanh, đời sống xã hội đã được cải thiện và tăng lên, đây là điều kiện thuận lợi để HCCH xuất hiện đặc biệt là đối tượng cán bộ công chức
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Linh ở người cao tuổi có gan nhiễm
mỡ không do rượu cho thấy tỷ lệ HCCH là 42,5% [17]
Theo nghiên cứu của Nguyên Văn Thành và cộng sự ở đối tượng cán bộ
Trang 6thuộc diện quản lý của ban BVCSSKCB tỉnh Bạc Liêu cho thấy kết quả HCCH chiếm tỷ lệ 24% trong đó ở nhóm tuổi < 60 là 29,4%, ở nhóm tuổi ≥ 60 là 20,9%, nam chiếm tỷ lệ 21,8% nữ chiếm 32% [31]
Nghiên cứu của Trang Mộng Hải Yên và cộng sự năm 2014 ở đối tượng cán bộ tỉnh ủy quản lý tại Long An cho thấy HCCH chiếm 30,34%, nhóm tuổi 50
- <60 chiếm 65,96% và 89,39% cán bộ bị thừa cân béo phì Tình trạng thừa cân béo phì làm tăng nguy cơ mắc HCCH lên 12,14 lần, và có chỉ số WHR tăng sẽ có nguy cơ mắc HCCH tăng gấp 4,57 lần [39]
Nghiên cứu của Lê Nguyễn Trung Đức Sơn và cộng sự năm 2000 đã chỉ ra
tỷ lệ HCCH ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh là 12%, có liên quan đến tuổi, tỷ
lệ phần trăm mỡ và nghề nghiệp [92]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Trung Thu năm 2015 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH
ở người trung niên bị tiền đái tháo đường là 46,7% (41,5% ở nam và 49,8% ở nữ) [32]
Năm 2007, Nguyễn Hữu Toản và cộng sự đã công bố nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của cán bộ công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trên tạp chí Y học thực hành Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ béo phì của cán bộ công nhân viên bệnh viện Chợ Rẫy chiếm 32,5% và tỷ lệ này không hề thua kém bất kỳ một quốc gia nào trong khu vực như Malaysia (21%), Singapore (30,44%), thậm chí ngang với các nước công nghiệp như Đức (47,3%), Anh (31,5%), Mỹ (44,4%) Mức độ thừa cân béo phì liên quan đến tốc
độ phát triển bệnh tim mạch và làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, đặc biệt
Trang 7theo tiêu chuẩn IDF (International Diabetes Federation) và ATP III lần lượt là
22% và 13% [35]
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Việt, Tạ Văn Bình và cộng sự nghiên cứu về
HCCH ở khu vực nội thành Hà Nội trong 2 năm 2008 – 2009 trên 550 đối tượng
của 4 quận nội thành Hà Nội theo tiêu chuẩn IDF 2005 chiến 28,9% trong đó nữ
cao hơn nam có ý nghĩa thống kê [38]
Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú trên cán bộ hưu trí tỉnh Nghệ
An cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo ATP III là 35,1%, chủ yếu gặp ở nữ chiếm
70,1% cao gấp 2,5 lần ở nam chỉ chiếm 29,9% [24]
Một nghiên cứu khác của Võ Thị Dễ trên tạp chí Y học thực hành năm 2013
nghiên cứu về tần suất và đặc điểm HCCH trong cộng đồng tỉnh Long An năm
2010 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH theo IDF, NCEP ATP III và NCEP ATP III điều
chỉnh lần lượt là 10,4%; 12,4% và 17,2% Tỷ lệ mắc HCCH tăng dần theo tuổi
[10]
1.2 Một số yếu tố liên quan đến HCCH
1.2.1 Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống
Chế độ ăn có mối liên hệ mật thiết với HCCH Khi chế độ ăn không cân đối,
dư thừa năng lượng sẽ dẫn đến vượt quá nhu cầu của cơ thể làm cơ thể tích lũy
quá mức Việc tích lũy này diễn ra trong thời gian dài sẽ làm cơ thể mất cân bằng,
hệ thống chống nhiễm mỡ của cơ thể sẽ mất khả năng tự cân bằng Khi đó lượng
triacylglycerol sẽ lắng đọng và tích lũy dần dần tại các mô không phải mô mỡ
[83]
Các nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ cần ăn dư 70 calo mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng
cân trong khi cơ thể chúng ta không nhận ra đặc biệt là khi ăn những thức ăn giàu
năng lượng Các thức ăn giàu chất béo sẽ làm cho người ta trở nên ngon miệng,
dẫn đến việc ăn thừa mà không biết Mỡ động vật có đậm độ năng lượng cao gấp
2 lần đường, lại cần ít calo để tích lũy dưới dạng triglycerid Vì vậy khẩu phần
nhiều mỡ dễ dẫn đến thừa calo và tăng cân Ngoài ra, các chất sinh năng lượng có trong thức ăn như protid, lipid, glucid
Trang 8khi vào cơ thể đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ Như vậy một khẩu phần ăn không chỉ nhiều lipid mới gây béo mà ăn quá thừa các thức ăn khác như bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo Các thói quen ăn nhiều vào bữa tối, ăn nhiều bữa, ăn thức ăn nhiều năng lượng, thích ăn xào rán đã được chứng minh trong một số nghiên cứu trên đối tượng người trưởng thành bị thừa cân, béo phì [14], [20], [16]
Khi chế độ ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu, nếp sống làm việc tĩnh tại, ít tiêu hao năng lượng sẽ làm cân nặng của cơ thể tăng lên [68] Như vậy HCCH sẽ có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì Mặt khác, theo Hales và Barker, những người bị suy dinh dưỡng lúc nhỏ mà khi trưởng thành bị béo phì thì khả năng mắc HCCH rất lớn [46] Trong khi đó Việt Nam lại
là một đất nước trải qua nhiều năm chiến tranh, là nước đang phát triển, năm 2009
có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29,3%; suy dinh dưỡng nhẹ 17,5%; suy dinh dưỡng gày còm 7,1% [37]
Vì vậy nguy cơ mắc HCCH ở người béo phì ở Việt Nam là rất cao Tuy nhiên HCCH vẫn có thể xuất hiện ở cả người có cân nặng bình thường Một số nghiên cứu dịch tễ cho thấy chế độ ăn nhiều quả chín, rau và nhiều chất xơ làm giảm nguy cơ mắc bệnh mạn tính
1.2.2 Hoạt động thể lực
Nghiên cứu của Kruk J (2007), và một số nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng: hoạt động thể lực có thể ngăn ngừa sự phát triển của các bệnh tim mạch và ung thư [69] Nghề nghiệp là một trong những yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực Nghiên cứu gần đây của Lê Bạch Mai (2008) cho thấy, có sự phân bố dịch
tễ học về thừa cân, béo phì giữa các nhóm nghề nghiệp ở người trưởng thành Nhóm cán bộ làm văn phòng có tỷ lệ cao nhất (34,6%), thấp nhất ở nhóm làm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (11,8%) Tư thế lao động cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng So sánh với nhóm họat động đứng, đi lại trong nhà, người làm những công việc ở tư thế ngồi tăng 20% nguy cơ thừa cân - béo phì Nghiên cứu của Zeitina LJ (2006) cho thấy, khoảng cách đi lại gần như không có
Trang 9liên quan đến thừa cân - béo phì Tuy nhiên người sử dụng phương tiện cơ giới làm phương tiện di chuyển giao thông liên quan đến thừa cân - béo phì cao hơn 70% so với người đi bộ hoặc đạp xe đạp [58]
Theo nghiên cứu của Trương Tuyết Mai và Nguyễn Thị Lâm (2014) cho thấy đối tượng thừa cân, béo phì có hoạt động tích cực là rất thấp, hầu hết các đối tượng có thời gian hoạt động tĩnh tại cao [21]
Như vậy, cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỷ lệ béo phì và các rối loạn chuyển hóa thường đi song song với giảm hoạt động thể lực trong lối sống tĩnh tại Do đó, việc thay đổi lối sống năng động, tăng cường hoạt động thể lực trong lối sống sẽ làm giảm tỷ lệ mắc HCCH và các rối loạn liên quan khác Nên hoạt động thể lực thường xuyên với cường độ thích hợp để duy trì sức khỏe tốt, nhất
là những người có công việc tĩnh tại, ít hoạt động thể lực
Các yếu tố về gen: Ngày nay, người ta đã biết hội chứng chuyển hóa là hậu
quả tương tác giữa bệnh lý gen và yếu tố môi trường Những phát hiện của Stride
và Hattersley năm 2002 đã nói lên tính phức tạp, đa dạng của các tổn thương gen trong hội chứng chuyển hóa [3]
1.2.3.Yếu tố kinh tế xã hội
Ở các nước phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỷ lệ béo phì lại cao hơn ở tầng lớp nghèo, ít học hơn so với các tầng lớp trên và béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng, gặp nhiều ở đô thị hơn ở nông thôn [61] Tại châu Âu, bệnh béo phì và các bệnh liên quan được phổ biến trong nhóm người có tình trạng kinh tế và xã hội thấp Nhóm người có thu nhập trên, có xu hướng tiêu thụ nhiều thịt, chất béo và chất bột đường, còn những người có thu nhập cao thì tiêu thụ nhiều trái cây và rau quả Ngoài ra những người nghèo thường có ít điều kiện vào phòng tập thể dục - thể thao được trang bị nhiều tiện nghi Bệnh béo phì
ở giới trẻ thường xuyên tiếp tục tăng cao, nó mang lại cho xã hội một gánh nặng lớn về người khuyết tật và tử vong, cũng như những thách thức về kinh tế [62]
1.2.4.Tuổi
Trang 10Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuổi là một yếu tố liên quan đến HCCH
Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tăng theo tuổi Tỷ lệ này tăng nhanh ở lứa tuổi trung niên Nghiên cứu National Health anh Nutrition Examaination Survey III (NHANES III, 1988 đến 1994) khi đánh giá 8814 người trưởng thành ở Mỹ cho thấy: tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP III - 2001 ở lứa tuổi
20 đến 29 là 6,7% đã tăng vọt lên 43,5% ở lứa tuổi 60 đến 69, và 42% ở lứa tuổi
trên 70), tỷ lệ chung là 22% [53]
1.2.5.Giới
Nhiều tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu tố quan trọng cấu thành hội chứng chuyển hóa Béo trung tâm lại thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, vì thế hội chứng chuyển hóa cũng gặp ở nam nhiều hơn Nhận xét này đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu Wilson PW, D'Agostino RB, Parise H, Sullivan L, Meigs JB, 2005 khi nghiên cứu hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP III cập nhật năm 2005 báo trước sự xuất hiện của bệnh tim mạch và đái tháo đường cho thấy, tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 26,8% đối với nam và 25% đối với
nữ ở 3323 người có tuổi từ 22 đến 81 không mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường tại thời điểm nghiên cứu [96]
1.2.6 Hút thuốc lá và bia rượu
Thuốc lá và bia rượu là những thói quen có ảnh hưởng không nhỏ tới rối loạn dinh dưỡng Lipid cung như tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa Nhiều nghiên cứu cho thấy: mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia với việc gia tăng tỷ lệ hội chứng chuyển hóa Điều này có thể lý giải một phần nguyên nhân
tỷ lệ mắc bệnh của nam giới trong một số cộng đồng khác nhau thường cao hơn ở
nữ giới Hút thuốc lá là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ kết dính tiểu cầu và làm giảm HDL-C [61]
Rượu làm tăng triglycerid máu đáng kể trên các bệnh nhân có tăng tryglycerid nguyên phát hay thứ phát Rượu được chuyển thành triglycerid, gây
ra tình trạng nhiễm mỡ và tăng sản xuất Lipoprotein tỷ trọng thấp(VLDL) từ gan
Ở một số người bệnh, do cơ chế thích ứng làm tăng thanh thải triglycerid nên hàm
Trang 11lượng tryglycerid vẫn bình thường Khi cơ chế thích ứng bị tổn thương do uống rượu kéo dài sẽ gây tăng rất nhiều tryglycerid [50]
Tổ chức Y tế thế giới đã định nghĩa đối tượng được coi là lạm dụng rượu khi lượng rượu tiêu thụ trên 3 đơn vị/ngày đối với nam và trên 2 đơn vị/ngày đối với nữ (1 đơn vị rượu tương đương 10g etanol) [27]
Chương 2
Trang 12ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn
Gồm 183 cán bộ hưu trí diện BVCSSK đang được quản lý sức khỏe tại Ban
bảo vệ chăm sóc sức khỏe tỉnh Cao Bằng
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ
- Đang bị bệnh nhiễm trùng cấp tính nặng
- Bệnh nhân mắc bệnh ác tính hay suy tim, suy gan, suy thận nặng
- Bệnh nhân mắc các bệnh ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và lipid máu: Thận hư nhiễm mỡ, Cushing, to đầu chi
- Bệnh nhân đang dùng các loại thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose, lipid máu: corticoid, thuốc ức chế miễn dịch
- Những cán bộ không sẵn sàng tham gia nghiên cứu và không có khả năng cung cấp thông tin sau khi đã giải thích mục đích nghiên cứu
- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu muốn bỏ cuộc có thể chấm dứt trong bất kỳ thời gian nào
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Cao Bằng
2.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08/2018 đến tháng 2/2019
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: Cán bộ diện BVSKCB được khám lâm sàng, cận lâm sàng Chọn
toàn bộ các bệnh nhân có HCCH và không có HCCH không phân biệt giới tính đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu
Trang 13Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích: chọn toàn bộ các cán bộ diện
BVCSSK thực hiện khám sức khỏe định kỳ trong thời gian nghiên cứu
2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.5.1 Một số thông số chung
+Tuổi
+ Giới
+ Dân tộc
+ Các yếu tố nguy cơ ( ăn mặn, ăn nhiều đạm, ít hoạt động thể lực)
+ Tiền sử tăng huyết áp
+ Tiền sử đái tháo đường
+ Tiền sử tim mạch
+ Tiền sử gan nhiễm mỡ
+ Tiền sử tai biến mạch máu não
+ Tiền sử và/ hoặc đang sử dụng rượu
+ Tiền sử và/ hoặc đang hút thuốc