1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa thành phố bắc giang và kết quả một số giải pháp can thiệp

102 100 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa thành phố bắc giang và kết quả một số giải pháp can thiệp Đánh giá thực trạng chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa thành phố bắc giang và kết quả một số giải pháp can thiệp luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh viện là cơ sở cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và chất lượng cung cấp dịch vụ của bệnh viện ảnh hưởng trực tiếp đến tình mạng của người dân Trong những năm gần đây, hệ thống bệnh viện đó được củng cố và phát triển thông qua việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo cán bộ Số bệnh viện và giường bệnh tiếp tục tăng để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người dân Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống bệnh viện ở Việt Nam cũng bộc lộ nhiều bất cập và chưa hiệu quả Người bệnh sẽ không đến các bệnh viện khi họ không hài lòng bởi những dịch vụ khám chữa bệnh kém chất lượng Để thu hút người bệnh đến khám chữa bệnh tại bệnh viện, thí việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nói riêng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nói chung tại các bệnh viện đã được quan tâm và chình điều này sẽ quyết định sự tồn tại của bệnh viện [18] Thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế - chình trị xã hội của tỉnh Trên địa bàn thành phố có nhiều bệnh viện tuyến tỉnh cả đa khoa và chuyên khoa và

hệ thống y tế tư nhân cũng khá phát triển cùng tham gia khám chữa bệnh và tạo nên môi trường cạnh tranh cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh với các cơ sở y tế nhà nước một cách mãnh liệt

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngày 06 tháng 12 năm 2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 93/QĐ-UBND về việc thành lập Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang, nằm trong sự phát triển chung của hệ thống y tế tỉnh Bắc Giang và đi vào hoạt động kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, với 100 giường bệnh, bệnh viện hạng III

Trang 2

Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang mới được tái lập, ví thế đang phải đứng trước rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, cán bộ, nguồn tài chình và chất lượng khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế Mặt khác, do cơ sở vật chất thiếu thốn, chật hẹp, tính trạng quá tải của người bệnh về khám bệnh, điều trị, mất trật

tự, chen lấn, xô đẩy và tranh cãi giữa người bệnh với người bệnh và người bệnh với thầy thuốc v.v.[2]

Vậy, chất lượng khám chữa bệnh của Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang hiện nay như thế nào? và giải pháp nào sẽ giúp nâng cao chất lượng phục

vụ người bệnh? Đó là những câu hỏi cần nghiên cứu mà chúng tôi đi tím lời giải trong luận án này Chình ví vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá thực trạng chất lƣợng khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang và kết quả một số giải pháp can thiệp”

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Thực trạng chất lượng khám chữa bệnh tại các Bệnh viện hiện nay

1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện

Căn cứ Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng

Bộ Y tế về ban hành Quy chế bệnh viện, trong đó quy định 7 nhiệm vụ chình như sau:

- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh (KCB)

- Đào tạo cán bộ y tế

- Phòng bệnh trong bệnh viện

- Quản lý kinh tế trong bệnh viện

- Nghiên cứu khoa học về Y học

- Chỉ đạo tuyến trước về chuyên môn kỹ thuật

- Hợp tác Quốc tế (nếu có) [6]

Như vậy, khám chữa bệnh là nhiệm vụ hàng đầu của các bệnh viện

1.1.2 Chất lượng khám chữa bệnh của các bệnh viện tại Việt Nam hiện nay

Cùng với sự phát triển chung về kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, thì ngành y tế cũng phát triển theo, trong đó có hệ thống các bệnh viện, vì bệnh viện giữ vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Hệ thống bệnh viện Việt Nam gồm các bệnh viện công và các bệnh viện tư bao gồm cả bệnh viện bán công và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài

Hiện nay, Việt Nam có 1.024 bệnh viện công với 126.772 giường bệnh (chiếm 93,3%), được đầu tư nhiều trang thiết bị (TTB) hiện đại nhưng so với nhu

Trang 4

cầu cung cấp dịch vụ y tế thí hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu Song song với bệnh viện thuộc Bộ Y tế, còn có bệnh viện do các bộ, ngành khác quản lý như Quân đội, Công an, Bưu điện, Giao thông, Gang thép, May mặc Các bệnh viện này thường là bệnh viện đa khoa và điều dưỡng phục hồi chức năng, chủ yếu phục vụ cho cán bộ công nhân viên của bộ, ngành đó Quy mô của các bệnh viện này thường ở mức trung bính và nhỏ [40]

Ở khu vực tư nhân, đến nay cả nước có 68 bệnh viện với hơn 4.000 giường bệnh, hơn 30.000 phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân (chiếm 3,7% và 2,2%) Số lượng các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều nhưng quy mô còn manh mún, nhỏ lẻ

Tỷ lệ bệnh viện tư và giường bệnh tư của Việt Nam là rất thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan (30% và 22,5%), Indonesia (42% và 32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%) [40]

Nhín chung các bệnh viện Việt Nam có quy mô nhỏ Số bệnh viện dưới 100 giường chiếm gần 70% (570 bệnh viện) Số bệnh viện có quy mô 101 - 300 giường chiếm 20% (165 bệnh viện); số giường từ 300 - 500 giường chiếm 7,2%;

số từ 501 - 700 giường chiếm 2,4% (20 bệnh viện) Có 8 bệnh viện trên 700 giường, khoảng 1%, trong đó có 3 bệnh viện có quy mô trên 1.000 giường là Bạch Mai, Trung ương Huế và Chợ Rẫy So với quy mô giường bệnh của các bệnh viện của một số nước trong khu vực cũng rất khác nhau: số giường bính quân của bệnh viện ở Malaysia là 288 giường, của Trung Quốc là 138,7 [40]

Hệ thống bệnh viện cũng được phân cấp quản lý hành chình và phân tuyến

kỹ thuật từ trung ương đến địa phương Tuyến quận/huyện thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe cơ bản, mang tình đa khoa Tuyến tỉnh/thành phố thực hiện chăm sóc sức khỏe với các kỹ thuật phức tạp hơn, mang tình chuyên khoa, tiếp

Trang 5

nhận người bệnh do tuyến huyện chuyển đến Tuyến trung ương là tuyến cuối cùng, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến 2 chuyển lên Bệnh viện tuyến cao hơn được phân bổ nhiều ngân sách hơn, được cung cấp trang thiết bị y tế hiện đại và thuốc men tốt hơn, thu hút nhiều nhân viên y tế giỏi hơn Ví vậy, người bệnh thường bỏ qua tuyến cơ sở để đến khám chữa bệnh ở tuyến tỉnh và trung ương khiến các bệnh viện tuyến trên luôn ở trong tính trạng quá tải và thực hiện nhiều kỹ thuật y học đơn giản hơn so với quy định về phân tuyến kỹ thuật Hệ thống các bệnh viện công lập được giữ vững củng cố và phát triển, nhiều cơ sở đó được đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới, bước đầu khắc phục được tính trạng xuống cấp, thiếu hụt giường bệnh Thiết bị sử dụng cho chẩn đoán và điều trị cơ bản tại bệnh viện tuyến huyện, một số thiết bị hiện đại, chuyên sâu cho bệnh viện tỉnh, trung ương đã được đầu tư, mua sắm Cùng với việc triển khai tốt công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới đã giúp cho nhiều bệnh viện nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng chẩn đoán và điều trị, nhiều kỹ thuật mới và phức tạp đã được thực hiện thành công, trính

độ và kỹ thuật y tế Việt Nam đang dần tiến bộ ngang với các nước trong khu vực, góp phần chữa trị và cứu sống được nhiều người bệnh hiểm nghèo

Theo Quyết định số 2866/QĐ-BYT ngày 10/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Bảng kiểm tra Bệnh viện năm 2009 [8], đánh giá tiêu chuẩn bệnh viện

có hoạt động khám chữa bệnh chất lượng tốt, bao gồm:

1) Nguồn lực tốt: có cơ sở hạ tầng tốt, đủ trang thiết bị y tế và phương tiện

phục vụ người bệnh và cơ cấu lao động có chất lượng tốt, phân bố hợp lý (trính

độ cán bộ về quản lý nhà nước, chuyên môn, ngoại ngữ của lãnh đạo bệnh viện, cán bộ lãnh đạo khoa, phòng, cán bộ khám chữa bệnh, cán bộ điều dưỡng )

Trang 6

2) Thực hiện nhiệm vụ bệnh viện:

- Thực hiện các chỉ tiêu khám chữa bệnh: khám bệnh, điều trị nội trú, điều trị ngoại trú, chỉ số phẫu thuật, công suất sử dụng gường bệnh bính quân, tỷ lệ chẩn đoán sai giữa lúc vào lúc ra viện

- Công tác đào tạo cán bộ: cử cán bộ đi học tập nâng cao trính độ chuyên môn nghiệp vụ bằng các hính thức: gửi đi tuyến trước, đào tạo tại chỗ, đào tạo lại

- Công tác chỉ đạo tuyến: trong đó chú trọng đến thực hiện Đề án BYT về Luân phiên cử cán bộ đi xuống hỗ trợ chuyên môn tại tuyến cơ sở và tiếp nhận kỹ thuật do tuyến trên bàn giao

1816/ĐA Phòng bệnh: môi trường bệnh viện về bố trì buồng bệnh thoáng mát, sạch

sẽ và có môi trường thiên nhiên trong lành sạch sẽ, công tác xử lý chất thải bệnh viện tốt, an toàn hợp vệ sinh, công tác tuyên truyền giáo dục ý thức giữ gín vệ sinh chung cho cả cán bộ y tế và người bệnh

- Chương trính hợp tác Quốc tế trong các lĩnh vực chuyên môn, hỗ trợ về nâng cao chất lượng về hạ tầng cơ sở, trang thiết bị y tế, đào tạo nhân lực

- Quản lý tốt kinh tế bệnh viện: Tổ chức thu đúng, thu đủ, bố trì sử dụng các nguồn kinh phì tiết kiệm, hiệu quả, nâng cao đời sống cán bộ nhân viên

- Chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật vào trong công tác phục vụ chẩn đoán, phục vụ người bệnh và công tác quản lý nói chung

3) Thực hiện tốt một số quy chế và một số quy định của Nhà nước:

- Thực hiện việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao;

- Lưu trữ hồ sơ bệnh án;

- Hoạt động của Hội đồng người bệnh;

- Trang phục y tế người bệnh và cán bộ nhân viên;

Trang 7

- Thường trực cấp cứu; chẩn đoán làm hồ sơ bệnh án, kê đơn hợp lý; hội chẩn ra vào viện; thông tin báo cáo; điều dưỡng và chăm sóc người bệnh; chống nhiễm khuẩn; hội đồng thuốc và điều trị; giải quyết người bệnh tử vong; công tác kiểm tra giám sát hoạt động của các khoa phòng;

- Y đức, văn hoá nghề nghiệp;

4) Đáp ứng sự hài lòng về công tác quản lý, phục vụ của bệnh viện:

- Khảo sát đánh giá về công tác phục vụ đáp ứng sự hài lòng của người bệnh;

- Khảo sát sự hài lòng của cán bộ nhân viên với công tác quản lý của cán bộ lãnh đạo bệnh viện về thực hiện các chế độ, chình sách của Nhà nước

1.1.3 Chất lượng khám chữa bệnh của các bệnh viện ở tỉnh Bắc Giang hiện nay

Tỉnh Bắc Giang được chia thành 10 đơn vị hành chính huyện/thành phố, và tuyến huyện có 9 bệnh viện đa khoa với 1120 giường bệnh, tuyến tỉnh có 7 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa với 1520 giường bệnh Ngoài ra còn có 4 phòng khám đa khoa khu vực và 230 trạm y tế cơ sở xã/phường Tổng số cán bộ làm việc tại bệnh viện tuyến tỉnh so với biên chế tuyến tỉnh là 1548/1940 (chiếm 79,79%) và tại bệnh viện huyện so với biên chế tuyến huyện là 1246/1663

tư phát huy tác dụng trong chẩn đoán và điều trị Công tác khám chữa bệnh cho trẻ em, người nghèo được quan tâm Công tác xã hội hoá các hoạt động y tế đã

Trang 8

thu được những kết quả ban đầu khả quan, đặc biệt, đã và đang tích cực tranh thủ được các nguồn lực đầu tư từ trung ương đã phát triển hệ thống y tế địa phương

Bảng 1.1 Kết quả khám chữa bệnh tØnh B¾c Giang năm 2008

tính

KH năm

2008

Kết quả thực hiện năm 2008

Tỷ lệ hoàn thành

KH năm

2008 (%)

So sánh với cùng kì năm 2007 (%)

Nguồn: Sở Y tế Bắc Giang – Báo cáo tổng kết năm 2008 [41]

Tuy vậy, năng lực chuyên môn và quản lý của một số đơn vị còn nhiều bất cập Công tác chỉ đạo điều hành còn chung chung Đội ngộ cán bộ y tế hiện còn thiếu cán bộ có trính độ tay nghề cao Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo được đào tạo về quản

lý, đặc biệt quản lý kinh tế y tế chưa cao, điều nàỳ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai nhiệm vụ của ngành Chất lượng khám bệnh, chữa bệnh ở một số

cơ sở còn hạn chế, nhất là tuyến y tế cơ sở Một số đơn vị chưa chú trọng việc mở

Trang 9

rộng ứng dụng kỹ thuật mới, duy trí kiểm tra đôn đốc việc thực hiện quy chế chuyên môn, quy trính kỹ thuật chưa nghiêm, việc khai thác sử dụng các trang thiết bị chưa hết hiệu quả nhất là y tế xã/phường Tinh thần thái độ phục vụ và trách nhiệm trước người bệnh của một bộ phận cán bộ y tế còn yếu; ở một số nơi, một bộ phận cán bộ biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà với người bệnh tạo nên dư luận xấu trong nhân dân Tính trạng quá tải ở các bệnh viện chưa giảm Công tác nghiên cứu khoa học chưa thực hiện đúng quy định tại một vài đơn vị [41] Năm 2009, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao về chất lượng phục vụ và hiệu quả điều trị Các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị

đã giảm tỷ lệ chuyển bệnh nhân lên tuyến trên Công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, các đối tượng chình sách xã hội và trẻ em được quan tâm triển khai thực hiện Tuy nhiên năng lực chuyên môn và quản lý y tế của một số đơn vị còn nhiều bất cập, công tác chỉ đạo còn chung chung Đội ngũ cán bộ y tế hiện còn thiếu cán bộ có trính độ tay nghề cao, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo được đào tạo về quản

lý, đặc biệt quản lý kinh tế y tế chưa cao, thiếu tình hệ thống, điều này đã ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng khám chữa bệnh

Chất lượng khám chữa bệnh tại một số cơ sở còn hạn chế, một số đơn vị chưa chú trọng việc mở rộng ứng dụng kỹ thuật mới, duy trí kiểm tra đôn đốc việc thực hiện quy chế chuyên môn, quy trính kỹ thuật chưa nghiêm túc, khai thác sử dụng các trang thiết bị y tế chưa phát huy hết hiệu quả Tinh thần thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ nhân viên y tế còn chưa tốt, còn biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà sách nhiễu người bệnh tạo dư luận xấu trong nhân dân [41] Những việc làm vi phạm đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ y tế chậm được khắc phục làm giảm lòng tin của nhân dân Công tác giáo dục y đức thực hiện chưa thường xuyên, sự kiểm tra, giám sát chưa liên tục

Trang 10

Bảng 1.2 Kết quả khám chữa bệnh tØnh B¾c Giang năm 2009

Tỷ lệ hoàn thành

KH năm 2009(%)

So sánh với cùng kì năm 2008(%)

Nguồn: Sở Y tế Bắc Giang – Báo cáo tổng kết năm 2009 [41]

Một số nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh nội trú về chất lượng chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện cho thấy người bệnh nói chung chưa thực sự hài lòng với chất lượng chăm sóc sức khoẻ tại bệnh viện

Trang 11

Người bệnh không hài lòng nhất với cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế Khoảng 70% người bệnh không hài lòng về thời gian chờ đợi khám chữa bệnh, giao tiếp và tương tác với nhân viên y tế

Trong một điều tra nhanh về nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh về việc cung cấp dịch vụ y tế có đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân do Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiến hành cho thấy: có 65% người dân không hài lòng về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, có 82% ý kiến phàn nàn kêu ca về chất lượng phục vụ, bao gồm: chờ đợi khám bệnh lâu, thủ tục hành chình rườm rà, thái độ tiếp đón người bệnh kém, thiếu văn minh lịch sự, có ý kiến còn một bộ phận vòi vĩnh người bệnh [42] v.v

Theo kết quả kiểm tra bệnh viện đa khoa thành phố của Sở Y tế Bắc Giang năm 2009, như sau:

Triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên kịp thời, công tác chỉ đạo tuyến

và Đề án 11816 của Bộ Y tế đến xã Quản lý và sử dụng nguồn tài chình có hiệu quả Thực hiện hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu kế hoạch giao năm 2009; một số chỉ tiêu kế hoạch như khám bệnh đạt 149%, điều trị nội trú đạt 113,9%, điều trị ngoại trú đạt 207% và công xuất sử dụng giường bệnh 134,2%

Tuy vậy, cơ sở vật chất còn chật hẹp chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân, thiếu phòng làm việc theo tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sàng và cận lâm sàng, trính độ cán bộ hạn chế, còn để người bệnh kêu ca phàn nàn về tinh thần thái độ phục vụ của một số cán bộ y tế (nghe điện thoại di động khi khám bệnh, trả lời người bệnh trống không, thái độ tiếp xúc chưa hoà nhã, thiếu lịch sự) và bố trì sắp xếp bàn khám bệnh chưa khoa học, để người bệnh phải chờ đợi lâu Cán bộ phàn nàn về điều kiện làm việc, trang thiết bị thiếu [2]

Trang 12

1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện của Việt Nam hiện nay

Hiện nay, Việt Nam có 10.240 bệnh viện công với 126.772 giường bệnh, được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại, nhưng so với nhưng so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiếu [40]

Hệ thống bệnh viện nước ta, được phân cấp hành chình và phân tuyến kỹ thuật từ trung ương đến địa phương Tuyến quận/huyện thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ cơ bản, mang tình đa khoa Tuyến tỉnh/thành phố thực hiện chăm sóc sức khoẻ mang tình phức tạp hơn, mang tình chuyên khoa, tiếp nhận người bệnh từ tuyến huyện chuyển đến Tuyến trung ương là tuyến cuối cùng, thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến hai chuyến đến

Bệnh viện tuyến cao hơn được cấp kinh phí ngân sách nhiều hơn, cung cấp trang thiết bị y tế và thuốc men tốt hơn, thu hút nhiều nhân viên giỏi hơn Vì vậy người bệnh thường bỏ qua tuyến cơ sở để đến khám chữa bệnh tại tuyến tỉnh và tuyến trung ương luôn tạo nên sự quá tải tại tuyến trên

Công suất sử dụng giường bệnh chung của các bệnh viện đạt từ 95-103%, tuy nhiên, công suất sử dụng giường bệnh cũng khác nhau giữa tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện Các bệnh viện tuyến trung ương có xu hướng ngày càng tăng (116%), các bệnh tuyến tỉnh (102,%) Ngày điều trị trung bình người bệnh điều trị nội trú chung là 7-7,5 ngày, có xu hướng giảm dần [40]

Trang 13

Bảng 1.3 Một số chỉ số hoạt động chuyên môn bệnh viện năm 2007-2008

II Tống số lượt điều trị ngoại trú

2 Tuyến tỉnh/thành phố 3909046 39,6 4445573 38,8 113,7

III Tổng số lượt điều trị nội trú

2 Tuyến tỉnh/thành phố 3926027 47,3 4200373 47,1 107,0

IV Ngày điều trị bình quân của

người bệnh điều trị nội trú

Trang 14

* Về nguồn nhân lực y tế:

Cán bộ y tế là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, đồng thời là chủ thể quản lì và sử dụng các nguồn lực khác như tài chình, khoa học kỹ thuật, thông tin, trang thiết bị Có thể nói rằng nhân lực trong bệnh viện vừa là động lực sáng tạo, đồng thời họ cũng là một trong những chủ thể của mọi hoạt động trong bệnh viện Nếu nguồn nhân lực thiếu, chất lượng thấp hoặc không được phân bố và sử dụng hợp lì thí mọi nguồn lực khác của bệnh viện sẽ không được

sử dụng tốt, không có hiệu quả Đầu tư cho nguồn nhân lực cũng chình là đầu tư cho phát triển của bệnh viện [40]

Năm 2005, tỷ số bình quân giữa cán bộ nhân viên/một giường bệnh chung

cả nước xấp sỉ là 0,92 và nếu tính cả số cán bộ hợp đồng là 1,15 Trong đó, số cán bộ hợp đồng của tuyến trung ương là 20,9%, bệnh viện tỉnh là 22,2%, tuyến huyện là 11,8% Tỷ số bình quân giữa số cán bộ trên một giường bệnh ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế cao hơn (1,38) so với bệnh viện tỉnh (1,13) và huyện (1,09); các bệnh viện thuộc các bộ ngành, tỷ số bình quân giữa số cán bộ nhân viên/một giường bệnh thấp hơn (khoảng 1) Bính quân cứ 10 giường thí có

2 bác sĩ và 3 y tá Tỷ số y tá/điều dưỡng so với bác sĩ còn thấp và bất hợp lý Tỷ

số chung cho các bệnh viện vào khoảng 1,5 điều dưỡng/1 bác sĩ Tỷ số này thấp nhất ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế là 1,22 và cao nhất ở các bệnh viện tỉnh

là 1,56 Nếu so với mục tiêu chiến lược của Bộ Y tế về đổi mới công tác điều dưỡng theo định hướng chăm sóc toàn diện bệnh nhân và tỷ số điều dưỡng/bác sĩ cần phải đạt ìt là 2,5 thí các bệnh viện ở tất cả các tuyến đều chưa đạt được [40]

Sự thiếu hụt điều dưỡng, cả về số lượng và chất lượng tại các bệnh viện đều rất lớn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện người bệnh Sự bất hợp lì

về cơ cấu, số lượng cán bộ viên chức y tế và phân bố nhân lực mất cân đối giữa

Trang 15

các vùng miền sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác chăm sóc và khám chữa bệnh cho bệnh nhân [39]

Hệ thống bệnh viện công đã được nhà nước đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới, bước đầu khắc phục được tình trạng xuống cấp, thiếu hụt giường bệnh Thiết bị chẩn đoán và điều trị cơ bản tại bệnh viện tuyến huyện, một số thiết bị hiện đại, chuyên sâu cho các bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương đã được đầu tư mua sắm mới [40]

Trong những năm gần đây, mặc dù nhà nước đầu tư cải tạo, sửa chữa nâng cấp và cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật Nhiều bệnh viện đã được xây dựng, đầu tư mới, do đó hệ thống sấy, hấp tiệt trùng, giặt là được củng cố, hệ thống xử lý chất thải bệnh viện đã được chú ý đầu tư Tuy nhiên, sự đầu tư đó chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn tại các địa phương Sự khắc phục về tình trạng hạn chế nguồn tài chính cho chăm sóc sức khoẻ, đề án "Phát triển xã hội cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân" ngày 21/6/2005 của Bộ Y

tế đã đưa ra một loạt các giải pháp, trong đó có giải pháp "Huy động nguồn lực

đã đầu tư phát triển hệ thống y tế công lập", khuyến khích các cơ sở khám chữa bệnh huy động nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đã đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị y tế và cung cấp các dịch vụ y tế trong phạm vi cho phép của từng địa phương Một số đơn vị đã tập trung các nguồn lực đã đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế hiện đại, việc huy động vốn từ các nguồn đầu tư khác nhau

đã tạo ra một bước tiến triển mới cả về số lượng và chất lượng cung cấp dịch vụ

y tế phục vụ nhân dân Tuy vậy, việc thực hiện xã hội hoá y tế còn thiếu nhiều văn bản pháp lý cho nên khi áp dụng vào thực tiễn đã xuất hiện sự lúng túng trong việc đưa giá trị tài sản như: nhà, đất của bệnh viện công

*Về nguồn tài chính bệnh viện:

Trang 16

Nguồn tài chính bệnh viện công có từ 4 nguồn: ngân sách nhà nước, viện phí, Bảo hiểm y tế, và nguồn khác Ngân sách nhà nước cấp cho các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện theo chỉ tiêu kế hoạch giường bệnh; trung ương theo quy mô dân số Trên thực tế, số lượng giường bệnh tại các địa phương chưa phải là chỉ

số hợp lí về nhu cầu nguồn lực ví nó không phản ánh đầy đủ thực tế năng suất và hiệu quả hoạt động các bệnh viện Với mức đầu tư thấp cho chăm sóc sức khoẻ như hiện nay (chiếm khoảng 29% tổng nguồn thu của bệnh viện, qua kiểm tra

731 bệnh viện năm 2007 của Bộ Y tế cho thấy nguồn thu chủ yếu của bệnh viện

là viện phì chiếm 59,4% các nguồn thu và tăng hơn 26,5% so với năm 2006 [49]

Từ năm 2002, một số bệnh viện thực hiện cơ chế tự chủ tài chình theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP để cụ thể hoá việc phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp có thu Nghị định số 10/2002/NĐ-CP đã cho phép các đơn vị tự chủ động về mặt tài chình, tổ chức nhân lực, nhằm quản lý thống nhất nguồn thu, khuyến khìch tăng thu, tiết kiệm chi đảm bảo trang trải kinh phì hoạt động, thực hiện tinh giản biên chế và tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước [49]

Sau vài năm thực hiện, năm 2006, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thay thế Nghị định số 10/2002/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chình đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Ngày 09/8/2006, Bộ Tài chình ban hành Thông tư số 71/2006/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP cho tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập Ngày 23/01/2008, Liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ ban hành Thông

tư liên tịch số 02/2008/TTLT/BYT-BNV hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y

tế Theo quy định này, Nhà nước chủ trương trao quyền tự chủ toàn diện cho các

Trang 17

đơn vị sự nghiệp công lập y tế cả về tổ chức, bố trí sắp xếp bộ máy, nhân lực và tài chính Đối với tự chủ tài chính thì các đơn vị được hoàn toàn chủ động về nguồn thu chi tài chính, được tự chủ trong việc sử dụng kết quả hoạt động tài chính năm để trích lập các quỹ như: quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ thu nhập tăng thêm cho người lao động Đồng thời cho phép các đơn vị sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức¸ cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị y tế phục vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với các chức năng nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật Việc trao quyền tự chủ tài chính cho các bệnh viện sẽ là đòn bẩy nhằm tăng cường hiệu suất hoạt động, tiết kiệm chi phí, tăng thêm nguồn thu từ các hoạt động dịch

vụ cho các cơ sở y tế đồng thời tăng thêm tính sẵn có của các dịch vụ y tế để đáp ứng nhu cầu phục vụ chăm sóc sức khoẻ của nhân dân

Thực hiện tốt các quy định và quản lí tài chính bệnh viện theo quy định tại Nghị định số 43/NĐ-CP có liên quan đến đời sống của nhân viên và phát triển kỹ thuật - công nghệ của bệnh viện Tự chủ tài chính bệnh viện là vấn đề nhạy cảm

và nó liên quan đến khả năng sử dụng dịch vụ bệnh viện của các thành phần xã hội khác nhau, liên quan đến vấn đề công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ

* Về Tổ chức quản lý bệnh viện:

Quản lý bệnh viện tốt tức là sử dụng có hiệu quả cao nguồn ngân sách, nguồn nhân lực vào trong chăm sóc sức khoẻ Đánh giá về vấn đề này, trong tài liệu "Những nhiệm vụ cấp bách của công tác khám và chữa bệnh" đã chỉ rõ: "Sai phạm về Y đức, về tinh thần trách nhiệm là vấn đề nổi cộm lớn nhất, gây tổn hại sâu sắc tới niềm tin của nhân dân Tai biến trong điều trị còn nhiều, đặc biệt lĩnh vực sản phụ khoa, 5 tai biến sản khoa vẫn là những thách thức lớn"

Trang 18

Theo tài liệu nghiên cứu về nguồn lực, đánh giá về nâng cao năng lực quản

lý và cán bộ quản lý của các bệnh viện cũng còn nhiều bất cập: trình độ của cán

bộ quản lý bệnh viện cũng yếu, theo một nghiên cứu đánh giá nhu cầu đào tạo của cán bộ quản lý y tế bệnh viện tuyến huyện, ở Việt Nam năm 1999, chỉ có 41,1% cán bộ quản lý tuyến huyện mô tả được các bước cơ bản của quản lý Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở tuyến bệnh viện huyện chỉ có 34,8% cán bộ quản lý bệnh viện có đủ kỹ năng lập kế hoạch hàng năm Trình độ chuyên môn của cán

bộ quản lý nói chung là khá cao khoảng 50% có trình độ chuyên môn sau đại học, nhưng trình độ tin học 3,4%, ngoại ngữ 8,2%, đa số cán bộ quản lý chưa được đào tạo về quản lý bệnh viện (89,2%), tỉ lệ biết 7 nhiệm vụ của bệnh viện thấp 45% [18]

Nhằm khắc phục những tồn tại về tình trạng quá tải, nằm ghép tại các bệnh viện, nhưng việc làm vi phạm đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ y tế chậm khắc phục đã giảm lòng tin của nhân dân Nguyên nhân chính là: một số bệnh viện thiếu bác sỹ, bác sỹ chuyên khoa, bác sỹ cận lâm sàng, giường bệnh điều trị nội trú, sự chênh lệch về chất lượng khám bệnh, chữa bệnh giữa các tuyến bệnh viện, công tác giáo dục y đức, thực hiện chưa thường xuyên, sự kiểm tra, giám sát chưa liên tục

1.3 Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh tại các bệnh viện của Việt Nam hiện nay

Để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, ngày 07/12/2007, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-BYT, đã yêu cầu các bệnh viện cần thực hiện ngay một số nội dung công việc cụ thể:

1 Hạn chế tình trạng quá tải bệnh viện:

Cần bố trí, sắp xếp lại nơi làm việc hợp lý tạo thêm buồng bệnh điều trị; xây dựng lịch làm việc và bố trí cán bộ hợp lì, cải tiến quy trình, thủ tục khám bệnh rút ngắn thời gian chờ đợi khám bệnh và làm xét nghiệm cận lâm sàng; nâng cao

Trang 19

hiệu quả điều trị nhằm rút ngắn thời gian điều trị nội trú, tăng cường điều trị ngoại trú

2 Nâng cao năng lực tuyến cơ sở:

Có biện pháp bổ xung nhân lực, trang thiết bị y tế để nâng cao năng lực y tế tuyến cơ sở đặc biệt tuyến quận/huyện; Thực hiện tốt quy chế vào viện, ra viện, chuyển viện góp phần giảm quá tải cho tuyến trên

3 Đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh:

Bệnh viện tăng cường thực hiện có hiệu quả Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ; chủ động huy động các nguồn vốn để hiện đại hoá bệnh viện; đào tạo cán bộ có trình độ chuyền môn cao, cải tạo cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị y tế theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao

4 Nâng cao y đức cho cán bộ y tế phải được thực hiện thường xuyên:

Cán bộ y tế phải làm tốt chuyên môn nghiệp vụ của mình, thực hiện nghiêm các quy chế chuyên môn, đặc biệt chú ý đến thái độ trong giao tiếp với người bệnh và người nhà người bệnh Không lạm dụng thuốc, xét nghiệm cận lâm sàng, dịch vụ kỹ thuật cao gây tốn kém không cần thiết cho người bệnh

Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy chế chuyên môn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân đã khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang

- Lãnh đạo bệnh viện, khoa, phòng và cán bộ Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang

- Một số tài liệu thứ cấp như: hồ sơ, báo cáo, sổ sách lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp về kết quả khám bệnh, chữa bệnh của năm 2009 và 10 tháng đầu năm 2010 của Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Thành phố Bắc Giang có diện tìch sấp xỉ 32 km2

, chia thành 11 đơn vị hành chình phường xã, với tổng số dân 10.234 người, nghề nghiệp chủ yếu làm thương mại, dịch vụ, nghề thủ công và số ìt làm nghề nông nghiệp, Thu nhập bính quân/người /năm ở loại trung bính khá Chúng tôi chọn Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang là một bệnh viện mới được tái lập và đi vào hoạt động từ tháng 01/2006, sau khi chia tách từ Trung tâm y tế thành phố Với một nét đặc trưng của một bệnh viện hạng III và 100 giường bệnh kế hoạch, được hính thành

từ một phòng khám đa khoa khu vực và Nhà hộ sinh (25 giường bệnh), với số lượng cán bộ nhân viên là 34 người, cơ sở vật chất diện tìch chật hẹp, nhà cửa cũ

và xuống cấp, trang thiết bị còn nhiều thiếu thốn

Tuy nhiên, thành phố Bắc Giang là trung tâm chình trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh miền núi Bắc Giang, nơi có mật độ dân số tập trung sinh sống cao nhất tỉnh Người bệnh đến khám chữa bệnh chủ yếu là người có BHYT, đối tượng phục vụ là người có công với cách mạng, đối tượng chình sách xã hội, cán

bộ hưu trì mất sức lao động, học sinh và trẻ em dưới 5 tuổi Bên cạnh đó, mạng

Trang 21

lưới y tế nhà nước tập trung đông, gồm có: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện chuyên khoa: sản nhi, YHCT, lao và bệnh phổi, tâm thần và các trung tâm phòng chống các bệnh xã hội, đồng thời với mạng lưới y tế tư nhân phát triển khá nhanh, có đầu tư trang thiết bị hiện đại

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 10 năm 2010

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu mô tả điều tra cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng với định tình

- Phương pháp can thiệp có so sánh kết quả trước sau can thiệp

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả

2.4.2.1 Phương pháp chọn mẫu cho các đối tượng đánh giá chất lượng bệnh viện

* Cỡ mẫu Cỡ mẫu được tình theo công thức:

p x ( 1- p )

n = Z21-  / 2

d2

- Trong đó n là cỡ mẫu cần thiết

+ Z 1-  / 2 : Giá trị giới hạn tương ứng với độ tin cậy ( bằng 1,96 nếu độ tin cậy là 95%)

+ p : là tỷ lệ chất lượng chẩn đoán, điều trị ước lượng trong tổng số bệnh án đã điều trị ra viện (giả định p = 0,5)

+ d : Độ chình xác mong muốn là 0,05

Thay vào ta có:

Trang 22

0,5 x (1- 0,5)

n = 1,96 2 x = 384 ( bệnh án) làm tròn là 400

0,052

* Kỹ thuật chọn mẫu

- Chọn chủ đìch Bệnh viện ®a khoa thành phố Bắc Giang

- Chọn ngẫu nhiên 400 bệnh án của người bệnh:

Tiến hành rút ngẫu nhiên trong số hồ sơ bệnh án điều trị nội trú đã ra viện của năm 2009 và 10 tháng đầu năm 2010, được lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện Bao gồm: khoa Nội nhi lây 150 bệnh án, khoa Ngoại sản 150 bệnh án, khoa Liên chuyên khoa 50 bệnh án, khoa Y học cổ truyền (YHCT) 50 bệnh án (tương ứng với tỷ lệ người bệnh điều trị tại các khoa)

2.4.2.2 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định tính

- Cỡ mẫu cho nhóm bệnh nhân: 200 người bệnh điều trị nội trú tại 4 khoa lâm sàng đã ra viện của năm 2009 và 10 tháng 2010, gồm có:

Khoa Nội nhi (50 người), Khoa Ngoại sản (50 người), Khoa Liên chuyên khoa (25 người) và Khoa Y học cổ truyền (25 người)

+ Đối với những bệnh nhân đã ra viện năm 2009: được tiến hành phỏng vấn tại cộng đồng dân cư

+ Đối với những bệnh nhân đã ra viện trong 10 tháng đầu năm 2010: được tiến hành phỏng vấn ngay sau khi điều trị ra viện

- Cỡ mẫu cho nhóm cán bộ quản lý: 20 người, gồm toàn bộ cán bộ quản lý

là Ban giám đốc: 02 người, trưởng, phó khoa, phòng và điều dưỡng trưởng khoa, phòng: 18 người

- Cỡ mẫu cho nhóm cán bộ nhân viên: 20 (mỗi khoa 05 người), tiến hành chọn

đủ cỡ mẫu theo danh sách tên của cán bộ khoa theo vần a,b, c

Trang 23

2.4.3 Phương pháp can thiệp

2.4.3.1 Phương pháp chọn mẫu

- Đối tượng nghiên cứu:

Là cán bộ nhân viên Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang

- Cỡ mẫu: Toàn bộ cán bộ nhân viên Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc

Giang

2.4.3.1 Nội dung can thiệp

Muốn nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại đơn vị là phải chống tính trạng quá tải trong khám bệnh và người bệnh phải nằm ghép tại bệnh viện Đơn vị cần phải được đầu tư về:

* Cơ sở vật chất: Cần đầu tư xây dựng thêm cơ sở vật chất như (Bệnh viện

đã tiến hành xây dựng bổ sung): nhà làm việc, khu hành chình, khu điều trị, khu phẫu thuật, thủ thuật, khu khám bệnh, nhà kho, khu xử lý chất thải đây là một vấn đề lớn đã trính và chờ kết quả phê duyệt đầu tư của Bộ Y tế, UBND tỉnh, Sở

Y tế Bắc Giang và cũng nằm ngoài khả năng can thiệp của đề tài

* Kinh phí sự nghiệp y tế: Tăng nguồn kinh phì ngân sách cấp cho đầu

giường bệnh để nâng cao chất lượng phục vụ cũng là một lĩnh vực phụ thuộc vào khả năng kinh phì của tỉnh, ngoài phạm vi can thiệp của chúng tôi

Để tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 06/CT-BYT về nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại đơn vị Trong phạm vi cho phép nhất định, chúng tôi chọn giải pháp can thiệp vào một số nội dung sau:

* Tăng cường nguồn lực (Nhân lực, tài chính):

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên bệnh viện

+ Tăng tuyển nhận nhân viên: trong khi chờ Hội đồng tuyển dụng viên chức

y tế của tỉnh, biên chế đủ theo quy định của Bộ Y tế Đơn vị chủ động xét tuyển,

Trang 24

kì hợp đồng với cán bộ y tế, nhất là đội ngũ kỹ thuật viên (chú trọng đến đội ngũ điều dưỡng viên, kỹ thuật viên xét nghiệm, thanh toán viện phì, hộ lý )

+ Bố trì, sắp xếp cán bộ hợp lý tại các khoa, phòng, nhất là khoa khám bệnh

và mở rộng thêm một số bàn khám bệnh mới

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế của đơn vị:

+ Nâng cao tinh thần thái độ phục vụ và trách nhiệm đối với người bệnh: học tập và thực hành tốt quy tắc ứng xử giữa nhân viên và người bệnh, giữa nhân viên với nhân viên

+ Nâng cao chất lượng khám bệnh, điều trị: tổ chức 3 lớp học tập lại các quy chế, gồm: giảng viên là cán bộ lãnh đạo đơn vị và học viên là cán bộ nhân viên phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao Tài liệu là Quy chế bệnh viện

và thời gian 01 ngày, có lượng giá đầu vào và đầu ra

Chế độ chức trách của trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa, y tá hành chình khoa Chế độ chức trách của điều dưỡng viên và chăm sóc người bệnh toàn diện Quy chế khám bệnh, kê đơn, chế độ hồ sơ bệnh án, chẩn đoán bệnh

- Phát triển kỹ thuật và tăng thêm nguồn thu ngân sách của đơn vị :

+ Mở rộng thêm một số bàn khám bệnh để giảm quá tải khám bệnh và phát triển thêm một số kỹ thuật mới để tăng thu dung người bệnh với điều kiện đầu tư thấp, hiệu quả cao

+ Tăng thêm nguồn thu cho đơn vị: Tăng thêm người bệnh đến khám bệnh, điều trị sẽ tăng thêm nguồn thu viện phì và quản lý tốt các nguồn thu của đơn vị

- Nâng cao chất lượng điều trị thông qua thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn: quy chế hồ sơ bệnh án, chẩn đoán, hội chẩn, kê đơn…

- Thực hiện công tác kiểm tra thực hiện các Quy chế chuyên môn thông qua hoạt động của đoàn kiểm tra Quy chế Bệnh viện, gồm: lãnh đạo đơn vị, trưởng

Trang 25

phòng kế hoạch tổng hợp, trưởng phòng y tá bệnh viện, một số trưởng khoa lâm sàng, khoa dược và kế toán tài vụ Hàng tuần, có lịch kiểm tra theo chuyên đề thông báo lịch kiểm tra trước đến các khoa, phòng

- Thực hiện kiểm tra, giám sát quy trính khám bệnh, quy trính đón tiếp người bệnh, thanh toán viện phì, cấp phát thuốc

- Tổ chức học tập lại cho các bác sỹ, điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng viên về quy chế khám bệnh, kê đơn, chăm sóc người bệnh toàn diện; chức trách của trưởng khoa, điều dưỡng trưởng

* Cải tiến về lề lối làm việc quản lý, giám sát các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các khoa, phòng:

Quản lý và giám sát cán bộ chấp hành kỷ luật lao động, mọi hoạt động giao tiếp ứng xử giữa nhân viên y tế với người bệnh; giữa nhân viên y tế các khoa phòng với nhau thông qua triển khai thì điểm tổ chức quản lý cán bộ, giám sát điều hành hoạt động đơn vị bằng hệ thống quan sát camera, bằng ghi hình hàng ngày:

Nguyên tắc hoạt động của máy ghi hính: Camera là một thiết bị ghi hính, máy có thể ghi lại được những hính ảnh trong một khoảng thời gian nào đó, lưu trữ và sau đó có thể xem lại bất cứ khi nào cần sử dụng đến Với chức năng ghi hính, Camera được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực giám sát, một hệ thống Camera đặt tại những vị trì thìch hợp sẽ cho phép quan sát, theo dõi toàn bộ hoạt động diễn ra tại khu vực đó, kể cả khi người sử dụng nó không có mặt trực tiếp tại đó vào thời điểm đó

Xuất phát từ nguyên tắc đơn giản đó, với điều kiện kinh tế hiện có, chúng tôi đã lựa chọn tiến hành lắp đặt máy quay ghi hính loại có dây và bộ xử lý thông tin là đầu ghi loại AVTECH - 4CHMPEG 4DVR

Đặt tại 8 khu vực: phòng chờ khoa khám bệnh, khoa nội nhi lây, khoa ngoại sản, khoa liên chuyên khoa-YHCT, khoa chẩn đoán HA&XN, cổng ra vào viện, phòng thanh toán một phần viện phì và phòng cấp phát thuốc Toàn bộ hệ thống

Trang 26

này được nối mạng LAN với các máy vi tình của ban giám đốc, phòng hành chình và kế hoạch tổng hợp, nhằm quan sát quản lý điều hành toàn bộ hoạt động hàng ngày của cán bộ nhân viên y tế và người bệnh đến khám chữa bệnh tại bệnh viện

Hệ thống theo dõi, giám sát ghi hình bằng máy Camera, đầu ghi hình

Thông qua hệ thống Camera để giám sát, theo dõi các hoạt động như: việc chấp hành kỷ luật lao động của cán bộ nhân viên (giờ làm việc, chất lượng làm việc và giao tiếp với người bệnh ); sự ùn tắc khâu khám bệnh nào ? các vấn đề phát sinh (chen lấn khám chữa bệnh, công bằng trong công tác đón tiếp, giải quyết các chế độ chình sách, quyền lợi của người bệnh ), đặc biệt hiện tượng lạm dụng thẻ BHYT trong khám chữa bệnh của cán bộ nhân viên y tế Qua đó cũng thông báo đến người bệnh được biết mọi hoạt động phục vụ người dân đều được ban giám đốc, các phòng chức năng quản lý, kiểm tra và giám sát

Trang 27

+ Tỷ lệ chuyển viện tuyến trên;

+ Tổng số lần khám bệnh/Tổng số giờ làm việc của cán bộ;

- Điều trị nội trú:

+ Tổng số lượt điều trị nội trú/ngày

+ Công suất sử dụng giường bệnh đạt 127%;

+ Tỷ lệ chẩn đoán phù hợp lúc vào, lúc ra;

+ Tỷ lệ người bệnh sử dụng điều trị bằng thuốc Y học cổ truyền;

- Mức độ hài lòng của người bệnh:

+ Về chất lượng phục vụ của nhân viên bệnh viện;

+ Về chất lượng bệnh viện;

+ Về công tác quản lý cán bộ của bệnh viện;

- Về sự hài lòng của cán bộ bệnh viện về công tác quản lý, thực hiện chế độ đãi ngộ của lãnh đạo bệnh viện;

2.4.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang năm 2009

- Về cơ sở vật chất: tổng diện tìch đất được quản lý, các khu nhà chức năng

sử dụng phục vụ khám chữa bệnh (so với quy định của Bộ Y tế)

-Về nguồn tài chính: ngân sách nhà nước cấp cho đơn vị, tổng số thu một phần viện phí và các nguồn thu khác

- Về nguồn nhân lực:

Trang 28

+ Tổng số cán bộ/tổng số biên chế được giao (so sánh với quy định tại

Thông tư số 08/2007/TTLT-BYT-BNV)

+ Nhu cầu cán bộ (so với Thông tư 08/TT-BYT)

+ Tỷ lệ cán bộ đại học/đối tượng nhân viên khác

+ Độ tuổi của cán bộ; trình độ cán bộ

+ Phân bố lao động theo các khoa, phòng

+ Điều dưỡng viên: tỷ lệ giữa KTV (ĐDV)/Bác sỹ

- Về một số trang thiết bị y tế hiện đại (so với Quyết định số 437/QĐ-BYT

ngày 20/02/2002 của Bộ Y tế)

- Về mức độ hài lòng của người bệnh:

+ Về chất lượng phục vụ của nhân viên bệnh viện;

+ Về chất lượng điều trị của bệnh viện;

+ Về công tác quản lý cán bộ của bệnh viện

- Về sự hài lòng của cán bộ bệnh viện :

+ Về công tác quản lý cán bộ;

+ Về thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ của lãnh đạo bệnh viện

2.4.4.3 Đánh giá kết quả áp dụng một số giải pháp can thiệp nâng cao chất lƣợng khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang trong 10 tháng năm 2010

- Kết quả hoạt động bệnh viện sau 10 tháng can thiệp:

+ Nhân lực của bệnh viện năm 2010 (so với quy định tại Thông tư BYT của Bộ y tế): tổng số biên chế thực hiện; nhu cầu cán bộ; tỷ lệ cán bộ đại học/đối tượng nhân viên khác; độ tuổi của cán bộ; phân bố lao động theo các

08/TT-khoa, phòng; tỷ lệ giữa KTV (ĐDV)/Bác sỹ

+ Năng xuất công tác cán bộ:

Trang 29

Bác sỹ khám bệnh: TS lần khám/TS giờ làm việc; bàn khám nội khoa; bàn khám nhi khoa, bàn khám phụ khoa

Điều trị ( bác sỹ, KTV): TS giờ quy định/TS giường có người bệnh

- Một số chỉ số về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện 10 tháng đầu năm 2010:

+ Tổng số lần khám bệnh chung; tổng số lượt điều trị ngoại trú/ngày; tỷ lệ người bệnh chuyển viện tuyến trên từ khám bệnh; tổng số lần khám bệnh/tổng số giờ làm việc; tỷ lệ chuyển viện

+ Tổng số lượt điều trị nội trú: ngày điều trị trung bính; tỷ lệ khỏi xuất viện; công suất sử dụng giường bệnh; tỷ lệ quay vòng giường bệnh; tổng số giường có người bệnh/tổng số giường quy định; tổng số lượt điều trị nội trú/ngày

- Một số chỉ số đánh giá chất lượng khám chữa: tỷ lệ chẩn đoán sai; tình hình công tác chẩn đoán, điều trị; tỷ lệ chẩn đoán không phù hợp giữa lúc vào, lúc ra; mức độ khác nhau giữa chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng

+ Các chỉ số về kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền: tỷ lệ kinh phì thuốc y học cổ truyền; tỷ lệ người bệnh sử dụng các thủ thuật YHCT (châm cứu, bấm huyệt ); tỷ lệ người bệnh điều trị hoàn toàn bằng YHCT

- Người bệnh đánh giá về mức độ hài lòng của mính:

+ Về chất lượng phục vụ khám bệnh chung của bệnh viện;

+ Chất lượng phục vụ của nhân viên y tế;

- Một số chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân về hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện:

+ Mức độ hài lòng của bệnh nhân về chất lượng bệnh viện đạt loại tốt, trung bình, yếu kém, bao gồm:

Trang 30

Đánh giá ở mức độ tốt: nhà cửa không dột nát, buồng bệnh đủ, bệnh nhân

không phải nằm ghép giường; trang thiết bị y tế hiện đại, điều trị có hiệu quả

Đánh giá ở mức độ khá: nhà cửa không dột nát, buồng bệnh thiếu, người

bệnh phải nằm ghép 2 người; trang thiết bị y tế còn thiếu, điều trị có hiệu quả

Đánh giá ở mức độ trung bình: nhà cửa dột, mốc; buồng bệnh thiếu, bệnh

nhân nằm ghép trên 3 người; điều trị có kém hiệu quả;

Đánh giá ở mức độ yếu kém: nhà cửa dột, mốc bẩn; buồng bệnh thiếu,

bệnh nhân nằm ghép trên 3 người, trang thiết bị y tế còn thiếu; kết quả điều trị không hiệu quả

+ Mức độ hài lòng của bệnh nhân về chất lượng phục vụ của nhân viên bệnh viện: tốt, trung bình, yếu kém, bao gồm:

Đánh giá ở mức độ tốt: vệ sinh khoa phòng, buồng bệnh sạch sẽ; đủ ánh

sáng, quạt mát, an ninh an toàn; người bệnh không phải nằm ghép trên 3 người/giường; nhân viên y tế ân cần, niềm nở; phục vụ tận tình chu đáo; thủ tục tiếp nhận và giải quyết người bệnh ra vào viện nhanh gọn

Đánh giá ở mức độ khá: vệ sinh khoa phòng, buồng bệnh chưa sạch sẽ; đủ

ánh sáng, quạt mát, an ninh an toàn; người bệnh không phải nằm ghép trên 3 người/giường; nhân viên y tế chưa ân cần, niềm nở; phục vụ chưa tận tình chu đáo; thủ tục tiếp nhận và giải quyết người bệnh ra vào viện còn chậm

Đánh giá ở mức độ trung bình: vệ sinh khoa phòng, buồng bệnh bẩn;

không đủ ánh sáng, thiếu quạt mát, an ninh kém; người bệnh phải nằm ghép trên

3 người/giường; nhân viên y tế phục vụ thiếu tận tình chu đáo, ân cần, niềm nở; thủ tục tiếp nhận và giải quyết người bệnh ra vào viện chậm

Đánh giá ở mức độ yếu kém: vệ sinh khoa phòng, buồng bệnh bẩn; không

đủ ánh sáng, thiếu quạt mát, an ninh kém; người bệnh phải nằm ghép trên 3

Trang 31

người/giường; nhân viên y tế phục vụ cửa quyền hách dịch; thủ tục giải quyết người bệnh ra vào viện thủ tục rườm rà và chậm

+ Mức độ hài lòng của người bệnh về y đức của nhân viên bệnh viện:

Khi giao tiếp với người bệnh và gia đính người bệnh cán bộ nhân viên y tế bệnh viện có thái độ: niềm nở, tận tính chu đáo, bính thường, thờ ơ, lạnh lùng; cán

bộ nhân viên y tế thể hiện sự chia sẻ, cảm thông với người bệnh trong quá trính nằm điều trị tại bệnh viện

Người bệnh được giải thìch rõ ràng, dễ hiểu, thoả đáng với thái độ, lời nói,

cử chỉ thân thiện khi cần hỏi về các chế độ, chình sách, tính hính bệnh tật hoặc các thắc mắc khác?

Tinh thần thái độ, văn hoá ứng xử và các hiện tượng tiêu cực của cán bộ y

- Một số chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên về công tác quản lý cán bộ, thực hiện các chế độ chình sách đãi ngộ của lãnh đạo bệnh viện: tốt, khá, trung bính, yếu kém (quản lý ngày giờ công, phân công công tác cán bộ, bình xét đánh giá hiệu quả công tác của cán bộ, phân chia thu nhập tăng thêm cho cán bộ, giải quyết tốt các quyền lợi cho cán bộ đi học, ốm đau, thai sản kịp thời)

- Đánh giá kết quả của việc lắp đặt theo dõi, giám sát và điều hành của hệ thống Camera ghi hính hàng ngày, cụ thể về:

Trang 32

+ Cán bộ thực hiện mang trang phục y tế gọn gàng, đầy đủ? việc đi làm muộn và về sớm của cán bộ bệnh viện? tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc và trách nhiệm với người bệnh? hành vi cửa quyền, hách dịch và công bằng trong khám bệnh? hiện tượng cán bộ y tế tranh thủ và lạm dụng thẻ BHYT tại quầy cấp phát thuốc? không còn hiện tượng cán bộ y tế và người bệnh cùng chen lấn xô đẩy nơi khám bệnh, cấp thuốc? hiện tượng cán bộ y tế bỏ vị trì làm việc đi làm việc khác?

+ Người bệnh tuân thủ hướng dẫn của cán bộ y tế và ngồi chờ khám bệnh nghiêm túc, không ùn tắc, chen lấn xô đẩy và mất trật tự ?

2.4.5 Kỹ thuật thu thập số liệu

- Khai thác hồ sơ lưu trữ: thu thập số liệu thứ cấp qua báo cáo thống kê của

bệnh viện trong các năm 2009 và 10 tháng đầu năm 2010

- Phỏng vấn 200 người bệnh theo mẫu phiếu điều tra (bộ câu hỏi) có sẵn

- Thảo luận nhóm người bệnh điều trị nội trú : tổ chức 4 cuộc thảo luận (02 cuộc trước và 02 cuộc sau can thiệp), gồm từ 15-20 người bệnh điều trị nội trú, tập trung thảo luận về mức độ hài lòng về chất lượng bệnh viện, chất lượng phục

vụ của nhân viên, tinh thần thái độ phục vụ và chất lượng điều trị v.v

- Thảo luận nhóm tập trung với nhóm cán bộ y tế trong lĩnh vực quản lý, phục vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện:

Tổ chức 4 cuộc thảo luận (02 cuộc trước và 02 cuộc sau can thiệp), gồm từ 15-20 cán bộ nhân viên bệnh viện, tập trung thảo luận về: biện pháp nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh; mức độ hài lòng về công tác quản lý cán bộ; sự đãi ngộ, thực hiện các chình sách của nhà nước đối với cán bộ nhân viên v.v

2.4.6 Cán bộ điều tra

- Là các bác sỹ, kỹ thuật viên của Bệnh viện ®a khoa thành phố Bắc Giang

Trang 33

- Phỏng vấn trực tiếp người bệnh và người nhà người bệnh để thu thập thông tin của đối tượng nghiên cứu nhằm tím các yếu tố liên quan đến chất lượng khám bệnh, chữa bệnh: mức độ hài lòng về công tác phục vụ của cán bộ y tế, cơ

sở vật chất, trang thiết bị y tế, chất lượng điều trị, thu một phần viện phì v.v

- Công cụ: sử dụng bộ dụng cụ là bộ câu hỏi dùng để phỏng vấn đã được sửa đổi và bổ sung thêm sau khi điều tra thử tại bệnh viện

2.4.7 Phương pháp khống chế sai số

- Thiết kế các phiếu điều tra:

+ Phiếu được nhóm nghiên cứu thiết kế theo yêu cầu của luận án

+ Phiếu điều tra xây dựng xong tiến hành điều tra thử nghiệm sau đó được

chỉnh lý lại trước khi chế bản thành phiếu chình thức

- Đội ngũ điều tra viên và giám sát viên được tập huấn nội dung điều tra kỹ, thống nhất trước khi tiến hành thực hiện

- Ghi chép đầy đủ thông tin trong phiếu

- Các số liệu được làm sạch ngay tại chỗ

- Các phiếu điều tra được các giám sát viên kiểm tra và xác nhận

2.4.8 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được xử lý theo các thuật toán thống kê trên phần mềm

EPIINFO.2002

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Đây là một nghiên cứu nhằm mục đìch tím hiểu chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện, quá trính nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, chỉ mang lợi ìch cho người bệnh

- Tập huấn kỹ thuật cho điều tra trước khi tiến hành điều tra

Trang 34

- Đối tượng nghiờn cứu tự nguyện tham gia vào nhúm nghiờn cứu, mọi sự từ chối, bỏ cuộc của đối tượng nghiờn cứu đều được chấp nhận

- Nghiờn cứu được sự đồng ý và ủng hộ của lónh đạo và cỏn bộ y tế bệnh viện, cũng như người bệnh và người nhà bệnh nhõn

- Tuy nhiên, việc áp dụng công tác quản lý, điều hành bằng hệ thống Camera, có băng ghi hình thì ch-a có tài liệu nào đề cập đến nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của ph-ơng pháp này

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng chất lượng khám chữa bệnh của Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang năm 2009

Bảng 3.1 Kết quả hoạt động khám chữa bệnh của Bệnh viện năm 2009

Năm 2009

2 Tổng số lượt điều trị nội trú 5.400 6.936 124,44

Trang 36

Bảng 3.2 Chỉ số về chất lượng chẩn đoán, điều trị nội trú

* Nhận xét: Qua bảng 3.2, tỷ lệ chẩn đoán phù hợp lúc vào, lúc ra là 84,5%

và mức độ khác nhau giữa chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng là 20,5%

Bảng 3.3 Chỉ số về kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền

3 Tỷ lệ người bệnh điều trị hoàn

* Nhận xét:

Qua bảng 3.3, tỷ lệ sử dụng kinh phì thuốc y học cổ truyền/ tổng kinh phì thuốc đạt 16,5%; tỷ lệ người bệnh sử dụng các thủ thuật YHCT là 60% và tỷ lệ người bệnh hoàn toàn sử dụng bằng thuốc YHCT là 40%

Trang 37

20

13

0 20 40 60 80

Tỷ lệ

Mức độ

Biểu đồ 3.1 Sự hài lòng của người bệnhnhân

về chất lượng phục vụ của nhân viên bệnh viện

* Nhận xét: Qua biểu đồ 3.1, về mức độ hài lòng của người bệnh về chất lượng phục vụ của nhân viên bệnh viện đạt ở mức độ trung bính là 20%, yếu kém là 13%

19.5

32 41

7.5

Tốt Khá Trung bình Yếu

Biểu đồ 3.2 Sự hài lòng của người bệnh về chất lượng bệnh viện

* Nhận xét: Qua biểu đồ 3.2, tỷ lệ người bệnh hài lòng về chất lượng bệnh viện đạt ở mức độ trung bình là 41%, yếu kém là 7,5%

Trang 38

Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ hài lòng của bệnh nhân về chất lượng điều trị

* Nhận xét: Qua biểu đồ 3.3, tỷ lệ người bệnh hài lòng về chất lượng điều trị của bệnh viện đạt là 61,5%, mức độ trung bình là 28% và chưa hài lòng là 10,5%

Tỷ lệ

Mức độ

Trang 39

Biểu đồ 3.5 Mức độ hài lòng của nhân viên về công tác quản lý cán bộ, thực hiện các chế độ chính sách đãi ngộ của lãnh đạo bệnh viện

* Nhận xét: Qua biểu đồ 3.5, về sự hài lòng của cán bộ bệnh viện về công tác quản lý, thực hiện chế độ đãi ngộ của lãnh đạo bệnh viện đạt mức tốt là 55,7%, khá là 21,6% và trung bính và yếu kém là 22,8%

3.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang năm 2009

3.2.1 Về tình hình cơ sở vật chất của bệnh viện ( diện tìch đất, nhà làm việc)

Bảng 3.4 Tình hình về cơ sở vật chất của bệnh viện

Trang 40

3.2.2 Về nguồn lực ngân sách tài chính cấp cho bệnh viện

Bảng 3.5 Nguồn lực về Tài chính của bệnh viện

* Nhận xét : Qua bảng 3.5, so với tổng thu năm 2009, ngân sách nhà nước cấp theo đầu giường bệnh chiếm 11,1%; thu từ các nguồn thu chiếm tỷ trọng cao (89,9%)

3.2.3 Về nguồn trang thiết bị y tế hiện đại của bệnh viện

Bảng 3.6 Tình hình trang thiết bị của bệnh viện so với quy định của Bộ Y tế

347/QĐ-BYT Hiện có Tỷ lệ (%)

* Nhận xét:

Qua b¶ng 3.6, bệnh viện còn thiếu quá nhiều trang thiết bị y tế hiện đại như: máy điện tim, máy khám răng, máy xét nghiệm sinh hoá, máy xét nghiệm nước tiểu, máy siêu âm đen trắng, máy XQ, máy siêu âm màu v.v, so với quy định tại

Ngày đăng: 05/04/2021, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Bộ Y tế (2007), "Báo cáo Y tế Việt Nam năm 2006". Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Y tế Việt Nam năm 2006
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
24. Bộ Y tế (2008), Báo cáo Hội nghị từ xa qua cầu truyền hình ngày 12/6/2008 về thực trạng nhân lực y tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị từ xa qua cầu truyền hình ngày 12/6/2008 về thực trạng nhân lực y tế Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
26. Bộ Y tế (2006), Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BYT-BNV-BTC về hướng dẫn thực hiện quyết định số 276/2005/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ viên chức tại các cơ sở y tế Nhà Nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BYT-BNV-BTC về hướng dẫn thực hiện quyết định số 276/2005/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ viên chức tại các cơ sở y tế Nhà Nước
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2006
27. Bộ Y tế (2008), Thông tư số 01/2008/TT-BYT ngày 22/01/2008 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác Thi đua- Khen thưởng trong ngành y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2008/TT-BYT ngày 22/01/2008 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác Thi đua- Khen thưởng trong ngành y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
28. Bộ Y tế (2008), Số liệu kiểm tra 932 bệnh viện năm 2008 - Cục khám chữa bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu kiểm tra 932 bệnh viện năm 2008 - Cục khám chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
29. Chình phủ (2001), Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg, ngày 19/3/2001, Về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001- 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg, ngày 19/3/2001, Về việc phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Chình phủ
Năm: 2001
30. Chình phủ (2005), Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao
Tác giả: Chình phủ
Năm: 2005
31. Chình phủ (2006), Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
Tác giả: Chình phủ
Năm: 2006
32. Chình phủ (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 về Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính với đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 về Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính với đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Chình phủ
Năm: 2006
33. Đặng Thị Như Hằng (2009), Thực trạng về nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại các Trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện tỉnh Bình Thuận năm 2009, Luận văn Chuyên khoa I YTCC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại các Trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện tỉnh Bình Thuận năm 2009
Tác giả: Đặng Thị Như Hằng
Năm: 2009
34. Hà Đức Minh (2006) Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y tế cơ sở tỉnh Yên Bái, Luận văn chuyên khoa I YTCC, Thái Nguyên 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y tế cơ sở tỉnh Yên Bái, "Luận văn chuyên khoa I YTCC
35. Lý Ngọc Kính, Nghiêm Trần Dũng và cộng sự (2005). “Tổng quan về hệ thống bệnh viện Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống bệnh viện Việt Nam”
Tác giả: Lý Ngọc Kính, Nghiêm Trần Dũng và cộng sự
Năm: 2005
36. Ngô Quý Châu (2009), "Những vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý chất lượng bệnh viện", Tạp san Y học lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, (số 36), trang 61-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý chất lượng bệnh viện
Tác giả: Ngô Quý Châu
Năm: 2009
37. Ngô Quý Châu (2009), "Bệnh viện Bạch Mai giữ vững và nâng cao chất lượng bệnh viện", Tạp san Y học lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, số 37, 02/2009, trang 62-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viện Bạch Mai giữ vững và nâng cao chất lượng bệnh viện
Tác giả: Ngô Quý Châu
Năm: 2009
38. Nguyễn Phú Trọng (2008), "Cần nâng cao hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh", http://www.3.vietnamnet.vn/chinhtri/2008/02/770244/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần nâng cao hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
Năm: 2008
39. Nguyễn Quốc Triệu (2009) Báo cáo chung tổng quan ngành y tế 2009, nhân lực y tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế 2009, nhân lực y tế Việt Nam
40. Phạm Trì Dũng và cs (2005). “Thực trạng quản lí bệnh viện và nhu cầu đào tạo cho cán bộ quản lí bệnh viện”. Trường Đại học Y tế công cộng: 5-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lí bệnh viện và nhu cầu đào tạo cho cán bộ quản lí bệnh viện”
Tác giả: Phạm Trì Dũng và cs
Năm: 2005
41. Phạm Trí Dũng (2009). “Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay ”. http://www.vpha.org.vn/index.php/Tapchiytecongcong-so12/2009,ngày 21/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan chung về bệnh viện Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Trí Dũng
Năm: 2009
43. Tỉnh uỷ Bắc Giang (2003), Nghị quyết số 165-KH/TU, ngày 27/3/2003 về tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đến năm 2010, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 165-KH/TU, ngày 27/3/2003 về tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đến năm 2010
Tác giả: Tỉnh uỷ Bắc Giang
Năm: 2003
44. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chình (2008), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Tác giả: Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chình
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w